Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

Nhân tố dân tộc trong sự sụp đổ của liên bang xô viết năm 1991

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (916.88 KB, 100 trang )

Khoá luận tốt nghiệp Đại học

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...................................................................................... 3
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu .............................................................. 4
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................................. 4
5. Đóng góp của khóa luận. ......................................................................................... 5
6. Bố cục của khóa luận .............................................................................................. 5
Chƣơng 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở
LIÊN XÔ .................................................................................................................... 6
1.1. LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC .................................................................. 6
1.1.1. Khái niệm dân tộc ............................................................................................. 6
1.1.2. Chủ nghĩa Mác- Lênin bàn về vấn đề dân tộc................................................. 12
1.1.2.1. Chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc ................................................................ 12
1.1.2.2. Chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề dân tộc .................................................... 16
1.2. THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở LIÊN XÔ ..................................... 23
1.2.1. Khái quát về bức tranh dân tộc ở Liên Xô ...................................................... 23
1.2.2. Chính sách dân tộc dưới thời Lênin ................................................................ 26
1.2.3. Chính sách dân tộc từ thời Stalin đến Gorbachev ........................................... 31
1.2.3.1. Thời kỳ Stalin (1924- 1953) ......................................................................... 31
1.2.3.2. Thời kỳ Khơrútsốp (1956-1964) ................................................................... 34
1.2.3.3. Thời kỳ Brêgiơnhép (1964- 1982) ................................................................ 35
1.2.3.4. Thời kỳ Gorbachev (1985- 1991) ................................................................. 36
1.3. TIỂU KẾT .......................................................................................................... 38
CHƢƠNG 2: NHÂN TỐ DÂN TỘC TRONG SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN BANG
XÔ VIẾT NĂM 1991 .............................................................................................. 40
2.1. SỰ KHỦNG HOẢNG, SỤP ĐỔ NHÀ NƢỚC DÂN TỘC LIÊN XÔ ......... 40
2.1.1. Khủng hoảng ở Liên Xô .................................................................................. 46


SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


Khoá luận tốt nghiệp Đại học
2.1.2. Công cuộc cải tổ của Gorbachev và sự tan rã của Liên Xô ............................ 46
2.1.2.1. Bước đầu cải tổ (4/1985 đến 6/1988) .......................................................... 46
2.1.2.2.Cải tổ sâu rộng và chệch hướng Chủ nghĩa xã hội (7/1988 đến 6/1990) ..... 49
2.1.2.3. Thất bại của cải tổ và sự tan rã của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Xô Viết (7/1990 đến 12/1991) ................................................................................... 53
2.2. NHÂN TỐ DÂN TỘC TRONG SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN BANG XÔ VIẾT
NĂM 1991 ................................................................................................................ 56
2.2.1. Giai đoạn 1: 1985-1987 ................................................................................... 56
2.2.2. Giai đoạn 2: 1987-1989. ................................................................................. 60
2.2.2.1. Các nước cộng hòa Baltíc đòi xét lại việc gia nhập Liên bang Xô Viết trước
đây (8/1987) .............................................................................................................. 60
2.2.2.2. Xung đột giữa Azerbaijan và Armenia về vấn đề chủ quyền tỉnh tự trị
Nagorno - Karabakh (2/1988) .................................................................................. 63
2.2.2.3. Bạo loạn giữa người theo đạo Hồi và người Uzơbếc ở Uzơbêkixtan
(6/1989) ..................................................................................................................... 66
2.2.2.4. Đấu tranh đòi thay đổi chữ viết ở Mônđôva ............................................... 67
2.2.3. Giai đoạn 3: 1990-1991 ................................................................................... 69
2.2.3.1. Trở lại Baltic ................................................................................................ 69
2.2.3.2. Nước Nga thức tỉnh ...................................................................................... 72
2.3. NGUYÊN NHÂN SỰ BÙNG NỔ VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở LIÊN XÔ .......... 75
2.3.1. Nhân tố khách quan ......................................................................................... 75
2.3.2. Nhân tố chủ quan ............................................................................................ 77
2.4. BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM. ..................................... 81
2.5. TIỂU KẾT ......................................................................................................... 85
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 95


SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


Khoá luận tốt nghiệp Đại học

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Nhân tố dân tộc trong sự sụp
đổ của Liên bang Xô Viết năm 1991”, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu
sắc nhất tới thầy giáo Nguyễn Văn Vinh – người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ
bảo tận tình, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, các thầy cô giáo trong khoa
Lịch sử, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 và các bạn trong tập thể k34-Cử nhân
lịch sử - những người luôn gần gũi, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề
tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Sang

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


Khoá luận tốt nghiệp Đại học

LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy giáo
Nguyễn Văn Vinh. Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Sinh viên thực hiện

Vũ Thị Sang

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


1
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang ở vào thời kỳ biến chuyển lịch sử sâu sắc. Bên cạnh những
thuận lợi cơ bản do xu thế hòa dịu, mở rộng giao lưu, hợp tác khu vực và quốc tế
đem lại, toàn nhân loại vẫn đang phải đối mặt với nhiều mối hiểm họa, thách thức
đó là vấn đề mâu thuẫn dân tộc, xung đột dân tộc.
Vấn đề dân tộc là một vấn đề hết sức nhạy cảm, nhạy cảm cả trong một xã
hội thuần nhất về dân tộc, còn đặc biệt nhạy cảm hơn rất nhiều đối với những xã hội
đa dân tộc. Cho đến ngày nay, có thể nói không có quốc gia nào không bao gồm
nhiều dân tộc cùng chung sống. Mà giữa các dân tộc người lại có sự khác nhau rất
lớn về lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, trình độ phát triển kinh tế, v.v…Tính
chất nóng bỏng của mâu thuẫn này thể hiện ở chỗ: các cuộc xung đột dân tộc diễn ra
một cách phổ biến ở khắp mọi nơi trên thế giới. Mâu thuẫn lớn gây ra nội chiến,
mâu thuẫn nhỏ gây ra sự tranh chấp trong việc phân chia chính trị, kinh tế, lãnh
thổ… Dù diễn ra dưới bất kỳ hình thức nào thì mâu thuẫn dân tộc vẫn là mâu thuẫn
gây ra những hậu quả hết sức nặng nề.
Việc giải quyết vấn đề này quả thực không đơn giản chút nào bởi không thể
có một hay một số giải pháp chung để giải quyết một cách hữu hiệu mọi xung đột
dân tộc ở những quốc gia khác nhau. Trên thực tế chính phủ các nước có tồn tại vấn
đề dân tộc đã đưa ra những biện pháp để ngăn chặn, tiến tới loại trừ nó. Tuy nhiên,
thành công đến đâu lại tùy thuộc vào khả năng và nỗ lực của bản thân chính phủ các
nước đó.

Liên bang Cộng hòa Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô) thành lập ngày 30/12/1922.
Là một nước rộng lớn gồm hơn 100 dân tộc, trong đó dân tộc Nga là chính, các dân
tộc thiểu số khác chiếm 57% trong tổng số dân. Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa
giữa các dân tộc rất chênh lệch. Giữa các dân tộc có sự khác biệt nhau về ngôn ngữ,
tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán… Trải qua 69 năm tồn tại đã bị giải thể
ngày 22/12/1991. Mười lăm nước cộng hòa của Liên Xô trước đây đã trở thành

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


2
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
những nước độc lập, có chủ quyền. Mười một nước đã liên kết lại trong cộng đồng
quốc gia độc lập (SNG). Nguyên do vì sao? Đến nay nó vẫn là một câu hỏi lớn.
Mười năm nay, mọi người từ góc độ khác nhau, chuyên môn khác nhau, viết
sách, lập thuyết thảo luận nguyên do với rất nhiều quan điểm và câu trả lời. Song
các quan điểm chủ yếu đã chỉ ra sự tồn tại của một vấn đề quan trọng là: Thất bại
của chính sách dân tộc.
Tìm hiểu nguyên nhân của sự khủng hoảng và tan rã của Liên Xô nhằm rút
ra những kinh nghiệm và những bài học lịch sử nhằm phục vụ cho tiến trình phát
triển sau này đã trở thành một hướng nghiên cứu phổ biến và quan trọng của nhiều
cơ quan, học giả nghiên cứu lịch sử.
Xuất phát từ tình cảm đặc biệt với đất nước Liên Xô anh hùng và người dân
Nga, cùng với việc nhận thấy những giá trị lý luận và thực tế của vấn đề trong tiến
trình phát triển chung của lịch sử và công cuộc đổi mới, phát triển đất nước ở Việt
Nam, tôi chọn đề tài này để tìm hiểu với các lý do sau:
Trước hết là đối với nước Nga. Đối với một quốc gia, việc quay trở lại nhìn
nhận những vấn đề trong quá khứ nhằm rút ra những giá trị, những kinh nghiệm là
một yêu cầu phục vụ cho định hướng phát triển của quốc gia trong tương lai.
Nước Nga hiện nay đã từng trải qua bao nhiêu biến động thăng trầm trong

quá khứ, đặc biệt là sự ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ của quốc gia này tới lịch sử
nhân loại trong thế kỷ XX, nghĩa là mọi sự vận động trong lòng của nước Nga Xô
Viết cùng với bề dày lịch sử đó vốn là rất phức tạp và việc nhìn nhận lại nó không
hề đơn giản thì việc phải nhiều lần quay lại bàn cãi về nó là điều tất yếu.
Sự nhìn nhận đó sẽ đem lại cho nước Nga hiện nay nhiều bài học giá trị.
Không chỉ ở chỗ lý giải được sự ra đi đầy tiếc nuối của Liên bang Xô Viết mà còn
góp phần tạo tiền đề lý giải cho những sai lầm của chính quyền Nga thời kỳ hậu Xô
Viết trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc thời Tổng thống Nga B.Enxin - một
trong những nguồn cội chính của vấn đề “ly khai” mà Nga đang đối mặt trong giai
đoạn hiện nay, cùng với việc tìm ra lối thoát cho vấn đề này trong nhiều sự nỗ lực
vực dậy nước Nga mà “triều đại Putin” đang thực hiện.

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


3
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
Đối với Việt Nam, những bài học lịch sử rút ra từ các quốc gia khác, đặc biệt
là đối với những quốc gia từng chung một sự lựa chọn con đường phát triển như đất
nước ta, cũng không kém phần giá trị.
Quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là nói đến quan hệ giữa các
tộc người trong một quốc gia đa dân tộc. Việc giải quyết mối quan hệ đó là điều
kiện đảm bảo cho sự tồn vong của các quốc gia. Đến thế kỷ XX, trong cả hai cuộc
kháng chiến cứu nước vĩ đại, vấn đề dân tộc được giải quyết đúng đắn cũng trở
thành một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Hiện nay, trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa, quá trình thực hiện công
bằng, bình đẳng, tương trợ cùng nhau phát triển giữa các dân tộc ở Việt Nam đang
đặt ra nhiều vấn đề chung. Nếu không giải quyết kịp thời và có phương pháp thích
hợp sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng. Bởi vậy, quan tâm tới vấn đề dân tộc
đã từng xảy ra ở Liên Xô là một cách tham khảo thiết thực nhằm tránh những sai sót

có thể có trong quá trình thực hiện đường lối về chính sách dân tộc ở Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tìm hiểu nguyên nhân sụp đổ của Liên bang Chủ nghĩa xã hội Xô Viết
không phải là một đề tài mới, nhưng luôn mang tính thời sự sâu sắc, trong đó vấn đề
dân tộc được đề cập như một nguyên nhân quan trọng cũng được đề cập nhiều.
Trên thế giới, vào những năm 70 khi mà vấn đề dân tộc chưa bùng nổ dữ dội
ở Liên Xô thì các học giả phương Tây chuyên nghiên cứu Liên Xô đã có những
công trình khoa học dự đoán về sự bùng nổ của vấn đề này trong tương lai. Tiêu
biểu là tác phẩm: “Đế chế tan vỡ, cuộc nổi dậy của các dân tộc ở Liên Xô” của học
giả Halenne Carria Dancausse xuất bản lần đầu tiên năm 1978 và đã được dịch sang
Tiếng Việt. Ở Việt Nam, sau sự tan vỡ của Liên bang Xô Viết năm 1991, rất nhiều
công trình nghiên cứu về vấn đề này xuất hiện, được lưu hành nội bộ hoặc đăng trên
các tạp chí uy tín của khoa học lịch sử Việt Nam. Có thể kể đến thông tin chuyên đề
số 4/ 2004 của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện Hà Nội với
tên gọi: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917, sự kiện chính trị
tháng 8/ 1991, ở Liên Xô và Liên bang Nga ngày nay”. Hay bài viết của nhà nghiên

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


4
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
cứu Nguyễn Hồng Vân - Viện sử học đăng trên tạp chí “Nghiên cứu lịch sử” số 2/
1996 với tên gọi: “Vấn đề dân tộc - một trong những nguyên nhân tan rã của Liên
bang Xô Viết” cho ta cách nhìn toàn diện về vấn đề này. Ngoài ra, còn có tác phẩm
lý luận khác về vấn đề dân tộc như: “ Những vấn đề lý luận cấp bách về quan hệ
dân tộc” (chủ biên: Phan Hữu Duật) và các số báo “Quân đội nhân dân” từ năm
1985 đến năm 1991 cũng đề cập nhiều nội dung của vấn đề này.
Đây là cơ sở thuận lợi để tôi khai thác tư liệu phục vụ cho đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1. Mục đích
Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích nhấn mạnh nhân tố dân tộc trong sự sụp đổ
của Liên bang Xô Viết. Qua đó, cho thấy sự cần thiết phải có những giải pháp để
giải quyết vấn đề dân tộc, nâng cao tinh thần đại đoàn kết dân tộc ở các nước có
nhiều thành phần dân tộc khác nhau, trong đó có Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ
Nghiên cứu đề tài nhằm nhiệm vụ lý giải sự thất bại của chính sách dân tộc ở
Liên Xô- một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ của Liên bang
Xô Viết năm 1991. Qua đây rút ra những kinh nghiệm và bài học lịch sử về chính
sách dân tộc ở Việt Nam.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp, tôi không đi sâu vào phân tích
các chính sách dân tộc như một số chuyên đề, mà ở đây chỉ xin tập trung nghiên cứu
những biện pháp của chính phủ có liên quan tới việc giải quyết các vấn đề dân tộc
nhằm giải quyết vấn đề hòa hợp dân tộc ở Liên Xô.
Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian của đề tài là từ năm 1922 đến năm
1991.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tƣ liệu
Để hoàn thành kháo luận này, tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
+ Các công trình nghiên cứu về Liên Xô của các tác giả Nga đã được phiên
dịch sang tiếng Việt như: Halenne Carria Dancausse, Martin Mccauley....

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


5
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
+ Các cuốn sách, bài viết về Liên Xô ở Thư viện Quốc gia, Thư viện Khoa
học xã hội và nhân văn, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.

+ Các bài báo, tạp chí như Tạp chí nghiên cứu châu Âu, Tạp chí cộng sản…
lưu tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trước hết, đây là một đề tài lịch sử nên phương pháp lịch sử (đồng đại và
lịch đại) và phương pháp logic đã được vận dụng một cách triệt để trong khóa luận
để phân tích mối liên hệ qua lại giữa các sự kiện, hiện tượng trong chính sách dân
tộc của chính phủ Liên Xô.
Để có cái nhìn so sánh, khóa luận cũng sử dụng phương pháp tổng hợp, phân
tích, so sánh nhằm nêu bật lên những chính sách dân tộc được thực hiện qua các đời
Tổng thống ở Liên Xô.
5. Đóng góp của khóa luận
Nhân tố dân tộc trong sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết từ lâu đã là đề tài
nghiên cứu của các nhà khoa học. Song đề tài này cũng có một số đóng góp cụ thể sau:
Tập hợp, xử lý và hệ thống hóa nguồn tư liệu nghiên cứu về Liên Xô nói
chung và về chính sách dân tộc nói riêng.
Trên cơ sở tổng hợp và phân tích nguồn tư liệu, sách nghiên cứu viết về Liên
Xô và về chính sách dân tộc của Liên Xô, đề tài đã phân tích nhân tố dân tộc trong
sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết năm 1991.
Bằng việc phân tích những chính sách dân tộc mà chính phủ Liên Xô thực
hiện, đề tài đã chứng minh được sự thất bại của chính phủ Liên Xô trong việc giải
quyết mâu thuẫn dân tộc.
Trên cơ sở tổng hợp các kết quả phân tích trên, đề tài nêu bật được những
thành công và hạn chế của chính sách dân tộc thực hiện ở Liên Xô. Qua đó rút ra
những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo. Đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Một số lý luận và thực tiễn về vấn đề dân tộc ở Liên Xô
Chương 2: Nhân tố dân tộc trong sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết năm 1991

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử



6
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc

Chƣơng 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở LIÊN XÔ
1.1. LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
1.1.1. Khái niệm dân tộc
Khái niệm “dân tộc” là khái niệm được các nhà khoa học rất quan tâm, tuy
nhiên, do đứng trên quan điểm và góc độ nghiên cứu khác nhau nên có rất nhiều
định nghĩa về dân tộc và cũng chưa có định nghĩa nào chung nhất được tất cả mọi
người thừa nhận. Thuật ngữ “dân tộc” theo gốc Latinh là “Natio” có nguồn gốc từ
chữ “Nasei” nghĩa là sinh ra. Mặc dù không được sử dụng đầy đủ ý nghĩa như ngày
nay nhưng từ cuối thời trung cổ thuật ngữ “dân tộc” đã dùng rộng rãi ở châu Âu. Bá
tước Đơ Maixtrơ (Pháp) dùng khái niệm “dân tộc” để chỉ cộng đồng người rất đẹp
trong một nước gồm vua và quý tộc. Đối lập với quan niệm này, các nhà tư tưởng
cách mạng tư sản ở nhiều nước châu Âu dùng khái niệm “dân tộc” để chỉ cộng đồng
nhân dân trong một quốc gia: không có vua và quý tộc trong cộng đồng này; những
thị dân và đẳng cấp thứ ba được xem như thành phần của dân tộc. Như vậy trong
giai đoạn này khái niệm dân tộc mang nội dung giai cấp, đẳng cấp và chưa trở thành
một khái niệm mang tính học thuật.
Đến thời kỳ khai sáng (thế kỷ XVII-XVIII), các nhà tư tưởng tư sản là những
học giả đầu tiên đưa ra các định nghĩa học thuật về dân tộc. Có người cho rằng dân
tộc là một tập hợp dân chúng có một quốc gia. Theo Điđơrô (Pháp) thì dân tộc là một
số lượng đáng kể dân chúng sống trên một phạm vi đất nước nhất định và tuân theo
sự cai trị của một chính phủ. Như vậy, các nhà tư tưởng tư sản đã gắn dân tộc với
quốc gia và nhấn mạnh quan hệ chính trị (quan hệ nhà nước), nhưng không đề cập
đến quan hệ cộng đồng về kinh tế.

Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nhà lý luận tư sản phủ nhận quan hệ
kinh tế, chính trị, xã hội mà nhấn mạnh yếu tố tinh thần và yếu tố chủng tộc khi đề
cập đến vấn đề “dân tộc”. So với các nhà tư tưởng tư sản trước đây, các nhà tư

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
tưởng tư sản ở giai đoạn này đã xem xét vấn đề dân tộc ở các mức độ khái quát hơn
dưới góc độ học thuật. Tuy nhiên, trong những quan niệm của họ vẫn chưa thấy rõ
dân tộc là hình thức cộng đồng người mang tính lịch sử, chưa thấy rõ cơ sở kinh tế xã hội của sự hình thành và sự tồn tại của các dân tộc.
Năm 1913, trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc, Stalin cho rằng:
“Dân tộc là một khối người cộng đồng ổn định, thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở
cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lý, biểu
hiện trong cộng đồng về văn hóa”.1 Định nghĩa của Stalin đã ít nhiều khắc phục được
những thiếu sót cơ bản của các nhà tư tưởng tư sản khi nêu các định nghĩa về dân tộc.
Trong định nghĩa của mình Stalin cho rằng dân tộc là một phạm trù lịch sử, là sản
phẩm của sự phát triển lâu dài của nhiều nhân tố, trong đó lần đầu tiên nhân tố kinh tế
được khẳng định. Stalin cũng khẳng định phải có đủ bốn nhân tố (ngôn ngữ, lãnh thổ,
kinh tế, văn hóa) mới hình thành dân tộc. Tuy nhiên trong thực tế có những cộng
đồng chưa hội tụ đủ cả bốn nhân tố hoặc một nhân tố tạm thời bị phủ định (như lãnh
thổ hoặc nền kinh tế tạm thời bị chia cắt) nhưng cộng đồng đó vẫn xứng đáng là dân
tộc. Định nghĩa này chỉ phù hợp với dân tộc - quốc gia.
Trong tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin không chỉ đề cập
đến loại hình dân tộc hình thành trong thời đại tư bản chủ nghĩa mà đã đề cập đến các
loại hình dân tộc khác, không phải tư sản. Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của
chế độ tư hữu và của nhà nước, Ph.Ăngghen cho rằng: nhà nước là điều kiện tồn tại
của dân tộc. Vì vậy, hình thái cộng đồng người dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, phong
kiến cũng là cộng đông dân tộc. Do đó, thuật ngữ dân tộc không chỉ để áp dụng cho

dân tộc tư sản mà còn để gọi các cộng đồng người trong các xã hội có nhà nước.
Trong tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác, Ph.Ăngghen còn gọi những
cộng đồng chưa đạt đến hình thành nhà nước cũng bằng thuật ngữ dân tộc: “nhờ cải
tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô
cùng thuận lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào
lưu văn minh”2.

1
2

Stalin: Toàn tập, Nxb. Sự thật, H.N, 1976, tr.2, tr. 357.
Lênin “Toàn tập” (bản dịch tiếng Việt), tr. 45.

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


8
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
Đã rất nhiều năm qua, đến nay trong các tài liệu nghiên cứu, giảng dạy đến
từ điển, khái nệm dân tộc vẫn được diễn đạt khác nhau. Xin nêu một vài ví dụ tiêu
biểu:
Từ điển Bách khoa Việt Nam do Trung tâm Biên soạn Từ điển Bách khoa
Việt Nam xuất bản nêu định nghĩa: “1. Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là
cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh
thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh
bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnie) của bộ phận tộc
người. Tính chất dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau.
Bước vào giai đoạn phát triển công nghiệp, rõ rệt nhất là ở các nước phương Tây,
do yêu cầu xóa bỏ tính cát cứ các lãnh địa trong một dân tộc, nhằm tạo ra một thị
trường chung, nên cộng đồng dân tộc được kết cấu chặt chẽ hơn. Kết cấu của cộng

đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội trong
khu vực và bản thân.
Một cộng đồng dân tộc thường bao gồm nhiều cộng đồng tộc người, với
nhiều ngôn ngữ, yếu tố văn hóa thậm chí nhiều chủng tộc khác nhau. Ngày nay, do
không gian xã hội được rộng mở mang tính toàn cầu, do phương tiện đi lại, mỗi
cộng đồng dân tộc này lại có thêm nhiều bộ phận của các cộng đồng tộc người tham
gia, nên tình trạng dân tộc đa tộc người rất phổ biến. 2. Dân tộc (ethnie) còn đồng
nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người, ví dụ dân tộc Tày, dân tộc Bana… Cộng
đồng có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở
nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn
ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc người”3.
Đại Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Dân tộc: 1. Cộng đồng người ổn định
hình thành trong quá trình lịch sử của xã hội có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống
kinh tế và tâm lý: đoàn kết dân tộc. 2. Dân tộc thiểu số, nói tắt: ưu tiên học sinh dân
tộc, cán bộ dân tộc. 3. Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, một
3

Dẫn theo, Nguyễn Quốc Phẩm (2006), Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở các quốc

gia đa tộc người, NXB Lý luận chính trị, tr.66-tr.67.

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


9
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
quốc gia gắn bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi: dân tộc Việt
Nam”.4
Giáo trình triết học Mác - Lênin của Hội đồng Trung ương biên soạn giáo
trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong mục

dân tộc đã diễn đạt: “Khái niệm dân tộc thông thường được dùng để chỉ hầu như tất
cả các hình thức cộng đồng người (bộ lạc, bộ tộc, dân tộc). Cần phân biệt “dân tộc”
theo nghĩa rộng trên đây với “dân tộc” theo nghĩa khoa học: đó là hình thức cộng
đồng người cao hơn các hình thức cộng đồng trước đó, kể cả bộ tộc.
Cũng như bộ tộc, dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã hội
có giai cấp, có nhà nước và các thể chế chính trị. Dân tộc có thể từ một bộ tộc phát
triển lên, song, đa số trường hợp được hình thành trên cơ sở nhiều bộ tộc và tộc
người hợp nhất lại”5… Giáo trình này còn cụ thể hơn:
“Những cộng đồng người được coi là dân tộc với đặc trưng chủ yếu sau đây:
Một là, cộng đồng về ngôn ngữ
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp xã hội, trước hết là công cụ giao tiếp trong cộng
đồng (thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc). Các thành viên của một dân tộc có thể dùng
nhiều ngôn ngữ trong giao tiếp khác nhau, chẳng hạn dân tộc Thụy Sĩ dùng tiếng Đức,
tiếng Pháp, tiếng Italia. Lại có một số ngôn ngữ được nhiều dân tộc sử dụng, chẳng hạn
tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha…Song, điều quan trọng là mỗi dân tộc có một ngôn ngữ
chung thống nhất mà các thành viên của dân tộc coi là tiếng mẹ đẻ của họ. Tính thống
nhất trong ngôn ngữ dân tộc thể hiện trước hết ở sự thống nhất về cấu trúc ngữ pháp và
kho từ vựng cơ bản. Ngôn ngữ dân tộc là ngôn ngữ đã phát triển. Thống nhất về ngôn
ngữ là một trong những đặc trưng chủ yếu của dân tộc.
Hai là, cộng đồng về lãnh thổ.
Mỗi dân tộc có lãnh thổ riêng thống nhất, không bị chia cắt. Khái niệm lãnh
thổ bao gồm cả vùng đất, vùng biển, hải đảo, vùng trời thuộc chủ quyền của quốc
gia. Lãnh thổ dân tộc ổn định hơn nhiều so với lãnh thổ bộ tộc.
4
5

Nguyễn Như Ý (chủ biên),(1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb văn hóa thông tin, H.N, tr. 520.
Giáo trình Triết học Mác- Lênin, Nxb chính trị quốc gia, H.N, 1999, tr. 475.

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử



10
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
Trong trường hợp quốc gia nhiều dân tộc thì lãnh thổ quốc gia gồm lãnh thổ
của các dân tộc thuộc quốc gia ấy hợp thành. Phạm vi lãnh thổ dân tộc hình thành
trong quá trình lịch sử lâu dài. Chủ quyền quốc gia dân tộc về lãnh thổ là một khái
niệm xác định, thường được thể chế hóa thành luật pháp quốc gia và luật pháp quốc
tế. Thực tế lịch sử có những trường hợp lãnh thổ dân tộc bị chia cắt tạm thời, nhưng
không thể căn cứ vào đó mà vội cho rằng - cộng đồng ấy đã bị chia cắt là một thử
thách đối với tính bền vững của cộng đồng dân tộc. Cộng đồng lãnh thổ là đặc trưng
quan trọng không thể thiếu được của dân tộc…
Ba là, cộng đồng về kinh tế
Từ các cộng đồng thời nguyên thủy chuyển sang bộ tộc, yếu tố liên kết cộng
đồng dựa trên quan hệ huyết thống dần bị suy giảm, vai trò của nhân tố kinh tế - xã
hội ngày càng tăng. Tuy nhiên, với dân tộc, tác dụng của nhân tố kinh tế - xã hội
được biểu hiện ra thật sự mạnh mẽ. C. Mác và Ph. Ăngghen đã chứng minh rằng tác
nhân cơ bản dẫn tới việc chuyển từ hình thức cộng đồng trước dân tộc sang dân tộc
là tác nhân kinh tế. Những mối liên hệ kinh tế thường xuyên và mạnh mẽ đặc biệt là
mối liên hệ thị trường đã làm tăng tính thống nhất, tính ổn định, bền vững của cộng
đồng người đông đảo sống trong một lãnh thổ rộng lớn. Dân tộc điển hình là dân tộc
tư sản, dân tộc này bao gồm các giai cấp, tầng lớp khác nhau, trong đó tư sản và vô
sản đối lập nhau về địa vị kinh tế, song hai giai cấp đối lập này có quan hệ kinh tế
chặt chẽ trong một hệ thống kinh tế duy nhất hình thành trên địa bàn dân tộc, đó là
hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa. Thiếu sự cộng đồng chặt chẽ, bền vững về kinh
tế thì cộng đồng người chưa phải là dân tộc.
Bốn là, cộng đồng về văn hóa, tâm lý, tính cách
Văn hóa là yếu tố đặc biệt quan trọng trong sự liên kết cộng đồng. Văn hóa
dân tộc mang nhiều sắc thái của các địa phương, các sắc tộc, các tập đoàn người…
song nó vẫn là một nền văn hóa thống nhất không bị chia cắt. Tính thống nhất trong

đa dạng là đặc trưng của văn hóa dân tộc. Mỗi dân tộc có một nền văn hóa độc đáo
của mình.
Văn hóa của một dân tộc không thể phát triển, nếu không giao lưu với
văn hóa dân tộc khác. Tuy nhiên, trong sự giao lưu văn hóa các dân tộc không

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


11
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
ngừng đấu tranh để bảo tồn và phát triển bản sắc của mình. Văn hóa dân tộc thường
có sức đề kháng rất lớn chống lại nguy cơ đồng hóa về văn hóa.
Cộng đồng về ngôn ngữ, cộng đồng về lãnh thổ, cộng đồng về kinh tế, cộng
đồng về văn hóa, tâm lý và tính cách là bốn đặc trưng không thể thiếu một mặt nào
của cộng đồng dân tộc”.6
Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, khi bàn về khái niệm dân tộc có viết:
“Hiện nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa, trong đó có hai nghĩa
chính được dùng phổ biến nhất:
Chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ bền vững, có chung sinh hoạt
kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hóa có những đặc thù, xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc,
kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện
thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.
Chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ
quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của
mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và
truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ
nước”7
Dẫn ra những quan niệm khác nhau xung quanh khái niệm dân tộc như trên
để thấy các cách tiếp cận rất “đa dạng, phong phú” về phương diện khoa học (triết
học, chính trị- xã hội, lịch sử, dân tộc học v.v.) sẽ đưa đến cách định nghĩa khác

nhau.
Bởi vậy, khái niệm dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, đa cấp độ, được xây
dựng tùy theo hoàn cảnh cụ thể. Hiện nay có thể hiểu khái niệm dân tộc theo hai
nghĩa: dân tộc được hiểu là dân tộc- quốc gia với tư cách là cộng đồng chính trị xã hội rộng lớn và dân tộc được hiểu là cộng đồng dân tộc- tộc người.
Dân tộc - quốc gia là cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch sử, có
chung một ngôn ngữ, một lãnh thổ, cùng chung một vận mệnh lịch sử, có những lợi
6

Giáo trình Triết học Mác- Lênin, sđd, tr. 476-479.
Dẫn theo, Nguyễn Quốc Phẩm, Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở các quốc gia đa
dân tộc, NXB lý luận chính trị, tr.70.
7

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


12
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
ích chung (về kinh tế, chính trị) có chung nền văn hóa (thể hiện trong phong tục, tập
quán, tín ngưỡng, tâm lý, lối sống…)
Dân tộc - tộc người là một cộng đồng người ổn định hoặc tương đối ổn định,
có chung một ngôn ngữ, một nền văn hóa, có ý thức tự giác tộc người. Với ba tiêu
chí này đã tạo ra sự ổn định trong mỗi dân tộc trong quá trình phát triển. Rõ ràng là
cả những khi có sự thay đổi về lãnh thổ hay thay đổi về phương thức sinh hoạt kinh
tế, cộng đồng dân tộc vẫn tồn tại trên thực tế.

1.1.2. Chủ nghĩa Mác- Lênin bàn về vấn đề dân tộc
1.1.2.1. Chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc
Dân tộc cũng như giai cấp và quốc tế là vấn đề được Mác và Ăngghen dành
cho một vị trí rất quan trọng trong học thuyết của mình.

Khi xác định khái niệm dân tộc, trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng
sản, Mác và Ăngghen không chỉ đề cập đến dân tộc tư sản, mà còn thừa nhận sự tồn
tại của các loại dân tộc tiền tư sản, thậm chí còn nói đến các dân tộc dã man nhất,
nghĩa là chưa đạt đến trình độ hình thành nhà nước. Quan điểm của Mác và Ăngghen
về sự hình thành dân tộc: từ bản chất bộ lạc lên nhà nước, từ tính địa phương lên tính
dân tộc một lần nữa được thể hiện qua tác phẩm Hệ tư tưởng Đức. Trong tác phẩm
Biện chứng tự nhiên, Ăngghen cũng đã nêu lên quan điểm về con đường hình thành
dân tộc và quốc gia: các bộ lạc biến thành những dân tộc và quốc gia.
Chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời trong thời đại tư bản chủ
nghĩa. Quan điểm của Mác và Ăngghen về vấn đề dân tộc hoàn toàn đối lập với
quan điểm của các giai cấp bóc lột nói chung và giai cấp tư sản nói riêng, của các
nhà nước, nói riêng là nhà nước của giai cấp bóc lột về vấn đề dân tộc.
Trong lịch sử nhân loại, chủ nghĩa tư bản ra đời và dựa trên sự xâm lược các
quốc gia nhỏ yếu, sự nô dịch các dân tộc nhược tiểu, để vơ vét tài nguyên, bóc lột
nhân công và làm nơi tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc”.
Đứng trên lập trường chân chính của giai cấp vô sản, Mác và Ăngghen đã
kiên quyết chống lại đường lối dân tộc của giai cấp tư sản. C.Mác từng chỉ trích giai
cấp tư sản, không chỉ về phương diện quốc tế sẽ đẩy vấn đề dân tộc thành chủ nghĩa

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


13
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
dân tộc cực đoan, dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, mà cả phương diện đối nội - vì lợi
ích giai cấp riêng mà sẵn sàng bán rẻ Tổ quốc, dân tộc: trường hợp giai cấp tư sản
Pháp trong Cách mạng 1848 là một thí dụ điển hình: giai cấp tư sản Pháp đã cấu kết
với giai cấp tư sản Phổ để đàn áp công nhân, ủng hộ đội quân xâm lược Phổ.
Trong một số tác phẩm, C. Mác và Ph. Ăngghen đã bàn đến vấn đề dân tộc
về quyền bình đẳng, về việc đoàn kết của vô sản tất cả các nước. Cụ thể:

Khi phân tích quá trình phát triển từ thị tộc lên bộ lạc, liên minh bộ lạc thành
dân tộc, C. Mác từng nêu lên quyền bình đẳng giữa các bộ lạc như là quyền tự nhiên
vốn có: “Liên minh vĩnh viễn của năm bộ lạc cùng dòng máu với nhau được xây
dựng trên cơ sở quyền bình đẳng và độc lập hoàn toàn của mỗi bộ lạc về vấn đề
trong nội bộ của bộ lạc”.8 Bình đẳng về xã hội như là một quyền của công dân, của
cư dân các thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc. Từ đó quyền bình đẳng giữa các dân tộc
cũng là quyền tự nhiên. Nhưng do sự xuất hiện của chế dộ chiếm hữu tư nhân, xuất
hiện giai cấp bóc lột đã xâm phạm đến công bằng, tự do của các dân tộc.
C. Mác và Ph. Ăngghen đã nêu thực chất của vấn đề công bằng, bình đẳng
giữa các dân tộc chỉ được thực hiện khi thủ tiêu mọi áp bức giai cấp, coi đó như là
điều kiện chế ước cho công bằng, bình đẳng dân tộc. Các ông chỉ rõ: “Khi mà sự đối
kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các
dân tộc cũng đồng thời mất theo”.9 Từ đó, các ông khẳng định: “Hãy xóa bỏ tình
trạng bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ”.10
Bàn về bình đẳng dân tộc, C.Mác và Ph. Ăngghen đã luôn gắn với bình đẳng
giữa người và người, gắn với quyền tự do. Trong tác phẩm Chống Đuyrinh,
Ph.Ăngghen từng nêu một luận điểm nổi tiếng về quyền bình đẳng giữa các dân tộc,
phải được tuyên bố là những: “quyền của con người”, mang tính chất chung và vượt
ra ngoài khuôn khổ của một quốc gia:
“…Trong một hệ thống những quốc gia độc lập, quan hệ với nhau trên cơ sở
bình đẳng và ở vào một trình độ phát triển tư sản xấp xỉ ngang nhau, cho nên lẽ dĩ
8

C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, sđd, tr.21, tr.144
C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, sđd, tr.4, tr.624
10
C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, sđd, tr. 19, tr. 43- tr. 44
9

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử



14
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
nhiên là yêu sách về bình đẳng phải mang một tính chất chung, vượt ra ngoài ranh
giới của một quốc gia riêng biệt, là tự do và bình đẳng phải được tuyên bố là những
quyền của con người”.11
Tuy nhiên, trong xã hội tư bản quyền bình đẳng giữa các dân tộc, với tư cách
là những quyền của con người đó đã phản ánh “đặc thù tư sản”. Ph.Ăngghen đã phê
phán cái đặc thù tư sản ấy ngay trong việc phê phán hiến pháp của nước Mỹ đã thần
thánh hóa đặc quyền chủng tộc: “Đồng thời sự việc sau đây cũng nói lên tính chất
đặc thù tư sản của những quyền của con người ấy: hiến pháp của nước Mỹ, hiến
pháp đầu tiên thừa nhận quyền của con người, đồng thời cũng chuẩn y luôn cả chế
độ nô lệ của người da màu đang tồn tại ở nước Mỹ: đặc quyền giai cấp bị cấm chỉ,
đặc quyền chủng tộc được thần thánh hóa”.12
Theo quan điểm của Ph.Ăngghen, quyền bình đẳng dân tộc phải đặt trong
quan hệ với quyền tự do, bình đẳng, gắn với nhân quyền. Bình đẳng dân tộc không
thể có được trong xã hội tư bản bởi tại đó, chủ nghĩa dân tộc tư sản là bạn đồng
hành của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, trong các xã hội dựa trên chế độ người bóc lột
người thì không thể có công bằng, bình đẳng trong quan hệ dân tộc, trên tất cả các
phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
Trong điều kiện lúc đó, hai ông nhận thức rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa
không thể thắng lợi trong một nước riêng lẻ mà chỉ có thể thắng lợi đồng thời trong
một loạt nước, vì vậy, để đạt mục đích lật đổ nhà nước tư sản, giai cấp vô sản tất cả
các nước phải liên hiệp lại. Nhu cầu tất yếu là phải thiết lập sự đoàn kết quốc tế; chủ
nghĩa quốc tế vô sản là nét rất quan trọng trong thế giới quan cộng sản chủ nghĩa.
Chính vì vậy, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được kết thúc bằng khẩu hiệu có sức
mạnh động viên và cổ vũ lớn lao mang tính thời đại: “Vô sản tất cả các nước, đoàn
kết lại”.

Ở một phương diện khác, C.Mác và Ăngghen đã khởi xướng tư tưởng về
phong trào giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, trong điều kiện các nước lớn

11
12

C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, sđd, tr.20
C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, sđd, tr.153

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


15
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
luôn luôn nô dịch, đồng hóa cưỡng bức các dân tộc nhỏ. Khi đề cập đến phong trào
giải phóng dân tộc ở Ba Lan, Airơlen…C.Mác và Ph.Ăngghen luôn ủng hộ các cuộc
đấu tranh giải phóng, giành tự trị, độc lập. C.Mác viết: “Người Airơlen thì cần
những điều sau đây: 1. Chế độ tự quản và sự độc lập đối với nước Anh, 2. Cách
mạng ruộng đất”.13
Như vậy C.Mác và Ph.Ăngghen bước đầu đã nêu quan hệ giữa quyền tự
quyết, tự trị dân tộc với bình đẳng dân tộc. Mặt khác, các ông cũng xem xét quyền
tự quyết không chỉ là việc tách ra thành lập quốc gia độc lập mà còn bao hàm cả
việc tự nguyện thành lập các liên bang khi có điều kiện.
Có thể khái quát quan điểm của C. Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề dân tộc
như sau:
1. Công bằng bình đẳng giữa người với người phải gắn liền với công bằng,
bình đẳng dân tộc.
2. Chỉ có xóa bỏ áp bức bóc lột giữa người với người, giữa giai cấp với giai
cấp thì mới xóa bỏ được ách áp bức dân tộc này với dân tộc khác.
3. Giai cấp công nhân phải giành lấy chính quyền, đại diện cho giai cấp và

đại diện cho dân tộc thì công bằng, bình đẳng dân tộc mới được thực hiện.
4. Giải phóng dân tộc là điều kiện trước tiên cho thực hiện công bằng, bình
đẳng đối với các dân tộc.
5. Bình đẳng dân tộc phải được thực hiện trong quyền tự quyết.
6. Đoàn kết giai cấp công nhân trong tất cả các quốc gia dân tộc là điều kiện
cơ bản để phát huy bản chất quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết giai cấp như
là điều kiện đoàn kết quốc tế, đoàn kết các dân tộc.
7. Trong từng quốc gia đa dân tôc - tộc người - chính sách nhà nước sẽ quyết
định quan hệ dân tộc, tộc người. Chính sách của nhà nước của giai cấp công nhân sẽ
bảo đảm bình đẳng dân tộc - tộc người.
Những quan điểm cơ bản vừa nêu của C. Mác và Ph. Ăngghen đã được V.I.
Lênin chọn lọc, kế thừa, bổ sung và phát triển thành những quan điểm chung của
chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc.
13

C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, sđd, tr.31

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


16
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc

1.1.2.2. Chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề dân tộc
Các tác phẩm của Lênin đã luận chứng một cách khoa học cho những luận
điểm có tính chất cương lĩnh của Đảng mácxít về vấn đề dân tộc, về quyền bình
đẳng của các dân tộc và quyền tự quyết của các dân tộc thiểu số, về quyền tự quyết
của các dân tộc kể cả quyền phân lập về mặt nhà nước, về ngôn ngữ và quyền bình
đẳng của các ngôn ngữ, về nền văn hóa dân tộc và nội dung giai cấp của nó, về tập
trung và tự trị… Lênin đã phê phán các quan điểm của bọn cơ hội chủ nghĩa Nga và

quốc tế, đã vạch trần chủ nghĩa dân tộc tư sản và đã đem chủ nghĩa quốc tế vô sản
đối lập lại nó.
Với Lênin, vấn đề dân tộc luôn được xem xét khi đặt nó trong tiến trình của
cách mạng xã hội chủ nghĩa, coi nó như là bộ phận thống nhất, không thể tách rời
của cuộc cách mạng đó. Từ đó, một mặt ông nhấn mạnh rằng vấn đề dân tộc là vấn
đề bộ phận, phụ thuộc vào vấn đề giai cấp, vào cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy
mà ông phê phán xu hướng tuyệt đối hóa vấn đề dân tộc, đặt vấn đề dân tộc lên trên
vấn đề giai cấp trong toàn bộ tiến trình cách mạng. Qua đó ông chứng minh một
cách rõ ràng và khẳng định đúng những luận điểm mà C.Mác đã nêu “Hãy xóa bỏ
tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này nô dịch dân tộc khác sẽ mất
theo”14. Song mặt khác V.I. Lênin cũng khẳng định tầm quan trọng của vấn đề dân
tộc, giải quyết đúng vấn đề dân tộc sẽ góp phần có ý nghĩa quyết định vào sự thắng
lợi của cuộc đấu tranh giai cấp, của cách mạng xã hội chủ nghĩa và ông đã kiên
quyết đấu tranh chống xu hướng coi nhẹ vấn đề dân tộc, chỉ thấy vấn đề giai cấp mà
không thấy vấn đề dân tộc. Điều đó cũng chứng minh rằng, trong thực tế khi giải
quyết vấn đề dân tộc thì sẽ có tác động tích cực trở lại đối với vấn đề giai cấp, góp
phần quyết định vào sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giai cấp, của cách mạng xã hội
chủ nghĩa.
Ông đã viết các tác phẩm kinh điển về vấn đề dân tộc như Ý kiến phê phán về
vấn đề dân tộc, Quyền dân tộc tự quyết, Tổng kết cuộc tranh luận về quyền dân tộc
tự quyết v.v...Lênin đã phát triển học thuyết Mác về vấn đề dân tộc, xuất phát từ
14

V.I. Lênin, Giải đáp vấn đề dân tộc ở Liên Xô, NXB Thông tấn xã Nô-vô-XTL, Matxcova, tr. 56

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


17
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc

những điều kiện của chủ nghĩa đế quốc, của cách mạng vô sản, của phong trào giải
phóng dân tộc thuộc địa.
Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, bắt đầu thời kỳ thứ hai của sự phát triển
các phong trào giải phóng khuôn khổ các nhà nước riêng lẻ đã trở nên chặt chội đối
với chủ nghĩa tư bản. Khi trong thị trường dân tộc, quần chúng lao động bị bần cùng
hóa, không có khả năng tiêu thụ tất cả khối lượng hàng hóa sản xuất ra thì Anh,
Pháp và một số nước tư bản khác đã đi xâm chiếm các nước nhỏ yếu, thành lập các
thuộc địa. Vấn đề dân tộc trở thành vấn đề dân tộc thuộc địa. Chủ nghĩa đế quốc trở
thành kẻ bóc lột các dân tộc tàn bạo nhất. Cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức
hòa nhịp với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản ở các nước đế quốc
chống lại toàn bộ hệ thống chủ nghĩa đế quốc, hình thành sự thống nhất quốc tế
trong cuộc đấu tranh chung để giải phóng khỏi ách áp bức giai cấp và áp bức dân
tộc. Chính trong những điều kiện như vậy, phát triển khẩu hiệu cách mạng của Mác
và Ăngghen, Lênin đã nêu nên khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị
áp bức đoàn kết lại”.
Kế tục Mác và Ăngghen, Lênin không những là nhà lý luận thiên tài mà còn
là nhà thực tiễn vĩ đại. Trên cương vị là lãnh tụ cách mạng thế giới, Lênin khi nói về
vấn đề dân tộc là để chỉ đạo cho cách mạng toàn thế giới. Chúng ta đã biết bác Hồ
vô cùng xúc động khi tiếp thu ý kiến của Lênin về vấn đề dân tộc. Trên cương vị là
lãnh tụ giai cấp vô sản Nga, Lênin khi nghiên cứu thực trạng các dân tộc dưới chế
độ Nga Sa hoàng, đã rút ra những điểm chủ yếu từ đó để nêu lên các nguyên tác cơ
bản của chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga.
Cương lĩnh nổi tiếng của Lênin về vấn đề dân tộc trong tác phẩm Về quyền
tự quyết được tóm tắt như sau: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được
quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại”.15
Về quyền bình đẳng dân tộc được Lênin coi là một trong những nội dung cơ
bản của cương lĩnh dân tộc. Theo Lênin, bình đẳng dân tộc về thực chất là xóa bỏ
tình trạng người bóc lột người để từ đó xóa bỏ tình trạng dân tộc này đi áp bức dân
15


Sđd, tr.25, tr.375.

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


18
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
tộc khác. Chính vì thế mà Lênin đã xem xét bình đẳng dân tộc là một nguyên tắc
cực kỳ quan trọng và việc giải quyết nó là một bộ phận không thể thiếu trong cương
lĩnh cách mạng nhằm thực hiện bình đẳng xã hội nói chung. Việc thực hiện bình
đẳng xã hội nói chung là mục tiêu bao trùm, do đó, có ý nghĩa quyết định việc thực
hiện bình đẳng dân tộc, ngược lại việc thực hiện bình đẳng dân tộc sẽ góp phần thực
hiện bình đẳng xã hội. Không xóa bỏ bất bình đẳng giữa người và người thì bất bình
đẳng về dân tộc không bao giờ được xóa bỏ; ngược lại không xóa bỏ bất bình đẳng
dân tộc thì việc xóa bỏ bất bình đẳng xã hội không bao giờ được thực hiện triệt để
đầy đủ.
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc bao gồm tất cả các lĩnh vực trong đời sống
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đây là cơ sở pháp lý chung giải quyết các quan
hệ dân tộc trên thế giới, trong các khu vực hay trong một quốc gia. Bởi điều đó
công pháp quốc tế và pháp luật các quốc gia ghi nhận. Bình đẳng giữa các dân tộc
cũng chính là kết quả đấu tranh của nhân dân lao động các nước.
Theo Lênin, nguyên tắc bình đẳng hoàn toàn gắn liền chặt chẽ với việc bảo
đảm quyền của các dân tộc thiểu số…bất cứ một thứ đặc quyền nào dành riêng cho
một dân tộc, và bất cứ một sự vi phạm nào đến quyền lợi của một dân tộc thiểu số,
đều bị bác bỏ.
Bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trong nội dung kinh tế, hay bình đẳng
về kinh tế. Ở phương diện này, bình đẳng dân tộc phụ thuộc vào sự đồng đều về
trình độ phát triển kinh tế của các dân tộc, cốt lõi là sự phát triển đồng đều về lực
lượng sản xuất. Theo Lênin, lợi ích kinh tế gắn liền với lợi ích giai cấp, dân tộc,
quốc gia, bởi vậy, giải quyết các mối quan hệ liên quan đến dân tộc- quốc gia, dân

tộc- tộc người đều phải tính đến quan hệ kinh tế, lợi ích kinh tế.
Bình đẳng về chính trị cũng là quyền của mỗi dân tộc, tộc người. Đối với các
dân tộc bị áp bức, bị lệ thuộc, đấu tranh giành quyền bình đẳng về chính trị, chính là
điều kiện để có bình đẳng trên các phương diện khác của đời sống xã hội. Mọi biểu
hiện của tư tưởng dân tộc cực đoan, sôvanh nước lớn, sự kỳ thị, phân biệt, đối xử
giữa các dân tộc- tộc người đều là những mưu đồ chính trị của các thế lực phản

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


19
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
động nhằm đồng hóa các dân tộc nhỏ, yếu. Việc can thiệt vào công việc nội bộ của
các quốc gia, dân tộc đều vi phạm quyền bình đẳng chính trị của các dân tộc. Lênin
cũng nêu rõ vấn đề bình đẳng về chính trị liên quan đến quyền tự trị, quyền dân tộc
nhất là các dân tộc bị áp bức.
Nhận rõ ý nghĩa của văn hóa đối với sự tồn tại bền vững và phát triển của
mỗi dân tộc nên Cương lĩnh về vấn đề dân tộc do Lênin soạn thảo đã vạch trần mưu
đồ chính trị của những kẻ cơ hội khi nêu ra khẩu hiệu: “ tự trị dân tộc về văn hóa”
Lênin chỉ rõ rằng đòi: “ tự trị dân tộc về văn hóa chính là biểu hiện của chủ nghĩa
dân tộc tinh vi nhất, độc hại nhất- thứ chủ nghĩa này là hệ tư tưởng của giai cấp tư
sản, hoàn toàn thù địch với chủ nghĩa Mác”.
Trong bài Ý kiến phê phán về vấn đề dân tộc, Lênin còn nêu lên một dẫn
chứng về sự bất bình đẳng về kinh tế và văn hóa liên quan mật thiết với nhau trong
vấn đề dân tộc ở Hợp chủng quốc Bắc Mỹ: “ cho tới nay hãy còn tồn tại sự phân
chia thành những bang miền Bắc và những bang miền Nam; ở các bang miền Bắc,
những truyền thống tự do và đấu tranh chống chủ nô chiếm ưu thế; ở các bang miền
Nam, ưu thế thuộc về những truyền thống nô dịch, với những tàn tích của việc hành
hạ những người da đen là những người phải chịu sự áp bức nặng nề về kinh té, tình
trạng lạc hậu về văn hóa… Trong số những người da đen có 44% người mù chữ và

trong số những người da trắng có 6% người mù chữ”.16
Liên quan trực tiếp đến bình đẳng văn hóa là quyền bình đẳng về ngôn ngữmột quyền tự nhiên của con người. Vấn đề ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngôn ngữ dân
tộc- tộc người là nhu cầu máu thịt, thiêng liêng của cư dân các dân tộc. Bởi vậy,
quyền bình đẳng về ngôn ngữ là đóng góp tích cực của những người: “dân chủ triệt
để”. Theo Lênin: “Việc tuyên truyền cho quyền bình đẳng hoàn toàn giữa các dân
tộc và các ngôn ngữ chỉ tập hợp được trong mỗi dân tộc, những người dân chủ triệt
để (những người vô sản) bằng cách liên hợp họ lại không phải theo dân tộc mà theo
nguyện vọng muốn có những sự cải thiện sâu sắc và quan trọng về cơ cấu chung của
nhà nước. Trái lại việc tuyên truyền cho sự “tự trị dân tộc về văn hóa”, mặc dù
16

V.I. lênin: Toàn tập: sđ, tr.24, tr.171.

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


20
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
những nguyện vọng chân thành của một số người nào đó và của một vài nhóm
người nào đó, sẽ chia rẽ các dân tộc và trên thực tế, sẽ làm cho công nhân thuộc một
dân tộc xích lại gần giai cấp tư sản thuộc dân tộc họ. Từ đó Lênin chỉ rõ rằng:
Người nào không thừa nhận và không bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc và
bình đẳng giữa các ngôn ngữ, không đấu tranh chống mọi áp bức hay bất bình đẳng
dân tộc, người đó không phải là người mácxít, thậm chí cũng không phải là người
dân chủ nữa. Lênin còn nhấn mạnh: “giải phóng các dân tộc thuộc địa và tất cả các
dân tộc bị áp bức hoặc bị bất bình đẳng, đồng thời phải đem lại cho họ quyền tự do
phân lập”.17
Về ý nghĩa sâu xa quyền bình đẳng dân tộc, Lênin chỉ rõ như sau: ý nghĩa
thực sự của việc đòi hỏi quyền bình đẳng kinh tế chung quy chỉ là đòi hỏi thủ tiêu
giai cấp. Bình đẳng văn hóa còn có ý nghĩa là các dân tộc có quyền sử dụng tiếng

mẹ đẻ trong trường học, văn học, nhà hát…Mặt khác, Lênin cho rằng nhu cầu phát
triển kinh tế, văn hóa sẽ đòi hỏi các dân tộc sống trong một quốc gia phải học tiếng
của dân tộc đa số.
Các dân tộc đều có quyền bình đẳng. Một quyền thiêng liêng gắn với quyền
con người và quyền của các dân tộc đa số cũng như thiểu số. Cương lĩnh về vấn đề
dân tộc của chủ nghĩa Mác- Lênin đặc biệt quan tâm đến quyền bình đẳng đối với
dân tộc thiểu số. Lênin khẳng định: “Dù sao cũng không phải không thỏa mãn được
tất cả các nguyện vọng hợp lý và đúng đắn của các dân tộc thiểu số, trên cơ sở bình
quyền, và không một ai lại nói rằng tuyên truyền quyền bình đẳng là có hại cả” 18
Tôn trọng quyền bình đẳng dân tộc nói chung và của các dân tộc thiểu số nói
riêng cũng chính là tạo điều kiện xóa bỏ hoàn toàn tình trạng nô dịch hay đồng hóa đối
với các dân tộc thiểu số và cũng là điều kiện đầu tiên trong hợp tác, tương trợ đối với
dân tộc- tộc người đang phát triển, khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa
các dân tộc người ở các quốc gia đa tộc người.

17

V.I. lênin: Toàn tập: sđd, tr.38, tr.136.

18

V.I. lênin: Toàn tập: sđ, tr.24, tr.181

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


21
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc
Tháng 7- 1920, Lênin viết Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa, trình bày tại Đại hội II Quốc tế cộng sản. Trong tác

phẩm nổi tiếng này, Lênin đã vạch rõ thực chất của bình đẳng dân tộc dưới chủ
nghĩa tư bản là gì, và vì sao giai cấp tư sản lại có thể che đậy và lừa dối được nhiều
người như vậy. Lênin viết: “Chế độ dân chủ tư sản, do bản chất của nó, vốn có cái
lối đặt vấn đề một cách trừu tượng hoặc hình thức về quyền bình đẳng nói chung,
trong đó bao gồm cả quyền dân tộc bình đẳng. Nấp dưới hình thức quyền bình đẳng
của cá nhân nói chung, chế độ dân chủ tư sản tuyên bố quyền bình đẳng hình thức
hoặc quyền bình đẳng trên pháp luật giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, do đó đã
làm cho những giai cấp bị áp bức bị lừa dối một cách ghê gớm. Ý niệm bình đẳng,
bản thân nó chỉ là sự phản ánh những quan hệ sản xuất hàng hóa, đã bị giai cấp tư
sản biến thành một vũ khí đấu tranh chống lại việc thủ tiêu giai cấp dưới chiêu bài
của quyền bình đẳng tuyệt đối cá nhân”.19 Như vậy, Lênin đã vạch rõ thực chất của
bình đẳng xã hội dưới chủ nghĩa tư bản nói chung cũng như bình đẳng dân tộc dưới
chủ nghĩa tư bản nói riêng là bình đẳng giả tạo, hình thức, và không thể triệt để bởi
sự bình đẳng đó xây dựng trên quan hệ áp bức, bóc lột giai cấp và được che đậy bởi
biểu hiện bề ngoài “bình đẳng”, “thuận mua vừa bán” của quan hệ sản xuất hàng
hóa tư bản chủ nghĩa. Lênin đã khái quát một cách sâu sắc rằng: “ý nghĩa thật sự
của việc đòi quyền bình đẳng chung quy chỉ là đòi thủ tiêu giai cấp”.20
Đứng trên lập trường giai cấp công nhân để xem xét vấn đề bình đẳng dân
tộc, đấu tranh cho sự bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hóa, gạt bỏ trở lực tư
tưởng và biểu hiện dân tộc chủ nghĩa dưới mọi hình thức…, đó là nội dung cơ bản
của chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng dân tộc.
Quyền tự quyết là nguyên tắc quan trọng thứ hai trong cương lĩnh của Lênin
về vấn đề dân tộc. Lênin luận bàn về quyền tự quyết dân tộc trong điều kiện mà hệ
thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân đang mở rộng trên thế giới. Quyền tự quyết
có giá trị trước hết đối với các dân tộc bị đế quốc Nga Sa hoàng trong thời kỳ đó là
19

V.I. lênin: Toàn tập: sđd, tr.41,tr.198

20


V.I. lênin: Toàn tập: sđd, tr.41, tr.198.

SVTH: Vũ Thị Sang – K34 CN Lịch sử


×