Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Ngày nay thế giới đang phải đối mặt với hàng loạt các căn bệnh nguy
hiểm, đặc biệt là các bệnh lây nhiễm gây nên bởi vi khuẩn, vi rút, nấm và
động vật kí sinh. Mặc dù các điều kiện sống của con người ngày càng được
cải thiện, được quan tâm nhưng các bệnh lây nhiễm vẫn là mối đe dọa thường
trực đối với sức khỏe. Những vấn đề này là đặc biệt quan trọng ở các nước
đang phát triển do môi trường sống và các điều kiện y tế không đảm bảo và sự
kháng thuốc của các dòng lây nhiễm đang ngày càng gia tăng.Việc phát triển
các thuốc kháng sinh mới đặc hiệu sẽ giúp giảm thiểu sự lây lan của bệnh
dịch, tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe người dân. Chính vì vậy, việc
nghiên cứu, tìm kiếm các hợp chất có hoạt tính sinh học cao để ứng dụng
trong y học, nông nghiệp và các mục đích khác trong đời sống con người là
một trong những nhiệm vụ quan trọng đã và đang được các nhà khoa học
trong nước và ngoài nước quan tâm.
Với sự phát hiện ra nhiều chất có hoạt tính sinh học có giá trị từ thiên
nhiên, các nhà khoa học đã có những đóng góp đáng kể trong việc tạo ra các
loại thuốc điều trị những bệnh nhiệt đới và bệnh hiểm nghèo như: penicilin
(1941), artemisini (những năm 1970)…để kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất
lượng cuộc sống của con người. Thiên nhiên không chỉ là nguồn nguyên liệu
cung cấp các hoạt tính sinh học quý hiếm để tạo ra các biệt dược mà còn tạo
cơ sở để tổng hợp ra các loại thuốc mới. Từ những tiền chất được phân lập từ
thiên nhiên, các nhà khoa học đã chuyển hóa chúng thành những hoạt chất có
khả năng trị bệnh rất cao.
Trong giới tự nhiên, nhiều loài cây cỏ được sử dụng như những dược
liệu quý. Trong số đó cây Na biển (tên khoa học là Annona glabra), hầu hết
các bộ phận của cây đều có những tác dụng riêng, đặc biệt là bộ phận quả của
Phạm Thu Nga
1
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
cây. Các dân tộc ở Trung Mỹ, Nam Mexico, Brazil và Peru sử dụng nước sắc
lá cây để trị bệnh giun sán hoặc giã nát đắp mụn nhọt, áp xe và loét. Theo
kinh nghiệm dân gian, quả Na biển chín trị được bệnh khí hư (huyết trắng) ở
phụ nữ và chứng thiếu máu. Hạt giã nát dùng đắp quanh nướu răng để làm
giảm nhức răng, có tác dụng hút mủ, giải nhiệt, ban đỏ, nhuận phế, mát gan
và giải khát. Ngoài ra nó còn được sử dụng làm thuốc trị tiêu chảy, kiết lỵ và
làm thuốc sát trùng, làm thuốc trị bướu, lá được dùng trị viêm khí quản mãn
tính. Đây là cây thuốc quý, cần được nghiên cứu để giải thích tác dụng chữa
bệnh của cây, tạo cơ sở để tìm kiếm phương thuốc điều trị bệnh.
Nhằm mục đích nghiên cứu, phân lập và xác định cấu trúc hợp chất
trong thành phần hoá học của cây Na biển tôi lựa chọn đề tài này làm đối
tượng nghiên cứu. Mục đích của khóa luận là: “Nghiên cứu thành phần
megastigmane từ quả cây Na biển (Annona glabra)” với những nội dung
như sau:
1. Nghiên cứu phân lập các hợp chất megastigmane từ quả cây Na biển
bằng các phương pháp chiết, sắc ký kết hợp.
2. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất megastigmane bằng các
phương pháp phổ kết hợp như phổ NMR, MS, IR...
Phạm Thu Nga
2
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
Giới thiệu vài nét về thực vật học của họ Na (Annonaceae), chi Na
(Annona) và cây Na biển
1.1. Sơ lược về thực vật học của Họ Na (Annonaceae)
Họ Na (danh pháp khoa học: Annonaceae) còn được gọi là họ Mãng
cầu, là một họ thực vật có hoa bao gồm các loại cây thân gỗ, cây bụi hay dây
leo. Với khoảng 2.300 đến 2.500 loài trong 120 - 130 chi, đây là họ lớn nhất
của bộ Mộc lan (Magnoliales). Chi điển hình của họ này là Annona (na, mãng
cầu xiêm). Họ này sinh trưởng chủ yếu ở vùng nhiệt đới, và chỉ có một ít loài
sinh sống ở vùng ôn đới. Khoảng 900 loài ở Trung và Nam Mỹ, 450 loài ở
châu Phi và các loài khác ở châu Á.
Ở Việt Nam họ Na (Annonaceae) có khoảng 207 loài thuộc 29 chi phân
bố ở khắp các tỉnh trong cả nước [2]. Là một họ lớn nên có ý nghĩa về nhiều
mặt như lấy gỗ, làm thực phẩm, làm cảnh, đặc biệt có giá trị làm thuốc rất
lớn. Nhiều loài cây trong họ được dùng để chữa các nhóm bệnh khác nhau
như cảm cúm, thấp khớp, ngoài da, gan…
1.2. Thực vật học của chi Na (Annona)
Chi Na (Annona) là một chi điển hình của họ Na (Annonaceae). Chi
này có khoảng 125 loài, phân bố chủ yếu ở các khu rừng nhiệt đới thuộc Nam
Mỹ. Trong vùng nhiệt đới châu Á Thái Bình Dương và Châu Phi cũng gặp
một số loài.Ở nước ta, các loài Na, Mãng cầu xiêm, Bình bát được trồng rải
rác trên khắp các địa phương, nhưng nhiều nhất ở các tỉnh phía Nam.
Là loại cây gỗ nhỏ hoặc cây bụi. Lá đơn, mọc cách. Phiến lá dai, trong
các tế bào biểu bì của lá đều có tinh thể hợp thành khối nhỏ. Hoa mọc ở nách
lá, mọc đối diện với lá hoặc ở trên cành già. Hoa lưỡng tính; đài 3, xếp van;
cánh hoa 3 hoặc 6; nhị nhiều, dạng uvarioid, có mào trung đới hình đĩa rộng,
bao phấn hướng ra ngoài; lá noãn nhiều, rời nhau trong hoa, nhưng khi thành
Phạm Thu Nga
3
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
quả chúng lại dính nhau tạo thành khối nạc; noãn 1, đính gốc. Hạt đen, vỏ
nhẵn và bóng. Các loài trong chi Na (Annona) thường phân bố chủ yếu ở các
khu vực nhiệt đới, ưa sáng, ưa nóng ẩm. Chúng thường rụng lá vào mùa đông,
đặc biệt là khi sinh trưởng ở các tỉnh phía Bắc nước ta. Các loài Na(A.
squamosa), Mãng cầu xiêm (A. muricata) có thể trồng trên nhiều loại đất (đất
phù sa, đất thịt, đất cát, đất đồi núi, đất phong hóa từ đá vôi…) với độ pH
tương đối rộng nhưng không chịu ngập úng. Hoa thường thụ phấn chéo nhờ
côn trùng. Cây thường ra hoa nhiều, nhưng số quả đậu lại ít hơn.
Ở Việt Nam, chi Na (Annona) hiện đã biết có 4 loài, trong đó có 3 loài
chỉ gặp trong trồng trọt. Đó là các loài:
1. Bình bát – Annona reticulata .L (1753)
2. Mãng cầu xiêm – Annona muricata. L (1753)
3. Na – Annona squamosa. L (1753)
4. Nê – Annona glabra .L (1753) [1]
1.3. Tổng quan về cây Na biển
1.3.1. Thực vật học
Tên khoa học: Annona glabra
Tên tiếng việt : Na biển
Tên khác: Nê, bình bát nước
Họ: Mãng cầu hay họ Na (Annonaceae)
Chi: Annona
Na biển là loại cây gỗ nhỏ, cao 2 - 5m, cành ít phân nhánh, dáng giống
mãng cầu xiêm. Lá không lông, mọc cách, phiến lá hình bầu dục, hình trái
xoan hoặc hình thuôn, cỡ 10-15 5-7 cm; chóp lá nhọn; gốc lá gần tròn; gân
bên 8 - 9 đôi.
Hoa phần lớn mọc đơn độc. Lá đài xanh, hình tam giác; cánh hoa màu
vàng, 6 cánh hoa dài 2 - 3cm, những chiếc cánh hoa vòng ngoài thường lớn và
Phạm Thu Nga
4
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
có dạng hình tam giác rộng, cánh hoa vòng trong thường nhỏ, có bớt đỏ ở mặt
trong; nhị nhiều; lá noãn nhiều; bầu có lông. Quả hình trứng dài 7 - 10cm,
màu vàng xanh, vỏ nhẵn, không gai, nạc, thịt trắng. Hạt màu nâu nhạt.
Hình 1.3.1.a: Cây Na biển (1) và lá cây Na biển (2)
1.3.2. Phân bố, sinh thái
Hình 1.3.1.b: Cành Na biển mang quả (3), hoa của cây Na biển (4)
Cây mọc rải rác ở các khu vực dọc bờ biển từ Quảng Ninh đến Quảng
Nam (Cù Lao Chàm) và các tỉnh phía Nam. Một số ý kiến cho rằng, cây Na
biển có nguồn gốc ở vùng ven biển nhiệt đới Châu Mĩ và Châu Phi, được
nhập trồng ở Việt Nam.
Cây trồng dựa bờ rạch có nước lợ; có thể mọc cả ở dưới mương dù
nước vừa phèn, vừa mặn.
Phạm Thu Nga
5
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
1.3.3. Công dụng
Hầu hết các bộ phận của cây Na biển đều có những tác dụng riêng như:
Quả cây Na biển chín ăn được, mùa hoa quả gần như quanh năm. Các dân tộc
ở Trung Mỹ, Nam Mexico, Brazil và Peru sử dụng nước sắc lá cây để trị bệnh
giun sán hoặc giã nát đắp mụn nhọt, áp xe và loét. Theo kinh nghiệm dân
gian, quả Na biển chín trị được bệnh khí hư (huyết trắng) ở phụ nữ và chứng
thiếu máu. Hạt giã nát dùng đắp quanh nướu răng để làm giảm nhức răng, có
tác dụng hút mủ, giải nhiệt, ban đỏ, nhuận phế, mát gan và giải khát. Ngoài ra
hạt của cây này cũng được dùng như hạt bình bát làm thuốc trị tiêu chảy, kiết
lỵ và làm thuốc sát trùng. Vỏ cây giã ra cũng có tác dụng tương tự và dịch lá
cây dùng để trừ chấy. Ở Cu Ba, gỗ bình bát nước nhẹ, được dùng làm phao
giữ lưới đánh cá nổi trên mặt nước và làm thuyền đánh cá. Ở Trung Quốc,
toàn cây dùng làm thuốc trị bướu, lá được dùng trị viêm khí quản mãn tính.
Ngoài ra có thể trồng cây này để làm gốc ghép mãng cầu xiêm vừa tạo
ra cây mãng cầu có quả to, cơm dày, vị ngọt thanh, thích hợp với vùng trũng
đất phèn.
1.4. Những nghiên cứu về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học có
trong cây Na biển
Thành phần hóa học chủ yếu của cây Na biển là các ditecpenoit (khung
kauran), steroit, acetogenin; đặc biệt là các hợp chất ditecpenoit [7].
Năm 2004, một nhóm nhà khoa học Trung Quốc đã nghiên cứu sự ảnh
hưởng, ức chế tế bào ung thư của 2 hợp chất ditecpenoit được phân lập từ cây
Na biển (Annona glabra) là cunabic axit và ent-kauran-19-al-17-oic axit được
thử nghiệm trên sự ra tăng tế bào ung thư gan ở người (dòng tế bào SMMC7721). Kết quả cho thấy, các hợp chất đã ức chế sự tăng sinh tế bào và hủy
hoại tế bào ung thư [8].
Phạm Thu Nga
6
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Cunabic axit
Khóa luận tốt nghiệp
Ent-kauran-19-al-17-oic axit
Hình 1.4.Cấu trúc hóa học của Cunabic axit và Ent-kauran-19-al-17-oic axit
1.5. Một vài nghiên cứu về hợp chất megastigmane
Các hợp chất megastigmane được phân bố rộng rãi trong thự nhiên.
Chúng được phân lập từ thực vật như: từ cây Cananga odoratavar, từ
Chenopodium cỏ dại…Tác dụng sinh học của megastigmane được biết đến
với khả năng kháng khuẩn, kháng nấm và hoạt động diệt tế bào. Ngoài ra, một
số megastigmane được tìm thấy có khả năng gây độc tế bào, ức chế quá trình
phân bào nhiễm sắc thể bất thường [4].
Gần đây, một số hợp chất megastigmane được phân lập từ cây Vam (Mẫu
lưu giữu tại Viên Hóa học các Hợp chất Thiên nhiên, Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam) là HD4A tên khoa học là 5,11-Epoxy-3,9megastigmanediol và HD4B có tên khoa học là 5-Megastigmane-3,9-diol 3O--D-glucopyranozo thông qua phân tích quang phổ NMR và phổ khối
lượng MS. Hai hợp chất này được sử dụng trong ngành y học và dược học [3].
12
CH3
OH
7
1
6
2
11
3
HO
Phạm Thu Nga
O
4
9
8
H
10
CH3
5
13
CH3
7
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Hình 1.5.a: Cấu trúc hóa học của hợp chất HD4A
12
HO
11
CH3
H3C
9
7
8
1
HO
6'
4'
HO
HO
O
5'
1'
3'
2
6
3
5
O
4
10
CH3
13
CH3
2'
OH
Hình 1.5.b: Cấu trúc hóa học của hợp chất HD4B
1.6. Các phương pháp chiết mẫu thực vật
Sau khi tiến hành thu hái và làm khô mẫu, tuỳ thuộc vào đối tượng chất
có trong các mẫu khác nhau (chất không phân cực, chất có độ phân cực trung
bình, chất phân cực…) mà ta chọn dung môi và hệ dung môi khác nhau.
1.6.1. Chọn dung môi chiết
Điều kiện của dung môi là phải hoà tan được những chất chuyển hoá thứ
cấp đang nghiên cứu, dễ dàng được loại bỏ, có tính trơ (không phản ứng với
chất nghiên cứu), không dễ bốc cháy, không độc.
Thường thì các chất chuyển hoá thứ cấp trong cây có độ phân cực khác
nhau. Tuy nhiên những thành phần tan trong nước ít khi được quan tâm. Dung
môi dùng trong quá trình chiết ít khi được quan tâm và cần phải được lựa
chọn rất cẩn thận.
Dung môi nếu lẫn các tạp chất thì có thể ảnh hưởng đến hiệu quả và
chất lượng của quá trình chiết. Vì vậy những dung môi này cần được chưng
cất để thu được dạng sạch trước khi sử dụng. Có một số chất dẻo thường lẫn
trong dung môi như: diankyl phtalat, tri-n-butyl photsphat và tri-n-butyl
axetylcitrar. Những chất này có thể lẫn với dung môi trong quá trình sản xuất
hoặc trong khâu bảo quản như trong các nút đậy bằng nhựa hoặc trong các
thùng chứa.
Phạm Thu Nga
8
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Metanol và clorofroc thường chứa dioctylphtalat [di-(2-etylhexyl)
phtalat hoặc bis-2-etylhexyl-phtalat]. Chất này sẽ làm sai lệch kết quả phân
lập trong các quá trình nghiên cứu hoá thực vật, thể hiện hoạt tính trong thử
nghiệm sinh học và có thể làm bẩn dịch chiết của cây. Clorofroc, metyl clorit
và metanol là những dung môi thường được lựa chọn trong quá trình chiết sơ
bộ một phần của cây như: Rễ, thân, lá, hoa, củ, quả…
Những tạp chất của clorofoc như CH2ClBr, CH2Cl2 có thể phản ứng với
vài hợp chất như các ancaloit tạo muối bậc 4 và những sản phẩm khác. Tương
tự như vậy, sự có mặt của một lượng nhỏ axit clohidric (HCl) cũng có thể gây
ra sự phân huỷ, sự khử nước hay sự đồng phân hoá với các hợp chất khác.
Clorofoc có thể gây tổn thương cho gan và thận nên khi làm việc với chất này
cần thao tác cẩn thận và khéo léo ở nơi thoáng mát và phải đeo mặt nạ phòng
độc. Metylen clorit ít độc hơn và dễ bay hơi hơn clorofoc.
Metanol và etanol 80% là những dung môi phân cực hơn các
hidrocacbon thế clo. Các dung môi thuộc nhóm rượu được cho rằng sẽ thấm
tốt hơn lên màng tế bào nên quá trình chiết với các dung môi này sẽ thu được
lượng lớn các thành phần trong tế bào. Trái lại, khả năng phân cực của
clorofroc thấp hơn, nó có thể rửa giải các chất nằm ngoài tế bào. Các ancol
hoà tan phần lớn các chất chuyển hoá phân cực cùng với các hợp chất phân
cực trung bình và thấp. Vì vậy khi chiết bằng ancol thì các chất này cũng bị
hoà tan đồng thời. Thông thường dung môi cồn trong nước có những đặc tính
tốt nhất cho quá trình chiết sơ bộ.
Tuy nhiên cũng có một vài sản phẩm được tạo thành khi dùng metanol
trong suốt quá trình chiết. Thí dụ trechlonolide A thu được từ trechonaetes
aciniata được chuyển thành trechonolide B bằng quá trình phân huỷ 1hydroxytropacocain cũng xảy ra khi erythroxylum novogranatense được chiết
trong metanol nóng.
Phạm Thu Nga
9
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Người ta thường ít sử dụng nước để thu được dịch chiết thô từ cây mà
thay vào đó là dùng dung dịch nước của metanol.
Dietyl ete hiếm khi được dùng cho các quá trình chiết thực vật vì nó rất
dễ bay hơi, dễ bốc cháy và rất độc, đồng thời nó có xu hướng tạo thành
peroxit dễ nổ, peroxit của dietyl ete dễ gây phản ứng oxi hoá với những hợp
chất không có khả năng tạo cholesterol như các calotenoit. Tiếp đến là axeton
cũng có thể tạo thành axetonit nếu 1,2-cis-diol có mặt trong môi trường axit.
Quá trình chiết dưới điều kiện axit hoặc bazơ thường được dùng với quá trình
phân tách đặc trưng, cũng có khi xử lý các dịch chiết bằng axit – bazơ có thể
tạo thành những sản phẩm mong muốn.
Sự hiểu biết về những đặc tính của những chất chuyển hoá thứ cấp
trong cây được chiết sẽ rất quan trọng để từ đó lựa chọn dung môi thích hợp
cho quá trình chiết tránh được sự phân huỷ của chất bởi dung môi và quá trình
tạo thành chất mong muốn.
Sau khi chiết dung môi được cất ra bằng máy cất quay ở nhiệt độ không
quá 30-400C, với một vài hoá chất chịu nhiệt có thể thực hiện ở nhiệt độ cao hơn.
1.6.2. Quá trình chiết
Hầu hết quá trình chiết đơn giản được phân loại như sau:
- Chiết ngâm
- Chiết sử dụng một loại thiết bị là bình chiết Xoclet
- Chiết sắc với dung môi nước
- Chiết lôi cuốn theo hơi nước
Chiết ngâm là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi
nhất trong quá trình chiết thực vật bởi nó không đòi hỏi nhiều công sức và
thời gian. Thiết bị sử dụng là một bình thuỷ tinh với một cái khoá ở dưới đáy
để điều chỉnh tốc độ chảy thích hợp cho quá trình tách rửa dung môi. Dung
môi có thể nóng hoặc lạnh nhưng nóng sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Trước đây,
Phạm Thu Nga
10
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
máy chiết ngâm đòi hỏi phải làm bằng kim loại nhưng hiện nay có thể dùng
bình thuỷ tinh.
Thông thường quá trình chiết ngâm không được sử dụng như phương
pháp chiết liên tục bởi mẫu được ngâm với dung môi trong máy chiết khoảng
24 giờ rồi chất chiết được lấy ra. Thông thường quá trình chiết một mẫu chỉ
thực hiện qua 3 lần dung môi vì khi đó cặn chiết sẽ không còn chứa những
chất giá trị nữa. Sự kết thúc quá trình chiết được xác định bằng một vài cách
khác nhau.
Ví dụ: Khi chiết các ancaloit, ta có thể kiểm tra sự xuất hiện của hợp
chất này bằng sự tạo thành kết tủa với những tác nhân đặc trưng như tác nhân:
Dragendroff và Maye.
1.7. Các phương pháp sắc ký trong phân lập các hợp chất hữu cơ
Phương pháp sắc ký (Chromatography) là một phương pháp phổ biến
và hữu hiệu nhất hiện nay, được sử dụng rộng rãi trong việc phân lập các hợp
chất hữu cơ nói chung và các hợp chất thiên nhiên nói riêng.
1.7.1. Đặc điểm chung của phương pháp sắc ký
Sắc ký là phương pháp tách các chất dựa vào sự khác nhau về bản chất
hấp phụ và sự phân bố khác nhau của chúng giữa hai pha: pha động và pha tĩnh.
Sắc ký gồm có pha động và pha tĩnh. Khi tiếp xúc với pha tĩnh, các cấu tử
của hỗn hợp sẽ phân bố giữa pha động và pha tĩnh tương ứng với tính chất của
chúng (tính bị hấp phụ, tính tan…). Các chất khác nhau sẽ có ái lực khác nhau
với pha động và pha tĩnh. Trong quá trình pha động chuyển động dọc theo hệ
sắc ký hết lớp pha tĩnh này đến lớp pha tĩnh khác, sẽ lặp đi lặp lại quá tình hấp
phụ và phản hấp phụ. Kết quả là các chất có ái lực lớn với pha tĩnh sẽ chuyển
động chậm hơn qua hệ thống sắc ký so với các chất tương tác yếu hơn với pha
này, nhờ đặc điểm này người ta có thể tách các chất qua quá trình sắc ký.
Phạm Thu Nga
11
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
1.7.2. Cơ sở của phương pháp sắc ký
Phương pháp sắc ký dựa vào sự phân bố khác nhau của các chất giữa
pha tĩnh và pha động. Ở điều kiện nhiệt độ không đổi, định luật mô tả sự phụ
thuộc của lượng chất bị hấp phụ lên pha tĩnh với nồng độ của dung dịch (hoặc
với chất khí là áp suất riêng phần) gọi là định luật hấp phụ đơn phân tử đẳng
nhiệt Langmuir:
n = Error!
Trong đó:
n: lượng chất bị hấp phụ lên pha tĩnh lúc đạt cân bằng
n∞: lượng cực đại của chất có thể bị hấp phụ lên một chất
hấp phụ nào đó
b: hằng số
C: nồng độ của chất bị hấp phụ
1.7.3. Phân loại các phương pháp sắc ký
Trong phương pháp sắc ký, pha động là các lưu thế (các chất ở trạng
thái khí hay lỏng), còn pha tĩnh có thể là các chất ở trạng thái lỏng hoặc rắn.
Dựa vào trạng thái tập hợp của pha động, người ta chia sắc ký thành hai nhóm
lớn: sắc ký lỏng và sắc ký khí. Dựa vào cách tiến hành sắc ký, người ta chia ra
thành các phương pháp sắc ký chủ yếu sau:
1.7.3.1. Sắc ký cột (C.C)
Đây là phương pháp sắc ký phổ biến nhất, chất hấp phụ là pha tĩnh gồm các
loại silicagel (có kích thước hạt khác nhau) pha thường và pha đảo YMC, ODS,
Dianion. Chất hấp phụ được nhồi vào cột (cột có thể bằng thuỷ tinh hoặc kim loại,
phổ biến nhất là cột thuỷ tinh). Độ mịn của chất hấp phụ hết sức quan trọng, nó
phản ánh số đĩa lý thuyết hay khả năng tách của chất hấp phụ.Độ hạt của chất hấp
phụ càng nhỏ thì số đĩa lý thuyết càng lớn, khả năng tách càng cao và ngược lại.
Tuy nhiên, nếu chất hấp phụ có kích thước hạt càng nhỏ thì tốc độ chảy càng giảm.
Trong một số trường hợp, nếu lực trọng trường không đủ lớn thì gây ra hiện tượng
Phạm Thu Nga
12
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
tắc cột (dung môi không chảy được), khi đó người ta phải sử dụng áp suất, với áp
suất trung bình (MPC), áp suất cao (HPLC).
Trong sắc ký cột, tỷ lệ đường kính (D) so với chiều cao cột (L) rất quan
trọng, nó thể hiện khả năng tách của cột. Tỷ lệ L/D phụ thuộc vào yêu cầu tách,
tức là phụ thuộc vào hỗn hợp chất cụ thể. Trong sắc ký, tỷ lệ giữa đường đi của
chất cần tách so với quãng đường đi của dung môi là Rf, với mỗi một chất sẽ
có một Rf khác nhau. Nhờ vào sự khác nhau về Rf này mà ta có thể tách từng
chất ra khỏi hỗn hợp. Tỷ lệ chất so với tỷ lệ chất hấp phụ cũng rất quan trọng
và tuỳ thuộc vào yêu cầu tách. Nếu tách thô thì tỉ lệ này thấp (1/5 - 1/10), còn
nếu tách tinh thì tỷ lệ này cao hơn và tuỳ vào hệ số tách (tức phụ thuộc vào sự
khác nhau Rf của các chất), mà hệ số này trong khoảng 1/20 - 1/30.
Trong sắc ký cột, việc đưa chất lên cột hết sức quan trọng. Tuỳ thuộc
vào lượng chất và dạng chất mà người ta có thể đưa chất lên cột bằng các
phương pháp khác nhau. Nếu lượng chất nhiều và chạy thô thì phổ biến là tẩm
chất vào silicagel rồi làm khô, tơi hoàn toàn, đưa lên cột. Nếu tách tinh thì
đưa trực tiếp chất lên cột bằng cách hoà tan chất bằng dung môi chạy cột với
lượng tối thiểu.
Có hai cách đưa chất hấp phụ lên cột:
- Cách 1: Nhồi cột khô. Theo cách này, chất hấp phụ được đưa trực tiếp
vào cột khi còn khô, sau đó dùng que mềm để gõ nhẹ lên thành cột để chất
hấp phụ sắp xếp chặt trong cột. Sau đó dùng dung môi chạy cột để chạy cột
đến khi cột trong suốt.
- Cách 2: Nhồi cột ướt. Tức là chất hấp phụ được hoà tan trong dung
môi chạy cột trước với lượng dung môi tối thiểu. Sau đó đưa dần lên cột đến
khi đủ lượng cần thiết.
Phạm Thu Nga
13
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Khi chuẩn bị cột phải lưu ý không được để bọt khí bên trong (nếu có
bọt khí gây nên hiện tượng chạy rối trong cột và giảm hiệu quả tách) và cột
không được nứt, gãy, dò.
Tốc độ chảy của dung môi cũng ảnh hưởng đến hiệu quả tách. Nếu tốc
độ dòng chảy quá lớn sẽ làm giảm tốc độ hiệu quả tách. Còn nếu tốc độ dòng
chảy quá thấp thì sẽ kéo dài thời gian tách và ảnh hưởng đến tiến độ công việc.
1.7.3.2. Sắc ký lớp mỏng
Sắc ký lớp mỏng (SKLM) thường được sử đụng để kiểm tra và định
hướng cho sắc ký cột. SKLM được tiến hành trên bản mỏng tráng sẵn
silicagel trên đế nhôm hay đế thuỷ tinh. Ngoài ra, SKLM còn dùng để điều
chế thu chất trực tiếp. Bằng việc sử dụng bản SKLM điều chế (bản được tráng
sẵn silicagel dày hơn), có thể đưa lượng chất nhiều hơn lên bản và sau khi
chạy sắc ký, người ta có thể cạo riêng phần silicagel có chứa chất cần tách rồi
giải hấp phụ bằng dung môi thích hợp để thu được từng chất riêng biệt. Có thể
phát hiện chất trên bản mỏng bằng đèn tử ngoại, bằng chất hiện màu đặc
trưng cho từng lớp chất hoặc sử dụng dung dịch H2SO4 10%.
1.8. Một số phương pháp hoá lý xác định cấu trúc của các hợp chất hữu cơ
Cấu trúc hoá học các hợp chất hữu cơ được xác định nhờ vào phương
pháp phổ kết hợp. Tuỳ thuộc vào cấu trúc hoá học của từng chất mà người ta
sử dụng phương pháp phổ cụ thể nào. Cấu trúc càng phức tạp thì yêu cầu phối
hợp các phương pháp phổ càng cao. Trong một số trường hợp, để xác định
chính xác cấu trúc hoá học của các hợp chất, người ta phải dựa vào các
phương pháp bổ sung khác như chuyển hoá hoá học, kết hợp với các phương
pháp sắc ký so sánh…
1.8.1 Phổ hồng ngoại (Infrared Spectroscopy, IR)
Phổ hồng ngoại được xây dựng dựa vào sự khác nhau về dao động của
các liên kết trong phân tử hợp chất dưới sự kích thích của tia hồng ngoại. Mỗi
Phạm Thu Nga
14
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
kiểu liên kết được đặc trưng bởi một vùng bước sóng khác nhau. Do đó dựa
vào phổ hồng ngoại, có thể xác định được các nhóm đặc trưng trong hợp chất.
Ví dụ như dao động hoá trị của nhóm OH tự do trong các nhóm hydroxyl là
3300-3450 cm-1, của nhóm cacbonyl C=O trong khoảng 1700-1750 cm-1.
1.8.2. Phổ khối lượng (Mass Spectroscopy, MS)
Nguyên tắc của phương pháp phổ này là dựa vào sự phân mảnh ion của
phân tử chất dưới sự bắn phá của chùm ion bên ngoài. Phổ MS còn cho các
pic ion mảnh khác mà dựa vào đó người ta có thể xác định được cơ chế phân
mảnh và dựng lại được cấu trúc hoá học của các hợp chất. Hiện nay có rất
nhiều loại phổ khối lượng như những phương pháp chủ yếu sau:
- Phổ EI-MS (Electron Impact Ionization Mass Spectroscopy) dựa vào
sự phân mảnh ion dưới tác dụng của chùm ion bắn phá năng lượng khác nhau,
phổ biến là 70eV.
- Phổ ESI-MS (Electron Sprayt Ionization Mass Spectroscopy) gọi là
phổ phun mù điện tử. Phổ này được thực hiện với năng lượng bắn phá thấp
hơn nhiều so với phổ EI-MS, do đó phổ thu được chủ yếu là pic ion phân tử
và các pic đặc trưng cho sự phá vỡ các liên kết có mức năng lượng thấp, dễ bị
phá vỡ.
- Phổ FAB (Fast Atom Bombing Mass Spectroscopy) là phổ bắn phá
nguyên tử nhanh với sự bắn phá nguyên tử nhanh ở năng lượng thấp, do đó
phổ thu được cũng dễ thu được pic ion phân tử.
- Phổ khối lượng phân giải cao (High Resolution Mass Spectroscopy),
cho phép xác định pic ion phân tử hoặc ion mảnh với độ chính xác cao.
- Ngoài ra, hiện nay người ta còn sử dụng kết hợp các phương pháp sắc ký
kết hợp với phổ khối khác như: GC-MS (Sắc ký khí – Phổ khối), LC-MS (Sắc ký
lỏng – Phổ khối). Các phương pháp kết hợp này còn đặc biệt hữu hiệu khi phân
tích thành phần của hỗn hợp chất (nhất là phân tích thuốc trong ngành dược).
Phạm Thu Nga
15
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
1.8.3. Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (Nuclear Magnetic Resonance
Spectroscopy, NMR)
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân là một phương pháp phổ hiện đại và hữu
hiệu nhất hiện nay. Với việc sử dụng kết hợp các kỹ thuật phổ NMR một
chiều và hai chiều, các nhà nghiên cứu có thể xác định chính xác cấu trúc của
hợp chất kể cả cấu trúc lập thể của phân tử.
Nguyên lý chung của các phương pháp phổ NMR (Phổ proton và cacbon)
là sự cộng hưởng khác nhau của các hạt nhân từ (1H và 13C) dưới tác dụng của
từ trường ngoài. Sự cộng hưởng khác nhau này được biểu diễn bằng độ dịch
chuyển hoá học (chemical shift). Ngoài ra đặc trưng của phân tử còn được xác
định dựa vào sự tương tác spin giữa các hạt nhân từ với nhau (spin coupling).
1.8.3.1. Phổ 1H-NMR
Trong phổ 1H-NMR, độ dịch chuyển hoá học () của các proton được
xác định trong thang ppm từ 0-14ppm, tuỳ thuộc vào mức độ lai hoá của
nguyên tử cũng như đặc trưng riêng của từng phần. Dựa vào những đặc trưng
của độ dịch chuyển hoá học và tương tác spin mà ta có thể xác định được cấu
trúc hoá học của hợp chất.
1.8.3.2. Phổ 13C-NMR
Phổ này cho tín hiệu vạch phổ cacbon. Mỗi nguyên tử cacbon sẽ cộng
hưởng ở một trường khác nhau và cho tín hiệu phổ khác nhau. Thang đo của phổ
C-NMR là ppm, với dải thang đo rộng 0-230ppm.
13
1.8.3.3. Phổ DEPT (Distortionless Enhancement by Polarisation Transfer)
Phổ này cho ta các tín hiệu phân loại các loại cacbon khác nhau. Trên phổ
DEPT tín hiệu của các cacbon bậc 4 biến mất. Tín hiệu của CH và CH3 nằm
về một phía và của CH2 về một phía trên phổ DEPT 1350. Trên phổ DEPT
900 chỉ xuất hiện tín hiệu phổ của CH.
1.8.3.4. Phổ 2 chiều NMR
Phạm Thu Nga
16
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Đây là các kỹ thuật phổ hai chiều, cho phép xác định các tương tác
của các hạt nhân từ của phân tử trong không gian hai chiều. Một số kỹ thuật
chủ yếu thường được sử dụng như sau:
- Phổ HSQC (Heteronuclear Single Quantum Coherence): Các tương
tác trực tiếp H-C được xác định nhờ vào các tương tác trên phổ này. Trên phổ,
một trục và phổ 1H-NMR, còn trục kia là
13
C-NMR. Các tương tác HSQC
nằm trên đỉnh các ô vuông phổ.
- Phổ HMBC (Heteronuclear Multiple Bond Connectivity): Đây là phổ
biểu diễn tương tác xa trong không gian phân tử. Nhờ vào các tương tác trên
phổ này mà từng phần của phân tử cũng như toàn bộ phân tử được xác định
về cấu trúc.
Như trên đã đề cập, ngoài việc sử dụng các loại phổ, người ta còn sử
dụng kết hợp các phương pháp chuyển hoá hoá học cũng như các phương
pháp phân tích, so sánh kết hợp khác. Đặc biệt đối với các phân tử nhiều
mạch nhánh dài, tín hiệu phổ NMR bị chồng lấp nhiều, khó xác định chính
xác được chiều dài các mạch. Đối với phân tử có các đơn vị đường thì việc
xác định chính xác loại đường cũng như cấu hình đường thông thường phải sử
dụng phương pháp thuỷ phân rồi xác định bằng phương pháp so sánh LC-MS
hoặc GC-MS với các đường chuẩn dự kiến.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp phân lập các hợp chất
2.1.1. Sắc kí lớp mỏng (TLC)
Sắc kí lớp mỏng được thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn DC-Alufolien
60 F254 (Marck 1,05715), RP18 F254S (Merck). Phát hiện bằng đèn tử ngoại ở
hai bước sóng 254nm và 368nm hoặc dùng thuốc thử là dung dịch H2SO4 10%
được phun đếu trên bản mỏng, sấy khô rồi hơ nóng trên bếp điện từ từ tới khi
xuất hiện màu.
Phạm Thu Nga
17
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
2.1.2. Sắc kí lớp mỏng điều chế
Sắc kí lớp mỏng điếu chế được thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn
silicagel 60G F254 (Merck, kí hiệu là 105875), phát hiện chất bằng đèn tử
ngoại ở hai bước sóng 254nm và 368nm hoặc cắt rìa bản mỏng để phun thuốc
thử là dung dịch là H2SO4 10%, hơ nóng để phát hiện vết chất, ghép lại bản
mỏng như cũ để xác định vùng chất, sau đó cạo lớp silicagel có chất, giải hấp
phụ bằng dung môi thích hợp.
2.1.3. Sắc kí cột (CC)
Sắc kí cột được tiến hành với chất hấp phụ là silicagel pha thường và pha
đảo. Silicagel pha thường có kích thước hạt là 0,040-0,063 mm (240-430 mesh).
Silicagel pha đảo ODS hoặc YMC (30-50m, Fujisilisa Chemical Ltd.).
2.2. Phương pháp xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất
2.2.1. Điểm nóng chảy (Mp)
Điểm nóng chảy được đo trên máy Kofler micro-hotstage của Viện Hóa học,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
2.2.2. Phổ khối lượng (ESI-MS)
Phổ khối lượng phun mù điện tử (Electron Spray Ionization Mass
Spectra) được đo trên máy AGILENT 1100 LC-MSD Trap của Viện Hóa
Học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
2.2.3. Phổ cộng hưởng từ hạt nhân
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR): 1H-NMR (500 MHz) và
13
C-NMR
(125MHz) được đo trên máy Bruker AM500 FT-NMR Spectrorneter, Viện
Hóa Học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
2.2.4. Độ quay cực []D
Độ quay cực được đo trên máy JASCO DIP-1000 KUY polarimeter của
Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Phạm Thu Nga
18
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
2.3. Dụng cụ và thiết bị
2.3.1. Dụng cụ và thiết bị tách chiết
Các dụng cụ và thiết bị dùng cho tách chiết và tinh chế chất sạch được
sử dụng bao gồm:
+ Bình chiết
+ Máy cô quay chân không
+ Đèn tử ngoại hai bước sóng 254 và 368 nm
+ Tủ sấy chân không
+ Máy sấy
+ Micropipet
+ Bình sắc ký loại phân tích và điều chế
+ Cột sắc ký pha thường và pha đảo các loại đường kính
+ Dung dịch thuốc thử
+ Bếp điện
2.3.2. Dụng cụ và thiết bị xác định cấu trúc
+ Máy phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR AM500 FT-NMR spectrometer.
+ Máy sắc ký lỏng cao áp ghép nối khối phổ (ESI) AGILENT 1100
LC-MSD Trap spectrometer.
+ Thiết bị đo điểm nóng chảy Kofler micro-hotstage.
+ Thiết bị đo độ quay cực JASCO.
2.4. Hoá chất
+ Silicagel 60 (0,04 - 0,063 mm) Merck.
+ Silicagel pha đảo ODS hoặc YMC (30-50 m, FuJisilisa Chemical Ltg).
+ Bản mỏng tráng sẵn pha thường DC-Alufolien 60 F254 (Merck 1,05715).
+ Bản mỏng tráng sẵn pha ngược RP18 F254s (Merck).
+ Bản mỏng điều chế pha thường DC-Alufolien 60 F254 (Merck).
Phạm Thu Nga
19
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
+ Các loại dung môi hữu cơ như metanol, etanol, clorofoc, etyl
axetat, hexan, axeton, v.v…
Phạm Thu Nga
20
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ
3.1. Mẫu thực vật
Mẫu quả cây Na biển (Annona glabra) thu tại Bình Dương vào tháng 8
năm 2011 và được PGS.TS. Ninh Khắc Bản giám định. Mẫu tiêu bản lưu giữ
tại Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
3.2. Xử lý mẫu, chiết tách và phân lập các chất.
Quả cây Na biển được thái nhỏ, phơi khô, nghiền thành bột (2,0 kg),
ngâm chiết với metanol ba lần, sau đó loại dung môi thu được 180 g cặn chiết
metanol. Cặn này được hoà tan vào 2 lít nước cất và chiết lần lượt bằng
clorofoc và etyl axeat. Sau khi loại dung môi dưới áp suất thấp thu được cặn
clorofoc (50 g), etyl axetat (40 g) và nước (90 g).
Cặn clorofoc (50 g) được tẩm vào 120 g silicagel, cô đuổi dung môi cho
đến khi thu được bột tơi, khô sau đó tiến hành phân lập bằng sắc ký cột nhồi
silicagel pha thường (cỡ hạt 230 - 400 mesh, 0,04 - 0,063 mm), rửa giải bằng
hệ dung môi hexan/axeton với độ phân cực tăng dần (từ 20/1 - 0/1, v/v) thu
được 5 phân đoạn chính là F1 (10,0 g), F2 (11,5 g), F3 (8,5 g), F4 (8,8 g) và
F5 (1,2 g). Phân đoạn F5 (1,2 g) được tinh chế trên cột nhồi silicagel pha
thường với hệ dung môi rửa giải là clorofoc/axeton (5/2) thu được hợp chất 1
(12 mg). Cặn nước được cho qua cột trao đổi ion sử dụng hạt Dianion HP-20
với hệ dung môi rửa giải là MeOH/H2O với độ phân cực giảm của dung môi
từ nước tới metanol thu được các phân đoạn F6 (50% MeOH, 30,5 g) và F7
(MeOH 100%, 20,0 g). Phân đoạn F6 (50% MeOH, 30,5 g) lần lượt tiến hành
sắc ký cột silicagel pha thường với hệ dung môi rửa giải là clorofoc/metanol
(1/1, v/v) thu được 4 phân đoạn F6A (6,7 g) , F6B (10,3 g), F6C (0,2 g) và
Phạm Thu Nga
21
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
F6D (8,9 g) tương ứng. Phân đoạn F6C tiếp tục được tinh chế trên cột sắc ký
silicagel pha đảo (YMC RP-18) sử dụng hệ dung môi rửa giải metanol/nước
(1/5, v/v) thu được hợp chất 2 (15 mg).
Sơ đồ phân lập:
Bột khô (2kg)
Ngâm metanol 3 lần
Cặn MeOH 180 g
Chiết phân bố với
clorofoc, etylaxetat
Cặn clorofoc (50 g)
Cặn nước (90 g)
Cặn etylaxetat (40 g)
Sắc ký cột pha thường
Gradien dung môi hexan/axeton
20/1
15/1
F1
(10 g)
F2
(11,5g)
g)
10/1
5/1
F3
(8,5 g)
100% axeton
F4
(8,8 g)
F5
(1,2 g)
Sắc ký cột pha thường
Clorofoc/axeton tỉ lệ 5/2
Hợp chất 1
12 mg
Sơ đồ 1: Sơ đồ phân lập hợp chất 1
Phạm Thu Nga
22
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Cặn nước 90 g
Cột Dianion
100 % metanol
50 % metanol
F7
(20 g)
F6
(30,5 g)
Sắc ký cột pha thường
Clorofoc/metanol tỉ lệ 1/1
F6A
(6,7 g)
F6B
(10,3 g)
F6C
(0,2 g)
F6D
(8,9 g)
Sắc ký cột pha đảo
Metanol/nước tỉ lệ 1/5
Hợp chất 2
(15 mg)
Sơ đồ 2: Sơ đồ phân lập hợp chất 2
3.3. Hằng số vật lý và dữ liệu phổ các hợp chất:
3.3.1. Hợp chất 1: Cucumegastigmane I
Các thông số vật lý của hợp chất 1, các dữ liệu như sau:
- Chất dầu màu vàng nhạt
- Công thức phân tử C13H20O4
- Khối lượng phân tử (M) 240
- Phổ proton 1H-NMR (500 MHz, CD3OD) δH: 5,93 (1H, d, J = 16,0 Hz,
H-7), 5,90 (1H, s, H-4), 5,82 (1H, dd, J = 16,0, 5,5 Hz, H-8), 4,23 (1H, m, H9), 3,53 (2H, dd, J = 11,0, 5,0 Hz, H-10), 2,51 (1H, d, J = 17,0 Hz, H-2a), 2,16
Phạm Thu Nga
23
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
(1H, d, J = 17,0 Hz, H-2b), 1,94 (3H, d, J = 1,0 Hz, 13-CH3), 1,06 (3H,s, 11CH3) và 1,04 (3H, s, 12-CH3).
- Phổ cacbon13C-NMR (125 MHz, CD3OD) δC: 201,2 (C-3), 167,3 (C-5),
132,5 (C-7), 132,4 (C-8), 127,1 (C-4), 80,1 (C-6), 73,6 (C-9), 67,3 (C-10),
50,7 (C-2), 42,4 (C-1), 24,5 (C-12), 23,4 (C-11) và 19,6 (C-13)
3.3.2. Hợp chất 2: Autroside B
Các thông số vật lý của hợp chất 2, các dữ liệu như sau:
- Bột vô định hình
- Công thức phân tử C19H30O8
- Khối lượng phân tử (M) 386
Phổ proton 1H-NMR (500 MHz, CD3OD) δH:5,86 (1H, s, H-8), 4,45
(1H, d, J = 7,5 Hz, H-1’), 4,36 (1H, m, H-3), 3,91 (1H, brd, J =12,0 Hz, H6’a), 3,73 (1H, dd, J = 12,0, 5,0, H-6’b), 3,41 (3H, m, H-3’, H-4’, H-5’), 3,19
(1H, m, H-2’), 2,38 (1H, brd, J =13,0 Hz, H-4a), 2,21 (3H, s, 10-CH3), 2,12
(1H, brd, J =13,0 Hz, H-2a), 1,51 (1H, dd, J = 13,0, 4,0, H-4b), 1,49 (1H, dd,
J = 13,0, 4,0, H-2b), 1,42 (3H, s, 13-CH3), 1,41 (3H, s, 12-CH3) và 1,18 (3H,
s, 11-CH3).
- Phổ cacbon13C-NMR (125 MHz, CD3OD) δC: 211,4 (C-7), 200,9 (C-9),
120,0 (C-6), 102,7 (C-1’), 101,1 (C-8), 78,1 (C-3’), 77,8 (C-5’), 75,1 (C-2’),
72,6 (C-3), 72,4 (C-5), 71,6 (C-4’), 62,7 (C-6’), 48,1 (C-2), 46,6 (C-4), 37,0
(C-1), 30,8 (C-13), 32,2 (C-11), 29,4 (C-12) và 26,5 (C-10)..
Phạm Thu Nga
24
K35C- Hóa Học
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ
4.1. Xác định cấu trúc của hợp chất 1:
12
OH
11
1
2
7
6
3
5
OH
9
8
10
OH
4
O
13
Hình 4.1.1 : Cấu trúc hóa học của hợp chất 1
Hợp chất 1 được phân lập dưới dạng dầu màu vàng nhạt.
Phổ proton1H-NMR cho tín hiệu cộng hưởng của một proton nhóm
vinyl ở H 5,90 (1H, s, H-4), hai proton olefin dạng trans ở H 5,93 (1H , d, J
= 16,0 Hz, H-7) và H 5,82 (1H, dd, J = 16,0, 5,5 Hz, H-8), hai nhóm gemdimetyl ở H 1,06 (3H, s, H-11) và H1,04 (3H, s, H-12), một proton metyl
liên kết với nối đôi ở H 1,94 (3H, d, J = 1,0 Hz, H-13). Tín hiệu của nhóm
metilen được xác định ở H 2,51 ( 1H, d, J = 17,0 Hz, H-2) và H2,16 (1H, d,
J = 17,0 Hz, H-2), một nhóm oxymetin ở H4,23 (1H, m, H-9) và hai proton
của nhóm oxymetilen ở H 3,53 (2H, dd, J = 11,0, 5,0 HzH-10).
Phạm Thu Nga
25
K35C- Hóa Học