1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời gian 10 năm trở lại đây, ngành chăn nuôi bò sữa của Việt
Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi bò sữa vẫn chưa
đáp ứng đủ nhu cầu lượng sữa cho các nhà máy sản xuất sữa trong nước.
Những nguyên nhân phải kể đến như nguồn thức ăn cho bò sữa còn hạn chế
và phải nhập khẩu, quy mô chăn nuôi nhỏ, kỹ thuật chăn nuôi hiện đại cũng
hạn chế nên chất lượng sữa thấp...Chính vì vậy công tác nghiên cứu ra những
giống bò sữa, cỏ chăn nuôi có năng xuất và chất lượng cao là rất cần thiết và
quan trọng.
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì là đơn vị sự nghiệp khoa
học công lập thuộc Viện Chăn Nuôi, được thành lập từ Nông trường Ba Vì
theo quyết định số 47-NN-TCCB ngày 17 tháng 2 năm 1989 của Bộ trưởng
Bộ Nông Nghiệp. Cùng với tiến trình đổi mới của đất nước, Trung tâm
Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì đã từng bước xắp xếp lại bộ máy, cơ cấu tổ
chức, tăng cường năng lực thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chuyển giao công
nghệ các lĩnh vực chăn nuôi bò sữa, bò thịt và đồng cỏ.
Nhìn lại chặng đường hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành từ Nông
trường Ba Vì, 20 năm đổi mới cơ chế quản lý, Nông trường Ba Vì nay là
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì đã gắn liền lịch sử của mình với
sự nghiệp phát triển nghề chăn nuôi bò sữa tại Ba Vì. Từ một Nông trường
quốc doanh, đến tổ chức khoa học công nghệ công lập thực hiện các đề tài
khoa học nghiên cứu những lĩnh vực chăn nuôi bò sữa, bò thịt và đồng cỏ.
Đến nay Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì đang quản lý và sử
dụng 761,8 ha phục vụ cho công tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ các
lĩnh vực chăn nuôi bò sữa, bò thịt, đồng cỏ và đảm bảo đời sống cho nhân dân
trong Trung tâm.
2
Với mong muốn gìn giữ những giá trị lịch sử mà đội ngũ lãnh đạo,
cán bộ, công nhân viên chức ở các thời kỳ đã đóng góp công sức, trí tuệ xây
dựng Nông trường Ba Vì, Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì ngày
nay, cũng như góp phần sáng tỏ đóng góp to lớn của Trung tâm trong công
tác nghiên cứu bò thịt, bò sữa có năng xuất, chất lượng và các sản phẩm dùng
trong chăn nuôi đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng kể từ khi Trung tâm được
thành lập cho đến nay, tác giả đã chọn đề tài "Quá trình ra đời, hoạt động
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì (1958 - 2011)".
Nghiên cứu đề tài này, giúp cho tôi có thêm nhiều kiến thức lịch sử địa
phương mình nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung. Những kiến thức này sẽ
là hành trang rất bổ ích cho nghề của tôi sau này.
2. Lịch sử vấn đề
Đã có không ít các công trình nghiên cứu về Trung tâm nghiên cứu Bò
và Đồng cỏ Ba Vì có thể kể đến ở đây:
- Năm 2006, Báo Hà Nội Mới, số ra ngày 18 tháng 10 năm 2006 có bài
“Nữ chủ trang trại bò sữa giỏi giang”, đã giới thiệu về chị Nguyễn Thị Liễu
gương mặt tiêu biểu của một trong những công nhân Trung tâm.
- Năm 2007, Vương Tuấn Thực với đề tài “Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm
độ, chỉ số nhiệt ẩm (THI - Temperature Humidity Index) đến lượng nước
uống, lượng thức ăn ăn vào và năng suất chất lượng sữa của bò lai F1, F2,
HF nuôi tại Ba vì trong mùa hè”, Tạp chí khoa học công nghệ chăn nuôi,
Viện chăn nuôi số tháng 4/2007. Thạc sĩ Tăng Xuân Lưu, “Nghiên cứu một
số chỉ tiêu về sinh lý sinh sản và biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của
bò lai hướng sữa tại Ba Vì - Hà Tây”, Báo cáo khoa học bộ NN- Tp Hồ Chí
Minh....
3
Các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước và cấp cơ sở về bò sữa, đồng cỏ,
thức ăn chăn nuôi tại Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì góp phần
làm sáng rõ thành tựu trong lĩnh vực hoạt động nghiên cứu khoa học của
Trung tâm từ khi hình thành cho tới nay.
- Năm 2008, Ts. Ngô Kiều Oanh có bài viết với nhan đề “Giới thiệu bò
sữa Ba Vì”, Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, Hội thông tin khoa học
kỹ thuật, Hà Nội xuất bản, đã phần nào cho biết nguồn gốc cũng như đánh giá
được chất lượng bò sữa Ba vì nói chung và Trung tâm nói riêng
- Năm 2009, thạc sĩ Nguyễn Hữu Lương có bài viết cũng với nhan đề
“Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì 50 năm xây dựng và phát
triển”, đăng trên Tạp chí chăn nuôi số 12 - 2009, Số hóa bởi Trung tâm Học
viện - Đại học Thái nguyên. Bài viết mới chỉ chỉ ra được chức năng nhiệm vụ
của Trung tâm trong thời gian từ năm1989 trở lại đây là nghiên cứu bò thịt,
bò sữa, nghiên cứu đồng cỏ ngoài ra còn thực hiện nghiên cứu và nuôi thử
nghiệm một số động vật quý hiếm, còn về trước đó chưa thấy đề cập đến.
- Năm 2009, Nguyên Viện trưởng Viện Chăn nuôi (1975 - 1995) Nguyễn
Văn Thưởng viết bài “Những năm tháng công tác ở Nông trường quốc doanh
Ba Vì”, Bài viết giới thiệu về Trung tâm những ngày đầu thành lập với những
thuận lợi và khó khăn, đội ngũ cán bộ Trung tâm trong giai đoạn Viện trưởng
công tác tại Trung tâm. Nhưng bài viết chỉ dừng lại ở việc khái quát những
hoạt động của Trung tâm trong một giai đoạn nhất định.
Trong cuốn “Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì 50 năm xây
dựng và phát triển”, Do Thạc sĩ Lê Xuân Đông biên soạn và xuất bản năm
2009 đã khái quát được một vài nét về Trung tâm trong quá trình phát triển,
đặc biệt là sự quan tâm của Đảng và nhà nước đối với Trung tâm. Tuy nhiên
4
tác giả chưa nêu được đặc điểm, chưa đánh giá được vai trò của Trung tâm
trong quá trình hoạt động.
Ngoài ra còn nhiều bài viết và những công trình nghiên cứu khác về
Trung tâm.
Tuy nhiên tất cả các công trình chỉ đề cập đến một số khía cạnh và mặt
hoạt động của Trung tâm chứ chưa có tài liệu nào đi sâu nghiên cứu một cách
toàn diện về Trung tâm từ khi hình thành cho tới nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
- Dựng lại bức tranh lịch sử về “Quá trình ra đời, hoạt động của Trung
tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì (1958 - 2011)
- Nêu rõ đặc điểm vai trò hoạt động của Trung tâm cũng như làm sáng tỏ
những giá trị của nó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Huyện
Ba Vì.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Sưu tầm, xử lý các nguồn tư liệu để xây dựng hình thành khóa luận
- Trình bày một cách có hệ thống cơ sở ra đời của Trung tâm nghiên cứu
Bò và Đồng cỏ Ba Vì.
- Phân tích và đánh giá quá trình hoạt động của Trung tâm nghiên cứu bò
Bò và Đồng cỏ Ba Vì (1958 - 2011)
- Nêu rõ đặc điểm và vai trò của Trung tâm trong quá trình hoạt động
(1958 - 2011).
4. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu về Trung tâm trên địa
bàn huyện Ba Vì.
5
- Về thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu về Trung Tâm nghiên cứu
Bò và Đồng cỏ Ba Vì từ năm 1958 đến năm 2011.
5. Nguồn tư liệu và Phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã khai thác các nguồn tư liệu sau:
- Nguồn tài liệu thứ nhất: Là các văn kện của Đảng Cộng sản Việt Nam
qua các kỳ Đại hội từ năm 1958 - 2011. Đây là những tài liệu phản ánh đường
lối của Đảng về xây dựng đất nước sau hòa bình lập lại năm 1954.
- Nguồn tài liệu thứ hai: là các văn kiện của Đảng bộ huyện Ba Vì về
phát triển kinh tế - xã hội, trong đó nhấn mạnh chủ trương phát triển hoạt
động của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì.
- Nguồn tài liệu thứ ba: Là các tài liệu lịch sử của cơ quan TƯ và địa
phương xuất bản.
- Nguồn tài liệu thứ tư: Là các nguồn tài liệu Thông sử, Lịch sử Việt
Nam hiện đại...
- Nguồn tài liệu thứ năm: Là các nguồn tài liệu điền dã, thực địa, thực tế
tại Trung tâm.
- Nguồn tài liệu thứ sáu: Là các tài liệu chuyên sâu như các sách,
tạp chí...
- Nguồn tài liệu thứ bảy: Là khai thác từ các trang Wep đáng tin cậy.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên một số quan điểm cơ bản Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh được vận dụng vào nghiên cứu đề tài.
- Kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp lôgic, trong đó phương
pháp lịch sử là chủ yếu.
- Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu, để
xác minh sự kiện lịch sử.
6
- Ngoài ra còn tiến hành phương pháp thực địa, điền dã tại Trung tâm.
6. Đóng góp của khóa luận
Cung cấp cái nhìn tương đối đầy đủ và hệ thống về Trung tâm nghiên
cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, từ đó khóa luận có những đóng góp nhất định về
mặt khoa học lịch sử.
Khóa luận đã hoàn thành nhiệm vụ khoa học tự đề ra là góp phần tổng
kết một bước quá trình ra đời, hoạt động của Trung tâm nghiên cứu Bò và
Đồng cỏ Ba Vì, kể từ sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, cụ thể từ
năm 1958 - 2011. Từ đó có thêm điều kiện để nhận thức đầy đủ hơn về chính
sách phát triển kinh tế, thành lập Nông trường của Đảng và Nhà nước ta.
Kết quả nghiên cứu khóa luận sẽ góp phần cung cấp thêm tư liệu về
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, đồng thời giúp mọi người hiểu
rõ hơn vai trò của Trung tâm trong việc nghiên cứu ra những giống bò, giống
cỏ có năng xuất cao và chất lượng tốt góp phần vào sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khóa luận
gồm 3 chương
Chương 1: Sự ra đời của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì
Chương 2: Qúa trình hoạt động Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba
Vì (1958 - 2011)
Chương 3: Đặc điểm và vai trò của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng
cỏ trong quá trình hoạt động (1958 - 2011)
7
Chương 1
SỰ RA ĐỜI CỦA TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU BÒ
VÀ ĐỒNG CỎ BA VÌ
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN CƯ VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và dân cư
* Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Ba Vì là huyện tận cùng phía Tây Bắc của Hà Nội cách trung tâm thành
phố 50km theo đường quốc lộ 11A và đường 87, có tọa độ địa lý là:
21°04′0″B, 105°20′05″Đ.
Huyện bao gồm thị trấn Tây Đằng và 30 xã. Trên địa bàn huyện có một
phần lớn dãy núi Ba Vì chạy qua phía Nam huyện, phía Đông giáp thị xã Sơn
Tây; phía Đông Nam giáp huyện Thạch Thất; phía Nam giáp các huyện
Lương Sơn (về phía Đông Nam huyện) và Kỳ Sơn của Hòa Bình (về phía Tây
Nam huyện); phía Bắc giáp thành phố Việt Trì, Phú Thọ, với ranh giới là sông
Hồng (sông Thao) nằm ở phía Bắc; phía Tây giáp các huyện Lâm Thao, Tam
Nông, Thanh Thủy của Phú Thọ; phía Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Tường tỉnh
Vĩnh Phúc, ranh giới là sông Hồng .
Huyện Ba Vì là một huyện bán sơn địa, diện tích tự nhiên là 428,0 km²,
lớn nhất Thủ đô Hà Nội. Huyện có hai hồ khá lớn là hồ Suối Hai, và hồ Đồng
Mô (tại khu du lịch Đồng Mô). Trên địa bàn huyện có vườn quốc gia Ba Vì.
Ở ranh giới của huyện với tỉnh Phú Thọ có hai ngã ba sông là: Ngã ba Trung
Hà giữa sông Đà và sông Hồng (tại xã Phong Vân) và ngã ba Bạch Hạc giữa
sông Hồng và sông Lô (tại các xã Tản Hồng và Phú Cường, đối diện với
thành phố Việt Trì) [4, tr.5 - 6 ].
Địa hình địa thế
Ba vì là một vùng núi trung bình, núi thấp và đồi tiếp giáp với vùng bán
sơn địa. Vùng núi gồm các dãy núi liên tiếp nổi lên giữa vùng đồng bằng, có 3
8
đỉnh cao nhất là: Đỉnh vua cao 1296m, đỉnh Tản Viên cao 1227m, đỉnh Ngọc
Hoa cao 1131m, vì thế có tên gọi là núi Ba Vì, trong tác phẩm “Dư địa chí”
của mình Nguyễn Trãi có viết: “Núi ấy là núi Tổ của ta đó”[17,tr 34] .
Độ dốc của khu vực trung bình 250, từ cốt 400m trở lên dốc hơn, độ dốc
trung bình 350 có nhiều chỗ vách đá dốc dựng đứng, xung quanh núi Ba Vì là
dải đồi thấp, lượn sóng xen kẽ đồng ruộng. Dải phía Tây nằm giữa núi Ba Vì
và sông Đà hẹp gồm các đồi thấp và ruộng nước. Dải phía Bắc và phía Đông
gồm các đồi lượn sóng, địa thế thấp, thuận lợi để xây dựng các hồ nhân tạo
như: Suối Hai, Đồng Mô - Ngải Sơn.
Nhìn chung Ba Vì là một vùng có phong cảnh đẹp, nên thơ, kết hợp được
cả cảnh hùng vĩ của núi non, sông suối, ao hồ và xen vào đó là cảnh trung du
đồng bằng với những làng quê sinh đẹp.
Địa chất thổ nhưỡng
Khu vực này được hình thành từ những vận động tạo sơn Iđôxini cách
đây 150 triệu năm. Thành phần đá mẹ phân bố trong khu vực Ba Vì rất phong
phú và đa dạng gồm các loại đá chính sau: Đá biến chất phân bố từ Đá Chông
đến ngòi Lặt và chiếm hầu hết ở sườn phía Đông, đá vôi phân bố ở khu vực
núi Chẹ, đá trầm tích - phún trào: Phân bố ở hầu hết toàn bộ khu vực vườn
quốc gia và một số xã vùng đệm, đá trầm tích phân bố ở xã Ba Trại, đá bở rời:
phân bố ở phía Tây Xuân Khanh, Mỹ Khê và dọc các suối lớn.
Nền đất chính của dãy núi ba Vì là phiến thạch sét và sa thạch với các
loại đất chính sau: Đất Feralit màu vàng, đất Feralit màu vàng nâu, đất Feralit
màu vàng đỏ, đất phù sa cổ.
Với địa hình đồi núi thấp như vậy Ba Vì rất thích hợp cho việc hình
thành những bãi chăn thả gia súc lớn, nhìn thấy được tiềm năng lớn này nên
từ sau khi hòa bình lập lại năm 1954, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương
đưa những đơn vị bộ đội về đây chuẩn bị cho việc thành lập Nông trường, cho
9
đến năm 1958 Nông trường Quốc doanh Ba Vì được thành lập với công tác
chính là chăn nuôi bò. Cho đến nay ngành chăn nuôi bò (cả bò thịt và bò sữa)
ngày càng mở rộng quy mô đến các hộ gia đình với việc tận dụng diện tích
chăn thả tự nhiên sãn có nơi đây [1, tr. 6].
Khí hậu
Ba Vì nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng ẩm, mưa
nhiều, thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây. Nhiệt độ bình quân năm
trong khu vực là 23,40C. Ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,7 0C; nhiệt
độ tối cao lên tới 420C. Ở độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm 20,6 0C; từ độ
cao 1000m trở lên nhiệt độ chỉ còn 160C. Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống
0,20 C. Nhiệt độ cao tuyệt đối 33,10C. Lượng mưa trung bình năm 2.500mm,
phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8. Độ ẩm
không khí 86,1%. Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1. Từ độ
cao 400m trở lên không có mùa khô. Mùa đông có gió Bắc với tần suất >40%.
Mùa Hạ có gió Đông Nam với tần suất 25% và hướng Tây Nam [1, tr. 7].
Với đặc điểm này, đây là nơi nghỉ mát lý tưởng và khu du lịch giàu tiềm
năng nhưng chưa được khai thác. Ngoài ra khí hậu mát mẻ của vùng núi Ba
Vì rất thuận lợi cho việc nuôi bò sữa với chất lượng tốt.
Sông ngòi
Hệ thống sông suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thượng nguồn
núi Ba Vì và núi Viên Nam. Các suối lớn và dòng nhánh chảy theo hướng
Bắc, Đông Bắc và đều phụ lưu của sông Hồng. Ở phía Tây của khu vực, các
suối ngắn và dốc hơn so với các suối ở phía Bắc và phía Đông, đều là phụ lưu
của sông Đà. Các suối này thường gây lũ và mùa mưa. Về mùa khô các suối
nhỏ thường cạn kiệt. Các suối chính trong khu vực gồm có: Suối Cái, suối
Mít, suối Ninh, suối Yên Cư, suối Bơn…
10
Sông Đà chảy ở phía Nam núi Ba Vì, sông rộng cùng với hệ suối khá
dày như suối ổi, suối Ca, suối Mít, suối Xoan, hồ suối Hai, hồ Đồng Mô, hồ
Hóoc cua và các hồ chứa nước khác vừa có nhiệm vụ dự trữ nước cung cấp
cho hàng chục ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân. Việc
chăn thả gia súc lớn đặc biệt là trâu, bò ngoài cần có diện tích để chăn thả thì
yếu tố không thể thiếu được là phải có một nguồn nước dồi dào. Với hệ thống
sông, suối như vậy nên nghành chăn nuôi ở Ba Vì có lợi thế phát triển hơn
nữa.
Thực vật, động vật
Hệ thực vật rừng
Theo danh mục thực vật đã được thu thập mẫu và kết quả điều tra bổ
sung năm 2008, cho tới nay Ba Vì có 1201 loài thực vật bậc cao có mạch
thuộc 649 chi và 160 họ. Như vậy, qua kết quả nghiên cứu mới nhất đã khẳng
định sự phong phú đa dạng loài thực vật ở nơi đây.
Nét riêng của vùng cao Ba Vì là tuy cùng nằm trong vùng có hệ thực vật
bản địa của Việt Nam - Nam Trung Hoa như một số nơi khác nhưng ảnh
hưởng của độ cao, số loài thuộc các họ phân bố chủ yếu ở á nhiệt đới và ôn
đới nhiều hơn.
Theo số liệu tham khảo kết phân chia 3 loại rừng năm 2005 của Viện
Điều tra quy hoạch rừng và kết quả phúc tra tại thực địa năm 2008, trữ lượng
các loại rừng ở Ba Vì được tính toán và tổng hợp như sau: Tổng trữ lượng gỗ
là 309,616 ngàn m3; trong đó trữ lượng rừng tự nhiên là 221,868 ngàn m3;
rừng trồng là 87,748 ngàn m3 [1, tr. 8].
Hệ động vật rừng
Theo kết quả điều tra bổ sung mới nhất năm 2008, Khu hệ động vật có
xương sống ở Ba Vì thống kê được 342 loài. Trong số động vật gặp ở Ba Vì,
11
có 70 loài cho thịt, da, lông và làm cảnh. Yếu tố đặc hữu của khu hệ động vật
có xương sống ở Ba Vì ở 2 lớp Bò sát và Lưỡng thê. Đó là các loài Thằn lằn,
Ếch vạch [1, tr. 9 - 10].
Nhóm động vật quí hiếm ở Ba Vì có 66 loài, phần lớn là loài động vật
rừng nhỏ, hoặc trung bình. Nhìn chung, động vật rừng đã bị suy giảm nghiêm
trọng. Hai mối đe doạ đến động vật rừng là mất rừng và săn bắt động vật
rừng. Do địa hình vùng Ba Vì độc lập nên việc di cư của các thú rừng từ nơi
khác tới là rất hạn chế, dễ bị săn bắt. Có loài bị tiêu diệt hoàn toàn như Hươu
sao, Gấu chó…Hiện tại, nhiều loài đang có nguy cơ bị tiêu diệt như Sơn
dương, Sóc bay, Gà lôi trắng…Do vậy, cần phải kiểm soát chặt chẽ việc săn
bắt, đồng thời tạo môi trường tốt để gây dựng và phát triển số chim thú. Nên
quy hoạch các đồng cỏ để bảo vệ các loài móng guốc và tạo không gian cho
các loài chim thú di thực .
* Dân cư
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì thuộc địa phận xã Tản Lĩnh
là một trong 7 xã miền núi (Xã Minh Quang, Khánh Thượng, Tản Lĩnh, Ba
Trại, Ba Vì, Yên Bài và xã Vân Hoà) thuộc khu vực vùng đệm của huyện Ba
Vì. Nơi đây là một vùng đất cổ, có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa lâu
đời, nơi sinh ra nhiều danh nhân văn hóa và là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn
hóa truyền thống đậm đà bản sắc ba dân tộc Dao, Kinh, Mường.
Sự phân bố dân cư và dân tộc không đồng đều trong vùng, người Kinh,
người Mường ở hầu hết 7 xã, trong lúc người Dao tập trung chủ yếu ở xã Ba
Vì. Những năm 40 - 60 của thế kỷ X, người Dao Ba Vì còn sống trên núi cao
(độ cao 600 - 800m). Thời này cư dân còn thưa thớt, sống du canh "phát - đốt
- chọc - tỉa" trên khắp núi Ba Vì và định cư ở tại Gốc Vải hay xóm "Tri Tai"
[4, tr. 6].
12
Hậu quả đã để lại hàng ngàn ha đất trống, huỷ diệt hàng trăm loài cây
gỗ quý hiếm, làm mất đi nơi cư trú của nhiều loại động vật. Những năm đầu
thế kỷ XX thảm thực vật bao phủ khắp vùng núi Ba Vì. Nhưng ngày nay rừng
chỉ còn lại ở độ cao trên 600m. Một số loài động vật quý hiếm như hổ, báo,
hươu ... nay vắng bóng, diện tích chăn thả tự nhiên cho gia súc ngày càng thu
hẹp. Trung tâm nghiên cứu Bò và đồng cỏ Ba Vì đã đưa ra biện pháp và chính
sách hợp lý để nâng cao nhận thức cho người dân như thành lập các trường
học từ mẫu giáo đến trung học cơ sở cho con em của nhân viên Trung tâm
cũng như tạo điều kiện cho con em của đồng bào dân tộc thiểu số quanh chân
núi Ba Vì được học tập. Đồng thời tạo việc làm cho người dân, phổ biến kiến
thức từ chính việc chăn nuôi bò sữa giúp người dân làm giàu.
1.1.2. Kinh tế - xã hội
Ba Vì nối liền với các tỉnh và thủ đô Hà Nội bằng các trục đường chính
như: quốc lộ 32, tỉnh lộ 89A… và các tuyến đường thủy qua sông Hồng, sông
Đà có tổng chiều dài 70 km. Với những lợi thế về giao thông đường thủy,
đường bộ, Ba Vì có điều kiện khá thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa
với bên ngoài, tiếp thu những tiến bộ khoa học - kỹ thuật để phát triển kinh tế
với cơ cấu đa dạng nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, công nghiệp.
Với đặc thù đồng đất chia làm ba vùng là núi, bán sơn địa và đồng bằng,
những năm qua, huyện Ba Vì còn đẩy mạnh thực hiện các dự án chăn nuôi bò
sữa, bò thịt, trồng chè, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm… phù
hợp từng vùng để khai thác thế mạnh.
Huyện Ba Vì cũng là địa phương có các hoạt động xã hội rất tốt, tiêu
biểu là hoạt động xoá đói giảm nghèo. Năm 2009, huyện Ba Vì đã giải quyết
việc làm cho 10.500 lao động; xóa được 3.116 hộ nghèo, giảm 3,2% so với
đầu năm 2009 [4, tr. 21 - 22].
13
1.2. SỰ RA ĐỜI CỦA NÔNG TRƯỜNG QUỐC DOANH BA VÌ (TIỀN
THÂN CỦA TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU BÒ VÀ ĐỒNG CỎ BA VÌ)
1.2.1. Chủ trương thành lập
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì là đơn vị sự nghiệp khoa
học công lập thuộc Viện Chăn nuôi, có tiền thân từ Nông trường Quốc doanh
Ba Vì, sự ra đời của Trung tâm gắn liền với những chủ trương và đường lối
của Đảng và Nhà nước ta cụ thể là chỉ thị của Ban Bí thư số 83-CT/TW, ngày
19/5/1958 về việc chuyển một số đơn vị quân đội sang sản xuất. Quân đội ta
ngoài nhiệm vụ chủ yếu là thường xuyên ra sức xây dựng quân đội tiến dần
từng bước lên chính qui và hiện đại hóa, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ Tổ
quốc và làm hậu thuẫn cho công cuộc đấu tranh và bảo vệ hoà bình, thực hiện
thống nhất nước nhà.“Để phát huy tác dụng của quân đội trong việc tham gia
xây dựng Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, Trung ương chủ trương chuyển
một số đơn vị quân đội sang sản xuất, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, xây
dựng nông trường ở những khu vực quan trọng về kinh tế, chính trị, quân
sự...” [7, tr. 168].
Việc chuyển một số đơn vị quân đội sang sản xuất có tác dụng to lớn
trong việc mở rộng và củng cố hậu phương của ta về mọi mặt, nằm trong toàn
bộ kế hoạch nhà nước và mật thiết liên quan đến các ngành các địa phương,
nhất là các địa phương sẽ chuyển quân đội sang sản xuất [7, tr. 171]. Việc
chuyển quân đội sang sản xuất, xây dựng nông trường thực tế là công tác khai
hoang biến những vùng núi rừng, vùng đất hoang trở thành khu vực kinh tế
mới đó là một công tác rất quan trọng.
Tháng 5 năm 1958, Trung đoàn 658 thuộc Sư đoàn 338 miền Tây Nam
Bộ (bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc) được lệnh về đóng quân dọc
đường 84 từ Hòa Lạc đến ngã ba đường 87, từ ngã ba theo đường 87 đến cầu
14
suối Me. Trung đoàn tiếp quản đơn vị sản xuất Đồng Vàng thuộc cục Nông
binh, thực hiện nhiệm vụ khai khẩn đất hoang sản xuất và xây dựng doanh
trại, từ đây Nông trường quân đội được thành lập. Ngày 22 tháng 12 năm
1960 Trung đoàn 658 làm lễ phong quân hàm cho cán bộ và chiến sỹ, đồng
thời cũng làm lễ hạ sao để chuyển ngành tập thể thành Nông trường Ba Vì.
Nơi đây dưới chân núi Tản Viên Sơn có dòng sông Đà thơ mộng, xưa kia
rừng thiêng nước độc đã thấm đượm bao mồ hôi, công sức, trí tuệ của các
chiến sỹ, cán bộ, công nhân viên khai phá đồi hoang, cải tạo sình lầy biến
vùng đất hoang sơ trở thành màu mỡ để sản xuất trồng trọt, chăn nuôi bò vắt
sữa, ngày nay đó là vùng du lịch trù phú sản xuất ra dòng sữa trắng “Sữa Ba
Vì” [18, tr. 11 - 12] .
1.2.2. Quá trình thành lập
Bối cảnh lịch sử:
Sau đại bại trên chiến trường Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954, Thực dân
Pháp buộc phải ngồi vào bàn đàm phán tại hội nghị Giơ-ne-vơ. Theo tinh thần
cơ bản của Hiệp định là đình chỉ chiến sự tại Đông Dương, Việt Nam tạm thời
bị chia cắt thành hai miền lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Hai miền phải thống
nhất trước tháng 7 năm 1956 bằng cuộc tổng tuyển cử “Tự do và dân chủ”
[17, tr.123 - 124].
Chúng ta đã thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoản của Hiệp định
về tập kết, chuyển quân và chuyển giao khu vực. Trong khi đó ở miền Nam,
thực dân Pháp có nhiều hành động phá hoại Hiệp định vừa được ký kết. Dưới
sự chỉ đạo và viện trợ của Mỹ, Ngô Đình Diệm sức đàn áp phong tào cách
mạng và mưu đồ chia cắt hai miền. Tháng 7 năm 1956, Diệm tuyên bố không
tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất hai miền, trong tình hình đất
nước tạm thời bị chia cắt, Đảng và chính phủ đã đề ra cho cách mạng mỗi
15
miền những nhiệm vụ chiến lược, phù hợp với đặc điểm tình hình và yêu cầu
của cách mạng từng miền. Ở miền Bắc, cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân
căn bản hoàn thành, Đảng chủ trương chuyển sang xây dựng chủ nghĩa, nhằm
xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước và là hậu phương
vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của toàn dân tộc. Hai
miền đồng thời thực hiện những nhiệm vụ mục tiêu chung của cách mạng là
đánh đổ Mỹ và tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc,
hoàn thành cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất
đất nước, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội [31, tr. 11 - 12].
Ba Vì, hay Tản Viên sơn, cùng dòng sông Đà hùng vĩ đã tạo nên vùng
đất địa linh nhân kiệt với những tên tuổi nổi tiếng như Nguyễn Tuấn, hiện
thân của Đức thánh Tản hay được nhân dân thường gọi là Sơn Tinh, một
trong “An Nam tứ bất tử” sống mãi với thời gian với truyền thuyết Sơn Tinh Thuỷ Tinh, như Phùng Hưng - “Bố Cái Đại Vương”, như Ngô Quyền, vị vua
gắn liền với chiến công lẫy lừng đầu tiên của Việt trước quân Nam Hán xâm
lược hoặc như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu với vần thơ lai láng ca ngợi cảnh
đẹp tự nhiên hùng vĩ của quê hương: “Sóng gợn sông Đà con cá nhảy, Mây
vờn non Tản chiếc diều bay” v.v...Trên những đồi hoang mênh mông dưới
chân núi Ba Vì, những chiến sỹ trong hàng ngũ quân đội nhân dân của quê
hương miền Nam Thành đồng Tổ quốc, những cán bộ và công nhân của miền
Bắc xã hội chủ nghĩa đã nghe theo tiếng gọi của Đảng, sát cánh bên nhau đi
xây dựng và phát triển kinh tế. Các cán bộ và chiến sỹ quân đội đã rời tay
súng trở thành thành viên của giai cấp công nhân, với truyền thống vẻ vang
của quân đội nhân dân anh hùng, những chiến sỹ công nhân ấy và những thế
hệ tiếp theo, đã khắc phục muôn vàn khó khăn gian khổ, bạt núi san đồi xây
dựng những cơ sở quốc doanh đầu tiên cho Tổ quốc.
16
Sự thành lập nông trường quân đội 658
Thực hiện chủ trương của Trung ương và Tổng Quân ủy, dưới sự chỉ
đạo của Cục Nông Binh, Năm 1956, một số cán bộ và chiến sỹ quân đội thu
dụng ở nhiều đơn vị đóng quân trên địa bàn các tỉnh miền Bắc được đưa về
đóng quân tại làng Mỹ Đức (nay thuộc xã Tản Lĩnh) để thành lập Nông
trường. Các cán bộ nòng cốt bao gồm các đồng chí Thâm, Ứng, Thích, Mua,
Trường, Thiết, Lâm hoạt động dưới sự chỉ huy của đồng chí Bế Văn Sắt, tiểu
đoàn trưởng. Vào thời điểm này, chưa hình thành tổ chức của một Nông
trường quốc doanh và chưa có phương tiện sản xuất gì.
Đến đầu năm 1957, đơn vị chuyển về đóng tại xóm Đồng Vàng, xã Yên
Bài. Số lượng cán bộ chiến sỹ được bổ sung và tăng cường nhiều hơn, hoạt
động dưới sự chỉ huy của đồng chí Bế Văn Sắt, tiểu đoàn trưởng và là giám
đốc đơn vị sản xuất. Bộ máy tổ chức nhân sự dần dần được hình thành với
Ban Giám đốc gồm ba đồng chí: Bế Văn Sắt, giám đốc; Nguyễn Đình Thiết,
phó giám đốc; và Phan Hường, chính trị viên. Đơn vị có con dấu và tài khoản
riêng tại Ngân hàng Sơn Tây. Đường giao thông và các cơ sở hạ tầng còn
trong tình trạng thiếu thốn và hết sức khó khăn. Từ nơi đóng quân tới thị xã
Sơn Tây, thủ phủ của tỉnh Sơn Tây thời Pháp thuộc, cách xa chỉ khoảng 10 12 km mà đơn vị phải cử một đồng chí là Vương Kim Mộc hàng ngày cưỡi
ngựa từ đơn vị ra Sơn Tây lấy công văn, giấy tờ và thư báo.
Vào giai đoạn chuyển đổi nhiệm vụ và chức năng này, tình hình tư
tưởng của cán bộ chiến sỹ chưa ổn định, đa phần còn hoang mang, dao động;
nói chung đều mong muốn được phục viên hoặc chuyển sang làm ở các ngành
công, thương nghiệp. Chính vì vậy có tình trạng lãn công, chây lười công tác.
Nhiều đồng chí đã viết đơn thư gửi về Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân
Việt Nam để thắc mắc [18, tr. 12].
17
Tháng 7 năm 1957, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Chính, Cục
trưởng Cục Cán bộ đã về thăm cán bộ, chiến sỹ và nhân dân trên địa bàn
Nông trường. Đại tướng đã tập trung tất cả cán bộ, chiến sỹ và nhân dân xóm
Mỹ Đức để nói chuyện, động viên và giao nhiệm vụ: Bộ đội nâng cao cảnh
giác cách mạng, đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của kẻ địch;
Nhân dân ủng hộ bộ đội hoàn thành nhiệm vụ. Trước khi ra về Đại tướng còn
căn dặn bộ đội nếu còn điều gì thắc mắc thì viết ngay đơn, Đại tướng sẽ cử
người về nhận để tiếp tục giải đáp một cách nhanh nhất. Nhưng sau đó toàn
đơn vị đã ổn định tư tưởng, xác định yên tâm công tác và đoàn kết bên nhau
xây dựng đơn vị, xây dựng Nông trường, cố gắng phấn đấu hoàn thành hai
nhiệm vụ chính:
- Thứ nhất là kiến thiết xây dựng doanh trại bằng tranh tre nứa lá để
góp phần ổn định nơi ăn chốn ở và chỗ làm việc, từ đó góp phần ổn định tình
hình chính trị và trị an trong khu vực.
- Thứ hai là khảo sát đất đai, khai khẩn đất hoang đưa vào sản xuất
lương thực và chăn nuôi gia súc, đặc biệt là trâu bò.
Phương tiện sản xuất và phục vụ sản xuất có giá trị nhất lúc này bao
gồm 2 máy kéo KD 35, một máy cày ĐT 54 và một ô tô tải loại nhỏ. Mặc dù
khó khăn còn chồng chất nhưng phát huy phẩm chất tốt đẹp của anh bộ đội
Cụ Hồ, toàn bộ cán bộ chiến sỹ của đơn vị đã khai hoang được trên 20 ha đất
đai đưa vào sản xuất, xây dựng được một chuồng bò cột gỗ, lợp lá, nền xi
măng nuôi 5 con trâu và 54 con bò vàng Việt Nam ở Ba Vành. Tháng 4 năm
1958, đơn vị tiếp quản cơ sở sản xuất Đồng Vàng thuộc Cục Nông Binh.
Đến tháng 5 năm 1958, toàn bộ cơ ngơi xây dựng được đã được bàn
giao lại cho Trung đoàn 658 thuộc Sư đoàn 338 để thành lập và xây dựng
nông trường quân đội. Bộ khung của đơn vị cũ được điều động về Cục
Nông Binh.
18
Nhiệm vụ của Trung đoàn 658 là đóng quân bảo vệ tình hình an ninh
chính trị dọc theo hai con đường 84 và 87, xây dựng doanh trại ổn định và
khai khẩn đất hoang đưa vào sản xuất trồng trọt và chăn nuôi. Kể từ đây,
Nông trường Quân đội 658 được thành lập và được mọi người quen gọi là
Nông trường 658.
Về tổ chức nhân sự và hành chính, các cán bộ khung của Trung đoàn
chính là các cán bộ lãnh đạo của Nông trường quân đội: đồng chí Nguyễn
Văn Cẩm trung đoàn trưởng làm giám đốc Nông trường, các đồng chí Sỹ và
Hòa, trung đoàn phó làm các phó giám đốc Nông trường. Đồng chí Phan
Hường, chính trị viên làm Bí thư Đảng ủy Nông trường. Đồng thời thành lập
các phòng ban theo cơ cấu tổ chức của một Nông trường, bao gồm các phòng
tổ chức cán bộ, kế hoạch, tài vụ, lao động tiền lương, cung tiêu, trồng trọt,
chăn nuôi, cơ khí, bệnh xá và bảo vệ. Dưới các phòng ban là các đội sản xuất,
trồng trọt, chăn nuôi, phục vụ và các cửa hàng tiêu thụ sản phẩm.
Về tổ chức chính trị, Nông trường có Đảng bộ, Công đoàn và Đoàn
Thanh niên đều có Ban Chấp hành với nhiệm kỳ hoạt động 1 năm. Các tổ
chức chính quyền và đoàn thể đều hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Đại hội Đảng bộ lần đầu tiên của Nông trường 658 được tổ chức vào
tháng 12 năm 1958 đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị là phát triển
chăn nuôi bò lấy sữa, đất đai khai khẩn đến đâu trồng trọt ngay đến đó để
phục vụ đời sống cán bộ chiến sỹ và phục vụ chăn nuôi, tận dụng mọi khả
năng để phát triển theo phương châm “lấy ngắn nuôi dài” [18, tr. 15 - 16].
Cuối năm 1959, Bác Hồ và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã về thăm
và động viên tinh thần cho cán bộ và chiến sỹ của Nông trường. Việc Bác về
thăm đã tiếp thêm cho Nông trường một sức sống mới, tư tưởng và hoạt động
phấn đấu sáng tạo của toàn thể cán bộ chiến sỹ nông trường càng thêm ổn
định và nâng cao.
19
Ngày 22 tháng 12 năm 1960, Trung đoàn 658 tổ chức phong quân hàm
đồng thời làm lễ hạ sao chuyển ngành tập thể. Kể từ đó, Nông trường quân
đội 658 chính thức chuyển đổi thành Nông trường Quốc doanh Ba Vì trực
thuộc Bộ Nông trường Quốc doanh do ông Nghiêm Xuân Yêm làm Bộ
trưởng. Lúc này, đồng chí thiếu tá Nguyễn Văn Cẩm được bổ nhiệm làm giám
đốc và đồng chí đại uý Phan Hường được bầu làm bí thư Đảng uỷ của nông
trường. Sau thời điểm này, Nông trường hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp
quốc doanh “tập trung, bao cấp” để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
và dốc sức cho sự nghiệp “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” [18,
tr. 16].
* Tiểu kết chương 1
Ba Vì là vùng đất được thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh quan tươi đẹp.
Là địa bàn quan trọng với những lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài
nguyên thiên nhiên và con người cho hoạt động chăn nuôi gia súc trâu, bò rất
phát triển, đặc biệt nuôi bò sữa đã trở thành kinh tế chính của huyện nuôi bò
sữa đã cho thấy tính hiệu quả và bền vững, đặc biệt là đối với những vùng
thuần nông: năng suất cây trồng thấp. So với heo và gà. thì nuôi bò sữa cho
hiệu quả kinh tế cao và ổn định hơn. Đến nay nhiều tỉnh trong cả nước đã xây
dựng dự án phát triển bò sữa.
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, nhìn lại chặng đường hơn
50 năm xây dựng và phát triển, 20 năm đổi tên và chuyển chế độ quản lý. Từ
khi thành lập, Trung tâm đều gắn chức năng nhiệm vụ là nghiên cứu khoa học
về lĩnh vực chăn nuôi bò sữa, bò thịt và đồng cỏ. Một chặng đường dài nghiên
cứu khoa học đầy khó khăn, gian khổ và thành công. Những kết quả nghiên
cứu khoa học là sự đóng góp của tập thể lãnh đạo, cán bộ công nhân viên
chức ở các thời kỳ trong chặng đường dài ấy. Ba Vì hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ được giao, góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi nước ta ngày càng
phát triển.
20
Chương 2
QÚA TRÌNH HOẠT ĐỘNG TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU BÒ
VÀ ĐỒNG CỎ BA VÌ (1958 - 2011)
2.1. HOẠT ĐỘNG CỦA NÔNG TRƯỜNG QUỐC DOANH BA VÌ
THUỘC BỘ NÔNG TRƯỜNG (1958 - 1977)
2.1.1. Hoạt động phát triển kinh tế của Nông trường
Nhiệm vụ phát triển kinh tế của Nông trường trong giai đoạn này tiếp tục
tập trung vào việc khai khẩn đất hoang thành đất ở và đất trồng trọt sản xuất
lương thực và phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm; chăn nuôi bò sản xuất sữa
tươi, đồng thời, chọn lọc để lai giống và nhân rộng đàn bò sữa có năng suất
sữa cao. Nhiệm vụ này xuyên suốt đến các giai đoạn về sau này.
Giai đoạn này gắn với sự lãnh đạo của Ban giám đốc Trung tâm gồm:
Giám đốc Đoàn Hòa, Phó Giám đốc Nguyễn Văn Thính (1961-1962); 19621963: Giám đốc Nguyễn Văn Thính, Phó Giám đốc Lê Văn Hòa, Trịnh Bá
Tùng; 1963-1964: Giám đốc Nguyễn Văn Cổ, Phó Giám đốc Lê Văn Hòa,
Trịnh Bá Tùng; 1964-1968: Giám đốc Nguyễn Văn Thính, Phó Giám đốc
Nguyễn Văn Cổ, Lê Văn Hòa, Lê Văn Tiếp, Đỗ Việt Hà, Lê Quang Khá,
Hoàng Thế Uyên; 1968-1972: Giám đốc Lê Quang Khá, Phó Giám đốc Lê
Văn Tiếp, Đỗ Việt Hà, Hoàng Thế Uyên; 1972-1974: Giám đốc Nguyễn Văn
Thưởng, Phó Giám đốc Lâm Văn Tất, Nguyễn Hữu Huyên, Hoàng Thế Uyên;
1974-1975: Giám đốc Lâm Văn Tất, Phó Giám đốc Nguyễn Hữu Huyện, Trần
Văn Tiến, Hoàng Thế Uyên; 1975-1977: Giám đốc Trần Văn Tiến, Phó Giám
đốc Nguyễn Hữu Huyện, Đào Thanh Long, Hoàng Thế Uyên; Dưới sự lãnh
đạo của Ban giám đốc, Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì giai đoạn
này đã từng bước hoàn thành nhiệm vụ, trước tiên là nhiệm vụ phát triển
kinh tế.
21
Đầu năm 1960, Nông trường được tiếp nhận đàn bò sữa Holstein Friesian
(bò HF lang trắng đen) do Trung Quốc viện trợ. Bò cái được nuôi ở đội 2 (đội
Đồng Vàng), bò đực được nuôi ở trại bò đực giống. Song do điều kiện khí hậu
nóng ẩm, đàn bò bị nhiễm bệnh ký sinh trùng đường máu làm một số bò bị
chết, những con còn sống gầy yếu, ve cắn khắp thân thể. Khi đó chẩn đoán và
xác định nguyên nhân là do khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên Bộ Nông trường
đã quyết định chuyển giao số bò trên cho Nông trường Mộc Châu và Nông
trường Tam Đường, nơi có khí hậu tương đối ôn hòa phù hợp với đàn bò sữa
nhập nội này hơn. Vì vậy, đàn bò dần dần phục hồi, cho năng suất sữa cao
hơn và dịch bệnh được dập tắt. Sau đó, để có được đàn bò sữa cao sản thích
nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm, đề tài “Nghiên cứu tạo giống bò sữa
bằng phương pháp tạp giao giữa bò lai Sind với bò lang trắng đen Trung
Quốc” đã được thực hiện tại Nông trường Quốc doanh Ba Vì từ năm 1964.
Sau khi bò sữa HF Trung Quốc không thích nghi điều kiện khí hậu tại Ba Vì
phải chuyển vùng [34, tr. 16].
Năm 1964, đề tài được ông Trần Doãn Hối, trưởng bộ môn đại gia súc
Ban Chăn nuôi, Viện Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, chủ trì cùng các ông
Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Đức Tặng, và Lê Văn Ngọc thực hiện. Cuối năm
1968, đề tài tiến hành báo cáo tổng kết về thế hệ đàn bò lai Hà Ấn F1, lúc này
có gần 200 con trong tổng đàn 1297 con của Nông trường Ba Vì.
Sản lượng sữa bình quân của bò Hà Ấn F1 đạt 1800 kg/con/chu kỳ cao
hơn hẳn sản lượng 1600 kg/con/chu kỳ của bò lai Sind được nuôi lấy sữa tại
nông trường cho đến thời điểm đó. Hơn nữa, bò F1 thích nghi với điều kiện
nhiệt đới nóng ẩm ở Ba Vì. Với kết quả đó, Nông trường Ba Vì tập trung
nhiệm vụ vào hướng sản xuất bò lai và cho lai tiếp đời thứ hai (F2) và đời thứ
ba (F3).
22
Đàn bò lai phát triển tăng đàn giúp cho sản lượng sữa và năng suất sữa
bình quân toàn đàn của Nông trường Ba Vì tăng lên làm tấm gương học tập
cho nhiều Nông trường khác như Nông trường Mộc Châu, Nông trường Xuân
Mai, Nông trường Đồng Giao v.v… Sau khi miền Nam được giải phóng,
nước nhà thống nhất, bò lai Hà Ấn còn được điều chuyển vào Thành phố Hồ
Chí Minh để góp phần phát triển đàn bò sữa ở các tỉnh phía Nam.
Do yêu cầu mở rộng phát triển quy mô sản xuất, năm 1961, tập đoàn sản
xuất nông nghiệp Quyết Tiến ở Mỏ Chén (thuộc địa bàn thôn Mỏ Chén xã
Yên Bài ngày nay) đã được sát nhập với Nông trường quốc doanh Ba Vì, lúc
này vẫn được mọi người quen gọi là Nông trường 658 [18, tr.19].
2.1.2. Giữ gìn an ninh trật tự và chăm lo đời sống cán bộ công nhân viên
Bên cạnh việc hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế, Nông trường quốc
doanh Ba Vì còn là đơn vị nòng cốt để giữ gìn trật tự an ninh trong khu vực
và chăm lo cuộc sống tinh thần cho đội ngũ cán bộ công nhân viên đông đảo
của mình.
Công tác an ninh quốc phòng:
Công tác tự vệ thường xuyên làm tốt công tác tham mưu cho cấp uỷ
đảng và chính quyền của Trung tâm về công tác quân sự địa phương, xây
dựng kế hoạch quân sự phù hợp với điều kiện của đơn vị. Tham mưu và tham
gia bảo vệ tốt, an toàn tuyệt đối các sự kiện quan trọng như bầu cử Quốc hội,
tổng điều tra dân số, hoặc các chuyến đến thăm và làm việc tại Trung tâm của
các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước hay lãnh đạo của các cơ quan cấp
trên.
Công tác huấn luyện và hội thao quân sự hàng năm vẫn duy trì là đơn
vị mạnh trong huyện. Kết quả huấn luyện quân sự giai đoạn 1 hoặc kiểm tra
bắn đạn thật luôn được xếp loại là đơn vị khá. Tham gia hội thao quân sự
trong toàn huyện nhiều năm đạt giải nhì, ba toàn đoàn.
23
Công tác an ninh chính trị:
Trung tâm đã phối hợp chặt chẽ với công an tỉnh, huyện và các đoàn
thể khác phát động phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đã có nhiều cố gắng
giải quyết từng bước các vướng mắc, phương châm chỉ đạo là giải quyết các
vướng mắc từ cơ sở, giải quyết ngay từ việc nhỏ, không để sự việc phức tạp
thêm, đã tạo lòng tin trong cán bộ và quần chúng nhân dân. Phát động phong
trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, phòng chống các tệ nạn xã hội, xây
dựng và củng cố tổ an ninh nhân dân ở 5 xóm dân cư, tăng cường công tác
phòng chống cháy nổ. Trong những năm qua tình hình an ninh chính trị trong
trung tâm ổn định, cán bộ và nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng,
của Trung tâm.
Đầu năm 1961, Nông trường đã thành lập nhà trẻ ở hầu hết các tổ, đội
và trạm trại để trông giữ con cái cho các bố mẹ là các cán bộ công nhân viên
của Nông trường an tâm sản xuất. Năm 1963, Nông trường đã xây dựng
Trường cấp 1 (Trường tiểu học Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì
hiện nay) cho các cháu nhỏ là con các cán bộ, công nhân Nông trường. Năm
1968 trường cấp 2 (nay là trường trung học cơ sở) được xây dựng. Các công
trình khác như Trạm xá mới (1969), đập thủy điện Suối Bơn (1969) v.v… đều
lần lượt được xây dựng để chăm lo và cải thiện cuộc sống cho đội ngũ cán bộ
công nhân viên, mà có thời điểm đã lên tới hàng ngàn người, của Nông
trường.
2.1.3. Thực hiện khai khẩn đất hoang phát triển trồng cây lương thực và
cây thức ăn cho gia súc
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ khai khẩn đất hoang và phát triển trồng cây
lương thực và cây thức ăn gia súc theo hướng công nghiệp hóa hiện đại vào
giai đoạn này, Nông trường quốc doanh Ba Vì đã được Bộ Nông trường và
Nhà nước trang bị cho nhiều loại máy móc và trang thiết bị được nhập khẩu
24
từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN Đông Âu như máy cày bánh xích
DT54, máy ủi Đông Phương Hồng, máy Được Mùa cày ruộng nước, máy liên
hoàn thu hoạch và đóng bánh cỏ, máy thái cỏ, máy nghiền thức ăn gia súc,
dàn máy phun mưa trên đồng cỏ v.v… Nhiều công việc trồng trọt, thu hoạch
và chế biến cây thức ăn gia súc được cơ giới hóa toàn bộ ví dụ như các khâu
làm đất, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch cây ngô trồng với mật độ dày làm
thức ăn gia súc đều được cơ giới hóa. Các cán bộ và công nhân của đội cơ khí
- máy kéo đều được cử đi tham gia các khóa đào tạo hoặc tập huấn chính quy
hay bổ túc về chuyên ngành cơ khí và máy kéo nên hàng năm, Nông trường
đều hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật về ngành trồng trọt mà Bộ Nông
trường giao cho [25, tr. 122].
Sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên Nông trường kết hợp với sự trợ
giúp của máy móc đã góp phần tạo nên những đồng cỏ chăn thả rộng hàng
chục hec ta, những đồi gò hoang trọc đã trở thành các rừng cây, đồi sắn. Sức
người cộng sức máy đã làm phương châm khai khẩn đất hoang của Nông
trường: “đội mũ bê-rê, thắt lưng và đi ủng cho đồi” nhanh chóng trở thành
hiện thực. Với phương châm này, rừng cây được trồng trên chỏm đồi, nhiều
hàng cây được trồng theo đường bình độ xung quanh đồi tạo thành các đai
lưng đồi, và một thảm cây rừng được trồng dưới chân đồi kết nối các đồi với
nhau. Đồng cỏ và đồi cây, ngoài ý nghĩa thiết thực cho phát triển kinh tế còn
giúp Nông trường tạo cảnh quan xanh, sạch, đẹp bao quanh, cải thiện môi
trường và chống xói mòn giữ gìn màu mỡ cho đất. Bên cạnh những kết quả
đạt được trong việc thực hiện nhiệm vụ chính là chăn nuôi bò và sản xuất sữa
góp phần đem lại một vinh dự lớn cho Nông trường Ba Vì là công nhân chăn
nuôi bò Hồ Giáo được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động
năm 1966, các hoạt động trồng cây gây rừng phủ xanh đồi gò đã góp phần
làm phong phú thêm bức tranh thành tích của Nông trường vào giai đoạn này.
25
Đến năm 1972, Nông trường quốc doanh Ba Vì quản lý gần 3000 hec ta
đất đai, trải dài từ dốc Đá Bạc (nay thuộc phường Xuân Khanh, Sơn Tây, Hà
Nội) vào đến chân núi Ba Vì theo chiều từ đông sang tây, từ bờ nam hồ Suối
Hai đến khu vực Hòa Lạc, giáp với Nông trường 1A theo chiều từ Bắc xuống
Nam [18, tr. 25 - 27].
2.1.4. Thành lập trạm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì và Nông trường
Việt Phi
*Trạm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì
Trạm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì vốn tiền thân là Tổ Nghiên cứu
Bò và Đồng cỏ được thành lập từ tháng 8 năm 1964 trực thuộc Ban Khoa học
và Kỹ thuật, sau là Vụ Quản lý Khoa học Kỹ thuật, Bộ Nông trường.
Khi Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường, và Bộ Lâm nghiệp - Lương
thực - Thủy sản nước ngọt được hợp nhất thành Ủy ban Nông nghiệp Trung
ương thì Trạm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì được chuyển về Viện Chăn
nuôi trực tiếp quản lý, nhưng cho đến lúc này vẫn độc lập với nông trường Ba
Vì.
Trạm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì là đơn vị độc lập có chức năng
nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và thực nghiệm trên diện rộng. Trạm có con
dấu và tài khoản riêng. Mối quan hệ của Trạm với Nông trường Ba Vì chỉ là
sinh hoạt ghép các đoàn thể như Đảng, Đoàn, Công đoàn, Phụ nữ …
Các địa điểm thực hiện các đề tài nghiên cứu của Trạm ngoài Nông
trường Ba Vì còn nằm rải ra ở nhiều nơi trên miền Bắc Việt Nam. Từ Nông
trường Quyết Thắng nằm gần vĩ tuyến 17, đến Nông trường Việt - Trung ở
Quảng Bình, Nông trường Hà Trung (Thanh Hóa), Nông trường Đồng Giao
(Ninh Bình), Ty Nông nghiệp Cao Bằng, Nông trường Đường Hoa Cương
(Quảng Ninh) … Vào thời kỳ cao điểm, Trạm có 26 kỹ sư nông nghiệp các
ngành khác nhau.