Tải bản đầy đủ (.pdf) (48 trang)

Nghiên cứu phân lập các hợp chất phenolic từ quả cây na biển (annona glabra)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 48 trang )

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

MỞ ĐẦU
Nước ta có khí hậu và thảm thực vật khá phong phú và đa dạng. Dân
tộc Việt Nam có truyền thống về sử dụng các loài thảo mộc làm thuốc chữa
bệnh. Những năm gần đây xu hướng tìm kiếm một số hoạt chất trong các loài
thảo mộc có tác dụng chữa bệnh ngày một tăng, thu hút các nhà khoa học
nghiên cứu. Theo các số liệu thống kê mới nhất thảm thực vật Việt Nam có
trên 12000 loài, trong số đó có trên 3200 loài được sử dụng làm thuốc trong y
học dân gian [1].
Từ xưa đến nay, những cây thuốc dân gian vẫn đóng vai trò hết sức
quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cho con người. Ngày nay những hợp
chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học được phân lập từ cây cỏ đã được ứng
dụng trong rất nhiều ngành công nghiệp, nông nghiệp và chăm sóc sức khỏe
con người. Chúng được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, thuốc bảo vệ thực vật,
làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm… Mặc dù
công nghiệp tổng hợp hóa dược ngày nay đã phát triển mạnh mẽ, tạo ra các
biệt dược khác nhau sử dụng trong công tác phòng, chữa bệnh, nhờ đó giảm
tỷ lệ tử vong rất nhiều song những đóng góp của các thảo dược cũng không vì
thế mà mất đi chỗ đứng trong Y học. Nó vẫn tiếp tục được dùng như là nguồn
nguyên liệu trực tiếp, gián tiếp hoặc cung cấp những chất đầu cho công
nghiệp bán tổng hợp nhằm tìm kiếm những dược phẩm mới cho việc điều trị
các chứng bệnh thông thường cũng như các bệnh nan y. Mặt khác trong công
tác phòng và chữa bệnh, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương và khuyến
khích sử dụng các nguyên liệu từ thực vật vì chúng có chứa nhiều biệt dược
rất khó tổng hợp và hầu như không gây tác dụng phụ.
Trong thế giới thực vật muôn màu, nhiều loài cây cỏ được sử dụng như
những dược liệu quý. Trong số đó có cây Na biển (tên khoa học là Annona


Đỗ Thị Dung

1

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

glabra), hầu hết các bộ phận của cây đều có những tác dụng riêng, đặc biệt là
quả của cây. Các dân tộc ở Trung Mỹ, Nam Mexico, Brazil và Peru sử dụng
nước sắc lá cây để trị bệnh giun sán hoặc giã nát đắp mụn nhọt, áp xe và loét.
Theo kinh nghiệm dân gian, quả Na biển chín trị được bệnh khí hư (huyết
trắng) ở phụ nữ và chứng thiếu máu. Hạt giã nát dùng đắp quanh nướu răng
để làm giảm nhức răng, có tác dụng hút mủ, giải nhiệt, ban đỏ, nhuận phế,
mát gan và giải khát. Ngoài ra nó còn được sử dụng làm thuốc trị tiêu chảy,
kiết lỵ và làm thuốc sát trùng, làm thuốc trị bướu, lá được dùng trị viêm khí
quản mạn tính [2]. Đây là cây thuốc quý, cần được nghiên cứu để giải thích
tác dụng chữa bệnh của cây, tạo cơ sở để tìm kiếm phương thuốc điều trị
bệnh.
Nhằm mục đích thực tập tìm hiểu cách thức chiết, phân lập và xác định
cấu trúc các hợp chất có trong thành phần hoá học của cây Na biển nên em
lựa chọn đề tài khóa luận tốt ngiệp là: ‘‘Nghiên cứu phân lập các hợp chất
phenolic từ quả cây Na biển( Annona glabra)‘‘ với những nội dung chính
như sau :
1. Thu mẫu quả cây Na biển (Annona glabra), xử lý mẫu và tạo dịch
chiết nước.
2. Phân lập một số hợp chất phenolic từ quả cây Na biển (Annona

glabra).
3. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất đã phân lập được.

Đỗ Thị Dung

2

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về cây Na biển [2]

1.1.1. Thực vật học
Tên khoa học: Annona glabra
Tên tiếng việt: Na biển
Tên khác: Nê, bình bát nước.
Họ: Mãng cầu hay họ Na (Annonaceae)
Chi: Annona
Na biển là loại cây gỗ nhỏ, cao 2 - 5m, cành ít phân nhánh, dáng giống
mãng cầu xiêm. Lá không lông,mọc cách; phiến lá hình bầu dục, hình trái
xoan hoặc hình thuôn, cỡ 10-15  5-7 cm; chóp lá nhọn; gốc lá gần tròn; gân
bên 8 - 9 đôi.
Hoa phần lớn mọc đơn độc. Lá đài xanh, hình tam giác; cánh hoa màu
vàng, 6 cánh hoa dài 2 - 3cm, những chiếc cánh hoa vòng ngoài thường lớn và
có dạng hình tam giác rộng, cánh hoa vòng trong thường nhỏ, có bớt đỏ ở mặt

trong; nhị nhiều; lá noãn nhiều; bầu có lông. Quả hình trứng dài 7 - 10cm,
vàng xanh, vỏ nhẵn, không gai, nạc, thịt trắng. Hạt màu nâu nhạt.

Hình 1.1. Cành Na biển mang quả Hình 1.2. Hoa của cây Na biển

Đỗ Thị Dung

3

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

1.1.2. Phân bố, sinh thái
Cây mọc rải rác ở các khu vực dọc bờ biển từ Quảng Ninh đến Quảng
Nam (Cù Lao Chàm) và các tỉnh phía Nam. Một số ý kiến cho rằng, cây Na
biển có nguồn gốc ở vùng ven biển nhiệt đới Châu Mĩ và Châu Phi, được
nhập trồng ở Việt Nam.
Cây trồng dựa bờ rạch có nước lợ, có thể mọc cả ở dưới mương dù
nước vừa phèn, vừa mặn.
1.1.3. Công dụng
Hầu hết các bộ phận của cây Na biển đều có những tác dụng riêng như:
Quả cây Na biển chín ăn được, mùa hoa quả gần như quanh năm. Các dân tộc
ở Trung Mỹ, Nam Mexico, Brazil và Peru sử dụng nước sắc lá cây để trị bệnh
giun sán hoặc giã nát đắp mụn nhọt, áp xe và loét. Theo kinh nghiệm dân
gian, quả Na biển chín trị được bệnh khí hư (huyết trắng) ở phụ nữ và chứng
thiếu máu. Hạt giã nát dùng đắp quanh nướu răng để làm giảm nhức răng, có

tác dụng hút mủ, giải nhiệt, ban đỏ, nhuận phế, mát gan và giải khát. Ngoài ra
hạt của cây này cũng được dùng như hạt bình bát làm thuốc trị tiêu chảy, kiết
lỵ và làm thuốc sát trùng. Vỏ cây giã ra cũng có tác dụng tương tự và dịch lá
cây dùng để trừ chấy.
Ở Cu Ba, gỗ bình bát nước nhẹ, được dùng làm phao giữ lưới đánh cá
nổi trên mặt nước và làm thuyền đánh cá.
Ở Trung Quốc, toàn cây dùng làm thuốc trị bướu, lá được dùng trị
viêm khí quản mạn tính.
Ngoài ra có thể trồng cây này để làm gốc ghép mãng cầu xiêm vừa tạo
ra cây mãng cầu có quả to, cơm dày, vị ngọt thanh, thích hợp với vùng trũng,
đất phèn.

Đỗ Thị Dung

4

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

1.1.4. Thành phần hoá học
Trong các nghiên cứu trước đây, các kết quả nghiên cứu đã công bố cho
thấy thành phần hóa học chủ yếu của cây Na biển (Annona glabra) là các
ditecpenoit (khung kauran), steroit, acetogenin.
Trong thành phần hóa học của cây Na biển, các nhà khoa học đã tìm
thấy 6 hợp chất diterpenoid có khung kauran đó là annoglabasin A ( metyl16  - axetoxy-19-al-ent-kauran-17-oate) (29) và annoglabasin B (16  -hydro19-axetoxy-ent-kauran-17-oic acid) (30), annoglabasin C (16  -axetoxy-entkauran-19-oic acid-17-metyl ester) (31), annoglabasin D (16  -axetoxy-entkauran-19-al-17-metyl ester) (32), annoglabasin E (16  -hydro-19-ol-entkauran-17-oic acid) (33), annoglabasin F (16  -axetoxy-19-nor-ent-kauran4  -ol-17-metyl ester) (34) [4, 5].
Tiếp tục điều tra thành phần hóa học của nó, các nhà khoa học đã phân

lập được 28 hợp chất trong đó có 19 hợp chất diterpenoid có khung kauran
(annoglabasin G (16  -hydro-19-acetoxy-ent-kauran-17-al) (1), 16  -hydroent-kauran-17-oic acid (2), 16  -hydro-entkauran-17-oic acid (3), 19-nor-entkauran-4  -ol-17-oic acid (4), 16  -hydro-19-ol-ent-kauran-17-oic acid(5),
ent-kaur-16-en-19-oic acid (6), 16  -hydroxy-ent-kauran-19-oic acid (7),
16  , 17-dihydroxy-entkauran-19-oic acid (8), 16  ,17-dihydroxy-ent-kauran19-oic acid (9), 16  -hydro-ent-kauran-17,19-dioic acid (10), 16  -hydroxy17-acetoxy-ent-kauran-19-oic acid (11), 16  -hydro-17-hydroxy-ent-kauran19-al(12), 16  -hydro-17-hydroxy-ent-kauran-19-al (13), 16  ,17-dihydroxyent-kauran-19-al (14), 16  -hydro-19-al-ent-kauran-17-oic acid (15), 16  hydro-17-acetoxy-ent-kauran-19-al (16), 16  -hydro-19-acetoxy-ent-kauran17-oic acid (17), ent-kaur-15-en-19-oic acid (18) andent-kaur-15-en-17-ol-19-

Đỗ Thị Dung

5

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

oic acid (19)), 4 hợp chất acetogenin (annomontacin (20), annonacin (21),
isoannonacinone (22) và squamocin (23)), 4 hợp chấtsteroid (  -sitosterol
(24), stigmasterol (25),

 -sitosteryl-D-glucoside (26), stigmasteryl-D-

glucoside (27)) và 1hợp chất oxoaporphine (liriodenine (28) [6].
Cấu trúc hóa học của các hợp chất này như sau:

Đỗ Thị Dung

6

K35C – CN Hóa học



Trường ĐHSP Hà Nội 2

Đỗ Thị Dung

Khóa luận tốt nghiệp

7

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

R1
CHO
CH2OAc

29
30

R2
OAc
COOH
12

20

1
2
3
18

31
32
33

4

13

11
14

9
10
5

6

8
7

R3
COOCH3
H

R2

16

R3

17

15

R1 19
R1
R2
COOH COOCH3
CHO COOCH3
CH2OH COOH

R3
OAc
OAc
H

34
Hình 1.3. Cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập từ cây Na biển.

Đỗ Thị Dung

8

K35C – CN Hóa học



Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Trong đó, hợp chất methyl-16  -hydro-19-alent-kauran-17-oate có khả
năng chống lại sự nhân lên của HIV trong các tế bào lympho H9, và hợp chất
16  ,17-dihydroxy-entkauran-19-oic acid (8) cho thấy khả năng ức chế đáng
kể sự sao chép của HIV [4].
1.2. Lớp chất phenolic, thành phần hóa học có trong cây Na biển
1.2.1. Giới thiệu chung [3, 7]
Các hợp chất phenolic là các hợp chất có một hoặc nhiều vòng thơm và
một hoặc nhiều nhóm hydroxyl (-OH) tự do hoặc kết hợp với các nhóm chức
khác như ether, ester hoặc glycosid. Các hợp chất phenolic tan trong nước vì
phần lớn đều ở dạng kết hợp với đường như một glycosid và thường ở trong
không bào. Các hợp chất phenol có màu sắc tự nhiên nên có thể lợi dụng màu
sắc của chúng để theo dõi quá trình chiết suất và phân lập.
Có hai hướng chính thơm hóa để sinh ra các phenolic thực vật:
- Hướng phổ biến nhất là đi qua Shikimate (axit Shikimic), từ các
monosaccarit tạo thành các aminoaxit (Phenyl amin và Tyrosime), sau đó loại
nhóm amin cho các axit Cinnamic và các dẫn xuất của chúng gồm: Axit
benzoic, Acetophenone, Lignan, Lignin và Caumarin.
- Con đường thứ hai là đi từ axetat và dẫn đến tạo thành các Poly-βketoester của các Polyketit dài bằng các phản ứng đóng vòng (phản ứng
ngưng tụ Claisen hoặc Andol). Các sản phẩm thường là polycyclic gồm:
Choromen, Isocaumarin, Orcinol, Depside, Depsidoen, Xanthone, Quinone.
Cấu trúc đa dạng của các hợp chất phenol có được là do quá trình sinh
tổng hợp và bởi sự tăng dần tần số kết hợp giữa hai con đường Shikimate và
acetate đối với các hợp chất được tạo thành trong hỗn hợp. Khả năng tham gia
các thành tố thứ ba là hoàn toàn có thể mặc dù với tần số thấp hơn. Sự kết hợp
này được tạo bởi các thành tố tạo bởi hai con đường Shikimate và Mevalonate,
ví dụ như một số loại Quinone hoặc khung Furano và Poly-coumarin.


Đỗ Thị Dung

9

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Một vài hợp chất của Phenol có thể dễ dàng nhận biết bằng mắt thường
như các Anthocyanin từ hoa, các hợp chất khác có thể nhận biết dưới ánh
sáng đèn UV hoặc bởi các phản ứng màu đặc trưng. Các phản ứng màu này
được sử dụng trong quá trình sắc kí, phân lập các hợp chất Phenolic.Tuy
nhiên, việc sử dụng các phản ứng màu trên các dịch chiết thường khó phát
hiện và không nhạy bởi các tương tác của các yếu tố gây nhiễu kết quả thực
nghiệm. Các hóa chất thường được sử dụng phát hiện các chất phenol đó là:
Clorit sắt, Vanllinin, Phosphomolybdate-phosphotungstate. Đối với một vài
hóa chất, việc sử dụng các hợp chất có cấu trúc phenol được thực hiệntheo
tính đặc hiệu như thời gian phản ứng, sự chuyển màu, những điều này góp
phần làm tăng khả năng nhận biết các hợp chất phenol.
Chúng được phân bố rộng rãi trong giới thực vật và là các sản phẩm
trao đổi chất phong phú của thực vật. Hơn 8.000 cấu trúc phenolic đã được
tìm thấy, từ các phân tử đơn giản như các axit phenolic đến các chất polyme
như tannin, lignin, neoligman, melanin,... Trong đó flavonoid là nhóm hợp
chất lớn nhất nhưng là các phenol đơn vòng đơn giản, phenyl- propanoid và
tất cả các quinon phenolic tồn tại tương đối nhiều [7].
Các hợp chất phenolic được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm,vì nó

có khả năng ức chế chất sinh ung thư và là chất gây đột biếnhoặc ngăn chặn
các tác nhân gây bệnh, ký sinh trùng và động vật ăn thịt, cũng như làm tăng
các màu sắc của thực vật. Ví dụ, phenolic góp phần sự cay đắng và chát của
trái cây và nước ép trái cây, vì sự tương tác giữa phenolic, chủ yếu là
procyanidin, và glycoprotein trong nước bọt. Anthocyan –một trong các thành
phần polyphenol thực vật chịu trách nhiệm về cam, đỏ, xanh dương và màu
tím của nhiều loại trái cây và rau quả như táo, dâu, củ cải và hành tây. Chiết
xuất phenolic hoặc polyphenol bị cô lập từ thức ăn thực vật khác nhau đã
được nghiên cứu trong một số các dòng tế bào ung thư đại diện cho các giai

Đỗ Thị Dung

10

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

đoạn tiến hóa khác nhau của ung thư. Ví dụ, Ross và cộng sự.cho thấy hoạt
động kháng sinh chiết xuất mâm xôi trong tế bào của người bệnh ung thư cổ
tử cung (Hela) đã được chủ yếu là liên quan đến ellagitannins [9]. Isoflavone
genistein có trong đậu nành có thể ức chế sự tăng trưởng của các dòng tế bào
ung thư khác nhau bao gồm cả bệnh bạch cầu, ung thư hạch, tuyến tiền liệt,
vú, phổi và đứng đầu là các tế bào ung thư cổ [10]. Flavonoid cam quý ức chế
mạnh mẽ sự phát triển của HL-60 bệnh bạch cầu tế bào [11]. Ngoài ra, tác
dụng chống oxy hóa và giảm đau của polyphenol đóng góp vào tác dụng điều
trị dự phòng hoặc bảo vệ cơ thể. Chúng có ở khắp các bộ phận của cây và vì

vậy, chúng cũng là một phần không thể thiếu trong chế độ ăn uống của con
người.
1.2.2. Các nhóm phenolic [3, 8]
Các hợp chất phenolic có cấu trúc rất đa dạng và có thể được chia thành
các nhóm chính sau:
1.2.2.1. Phenol và các acid phenolic
Phenol là các dẫn xuất benzen đơn giản nhất, ít tồn tại ở dạng tự do
trong cây.
Acid phenolic là các dẫn xuất của acid benzoic (C6 – C1) và acid
cinamic (C6- C3)
Các phenol tự do và các acid phenolic thường cùng tồn tại trong cây, ở
dạng kết hợp như một glycosid đơn giản có mặt trong phân đoạn tan trong
cồn. Phổ biến nhất là các acid p – hydroxybenzoic, acid procatechuic, acid
vanilic,… Ngược lại với các acid trên, các phenol tự do trong cây thường
tương đối hiếm. Hydroquinon phổ biến nhất, ngoài ra còn gặp các catechol,
orcinol,…
1.2.2.1.1. Các phenol đơn giản

Đỗ Thị Dung

11

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Các phenol đơn giản tồn tại nhiều trong cây, hydroquinon chỉ được tìm

thấy trong vài họ thực vật, chủ yếu dưới dạng glycosid diphenol hay ether
monomethyl.
1.2.2.1.2. Các acid phenolic: Acid phenolic bao gồm 2 nhóm:
 Dẫn xuất của acid benzoic
Các acid phenolic C6 – C1 là các dẫn xuất hydroxyl của acid benzoic
tồn tại phổ biến ở trạng thái tự do, cũng như ở dạng kết hợp ester (như acid
salicylic) hay glycosid; acid procatechic, acid gallic ở dạng tự do và dạng
ester có trong thành phần cấu tạo của tanin và một số catechin. Các andehit
tương ứng với các acid này như vanilin,anisaldehyd,… cũng tồn tại tương đối
phổ biến trong cây.


Các acid phenolic – dẫn xuất của acid cinamic

Hầu hết các acid phenolic C6 – C3, như acid p-coumaric, acid caffeic,
ferulic,… rất phổ biến trong thiên nhiên.


Các phenol khác : như ancol phenol, aldehyd phenol (vanilin)

OH
R
OH

CH

OH Hydroquinon

CH CO2H


R= H, acid ferulic

MeO
OH

CH

R= OMe, acid sinapic

CH CO2H

R

R= H, acid p-coumarin
R= OH, acid caffeic
Hình 1.4. Cấu trúc của phenol và các acid phenolic
1.2.2.2. Flavonoid

Đỗ Thị Dung

12

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Flavonoid là một nhóm hợp chất poliphenol đa dạng về cấu trúc hóa

học và tác dụng sinh học. Chúng có mặt ở hầu hết các bộ phận của cây, đặc biệt
trong các tế bào thực vật, là hợp chất được cấu tạo gồm hai vòng benzen A, B
được kết nối bởi 1 dị vòng C với khung các bon C6-C3-C6. Tại các vòng có đính
một hay nhiều nhóm hydroxy tự do hay đã thay thế một phần. Vì vậy về bản chất
chúng là các poliphenol có tính axit. Các poliphenol có thể phản ứng lẫn nhau
qua các nhóm hydroxy để tạo thành các phân tử phức tạp hơn hay có thể liên kết
với các hợp chất khác trong cây như các Oza (dạng glicozit) hay protein.
Các flavonoid là dẫn xuất của 2 - phenyl chroman (flavan).
2'

A

1'

8
9

7

O

B

3'
4'

2
5'
3


6

10
5

4

6'

C

Hình 1.5. Flavan (2-phenyl chroman)
1.2.2.3. Lignan
Lignan là các hợp chất diphenolic (C6 – C3)2, tạo dây nối đuôi – đuôi
của 2 đơn vị acid cinamic. Lignan được tạo thành do trùng hợp hóa 2 acid
cinnamic, là các hợp chất có khung là kết quả của liên kết giữa  carbon của
mạch nhánh với 2 đơn vị dẫn xuất của 1-phenylpropan (dây nối 8 – 8’).

Hình 1.6. Lignan
Nếu 2 nhóm (C6 – C3) liên kết với nhau bởi các liên kết khác (thí dụ 83’; 3-3’; 8-O-4’) ta được Neolignan, chẳng hạn 3 – 3’ thay cho 8 – 8’:

Đỗ Thị Dung

13

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2


Khóa luận tốt nghiệp

Hình 1.7. 3,3’ - Neolignan
1.2.2.4.Coumarin
Coumarin là hợp chất hữu cơ có trong nhiều loài cây, được phát hiện từ
năm 1820. Coumarin là những dẫn chất  - pyron có cấu trúc C6 – C3. Benzo
 -pyron là một coumarin đơn giản nhất tồn tại trong hạt cây họ Đậu. Cho đến

nay, người ta đã biết đến gần 1000 coumarin khác nhau. Trong coumarin các
nhóm OH phenol được ether hóa bằng nhóm CH3 hay bằng một mạch
tecpenoid từ 1 đến 3 đơn vị isoprenoid. Về mặt hóa học, coumarin có thể tồn
tại dưới dạng tự do hay dạng kết hợp với đường glucose tạo thành coumarin
glycosid.

R1

R3

R2

R1

R4
O

O

R3

O


O

O

R2

Hình 1.8. Cấu trúc hóa học của một số coumarin.
Ngoài ra còn các nhóm khác như tanin, lignin, thymol, plikatit,
melanin,…
1.2.3. Hoạt tính sinh học của các hợp chất phenolic [3].
Các hợp chất phenolic thực vật có tác dụng chống lại bức xạ tia cực tím
hoặc ngăn chặn các tác nhân gây bệnh, ký sinh trùng và động vật ăn thịt cũng
như làm tăng các màu sắc của thực vật. Do sự phân bố rộng rãi của chúng trong

Đỗ Thị Dung

14

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

hầu hết các bộ phận của cây vì thế các polyphenol đóng vai trò quan trọng đối
với sức khỏe của con người nên chế độ ăn uống dinh dưỡng đã và đang được
chú ý trong những năm gần đây. Các nhà nghiên cứu và các nhà sản xuất thực
phẩm đã tập trung vào các polyphenol có đặc tính chống oxy hóa mạnh trong

chế độ ăn uống, các hiệu ứng đáng tin cậy của chúng trong việc phòng ngừa
những chứng bệnh căng thẳng oxy hóa liên quan. Theo các nghiên cứu dịch tễ
học, hấp thụ các hợp chất phenolic sẽ giảm được nguy cơ mắc các bệnh tim
mạch ngăn ngừa được bệnh ung thư. Hơn nữa các polyphenol còn có các tác
dụng sinh lý học cụ thể trong việc ngăn ngừa và điều trị bệnh.
Các hợp chất phenol như arbutin được dùng để sát trùng đường niệu,
các hợp chất salycylat có tác dụng chống viêm, các ester của acid cinnamic
trong actisô (như cynarin, các acid phenolic) có tác dụng bảo vệ gan. Các
ester của phenylpropanoid glycosid đã được chứng minh có nhiều tác dụng
quan trọng như ức chế men CAMP phosphodiesterase (forsythiasid, plantamajosid), ức chế men aldose reductase (verbacosid). Verbacosid, forsythiasid
ức chế men 5-LO(5-lipoxygenase) trong bạch cầu hạt ở người và ở màng
bụng chuột. Nhiều hợp chất phenol có tác dụng kháng khẩn và kháng nấm.
Coumarin cũng có nhiều tác dụng dược lý quan trọng bao gồm chống đông
máu, kích thích tố, làm nhạy cảm với da, diệt vi trùng, thuốc giãn mạch, diệt
côn trùng, trừ giun sán, giảm đau, hạ nhiệt, làm bền và bảo vệ thành mạch
như aesculetin, bergapten và fraxin. Coumarin glycosid có tác dụng chống
nấm và chống ung thư. Coumarin và các dẫn xuất có khả năng kích thích đại
thực bào nên có thể dùng làm thuốc điều trị vết bỏng và các vết thương do
nhiệt. Ngoài ra chúng còn gây nên sự thay đổi đáng kể trong điều hòa đáp ứng
miễn dịch. Chúng đóng vai trò gián tiếp qua sự điều biến của hệ miễn dịch
chủ, do đó kích thích hoạt tính miễn dịch dẫn tới bảo vệ chống lại sự tái phát
của khối u, hoặc giảm kích thước các khối u nhỏ và tác dụng trực tiếp ức chế

Đỗ Thị Dung

15

K35C – CN Hóa học



Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

phát triển đối với dòng tế bào u ác tính in vitro, thí dụ dịch chiết metanol của
Tordylium (chứa umbeliferon, isoimperatorin và dẫn xuất angelicin) ức chế
dòng tế bào ung thư KB (ung thư mũi hầu) và NSCLS-N6 (dòng tế bào ung
thư biểu mô cuống phổi). Trong khi, tác dụng ức chế ung thư của tannin chủ
yếu do khả năng kết hợp của tanin với các chất gây ung thư. Tanin ở nồng độ
cao ức chế hoạt động của các enzyme, nhưng ở nồng độ thấp chúng thường
kích thích hoạt tính các enzyme. Tanin đóng vai trò đặc biệt trong nén ép bề
mặt màng nhầy sau khi vào cơ thể, vì vậy nó dùng để trị bệnh tiêu chảy nhưng
phải thải trừ ngay khỏi đường tiêu hóa bằng cách dùng thuốc nhuận tràng.
Ngoài ra tanin có tác dụng chống chảy máu, giảm đau và làm giảm nồng độ
acid trong dạ dày. Nước ép quả hồng có chứa nhiều tannin ngưng tụ được
dùng ở Nhật để điều trị cao huyết áp và ngăn ngừa chứng đột quỵ. Casuarinin,
tanin thủy phân được chiết xuất từ vỏ cây Terminalia arjuna Linn, có tác
dụng ức chế virus Herpes typ 2 (HSV-2) in vitro. Geraniin, một tanin thủy
phân được có trong thành phần cây chó đẻ răng cưa (Phylanthus amarus
Chum. et Thonn.) được dùng để điều trị viêm gan virus do ức chế tín hiệu
điều khiển protein kinase, hay ức chế tương tác giữa HBV enhacer I và các
yếu tố dịch mã tế bào. Thành phần polyphenol có tác dụng chống oxy hóa
chính trong chè xanh… Lignan và các cây có chứa lignan đã được sử dụng
lâu đời trong y học cổ truyền, chúng có tác dụng bảo vệ gan như schizandrin,
iso schizandrin và các gomisin A, B, C, D, F và G tìm thấy trong quả cây ngũ
vị tử (Schizandra chinensis (Turcz.) Baill., họ Ngũ vị - Schizandraceae) cho
thấy tác dụng bảo vệ gan rất tốt, tăng tổng hợp protein gan được dùng để điều
trị viêm gan mạn có men gan tăng, điều trị tổn thương gan,… Lignan acid
nordihydroguaaretic – NDGA (trong cây Larrea mexicana) là một trong
những hợp chất thiên nhiên có tác dụng chống oxy hóa mạnh, ức chế men 5LO, ức chế tế bào ung thư được dùng làm thuốc chống oxy hóa, chống ung


Đỗ Thị Dung

16

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

thư và chống viêm. Nghiên cứu cho thấy Lignan và neolignan có tác dụng ức
chế men, đặc biệt là men C-AMP phosphodiesterase và các men của quá trình
hô hấp, chống dị ứng và viêm khớp, ức chế yếu tố hoạt hóa tiểu cầu. Một số
lignan là dẫn xuất của xyclolignan naphtalenhay tetrahydro-naphtalen có tác
dụng chống virus. Từ dịch chiết chó đẻ răng cưa, các nhà khoa học Thái Lan
đã chiết được 2 dẫn xuất của lignan là phylanthin và hydrophylanthin có hoạt
tính đối với dòng tế bào ung thư KB-V1đã kháng vinblastin. Một số lignan có
thể kết hợp với protein (kể cả enzyme), polysaccharide, acid nucleic tạo các
phân tử có tác dụng kháng sinh và trừ sâu bọ cho cây.
1.3. Các phương pháp chiết mẫu thực vật.
Sau khi tiến hành thu hái và làm khô mẫu, tuỳ thuộc vào đối tượng chất
có trong các mẫu khác nhau (chất không phân cực, chất có độ phân cực trung
bình, chất phân cực…) mà ta chọn dung môi và hệ dung môi khác nhau.
1.3.1. Chọn dung môi chiết.
Điều kiện của dung môi là phải hoà tan được những chất chuyển hoá
thứ cấp đang nghiên cứu, dễ dàng được loại bỏ, có tính trơ (không phản ứng
với chất nghiên cứu), không dễ bốc cháy, không độc.
Thường thì các chất chuyển hoá thứ cấp trong cây có độ phân cực khác

nhau.Tuy nhiên những thành phần tan trong nước ít khi được quan tâm. Dung
môi dùng trong quá trình chiết ít khi được quan tâm và cần phải được lựa
chọn rất cẩn thận.
Dung môi nếu lẫn các tạp chất thì có thể ảnh hưởng đến hiệu quả và
chất lượng của quá trình chiết. Vì vậy những dung môi này cần được chưng
cất để thu được dạng sạch trước khi sử dụng. Có một số chất dẻo thường lẫn
trong dung môi như: diankyl phtalat, tri-n-butyl photsphat và tri-n-butyl
axetylcitrar. Những chất này có thể lẫn với dung môi trong quá trình sản xuất

Đỗ Thị Dung

17

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

hoặc trong khâu bảo quản như trong các nút đậy bằng nhựa hoặc trong các
thùng chứa.
Metanol và clorofoc thường chứa dioctylphtalat [di-(2-etylhexyl)
phtalat hoặc bis-2-etylhexyl-phtalat]. Chất này sẽ làm sai lệch kết quả phân
lập trong các quá trình nghiên cứu hoá thực vật, thể hiện hoạt tính trong thử
nghiệm sinh học và có thể làm bẩn dịch chiết của cây. Clorofoc, metyl clorit
và metanol là những dung môi thường được lựa chọn trong quá trình chiết sơ
bộ một phần của cây như: Rễ, thân, lá, hoa, củ, quả…
Những tạp chất của clorofoc như CH2ClBr, CH2Cl2 có thể phản ứng với
vài hợp chất như các ancaloid tạo muối bậc 4 và những sản phẩm khác.

Tương tự như vậy, sự có mặt của một lượng nhỏ axit clohidric (HCl) cũng có
thể gây ra sự phân huỷ, sự khử nước hay sự đồng phân hoá với các hợp chất
khác. Clorofoc có thể gây tổn thương cho gan và thận nên khi làm việc với
chất này cần thao tác cẩn thận và khéo léo ở nơi thoáng mát và phải đeo mặt
nạ phòng độc. Metylen clorit ít độc hơn và dễ bay hơi hơn clorofoc.
Metanol và etanol 80% là những dung môi phân cực hơn các
hidrocacbon thế clo. Các dung môi thuộc nhóm rượu được cho rằng sẽ thấm
tốt hơn lên màng tế bào nên quá trình chiết với các dung môi này sẽ thu được
lượng lớn các thành phần trong tế bào. Trái lại, khả năng phân cực của
clorofoc thấp hơn, nó có thể rửa giải các chất nằm ngoài tế bào. Các ancol hoà
tan phần lớn các chất chuyển hoá phân cực cùng với các hợp chất phân cực
trung bình và thấp. Vì vậy khi chiết bằng ancol thì các chất này cũng bị hoà
tan đồng thời. Thông thường dung môi cồn trong nước có những đặc tính tốt
nhất cho quá trình chiết sơ bộ.
Tuy nhiên cũng có một vài sản phẩm được tạo thành khi dùng methanol
trong suốt quá trình chiết. Thí dụ trechlonolide A thu được từ trechonaetes
aciniata được chuyển thành trechonolide B bằng quá trình phân huỷ 1-

Đỗ Thị Dung

18

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

hydroxytropacocain cũng xảy ra khi erythroxylum novogranatense được chiết

trong metanol nóng.
Người ta thường ít sử dụng nước để thu được dịch chiết thô từ cây mà
thay vào đó là dùng dung dịch nước của metanol.
Dietyl ete hiếm khi được dùng cho các quá trình chiết thực vật vì nó rất
dễ bay hơi, dễ bốc cháy và rất độc, đồng thời nó có xu hướng tạo thành
peroxit dễ nổ, peroxit của dietyl ete dễ gây phản ứng oxi hoá với những hợp
chất không có khả năng tạo cholesterol như các calotenoid. Tiếp đến là axeton
cũng có thể tạo thành axetonit nếu 1,2-cis-diol có mặt trong môi trường axit.
Quá trình chiết dưới điều kiện axit hoặc bazơ thường được dùng với quá trình
phân tách đặc trưng, cũng có khi xử lý các dịch chiết bằng axit – bazơ có thể
tạo thành những sản phẩm mong muốn.
Sự hiểu biết về những đặc tính của những chất chuyển hoá thứ cấp
trong cây được chiết sẽ rất quan trọng để từ đó lựa chọn dung môi thích hợp
cho quá trình chiết tránh được sự phân huỷ của chất bởi dung môi và quá trình
tạo thành chất mong muốn.
Sau khi chiết dung môi được cất ra bằng máy cất quay ở nhiệt độ không
quá 30-400C, với một vài hoá chất chịu nhiệt có thể thực hiện ở nhiệt độ cao hơn.
1.3.2. Quá trình chiết.
Hầu hết quá trình chiết đơn giản được phân loại như sau:
- Chiết ngâm
- Chiết sử dụng một loại thiết bị là bình chiết Xoclet
- Chiết sắc với dung môi nước
- Chiết lôi cuốn theo hơi nước
Chiết ngâm là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi
nhất trong quá trình chiết thực vật bởi nó không đòi hỏi nhiều công sức và
thời gian. Thiết bị sử dụng là một bình thuỷ tinh với một cái khoá ở dưới đáy

Đỗ Thị Dung

19


K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

để điều chỉnh tốc độ chảy thích hợp cho quá trình tách rửa dung môi. Dung
môi có thể nóng hoặc lạnh nhưng nóng sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Trước đây,
máy chiết ngâm đòi hỏi phải làm bằng kim loại nhưng hiện nay có thể dùng
bình thuỷ tinh.
Thông thường quá trình chiết ngâm không được sử dụng như phương
pháp chiết liên tục bởi mẫu được ngâm với dung môi trong máy chiết khoảng
24 giờ rồi chất chiết được lấy ra. Thông thường quá trình chiết một mẫu chỉ
thực hiện qua 3 lần dung môi vì khi đó cặn chiết sẽ không còn chứa những
chất giá trị nữa. Sự kết thúc quá trình chiết được xác định bằng một vài cách
khác nhau.
Ví dụ: Khi chiết các ancaloid, ta có thể kiểm tra sự xuất hiện của hợp
chất này bằng sự tạo thành kết tủa với những tác nhân đặc trưng như tác nhân:
Dragendroff và Maye.
Chiết ngâm là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi
nhất trong quá trình chiết thực vật bởi nó không đòi hỏi nhiều công sức và
thời gian. Thiết bị sử dụng là một bình thuỷ tinh với một cái khoá ở dưới đáy
để điều chỉnh tốc độ chảy thích hợp cho quá trình tách rửa dung môi. Dung
môi có thể nóng hoặc lạnh nhưng nóng sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Trước đây,
máy chiết ngâm đòi hỏi phải làm bằng kim loại nhưng hiện nay có thể dùng
bình thuỷ tinh.
Thông thường quá trình chiết ngâm không được sử dụng như phương
pháp chiết liên tục bởi mẫu được ngâm với dung môi trong máy chiết khoảng

24 giờ rồi chất chiết được lấy ra. Thông thường quá trình chiết một mẫu chỉ
thực hiện qua 3 lần dung môi vì khi đó cặn chiết sẽ không còn chứa những
chất giá trị nữa. Sự kết thúc quá trình chiết được xác định bằng một vài cách
khác nhau.

Đỗ Thị Dung

20

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Ví dụ: Khi chiết các ancaloid, ta có thể kiểm tra sự xuất hiện của hợp
chất này bằng sự tạo thành kết tủa với những tác nhân đặc trưng như tác nhân:
Dragendroff và Maye.
1.4. Các phương pháp sắc ký trong phân lập các hợp chất hữu cơ
Phương pháp sắc ký (Chromatography) là một phương pháp phổ biến
và hữu hiệu nhất hiện nay, được sử dụng rộng rãi trong việc phân lập các hợp
chất hữu cơ nói chung và các hợp chất thiên nhiên nói riêng.
1.4.1. Đặc điểm chung của phương pháp sắc ký
Sắc ký là phương pháp tách các chất dựa vào sự khác nhau về bản chất
hấp phụ và sự phân bố khác nhau của chúng giữa hai pha: pha động và pha tĩnh.
Sắc ký gồm có pha động và pha tĩnh. Khi tiếp xúc với pha tĩnh, các cấu tử
của hỗn hợp sẽ phân bố giữa pha động và pha tĩnh tương ứng với tính chất của
chúng (tính bị hấp phụ, tính tan…). Các chất khác nhau sẽ có ái lực khác nhau
với pha động và pha tĩnh. Trong quá trình pha động chuyển động dọc theo hệ

sắc ký hết lớp pha tĩnh này đến lớp pha tĩnh khác, sẽ lặp đi lặp lại quá tình hấp
phụ và phản hấp phụ. Kết quả là các chất có ái lực lớn với pha tĩnh sẽ chuyển
động chậm hơn qua hệ thống sắc ký so với các chất tương tác yếu hơn với pha
này, nhờ đặc điểm này người ta có thể tách các chất qua quá trình sắc ký.
1.4.2. Cơ sở của phương pháp sắc ký
Phương pháp sắc ký dựa vào sự phân bố khác nhau của các chất giữa
pha tĩnh và pha động. Ở điều kiện nhiệt độ không đổi, định luật mô tả sự phụ
thuộc của lượng chất bị hấp phụ lên pha tĩnh với nồng độ của dung dịch (hoặc
với chất khí là áp suất riêng phần) gọi là định luật hấp phụ đơn phân tử đẳng
nhiệt Langmuir:

n = Error!
Trong đó:

n: lượng chất bị hấp phụ lên pha tĩnh lúc đạt cân bằng

Đỗ Thị Dung

21

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

n∞: lượng cực đại của chất có thể bị hấp phụ lên một chấthấp phụ
nào đó
b: hằng số

C: nồng độ của chất bị hấp phụ
1.4.3. Phân loại các phương pháp sắc ký
Trong phương pháp sắc ký, pha động là các lưu thế (các chất ở trạng
thái khí hay lỏng), còn pha tĩnh có thể là các chất ở trạng thái lỏng hoặc rắn.
Dựa vào trạng thái tập hợp của pha động, người ta chia sắc ký thành hai nhóm
lớn: sắc ký lỏng và sắc ký khí. Dựa vào cách tiến hành sắc ký, người ta chia ra
thành các phương pháp sắc ký chủ yếu sau:
1.4.3.1. Sắc ký cột (C.C)
Đây là phương pháp sắc ký phổ biến nhất, chất hấp phụ là pha tĩnh gồm
các loại silica gel (có kích thước hạt khác nhau) pha thường và pha đảo YMC,
ODS, Dianion. Chất hấp phụ được nhồi vào cột (cột có thể bằng thuỷ tinh
hoặc kim loại, phổ biến nhất là cột thuỷ tinh). Độ mịn của chất hấp phụ hết
sức quan trọng, nó phản ánh số đĩa lý thuyết hay khả năng tách của chất hấp
phụ. Độ hạt của chất hấp phụ càng nhỏ thì số đĩa lý thuyết càng lớn, khả năng
tách càng cao và ngược lại. Tuy nhiên, nếu chất hấp phụ có kích thước hạt
càng nhỏ thì tốc độ chảy càng giảm. Trong một số trường hợp, nếu lực trọng
trường không đủ lớn thì gây ra hiện tượng tắc cột (dung môi không chảy
được), khi đó người ta phải sử dụng áp suất, với áp suất trung bình (MPC), áp
suất cao (HPLC).
Trong sắc ký cột, tỷ lệ đường kính (D) so với chiều cao cột (L) rất quan
trọng, nó thể hiện khả năng tách của cột. Tỷ lệ L/D phụ thuộc vào yêu cầu tách,
tức là phụ thuộc vào hỗn hợp chất cụ thể. Trong sắc ký, tỷ lệ giữa đường đi của
chất cần tách so với quãng đường đi của dung môi là Rf, với mỗi một chất sẽ
có một Rf khác nhau. Nhờ vào sự khác nhau về Rf này mà ta có thể tách từng

Đỗ Thị Dung

22

K35C – CN Hóa học



Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

chất ra khỏi hỗn hợp. Tỷ lệ chất so với tỷ lệ chất hấp phụ cũng rất quan trọng
và tuỳ thuộc vào yêu cầu tách. Nếu tách thô thì tỉ lệ này thấp (1/5 - 1/10), còn
nếu tách tinh thì tỷ lệ này cao hơn và tuỳ vào hệ số tách (tức phụ thuộc vào sự
khác nhau Rf của các chất), mà hệ số này trong khoảng 1/20 - 1/30.
Trong sắc ký cột, việc đưa chất lên cột hết sức quan trọng. Tuỳ thuộc
vào lượng chất và dạng chất mà người ta có thể đưa chất lên cột bằng các
phương pháp khác nhau. Nếu lượng chất nhiều và chạy thô thì phổ biến là tẩm
chất vào silica gel rồi làm khô, tơi hoàn toàn, đưa lên cột. Nếu tách tinh thì
đưa trực tiếp chất lên cột bằng cách hoà tan chất bằng dung môi chạy cột với
lượng tối thiểu.
Có hai cách đưa chất hấp phụ lên cột:
- Cách 1: Nhồi cột khô. Theo cách này, chất hấp phụ được đưa trực tiếp
vào cột khi còn khô, sau đó dùng que mềm để gõ nhẹ lên thành cột để chất
hấp phụ sắp xếp chặt trong cột. Sau đó dùng dung môi chạy cột để chạy cột
đến khi cột trong suốt.
- Cách 2: Nhồi cột ướt. Tức là chất hấp phụ được hoà tan trong dung
môi chạy cột trước với lượng dung môi tối thiểu. Sau đó đưa dần lên cột đến
khi đủ lượng cần thiết.
Khi chuẩn bị cột phải lưu ý không được để bọt khí bên trong (nếu có
bọt khí gây nên hiện tượng chạy rối trong cột và giảm hiệu quả tách) và cột
không được nứt, gãy.
Tốc độ chảy của dung môi cũng ảnh hưởng đến hiệu quả tách. Nếu tốc
độ dòng chảy quá lớn sẽ làm giảm tốc độ hiệu quả tách. Còn nếu tốc độ dòng
chảy quá thấp thì sẽ kéo dài thời gian tách và ảnh hưởng đến tiến độ công việc.

1.4.3.2. Sắc ký lớp mỏng
Sắc ký lớp mỏng (SKLM) thường được sử đụng để kiểm tra và định
hướng cho sắc ký cột. SKLM được tiến hành trên bản mỏng tráng sẵn silica

Đỗ Thị Dung

23

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

gel trên đế nhôm hay đế thuỷ tinh. Ngoài ra, SKLM còn dùng để điều chế thu
chất trực tiếp. Bằng việc sử dụng bản SKLM điều chế (bản được tráng sẵn
silica gel dày hơn), có thể đưa lượng chất nhiều hơn lên bản và sau khi chạy
sắc ký, người ta có thể cạo riêng phần silica gel có chứa chất cần tách rồi giải
hấp phụ bằng dung môi thích hợp để thu được từng chất riêng biệt. Có thể
phát hiện chất trên bản mỏng bằng đèn tử ngoại, bằng chất hiện màu đặc
trưng cho từng lớp chất hoặc sử dụng dung dịch H2SO4 10%.
1.5. Một số phương pháp hoá lý xác định cấu trúc của các hợp chất hữu cơ
Cấu trúc hoá học các hợp chất hữu cơ được xác định nhờ vào phương
pháp phổ kết hợp. Tuỳ thuộc vào cấu trúc hoá học của từng chất mà người ta
sử dụng phương pháp phổ cụ thể nào. Cấu trúc càng phức tạp thì yêu cầu phối
hợp các phương pháp phổ càng cao. Trong một số trường hợp, để xác định
chính xác cấu trúc hoá học của các hợp chất, người ta phải dựa vào các
phương pháp bổ sung khác như chuyển hoá hoá học, kết hợp với các phương
pháp sắc ký so sánh…

1.5.1 Phổ hồng ngoại (Infrared Spectroscopy, IR)
Phổ hồng ngoại được xây dựng dựa vào sự khác nhau về dao động của
các liên kết trong phân tử hợp chất dưới sự kích thích của tia hồng ngoại. Mỗi
kiểu liên kết được đặc trưng bởi một vùng bước sóng khác nhau. Do đó dựa
vào phổ hồng ngoại, có thể xác định được các nhóm đặc trưng trong hợp chất.
Ví dụ như dao động hoá trị của nhóm OH tự do trong các nhóm hydroxyl là
3300-3450 cm-1, của nhóm cacbonyl C=O trong khoảng 1700-1750 cm-1.
1.5.2. Phổ khối lượng (Mass Spectroscopy, MS).
Nguyên tắc của phương pháp phổ này là dựa vào sự phân mảnh ion của
phân tử chất dưới sự bắn phá của chùm ion bên ngoài. Phổ MS còn cho các
pic ion mảnh khác mà dựa vào đó người ta có thể xác định được cơ chế phân

Đỗ Thị Dung

24

K35C – CN Hóa học


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

mảnh và dựng lại được cấu trúc hoá học của các hợp chất. Hiện nay có rất
nhiều loại phổ khối lượng, như những phương pháp chủ yếu sau:
- Phổ EI-MS (Electron Impact Ionization Mass Spectroscopy) dựa vào
sự phân mảnh ion dưới tác dụng của chùm ion bắn phá năng lượng khác nhau,
phổ biến là 70eV.
- Phổ ESI-MS (Electron Sprayt Ionization Mass Spectroscopy) gọi là
phổ phun mù điện tử. Phổ này được thực hiện với năng lượng bắn phá thấp

hơn nhiều so với phổ EI-MS, do đó phổ thu được chủ yếu là pic ion phân tử
và các pic đặc trưng cho sự phá vỡ các liên kết có mức năng lượng thấp, dễ bị
phá vỡ.
- Phổ FAB (Fast Atom Bombing Mass Spectroscopy) là phổ bắn phá
nguyên tử nhanh với sự bắn phá nguyên tử nhanh ở năng lượng thấp, do đó
phổ thu được cũng dễ thu được pic ion phân tử.
- Phổ khối lượng phân giải cao (High Resolution Mass Spectroscopy),
cho phép xác định pic ion phân tử hoặc ion mảnh với độ chính xác cao.
- Ngoài ra, hiện nay người ta còn sử dụng kết hợp các phương pháp sắc ký
kết hợp với phổ khối khác như: GC-MS (Sắc ký khí – Phổ khối), LC-MS (Sắc ký
lỏng – Phổ khối). Các phương pháp kết hợp này còn đặc biệt hữu hiệu khi phân
tích thành phần của hỗn hợp chất (nhất là phân tích thuốc trong ngành dược).
1.5.3. Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (Nuclear Magnetic Resonance
Spectroscopy, NMR)
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân là một phương pháp phổ hiện đại và hữu
hiệu nhất hiện nay.Với việc sử dụng kết hợp các kỹ thuật phổ NMR một chiều
và hai chiều, các nhà nghiên cứu có thể xác định chính xác cấu trúc của hợp
chất, kể cả cấu trúc lập thể của phân tử.
Nguyên lý chung của các phương pháp phổ NMR (Phổ proton và cacbon)
là sự cộng hưởng khác nhau của các hạt nhân từ (1H và 13C) dưới tác dụng của

Đỗ Thị Dung

25

K35C – CN Hóa học


×