Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

Thực trạng vấn đề phát triển nông thôn ở các nước Châu Á và ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (240.01 KB, 29 trang )

PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA CHUYÊN ĐỀ
Nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề được quan tâm ở tất cả các quốc
gia. Ở những nước khác nhau, tùy theo cách giải quyết của mỗi nước trong
quá trình công nghiệp hóa mà vấn đề này tác dộng tích cực hay hạn chế đến
sự phát triển KT-XH
Ở một nước đang phát triển, gần như toàn bộ thu nhập nông thôn đều
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nông nghiệp. Do đó, tăng thu nhập khu
vực nông nghiệp sẽ có tác động lan tỏa ra cả nền kinh tế nông thôn. Tăng
trưởng của khu vực nông nghiệp đóng góp trực tiếp vào phúc lợi cho người
dân nông thôn bằng cách tăng thu nhập của người nông dân và gia đình của
họ. Tăng trưởng của khu vực nông nghiệp cũng tạo ra những lợi ích kinh tế
gián tiếp vượt ra ngoài cổng trang trại, lan tỏa ra cả nền kinh tế nông thôn
rộng lớn hơn. Phần thu nhập nông thôn tăng thêm nhờ cầu của khu vực nông
nghiệp đối với lao động và dịch vụ nông nghiệp tăng, và từ những chi tiêu
trong nền kinh tế địa phương của những người có thu nhập tăng lên nhờ cách
này. Do đó, bất cứ chiến lược phát triển nông thôn nào – nghĩa là để tăng thu
nhập nông thôn – phải dựa một cách vững chắc vào sự tăng trưởng bền vững
lợi nhuận của khu vực nông nghiệp.
Tuy nhiên, tăng khả năng lợi nhuận của khu vực nông nghiệp không
phải là con đường duy nhất để phát triển nộng thôn như những kinh nghiệm
mang tính so sánh đã cho thấy rõ. Tại các nền kinh tế trong khu vực đã theo
đuổi một cách thành công công cuộc công nghiệp hóa sử dụng nhiều lao
động , thì việc di cư của người lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp đã làm
tăng tỷ số lao động/diện tính ruộng đất và giảm tỷ lệ phụ thuộc ở nông thôn.
Yếu tố thứ nhất cho phép tích tụ ruộng đất và tái phân bổ quyền quản lý
ruộng đất cho phép tích tụ ruộng đất và giảm tỷ lệ phụ thuộc ở nông thôn.
Yếu tố thứ hai làm tăng thu nhập bình quân đầu người nhờ giảm số người
phụ thuộc vào nông nghiệp.Tại các nền kinh tế thành công nhất (như Thái
Lan, Malaixia, Hàn Quốc và Đài Loan), tăng trưởng của khu vực phi nông
nghiệp đã làm tăng tiền lương trong toàn nền kinh tế, theo đó tăng thu nhập


cho lao động nông nghiệp cũng như tiền gửi về của những người di cư từ
nông thôn ra thành thị. Kinh nghiệm trong khu vực cho thấy phát triển nông
1


thôn bền vững được thúc đẩy bởi sự năng động nội bộ (tăng trưởng nông
nghiệp ) và các lực lượng bên ngoài (năng suất lao động và tiền gửi về tăng
lên); một vấn đề cần ghi nhớ nữa là sự hội nhập giữa tăng trưởng nông
nghiệp và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
- Thông qua nghiên cứu để thấy được kinh nghiệm phát triển nông thôn
của một số nước Châu Á để áp dụng vào phát triển nông thôn Việt
Nam và tầm quan trọng của việc phát triển nông thôn bền vững.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Thực trạng vấn đề phát triển nông thôn ở các nước Châu Á và ở Việt
Nam.
(2) Đánh giá/ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển nông
thôn ở các nước Châu Á và các chính sách phát triển nông thôn mà
các nước đó đã, đang và sẽ áp dụng.
(3) Đề xuất các giải pháp
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu và phân tích một số thành công trong chính sách phát
triển nông thôn ở một số nước Châu Á và khu vực ( Nhật Bản, TQ,
HQ).
- Từ đó rút ra một số kinh nghiệm cho VN trong quá trình phát triển
nông thôn.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin thứ cấp
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:

+ Phương pháp phân tích số liệu: Thống kê kinh tế; Phân tích kinh tế;
Dự báo thống kê.
+Phương pháp xử lý số liệu

2


PHẦN II. NỘI DUNG
I.
KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở TRUNG QUỐC,
NHẬT BẢN, HÀN QUỐC
1.1. Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Trung Quốc.
1.1.1. Tình hình nông thôn trung quốc:
Trong các năm 1990 nền kinh tế của TQ đã gặp một số khó khăn làm cho
tăng trưởng 12 % năm từ 2002 đến 2005 giảm xuống 8 % năm từ 2006 đến
2002.
Năm 2004 số nông dân làm việc ở đô thị hơn 100 triệu, tăng mỗi năm 8,5 %.
Trong 15 năm tới sẽ có thêm 150 triệu ra đô thị. Lao động ra đô thị tìm việc
có việc làm không ổn định, tiền công thấp, thiếu nhà ở ổn định, không được
tiếp xúc với giáo dục và y tế.
Trong một báo cáo điều tra tình hình nông thôn năm 2004-2005 của Viện
khoa học xã hội TQ có đề ra những vấn đề của nông thôn TQ:
1.Thời gian gần đây 40 triệu nông dân mất đất do công nghiệp hoá và đô thị
hoá.
2. Khoảng cách giữa thu nhập đô thị và nông thôn tăng lên.
Năm 1978 mức chênh lệch là 1:2,57. Năm 2003 đến 2005 mức chênh lệch
này là 1:3,23, 1:3,21, 1:3,22. Năm 2006 thu nhập của dân nông thôn chỉ
bằng một phần ba của dân đô thị. Tuy vậy theo các nhà kinh tế nếu tính cả
các loại trợ cấp và lưu chuyển chi tài chính của chính phủ mà dân đô thị
nhận được thì mức chênh lệch lên đến 5

3. Trong 30 năm qua dân số TQ tăng 2,5 lần.
Trong 900 triệu dân nông thôn, có 600 triệu lao động, nông nghiệp cung cấp
việc làm cho 150 triệu, doanh nghiệp nông thôn cho 120 triệu, còn thừa 300
triệu, phải chuyển ra đô thị.
4. Việc cắt giảm nghèo còn rất cao. Số người nghèo đã giảm từ 250 triệu
xuống 29 triệu, tức là từ 30 xuống 3 % trong 25 năm qua, nhưng tiêu chuẩn
3


nghèo của TQ là 625 nguyên năm, thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế là 900
nguyên.
5. Sự phát triển bền vững vì thiêu năng lượng và môi trường cản chở. Tài
nguyên trên đầu người ở TQ thấp, việc sử dụng tài nguyên đã gây ô nhiễm
môi trương nghiêm trọng.
1.1.2. Các chính sách phát triển nông thôn
1.1.2.1. Khu thử nghiệm xây dựng chính sách phát triển nông thôn mới ở
Trung Quốc
Bắt đầu tư 1987, Quốc vụ viện Trung quốc chọn một số địa phương làm thí
điểm về cải cách nông thôn trên mọi mặt, các khu này được coi như các
"phòng thí nghiệm về phát triển nông thôn".
Năm 2007, Quốc vụ viện quyết định 20 dự án tiếp theo thử nghiệm ở các
khu để xây dựng chính sách cho giai đoạn tới:
1) Xây dựng thể chế đất đai
2) Xây dựng cơ sở nông thôn
3) Cải cách lưu thông lương thực và thực phẩm
4) Cải cách thể chế doanh nghiệp nông thôn và hương trấn;
5) Hiện đại hóa nông thôn
6) Lưu thông hàng hóa nông thôn
7) Cải cách tiền tệ
8) Cải cách thế ché xóa đói giảm nghèo

9) Cải cách thế chế về nông lâm nghiệp.
1.1.2.2. Các chính sách tam nông trong phát triển nông thôn Trung quốc
trong thời gian gần đây
Chính sách tam nông:
1) Tăng thu nhập nguời dân
2) Tiêu thụ hành hóa nông sản
3) Ổn định xã hội nông thôn.
4


Do vậy quan điểm chính sách phát triển nông thôn được xác định như sau.
1. Ủng hộ tích cực với chính sách phát triển nông thôn, khống chế ổn
định giá cả nông sản, thực phẩm, hỗ trợ nông nghiệp. Tăng cường đầu
tư cho nông thôn.
2. Quan tâm tầng lớp nông dân ra thành thị làm việc (công nhân, nông
dân). Đảm bảo xã hội, giáo dục để cân bằng đãi ngộ, ổn định cuộc
sống.
3. Vấn đề xã hội: Xóa chế độ hộ khẩu nông thôn, tạo điều kiện cho nông
dân di cư và sinh sống tại đô thị.
4. Đảm bảo công bằng, an sinh xã hội cho người già yếu, tàn tật ở nông
thôn
1.1.2.3. Chính sách đất đai
Chính sách đất đai và đô thị hóa: Nhiều địa phương đã bán đất cho
doanh nghiệp để lấy tiền, chính sách đất đai dễ dãi để thu hút đầu tư.
Để lập lại trật tự cho vấn đề này, Chính chủ xác định 180 triệu mẫu (15
mẫu=01 ha) cố định không thay đổi. Đưa ra luật bảo hộ đất đai canh tác cơ
bản. Khi đã là đất canh tác cơ bản, không được chuyển đổi mục đích sử
dụng.
Chính sách đất đai được làm rất rõ: Hiện nay, các dự án đầu tư phải
được thống nhất với người dân rồi mới triển khai dự án. Phải có chữ kí của

người dân thì mới được triển khai.
Nhà nước phân loại đất làm hai loại để quản lí: 1) Đất công ích: đất
dùng làm các công trình phúc lợi sẽ do nhà nước định giá; 2) Đất thương
mại: Giá đất sẽ tùy thuộc vào giá thị trường, sẽ do người dân và doanh
nghiệp đàm phán. Nhà nước sẽ không tham gia vào việc định giá này.
Hiện nay Trung quốc sảy ra mâu thuẫn: nhu cầu sử dụng đất tăng, nhà
nước lại không chế sử dụng đất. Các địa phương ưu đãi đất đai cho các nhà
đầu tư. Các địa phương thường xây dựng các khu công nghiệp để thu hút
đầu tư, nhiều địa phương xây dựng khu công nghiệp để chờ đầu tư tạo ra qui
hoạch treo, điều này tạo ra mâu thuẫn giữa nông dân và chính quyền.
5


Cải cách sở hữu: Hiện nay ở Trung quốc sở hữu đất đai là nhà nước.
Quyền sử dụng đất của người dân, được xác định mang tính chất rất ổn định,
gần như quyền tư hữu. Người dân có quyền chuyền quyền sử dụng đất cho
người khác, Ủy ban thôn chứng thực cho giao dịch này.
Người dân mong muốn chính sách đất đai vĩnh cửu, vĩnh viễn. Mặc
dù vậy do mâu thuẫn giữa tư hữu hóa và nghèo đói, bảo vệ tài nguyên. Quá
trình sử dụng đất đai chưa thực sự ổn định, đang phát triển, do vậy trong thời
gian tới Trung quốc sẽ chưa thay đổi quan điểm quản lí đất đai: 1) tăng
người nhưng không tăng đất; 2) Giảm người nhưng không giảm đất.
Một số mô hình thử nghiệm chính sách tại Trung quốc
Ví dụ trường hợp của Huyện Mai Than - Quý Châu: Là địa phương
nghèo, thu nhập thấp chủ yếu từ nông nghiệp. Chiến lược thử nghiệm đất
đai: 1) không thay đổi diện tích đất đai; 2) Không phụ thuộc vào tăng dân và
giảm dân số địa phương; 3) Không chia lại đất đai. Sau thời gian kiên trì
thực hiện đến tận hiện nay, kinh nghiệm này được tổng kết vào nghị quyết
của Tỉnh Quý Châu, trong vòng năm năm tới không chia lại trong vòng 50
năm tới.

Kinh nghiệm thành phố Nam hải, thành phố Phật sơn tỉnh Quảng đông
- là vùng mạnh về nông nghiệp và phi nông nghiệp. Nông dân sống không
dựa vào nông nghiệp để phát triển kinh tế. Chính sách thử nghiệm tập trung
vào: 1) Cổ phần hóa đất đai, khoán, thầu; 2) Nông dân trở thành cổ đông và
được chia lợi nhuận; 3) Đất đai này được đưa ra cho đấu thầu với doanh
nghiệp địa phương và bên ngoài; 4) Thu nhập của nông dân trên cơ sở phân
chia lợi nhuận giữa doanh nghiệp và nông dân.
Kinh nghiệm Huyện Châu Độ tỉnh Sơn Đông: Huyện Châu Độ có số
dân đông, người dân có cơ hội sản xuất phi nông nghiệp. Tại vùng này đã
thử nghiệm loại chính sách hai điền: 1) kết hợp việc khoán thầu, tách rời
quyền sở hữu và quyền sử dụng đất.2) Chia ruộng ra làm nhiều loại: ruộng
nhân khẩu theo bình quân ruộng gia đình và ruông khoán để giao cho dân.
Nông dân dựa trên khả năng của mình để thầu sử dụng đất đai.Việc khoán
thầu đã sử dụng hiệu quả đất đai. Thu nhập của cấp địa phương tăng. Nhưng
6


hình thức khoán này đã lan ra các vùng nghèo, đã làm tăng thêm gánh nặng
cho dân, một số địa phương dừng lại, do vậy TW đã khuyến cáo không cổ
vũ loại chính sách này.
1.1.2.4. Chính sách tín dụng tại nông thôn Trung quốc
-

Hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại nông thôn
(thủ tục vay và lãi suất), đặc biệt xác định danh sách các doanh nghiệp
đầu rồng tại từng vùng để hỗ trợ.

-

Hỗ trợ phát triển hệ thống tín dụng nhỏ kiểu Gramy Bank Băng la dét

cho các vùng khó khăn.

-

Hỗ trợ, cổ vũ các địa phương phát triển các quĩ phát triển xã hội, lãi
xuất được để lịa địa phương.

-

Cho phép các ngân hàng tư nhân, hộ kinh doanh tín dụng thành lập và
phát triển: Việc này đã chính thức hóa kinh doanh tiền tệ, giảm cho vay
nặng lãi ở nông thôn. Cổ vũ các tổ chức xã hội, cá nhân thành lập các quĩ
cho vay.

1.1.2.5. Chính sách về phát triển các tổ chức dân sự, hiệp hội, HTX tại
Trung quốc
-

01/07/2007, đưa ra luật tập thể các ngành nông nghiệp, luật HTX
chuyên ngành của nông dân.

-

Toàn bộ Trung quốc có 150 nghìn HTX nông nghiệp, chủ yếu nằm ở
Miền đông và Miền trung. Số lượng HTX này rất thấp so với qui mô của
nền kinh tế Trung quốc. Mặc dù có sự khuyến khích phát triển, nhưng
các HTX chủ yếu vẫn nằm trong tay một số người, ông chủ, các HTX
gần như doanh nghiệp vừa và nhỏ.

-


Trung quốc thúc đẩy phát triển mạnh các HTX chuyên ngành theo
ngành hàng, phát triển các hiệp hội ngành nghề theo ngành, tăng cường
liên kết dọc.

-

Chính sách hỗ trợ liên kết nông dân-doanh nghiệp: nhà nước cổ vũ, hỗ
trợ các doanh nghiệp đầu rồng liên kết với nông dân để phát triển.

1.1.2.6. Chính sách xóa đói giảm nghèo
7


-

Giai đoạn những năm 80: xóa đói giảm nghèo mang nặng tính chất
cứu tế, ban cho

-

Giai đoạn cuối thế kỉ 20: Tập trung giúp đỡ các vùng nghèo ít có khả
năng phát triển kinh tế về đào tạo, đưa nghề mới vào, dịch chuyển người
nghèo ở vùng ít tài nguyên sang vùng khác giàu tài nguyên hơn. Kết quả
có tác động khả quan, giúp giải quyết 200 triệu hộ nghèo đói. Tuy nhiên
ở vùng núi cao do tập quán di dân nên không có khả năng phát triển.

-

Từ năm 2007, chính phủ Trung quốc đưa ra chính sách hỗ trợ người

nghèo nhằm đảm bảo cuộc sống cơ bản của người dân. Nếu thu nhập của
nông dân dưới mức tiêu chuẩn, nhà nước sẽ hỗ trợ cuộc sống để đảm bảo
đủ mức tiêu chuẩn. Tiền cho việc này sẽ lấy từ ngân sách địa phương và
trung ương.

-

Hỗ trợ các gia đình thực hiện nghiêm túc sinh đẻ có kế hoạch, hỗ trợ
người già trong nông thôn (tiền dưỡng lão khoảng 6000 NDT/năm sau 60
tuổi).

-

Thực hiện chương trình bảo vệ rừng: trả tiền công cho dân, từ 20-30
kg lương thực/ha để họ bảo vệ rừng.

-

Mô hình hợp tác đảm bảo y tế: Từ những năm 60 đã thực hiện mô
hình y tế hợp tác, sau đó dừng lại, hiện nay lại tiếp tục phát triển

1.1.2.7. Chính sách miễn giảm thuế
Do đặc thù Trung quốc mang tính lịch sử, đất nước Trung quốc chủ yếu
sống bằng nền nông nghiệp và nông dân, vì vậy người dân đóng góp quá
nhiều. Hiện nay tất cả các loại thuế này đã được miễn không thu nữa. Việc
miễn giảm thuể đã đặt chính quyền cơ sở tại nhiều nơi gặp khó khăn trong
đảm trách dịch vụ công và phát triển nông thôn. Đặc biệt tại vùng nghèo,
vùng khó khăn. Do đó Trung quốc đã có sự cải cách phân bổ đầu tư, phân
chia thuế giữa TW và địa phương, theo hướng tăng cường ngân sách cho cấp
địa phương quyết định.

1.1.2.8. Chính sách môi trường

8


-

Đại hội 17 Đảng CS Trung quốc, TBT Hồ Cầm Đào đã đề cập cần cải
thiện tình hình môi trường nông thôn. Nếu các cơ sở sản xuất không đạt
yêu cầu về môi trường, sẽ đóng cửa không cho sản xuất.

-

Bồi thường khu vực sinh thái: Nhà nước khoanh vùng bảo hộ sinh
thái, trên cơ sở đó nhà nước tiến hành đánh thuế, bỏ tiền ra để cải tạo môi
trường.

1.1.2.9. Mô hình nông thôn mới
Tại các khu vực thử nghiệm, các mô hình nông thôn mới được chú trọng xây
dựng theo các mức độ, qui mô khác nhau. Để định hướng cho nội dung này,
cuối năm 2004, TW Trung quốc đưa ra mục tiêu xây dựng nông thôn mới.
1. Sản xuất và phát triển
2. Sinh họat và giàu có
3. Văn minh nông thôn
4. Nông thôn, nông nghiệp sạch sẽ: đường, trường, phong cảnh nông
thôn...
5. Quản lí dân chủ
1.1.3. Thành tựu đạt được
a) Thu nhập và tiêu dùng của cư dân nông thôn
Điều tra mẫu trên 68000 hộ nông thôn ở 31 tỉnh thành, khu vực tự trị và đô

thị tự trị cho thấy thu nhập bình quân đầu người năm 2005, cao hơn so với
năm 2004 và cho thấy mức tăng trưởng năm là 10,8% hay 6,2% giá trị thực
tế .
Thu nhập từ lao động thuê mướn đóng góp 17,2% vào mức tăng thu nhập
thực tế hàng năm của họ trong khi làm việc ở thành thị chiếm 22,3%.Sự
tăng thu nhập của các lao động nông thôn di cư là do sự tăng lên về số lượng
của họ và tiền lương. Cư dân nông thôn tìm kiếm và có được việc làm ở
thành thị chiếm 20,2% lực lượng lao động nông thôn năm 2005, tăng 1,1%
so với năm 2004; và hơn 6,85 triệu cư dân nông thôn, tăng 7,3% tìm kiếm cơ
hội việc làm ở thành thị trong năm.

9


Người nông dân tiếp tục được hưởng lợi từ các chính sách cắt giảm hay
miễn trừ thuế nông nghiệp và chăn nuôi và trợ cấp. Năm 2005, trung bình
mỗi nông dân chỉ phải nộp 13 Nhân dân tệ tiền thuế và phí quản lý, giảm
24,4 Nhân dân tệ hay 65,1%. Theo như tính toán trong phần đóng góp vào
thu nhập thực tế, gánh nặng tài chính của người nông dân đã giảm từ 1,3%
của năm trước xuống 0,4% năm 2005. Trợ cấp của chính phủ trực tiếp cho
người trồng ngũ cốc, trợ cấp cho trồng giống tốt và cho việc mua sắm công
cụ và máy nông nghiệp lớn bình quân là 18 Nhân dân tệ, tăng 12,9%.
Sự phân hoá lớn hơn trong thu nhập của cư dân nông thôn. Hệ số Gini của
thu nhập thực tế bình quân của cư dân nông thôn là 0,3751, tăng 0,006. Hệ
số Gini khi được dùng để đo sự chênh lệch thu nhập giữa các cư dân nông
thôn đã tăng lên từ khi cải cách và mở cửa được phát động vào cuối thập kỷ
70, đặc biệt là từ sau năm 1999, ngoại trừ một số năm ở giữa.
b) Cuộc sống của cư dân nông thôn
Cuộc sống của người nông dân đã liên tục được cải thiện như được minh hoạ
bởi sự tăng trưởng nhanh hơn của tiêu dùng so với mức tăng thu nhập. Trong

năm 2005, chi phí cuộc sống bình quân của người nông dân là 2555 Nhân
dân tệ, tăng 11,5% hay 371 Nhân dân tệ trên thực tế đã tính đến các yếu tố
giá và mẫu.
1.2. Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Nhật Bản
1.2.1. Khái quát về nông thôn Nhật Bản
Hiện nay, Nhật Bản đang phải đối mặt với một thách thức vô cùng khó
khăn, đó là lực lượng sản xuất già cỗi và không được bổ sung, tình trạng số
nông dân trồng lúa ngày càng ít đi. Những cánh đồng, thửa ruộng bị bỏ
hoang, cỏ mọc um tùm là cảnh thường gặp. Tờ New York Times cho biết,
trong 15 năm qua, giá đất nông nghiệp tại nhiều vùng SX trọng điểm đã
giảm 70%, số lượng nông dân cũng giảm đi một nửa kể từ năm 1990. Sản
lượng gạo và ngũ cốc chủ lực cũng giảm 20% trong một thập kỷ. Theo số
liệu của Cục Thống kê Nhật Bản, hiện quốc gia này phải nhập đến 61%
lương thực. Hệ thống kinh tế nông nghiệp già cỗi đang chịu lực cản từ các
mô hình trang trại cá thể, gia đình nhỏ bé, kém hiệu quả. Theo tính toán,
nông trường thương mại ở Nhật Bản có diện tích trung bình chỉ 4,6ha, kém
nhiều lần so với con số 440ha ở Mỹ.
10


Cũng giống như thành thị, nông thôn Nhật Bản đang đối mặt với sức ép
của tình trạng tỷ lệ dân số già ngày càng tăng. Nhưng trong khi thành phố
vẫn được bổ sung lực lượng, thậm chí là ưu tú nhất thì nông thôn không chỉ
giảm mà còn bị "chảy máu" người ra thành thị. 70% trong 3 triệu nông dân
nước này có độ tuổi 60, thậm chí già hơn. Từ năm 2000, sự thiếu hụt lao
động nông nghiệp đã buộc Nhật Bản phải cắt giảm nhân công ở các dự án
công cộng để bổ sung cho các trang trại, cánh đồng. Lực lượng lao động tại
Nhật Bản là 66,44 triệu người, trong đó lao động nông nghiệp chỉ chiếm
4,6%, tạo ra tỷ trọng giá trị chiếm 1,6% GDP.


Hiện nay, Nhật Bản vẫn đang áp dụng chính sách nông nghiệp được
thông qua từ năm 1971 để kiểm soát giá gạo sau khi sản lượng lúa gạo sản
xuất trong nước vượt quá nhu cầu tiêu dùng. Trong bối cảnh đó, Chính phủ
hỗ trợ nông dân bằng cách xuất tiền ngân sách ra mua gạo cho dân mỗi khi
gạo rớt giá.
1.2.2. Các biện pháp phát triển nông thôn được thực hiện tại Nhật Bản
1.2.2.1.
Phát triển nông nghiệp với việc áp dụng khoa học – kỹ thuật, sản
xuất có chọn lọc, nâng cao chất lượng nông sản và thực hiện cái
cách ruộng đất.
Sau Chiến tranh thế giới II, kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề không
chỉ sản xuất công nghiệp mà nông nghiệp cũng đạt ở mức rất thấp, nguyên
liệu và lương thực trong nước thiếu thốn trầm trọng. Do vậy trong điều kiện
11


đất chật người đông, để phát triển nông nghiệp nhật Bản coi phát triển khoa
học – kỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu. Nhật Bản tập trung vào
các công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường sử dụng phân hóa học; hoàn
thiện công tác quản lý và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và
đưa vào sử dụng những giống kháng bệnh, sâu rầy, và chịu rét; nhanh chóng
đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh tăng năng suất… Đây là
một thành công quan trọng về định hướng đầu tư khiến cho sản xuất nông
nghiệp vào năm 1950 đã được phục hồi xấp xỉ mức trước chiến tranh. Sản
lượng tiếp tục tăng và tới 1953 đã vượt mức trước chiến tranh 30%.
Để phát triển KH-KT nông nghiệp Nhật Bản chủ yếu dựa vào các viện
nghiên cứu nông nghiệp của nhà nước và chính quyền các địa phương. Các
viện nghiên cứu nông nghiệp cũng tăng cường liên kết với các trường đại
học, các xí nghiệp tư nhân và các hội khuyến nông, giúp nông dân tiếp cận
công nghệ trang thiết bị tiên tiến, giúp tăng năng suất, chất lượng, đảm bảo

nông nghiệp tăng trưởng ổn định.
Bước ngoặt chính sách nông nghiệp của Nhật Bản thực sự bắt đầu khi
Luật nông nghiệp cơ bản được ban hành năm 1961, với hai phương hướng
chính sách chủ yếu: Phát triển sản xuất có chọn lọc, cụ thể là đẩy mạnh sản
xuất những sản phẩm có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng và giảm sản xuất
những nông phẩm có sức tiêu thụ kém; hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp kể cả
việc phát triển những nông hộ và HTX có năng lực quản ký kinh doanh và
canh tác.
Trong những năm 1960-1970 sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật đã
đấy thu nhập của nhân dân tăng đáng kể. Cũng trong thời gian này lao động
trong nông nghiệp giảm xuống khoảng 50%, song năng suất lao động lại
tăng bình quân hằng năm 5-8% nhờ tăng cường cơ giới hóa và cải tiến quy
trình kĩ thuật. Đây là tỷ lệ tăng bình quân cao nhất ở những nước phát triển.
Các ngành chế biến thực phẩm phát triển giúp cho người dân ở nông thôn có
thêm nhiều việc làm, thu nhập được cải thiện, do đó Nhật Bản đã tạo cho
mình một thị trường nội địa đủ lớn cho hàng hóa công nghiệp tích lũy lấy đà
chuyển sang xuất khẩu. Khi sản xuất hàng hóa lớn phát triển, Nhật Bản tập
trung đất đai, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển nông hộ lớn hoặc trang
trại để tạo điều kiện cơ giới hóa, tăng năng suất lao động, tăng khả năng
cạnh tranh.
12


Bên cạnh đó, cải cách ruộng đất 1945 và 1948 đã tạo động lực kích
thích mạnh mẽ nông nghiệp phát triển, mở rộng việc mua bán nông phẩm và
tăng nhanh tích lũy. Để duy trì những vùng đất tốt phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp, năm 1969 nhà nước đã ban hành Luật cải tạo và phát triển
những vùng đất có khả năng mở rộng sản xuất nông nghiệp. Đến năm 1970,
Luật đất đai nông nghiệp và Luật hợp tác xã nông nghiệp được sửa đổi bổ
sung đã nới rộng quyền hạn cho thuê, phát canh đất sản xuất nông nghiệp

cũng như quyền quản lý cho các tập đoàn và các HTX nông nghiệp. Năm
1975 Nhật bản quyết định thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp toàn
diện bao gồm: đảm bảo an toàn lương thực, xem xét lại chình sách giá cả,
hoàn thiện cơ cấu sản xuất, đẩy mạnh các công trình phúc lợi trong làng xã.
Đồng thời, chương trình “Đẩy mạnh sử dụng đất nông nghiệp” được triển
khai. Chương trình này được bổ sung vào năm 1980, và nhờ vậy nó giữ vai
trò quan trọng trong việc hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Từng hộ
sản xuất riêng lẻ với quy mô quá lẻ thì không thể có đủ điều kiện kinh tế và
kĩ thuật để hiện đại hóa quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn. Năm
1995 số lượng nông trại giảm 791000 cái (giảm 17% so với năm 1985). Quy
mô ruộng đất bình quân của một nông trại có sự thay đổi theo hướng tích tụ
ruộng đất vào các trang trại lớn để tăng hiệu quả sản xuất. Xu hướng này thể
hiện rõ nhất trong giai đoạn 1990-1995, quy mô đất lúa bình quân/hộ tăng từ
7180m2 lên 8120m2.
Về chính sách giá cả, đặc biệt chính sách trợ giá cho lúa gạo khá lớn, đã
kích thích sản xuất và dẫn đến sản xuất thừa gạo. Từ năm 1970 Nhật Bản bắt
đầu hạn chế sản xuất gạo do vậy Nhật Bản chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu
lương thực trong nước so với 79% của năm 1960. Theo quan điểm an ninh
lương thực là mục tiêu số một nên ngành nông nghiệp được bảo hộ rất cao.
Nhật Bản luôn có chính sách hỗ trợ kịp thời để phát triển nông nghiệp như:
hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp các trang thiết bị, vật tư cho nông
nghiệp, cung cấp thông tin, xúc tiến thương mại, cho vay vốn tín dụng…
1.2.2.2. Mô hình “Mỗi làng một sản phẩm”
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã
hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu
phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát
triển chung của cả nước Nhật Bản. Trải qua gần 30 năm hình thành và phát
13



triển, Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng
lợi rực rỡ. Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không
chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực,
quốc gia khác trên thế giới. Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong
khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát
triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào
“Mỗi làng một sản phẩm”. Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng
một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để
ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong
chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình
công nghiệp hóa đất nước mình.
1.2.2.3. Chính sách “Ly nông bất ly hương”
Với chính sách “Ly nông bất ly hương” Nhật Bản đã thực hiện thành công
với hai nhóm chính sách chính: phát triển doanh nghiệp nông thôn và đưa
công nghiệp lớn về nông thôn để tạo sự gắn bó hài hòa phát triển nông thôn
với phát triển công nghiệp, xóa bỏ khoảng cách giữa đô thị và nông thôn.
Đây là một thành công chưa từng có ở các nước công nghiệp hóa trước đây
và hiện tại đây vẫn là thách thức cho mỗi quốc gia trong quá trình công
nghiệp hóa. Ở Nhật Bản không chỉ các ngành chế biến nông sản mà cả các
ngành cơ khí, hóa chất đều được phân bố trên toàn quốc. Từ khi bắt đầu
công nghiệp hóa (năm 1983), 80% nhà máy lớn đã được xây dựng ở nông
thôn; 30% lao động nông nghiệp tham gia hoạt động phi nông nghiệp, năm
1960 tỷ lệ này tăng lên 66%. Nhờ chủ trương này mà công nghiệp sử dụng
được một nguồn lao động rẻ, dân cư nông thôn có thu nhập cao. Năm 1950
thu nhập phi nông nghiệp đóng góp gần 30% tổng thu nhập của cư dân nông
thôn Nhật Bản, năm 1990 tăng lên tới 85%.
1.2.2.4.

Phát triển cộng đồng nông thôn qua các tổ chức HTX


Góp phần vào việc đưa công nghiệp về nông thôn, các HTX và tổ chức
kinh tế hợp tác dịch vụ nông nghiệp đã đóng một vai trò hết sức quan trọng
trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, cung ứng vật tư và tiêu thụ nông
sản. HTX nông nghiệp được xây dựng trên nền tảng làng xã nông thôn Nhật
Bản. Trong mỗi làng xã, những mối quan hệ nhiều chiều đa dạng đã tồn tại
14


từ rất lâu giữa các gia đình, giữa những người nông dân. Hầu hết những
người nông dân đều là xã viên của hợp tác xã nông nghiệp.
Chính phủ rất coi trọng các thể chế vận hành HTX nông nghiệp và đã
ban hành, thực hiện nhiều chính sách giúp đỡ phát triển, không ngừng mở
rộng quy mô sản xuất nhằm giúp người nông dân thoát khỏi cảnh đói nghèo
và cùng hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Theo luật HTX nông nghiệp, năm
1972 Liên hiệp các HTX nông nghiệp quốc gia Nhật Bản chính thức được
thành lập và được chính phủ giao thực hiện các mục tiêu về phát triển nông
nghiệp và nông thôn. Hệ thống HTX nông nghiệp Nhật bản được phân làm 3
cấp, hoạt động với tôn chỉ dựa vào sự nỗ lực hợp tác giữa các HTX nông
nghiệp cấp cơ sở, các liên đoàn cấp tỉnh và cấp trung ương tạo thành một bộ
máy thống nhất hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương. Vai trò của các
HTX và các HTX dịch vụ đã thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất
và chuyên môn hóa sâu theo hướng thương mại hóa trong nông nghiệp nước
này. HTX cũng rất chú trọng đến các hoạt động mang tính cộng đồng để làm
cho cuộc sống ở nông thôn tốt đẹp hơn.
1.2.2.5. Về vấn đề nông dân
Ở Nhật Bản, sau khi cải cách ruông đất người nông dân có ruộng cày
và các tư liệu sản xuất khác, các chích sách thúc đẩy sản xuất phát triển được
áp dụng nhằm tiếp sức cho đối tượng nông dân này và họ đã thực sự trở
thành một tầng lớp quan trọng trong xã hội. Để khuyến khích nông dân đầu
tư sản xuất kinh doanh, Nhật Bản đánh thuế nông nghiệp theo hạng đất và

ổn định hàng chục năm, giá nông sản được duy trì ở mức cao, giá vật tư
được giữ thấp.
Tầng lớp nông dân nhỏ cạnh tranh thành công trên thị trường là nhờ
kinh tế hợp tác rất phát triển. Gần 100% nông dân ở Nhật bản là hội viên
nông hội và xã viên HTX. Hệ thống HTX và nông hội được tổ chức theo
nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng và dân chủ ra quyết định. Các
cấp quản lý có trách nhiệm thực hiện đúng nhiệm vụ được nông dân ủy thác,
bảo vệ và phản ánh quyền lợi của nhân dân. Trên cơ sở là tổ chức thực sự
của dân, vì dân và do dân, HTX và nông hội được nhà nước hỗ trợ và trao
cho các quyền hết sức quan trọng, quyết định vận mệnh sống còn của sản
15


xuất và đời sống nông dân. HTX là kênh tiêu thụ chính cho phần lớn nông
sản, cung ứng vật tư, máy móc, thiết bị, tín dụng, bảo hiểm rủi ro, khuyến
nông. Từ 1990 HTX còn mở rộng ra các lĩnh vực phúc lợi xã hội như y tế,
giáo dục, văn hóa, cảu thiện điều kiện sống, du lịch, tư vấn nông nghiệp và
đặc biệt là thương mại.
1.3. Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Hàn Quốc
1.3.1. Thưc trạng tình hình nông thôn ở Hàn Quốc.
Vào những năm 1960, nông thôn Hàn Quốc còn hết sức lạc hậu, đời
sống nhân dân còn gặp vô vàn khó khăn. Trong cả nước có 34% dân thuộc
vào nhóm nghèo đói ,GDP bình quân đầu người thời bấy giờ chỉ có 85 USD.
Phần lớn người dân không đủ ăn, 80% người dân nông thôn vẫn phải sống
trong mái nhà lá và 80% không có điện thắp sáng mà vẫn phải dùng đèn dầu.
Xã hội Hàn Quốc bị phân chia thành hai khối có đời sống tinh thần
khác hẳn nhau. Trong khi một bộ phận cư dân thành thị tích cực học tập, với
quyết tâm đổi đời thì đại bộ phận nông dân vẫn sống trong cảnh nghèo nàn,
mang trong mình tư tưởng bi quan, ỷ lại, lối thoát duy nhất của họ là rời bỏ
quê hương, di chuyển về đô thị. Nhân dân trong nước chưa có nhận thức về

tầm quan trọng của việc đoàn kết toàn dân trong công cuộc xây dựng đất
nước.
1.3.2. Các biện pháp phát triển nông thôn được thực hiện tại Hàn Quốc
1.3.2.1. Phong trào Saemaul Udong
Chính vì những lý do mà chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng chương
trình Saemaul Udong nhằm cải tổ về ý thức dựa trên tinh thần của người dân
trong việc cùng nhau cải thiện đời sống của mình.
Phong trào Saemaul Udong không đơn thuần là một kế hoạch hành động mà
còn là cả một cuộc cải tổ về ý thức dựa trên tinh thần. Ngay từ đầu, Chính
phủ đã truyền cho người dân ý thức “nhất định phải làm”, “đã làm là được”,
“tất cả đều có thể làm được”.Nhờ tuyên truyền tốt, người dân nhận thức
được phong trào Saemaul Udong là một cuộc cải tổ vì một cuộc sống tốt đẹp
hơn cho cả cộng đồng chứ không chỉ đối với từng cá nhân đơn lẻ. Sự thịnh
vượng ở đây không chỉ bó hẹp ở ý nghĩa vật chất, nó còn bao hàm cả ý nghĩa
tinh thần, không chỉ cho thế hệ hôm nay mà còn cho cả con cháu mai sau.
16


Mục tiêu của phong trào Saemaul Udong là xây dựng nền tảng cho một cuộc
sống tốt đẹp hơn cho mỗi gia đình, làng xã góp phần vào sự tiến bộ chung
của cả quốc gia.
Để đoàn kết, tập hợp nhân dân trong sự nghiệp chung, phong trào Saemaul
Udong đề cao ba phẩm chất chính, đó là “Sự cần cù, tự lực và hợp tác”. Cần
cù mang lại tính chân thật, không cho phép sự giả tạo và thói kiêu căng ngạo
mạn. Tính tự lực giúp cho con người tự quyết định vận mệnh của chính
mình, không phải nhờ cậy đến bất kỳ sự giúp đỡ nào từ bên ngoài. Hợp tác
dựa trên mong muốn phát triển chung cả cộng đồng để nỗ lực vì mục tiêu
chung.
Chính vì vậy, ba nguyên tắc chủ yếu của phong trào Saemaul cũng chính là
hạt nhân của công cuộc xây dựng một xã hội tiên tiến và một quốc gia thịnh

vượng.
Các làng xã và xí nghiệp đều được trang bị thư viện Saemaul và các phương
tiện vui chơi giải trí khác. Đặc biệt, thư viện ở nông thôn đều có sách về các
phương pháp canh tác mới. Đây là bước đột phá lớn ở nông thôn và là
nguyên nhân chính gia tăng thu nhập. Năm 1974, sản lượng lúa tăng đến
mức độ có thể tự cấp tự túc. Phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một
cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác. Nuôi lợn, bò, gà cũng đem lại
lợi nhuận đáng kể. Các làng chài cũng chuyển từ đánh bắt sang nuôi trồng
thủy sản. Tập quán trồng lúa và lúa mạch xưa kia đã được thay thế triệt để
bằng các phương pháp canh tác tổng hợp.

17


Thành công của phong trào Seamaul ở nông thôn lan tới các vùng không làm
nông nghiệp như trường học, công sở, thành phố, nhà máy với nhiều lĩnh
vực khác nhau. Các thành phố bắt đầu các dự án chống tham nhũng và xây
dựng một đô thị hoàn hảo. Ba chiến dịch Seamaul Udong đã được phát động
là chiến dịch tinh thần, cư xử và môi trường.
Tại nhà máy, phong trào Seamaul hướng tới khôi phục niềm tin và nâng cao
khẩu hiệu “ mọi công nhân trong nhà máy đều là thành viên trong một gia
đình, việc của nhà máy là việc của bản thân”, đoàn kết, đồng lòng cùng xây
dựng nhà máy phát triển vững mạnh. Việc củng cố nền tảng cho sự ổn định
của các ngành công nghiệp được chú trọng bằng cách thu hẹp khoảng cách
về hệ thống giá trị giữa công nhân và giới chủ và xây dựng những quy tắc
ứng xử lành mạnh. Thêm vào đó, dịch vụ công cộng ở nông thôn cũng là
một cách để xây dựng những quy tắc đạo đức đúng đắn.
1.3.2.2. Kích thích sự tham gia bằng những lợi ích thiết thực:
Giai đoạn đầu của sự nghiệp xây dựng nông thôn mới, Chính phủ Hàn
Quốc không có nhiều kinh phí, do đó, Chính phủ đã khéo léo sử dụng chính

sách kích cầu đầu tư, huy động sức mạnh của nhân dân.
Năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc đưa ra thử nghiệm 10 dự án lớn trong phát
triển nông thôn, bao gồm mở rộng và nắn thẳng đường sá, làm lại mái nhà
bếp và hàng rào, xây dựng giếng nước công cộng và khu giặt giũ công
cộng… vv. Kinh phí để thực hiện các dự án này phần lớn dựa vào quỹ của
xã và lực lượng lao động sẵn có, Chính phủ chỉ cấp miễn phí cho mỗi xã
trung bình 355 bao xi măng. Kế hoạch triển khai trên quy mô toàn quốc và
18


hơn 33.000 xã được nhận hỗ trợ. Kết quả 16.000 xã, chiếm tỷ lệ 50% số xã ở
nông thôn đã được cải thiện rõ rệt. Toàn bộ kế hoạch đều do chính ủy ban xã
đó quản lý.
Tới năm thứ hai, Chính phủ quyết định tiếp tục giúp đỡ những xã đã tự
biết đứng lên bằng cách cấp thêm cho mỗi xã 500 bao xi măng và một tấn
thép. Nhờ đó, nhà tranh vách đất dần được thay thế bằng nhà mái ngói và
tường xây. Khắp nơi trên các làng xã, đường sá được mở rộng, đê điều được
tu bổ và cầu cống được xây dựng. Làng xã phát triển chóng mặt, người dân
nông thôn lấy lại được sự tự tin vốn có, những người trước đây sống rất thờ
ơ giờ cũng bắt tay xây dựng lại ngôi làng của chính mình.
Năm thứ 3, Chính phủ Hàn Quốc đã đề ra chủ trương những làng tích
cực thì được hỗ trợ nhiều. Chính phủ đã chia tổng số 33.267 xã của cả nước
thành 3 nhóm, trong đó, nhóm làng tích cực chiếm 6,7%, nhóm làng trung
bình chiếm 40,2%, nhóm làng cơ bản chiếm 53,1%. Chính phủ quy định,
những làng thăng hạng sẽ được thưởng 2000 USD. Chỉ sau 3 năm (từ 19741976), tỷ lệ nhóm làng cơ bản chỉ còn 0,9%. Những làng làm tốt cảm thấy
họ được Chính phủ đền ơn. Nhờ đó mà nông thôn nước Hàn đã thay đổi
mạnh mẽ.
Kết quả sau 8 năm (1971-1978), cả nước Hàn Quốc đã làm được:
- 43.631 km đường giao thông liên làng (nhựa và bê tông);
- 42.220 km đường giao thông ngõ xóm (nhựa và vê tông);

- 68.797 cầu nông thôn (bê tông, cốt thép);
- 7.839 km đê được cứng hóa;
- 24.140 hồ chứa nước được xây dựng;
- 98% hộ được dùng điện.

19


Nhờ khơi dậy nội lực của nông dân mà nông thôn Hàn Quốc đã có những
biến đổi to lớn. Cuối những năm 80, nông thôn Hàn Quốc đã có những dấu
hiệu của sự phát triển và đô thị hóa.
Chính phủ cho xây dựng các nhà máy ở nông thôn để gia tăng thu nhập. Các
nhà máy đã tạo việc làm và tăng thu nhập cho nhiều phụ nữ. Kết quả là thu
nhập ở nông thôn tăng đều đặn. Năm 1977, có 98% các xã đã có thể độc lập
về kinh tế.
-Chiến dịch tinh thần bao gồm mối quan hệ thân thiện hơn với láng giềng, kế
thừa và phát huy những truyền thống dân tộc dựa trên lòng hiếu thảo và
nâng cao ý thức cộng đồng. Chiến dịch cư xử nhấn mạnh tới trật tự công
cộng trên đường phố, những cách ứng xử tích cực, hành vi nơi công cộng và
cấm say rượu dẫn tới cư xử không đúng đắn. Chiến dịch môi trường nhấn
mạnh vấn đề vệ sinh khu vực đang sống và làm việc, gìn giữ môi trường
đường phố và phát triển màu xanh ở thành phố cũng như các con sông.
-Tại nơi làm việc, các chiến dịch tập trung chủ yếu vào việc tạo ra các giá trị
và niềm tin lành mạnh cùng với cung cách ứng xử xã hội đúng mực giữa
những người đồng nghiệp. Mục tiêu chính là tạo ra sự thống nhất và kỷ
cương, giúp phát triển nông thôn và giúp những người vô gia cư.
1.3.2.3 Thực hiện các chính sách hỗ trợ cho nông dân:
Để nông thôn có đủ nguồn lực và liên tục phát triển, Hàn Quốc đã tìm
mọi cách. Cụ thể là:
– Áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy nông nghiệp, điện giá

rẻ cho chế biến nông sản;
– Cho nông dân thuê máy nông nghiệp;
– Giảm lãi suất tiền vay 2% so với các ngành nghề khác cho những dự
án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;
– Ban hành đạo Luật “Các ngành phải trợ giúp nông nghiệp, nâng cao
đời sống nông dân và ngư dân”.
20


Khi lao động làm việc ở nông thôn ngày càng ít đi (năm 2007 dân số ở nông
thôn chỉ còn 6,7%) và thu nhập giữa nông thôn và thành phố chênh lệch lớn,
Chính phủ đã cho triển khai Dự án Khám phá làng nông thôn truyền thống.
Cơ quan phát triển nông thôn Hàn Quốc được giao triển khai dự án này. Có
141 làng nằm trong dự án, mỗi làng được nhận khoản tiền đầu tư 200.000
USD. Mục đích của Dự án là kéo người dân thành phố về với nông thôn.
Đồng thời, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tham gia mô
hình du lịch làng với chiến dịch “Mỗi công ty – Một làng nông nghiệp” .
Thường thì mỗi doanh nghiệp đăng ký “đỡ đầu” cho một làng, mức tiền đầu
tư mà nhà nước khuyến khích là tối thiểu 300.000 USD/làng. Tập đoàn
Hyundai hiện đang giúp đỡ 66 làng trên toàn quốc. Hàng năm Hyundai bố trí
một lực lượng nhân viên, công nhân của mình về các làng này giúp đỡ nông
dân gặt lúa, thu hoạch mùa màng, tham gia sửa nhà, sửa đường, chữa xe và
khuyến khích nhân viên tiêu thụ các loại nông sản cho nông dân.
Bên cạnh đó, Chính Phủ Hàn Quốc còn:
- Hỗ trợ tài chính cho nông dân: Những nông dân có độ tuổi trên 65 được hỗ
trợ nhượng bán hoặc cho thuê đất. Chương trình này bắt đầu từ năm 1997,
theo đó, người trên 65 tuổi khi nhượng, bán hoặc cho thuê đất với thời hạn
trên 5 năm sẽ được hỗ trợ 3000 USD/ha.
- Thực hiện hỗ trợ cho lao động trẻ nhằm chống lại xu hướng già hóa lực
lượng lao động nông nghiệp và khuyến khích chuyên môn hóa. Theo đó,

hàng năm, Nhà nước chọn khoảng 1.000 lao động trẻ dưới 35 tuổi cho họ
tiếp nhận khoản vốn vay ưu đãi với mức tối đa tương đương 75.000 USD để
họ tham gia hoạt động nông nghiệp.
- Áp dụng chính sách chỉ bán đất sản xuất nông nghiệp cho những người
đăng ký là nông dân.
- Thực hiện chính sách người từ thành phố về sinh sống ở nông thôn được
trợ cấp lần đầu 50.000 USD và nhiều ưu đãi khác.
1.3.2.4. Hệ thống HTX ở Hàn Quốc, quyền lực của nông dân
21


Trước đây, HTX cơ sở cấp xã đã hình thành tự phát nhưng do những
hạn chế về quan niệm lịch sử, về hình thức hoạt động, và ảnh hưởng của
chiến tranh nên hoạt động của các HTX dần trở nên không phù hợp. Sau nội
chiến năm 1961, nhận thấy lực lượng nông dân có ý nghĩa sống còn về kinh
tế và chính trị với đất nước, Chính phủ Hàn Quốc đã thiết lập Liên đoàn
HTX Nông nghiệp Quốc gia (NACF) dựa trên hai tổ chức hoạt động độc lập
lúc đó là Ngân hàng Nông nghiệp và tổ chức HTX cũ. Sau đó, Liên đoàn
tiến hành thiết lập mạng lưới HTX từ trung ương xuống cơ sở nhằm thực
hiện 2 mục tiêu cơ bản:
·
Cung cấp vốn cho nông dân. Trong giai đoạn này, thị trường vốn
hoạt động yếu, đặc biệt trên địa bàn nông thôn, nông dân thường phải vay
nặng lãi, ảnh hưởng xấu tới sản xuất và đời sống. Chính phủ Hàn quốc đã
ban hành luật cấm cho vay nặng lãi ở khu vực nông thôn và muốn thông
qua hoạt động của các HTX nông nghiệp hỗ trợ vốn cho nông dân mua
nguồn vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất.
·
Tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Để thúc đẩy đa dạng hoá sản
phẩm nông nghiệp như một biện pháp nâng cao đời sống của cộng đồng

nông thôn, Chính phủ tạo điều kiện cho các HTX nông nghiệp mở rộng
vai trò trong hoạt động tiếp thị, tiêu thụ sản phẩm.
Hoạt động của các HTX trong những năm đầu của thập kỷ 1960 không
phát triển do 3 nguyên nhân sau:
·
Việc xây dựng hệ thống HTX là sự áp đặt từ trên xuống, không
đáp ứng nhu cầu của nông dân. Việc thành lập NACF không gặp trở
ngại do quyết tâm và sự đầu tư tập trung của Chính phủ, tuy nhiên cách
làm này không xuất phát từ nhu cầu tự phát của nông dân, họ chưa cảm
nhận được sự cần thiết của việc tham gia HTX.
·
Trình độ sản xuất thấp. Trong thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp
Hàn quốc chưa phát triển, mang tính tự cung tự cấp, sản lượng hàng hoá
thấp. Do đó, nhu cầu của nông dân đối với các hoạt động dịch vụ hỗ trợ
không cao.
·
Qui mô các HTX cơ sở nhỏ. Các HTX cơ sở được thiết lập có qui
mô hoạt động nhỏ, thiếu vốn, do đó không thể đóng vai trò chủ đạo và có
tác động rõnét đến hoạt động kinh tế của nông dân.
22


Để khắc phục những nhược điểm trên, từ 1964 đến 1968, NACF đã tiến
hành đổi mới HTX, nhấn mạnh vai trò chủ động của nông dân và các HTX
cơ sở trong phát triển kinh tế nông thôn. Tuy nhiên các biện pháp để thực
hiện, một mặt, không đủ mạnh, mặt khác, vẫn mang tính áp đặt, không xuất
phát từ lợi ích thiết thực của nông dân. Do đó, hoạt động của các HTX cơ sở
không có sức sống, không mở rộng được như mong đợi của Chính phủ và
chỉ bó hẹp trong phạm vi cung cấp vốn và vật tư cho sản xuất nông nghiệp ở
qui mô nhỏ. Về phía mình nông dân không thấy được sự cần thiết có HTX ,

cũng như tham gia HTX.
Đến cuối thập kỷ 70, các chức năng hay qui mô hoạt động của các HTX căn
bản đã được hình thành. Các hoạt động này bao gồm từ khâu hỗ trợ tín dụng,
bảo hiểm, cung cấp vật tư nông nghiệp cho đến các hoạt động xúc tiến
thương mại, thông tin thị trường…

II. BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Như chúng ta đã biết cả thế giới đang nín thở với sự phát triển thần kỳ
của Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản. Để làm được tốc độ phát triển kỳ
diệu các quốc gia này đã thực hiện chinh sách phát triển nông nghiệp, nông
thôn làm nền tảng cho công cuộc phát triển đất nước. Qua đó Việt Nam đã
rút ra được kinh nghiêm cho mình.
1. Cần có chính sách xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững tai các
khu vưc thuộc 62 huyện nghèo như nghị quyết 35a giai đoạn I va II. Nhà
nước cần hỗ trợ vốn taị các huyên để phát triển kinh tế, cải thiện mức sống,
và có các chính sách kêu goi nguồn nhân lưc vê các huyên phát triển kinh tế.
kêu goi đầu tư, hỗ trợ và ưu đãi về vốn.
2. Nhà nước ban hành pháp luật điều chỉnh thuế, giảm khoảng cách
chênh lêch giàu nghèo, về hỗ trợ nông dân bảo vệ quyền lợi và hòa nhập
vào đời sống đô thị.
- Đồng thời, Nhà nước cũng sẽ giảm bớt những hạn chế đối với hộ khẩu
thường trú để có thêm nhiều nông dân có thể chuyển về thành phố và được
hưởng các quyền lợi cũng như dịch vụ công cộng giống như các cư dân
thành phố gốc.
23


- Người lao động nhập cư cũng sẽ được tham gia các chương trình bảo hiểm
y tế và lương hưu cơ bản tại các thành phố. Chính phủ cũng sẽ nỗ lực giải
quyết các vấn đề ảnh hưởng xấu đến lợi ích của nông dân như việc thu hồi

đất, ô nhiễm và quản lý tài sản chung. Chính phủ có thể sẽ lập một kênh
thông tin để người dân nông thôn bày tỏ các yêu cầu, cũng như để bảo vệ
các quyền và lợi ích của họ một cách hợp pháp.
3. Khai thác và sử dụng tài nguyên hợp lý và hiệu quả. Đi đôi với khai
thác là trồng và bảo vệ. Có các chính sách khai thác hợp lý theo quy định
môi trường. Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường. Đảm bảo phát
triển bền vững.
4. Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn.
- Khuyến khích phát triển các ngân hàng nhỏ, các công ty cho vay vốn
nhằm dẫn nguồn vốn chảy về thị trường tài chính nông thôn.
- Dự kiến ban hành những quy tắc mới trong thu mua và sáp nhập những tổ
chức tài chính nông thôn vừa và nhỏ, cụ thể, sẽ tiếp tục các cải cách nới lỏng
quy định về giới hạn sở hữu không quá 10% tổng cổ phần của một cơ quan
ngân hàng nông thôn, điều này hy vọng giúp đa dạng hóa quyền sở hữu của
các cơ quan tài chính nông thôn, cũng như giúp ngày càng nhiều nhà đầu tư
tiếp cận được thị trường tài chính nông thôn.
- Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường tài chính
nông thôn dưới dạng thích hợp, như mở chi nhánh hay lập các liên doanh
ngân hàng .
Ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông thôn. Trong một
nỗ lực lấp đầy khoảng cách phát triển giữa các khu vực thành thị và nông
thôn, Chính phủ sẽ ban hành thêm các chính sách hỗ trợ để khuyến khích
đầu tư của các lực lượng xã hội vào khu vực nông thôn. Các doanh nghiệp
thành lập các quỹ phúc lợi nông thôn sẽ được giảm thuế, cao nhất là 12% lợi
nhuận hàng năm.
5. Hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
24


Với quan niệm phát triển nông nghiệp hiện đại là mục tiêu chính trong việc

chuyển đổi tính chất của tăng trưởng kinh tế đất nước, Trung Quốc chủ
trương:
- Tăng cường đầu tư công nghệ, hiện đại hóa nông nghiệp, nghiên cứu các
loại giống mới, hỗ trợ chương trình biến đổi gien, đầu tư hệ thống tưới tiêu,
cải tạo đất nhằm tăng sản lượng và chất lượng nông sản.
- Thúc giục các bộ, ngành liên quan nghiên cứu các chính sách ưu đãi để
hướng thêm các nguồn nhân lực được đào tạo và các viện nghiên cứu khoa
học về các khu vực nông thôn.
- Kêu gọi và khuyến khích các nhà đầu tư và các hoạt động đầu tư phát triển
bất động sản và các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khác ở nông thôn.
6. Tăng cường vai trò của Chính phủ trong các hoạt động tín dụng
nông nghiệp và nông thôn, thể hiện ở các nội dung sau:
- Xây dựng và quản lý các quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn, sử
dụng đất, thực hiện chính sách giao đất và cấp chứng nhận quyền sử dụng
đất tạo thuận lợi cho các hoạt động xúc tiến đầu tư và cho vay, thế chấp
trong tín dụng nông thôn. Đặc biệt, cần khuyến khích quá trình tích tụ ruộng
đất cho kinh doanh lớn thông qua những điều chỉnh thích hợp và mạnh dạn
về hạn điền và thời gian, phương thức giao đất. Việt Nam thời Pháp thuộc,
chỉ có 2,7 triệu mảnh ruộng, nhưng hiện tại, mặc dù quá trình công nghiệp
hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể,
nhưng số lượng mảnh ruộng lại gia tăng lên 3,5 - 3,7 triệu mảnh.
- Thực hiện các hỗ trợ trực tiếp tài chính - tín dụng trong những trường hợp
đặc biệt, như khắc phục hậu quả thiên tai, phát triển vùng sâu, vùng xa, miền
núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số; thực hiện các chương trình thí điểm xây
dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp...
- Hỗ trợ đào tạo cán bộ và hoạt động của các tổ chức tổ chức tín dụng, nhất
là ở vùng khó khăn, như tuyên truyền chính sách vay vốn đến từng hộ gia
đình; thực hiện đơn giản hoá và rút ngắn thời hạn thủ tục đăng ký và cấp sổ
đỏ xác nhận chủ quyền đất, hoàn thiện Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm,
giảm bớt quy định quản lý (nhất là những áp đặt về lãi suất) đối với các tổ

chức tín dụng.
- Trong một số trường hợp, Nhà nước cần mạnh dạn lập các DNNN chuyên
bao tiêu sản phẩm nông nghiệp, nhất là chế biến xuất khẩu, tạo điều kiện
25


×