Chuyên đề :nghèo đói ở Việt Nam
1
Bối cảnh nghiên cứu
Bước sang thế kỉ XXI thế nhưng tình trạng nghèo đói trên
thế giới vẫn đang là một vấn đề bức bối mang tính toàn
cầu.
Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm từ 51.8% (1992) xuống
34.7% (1998) hiện nay còn khoảng 30%. Căn cứ theo
chuẩn nghèo trong nước thì nghèo đói của nước ta giảm từ
30.01% (1992) xuống còn 19.4% (2004), 16.0%(2006) và
hiện nay là khoảng 11%.
Với hơn nữa dân số bị nghèo đói, cuộc chiến tranh chống
đói nghèo càng gay gắt, lâu dài và không kém phần gian
nan
2
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Các khái niệm về đói nghèo :
, Nghèo đói: Là sự thiếu cơ hội để có thể sống
một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối
thiểu nhất định
3
Nghèo tương đối: là việc cung cấp không đầy đủ
các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những
người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so
với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư
không được hưởng và thõa mãn những nhu cầu cơ
bản cho cuộc sống con người
4
Các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng
nghèo đói
•
•
•
•
•
Tiêu chuẩn về thu nhập
Cơ cấu tiêu dùng
Chỉ số về nhà ở
Mức dinh dưỡng
Chỉ tiêu giáo dục
5
Tình trạng nghèo đói ở Việt Nam
và tác động của nó
• a) Xếp hạng của Việt Nam về đói nghèo
• Theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên
Hiệp Quốc ở Việt Nam, vào năm 2004 chỉ số phát
triển con người của Việt Nam xếp hạng 112 trên
177 nước.
• Vào năm 2002 tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia của
Việt Nam là 12.9%, theo chuẩn thế giới là 29% và
tỷ lệ nghèo lương thực (%số hộ nghèo ước lượng
năm 2002) là 10.87%.
6
Tình trạng đói nghèo ở Việt Nam
• Theo chuẩn nghèo của chương trình xóa đói giảm
nghèo quốc gia, đầu năm 2000 có khoảng 2,8 triệu
hộ nghèo, chiếm 17,2% tổng số hộ trong cả nước,
chủ yếu tập trung vào các vùng nông thôn,
• Cũng theo chuẩn nghèo quốc gia năm 2002 còn
12,9% hộ nghèo và tỷ lệ nghèo lương thực ước
lượng 10.87%
7
8
• Số hộ nghèo của năm 2004 là 1,44 triệu hộ, tỷ lệ nghèo là
8,3%, đến cuối năm 2005 còn khoảng dưới 7% với 1,1 triệu hộ.
Như vậy tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 đã giảm khoảng 50% so với
năm 2000
• Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực miền núi vẫn còn cao, gấp từ 1,7 đến
2 lần tỷ lệ hộ nghèo bình quân của cả nước
• Ở Việt Nam, nghèo đói vẫn tập trung chủ yếu ở vùng nông
thôn, hiện nay số người sống ở nông thôn là 61977.5 nghìn dân
chiếm 71.89% (2008) còn ở thành thị là 24233.3 nghìn chiếm
28.11% (2008) trong đó có đến 20.4% dân số nông thôn ở dưới
ngưỡng nghèo trong khi đó ở thành thị là 3.9%
9
Nguyên nhân
Nguyên nhân lịch sử, khách quan:
- Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải
qua một cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, cơ
sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ hoang
- Chính sách nhà nước sau khi thống nhất đất nước
việc áp dụng chính sách tập thể hóa nông nghiệp.
10
- Lao động dư thừa ở nông thôn không
được khuyến khích ra thành thị lao
động
- Thất nghiệp tăng cao trong một thời
gian dài trước thời kỳ đổi mới do
nguồn vốn đầu tư thấp và thiếu hiệu
quả .
11
• Nguyên nhân chủ quan:
• Sai lệch thống kê: do điều chỉnh chuẩn nghèo của
Chính phủ lên cho gần với chuẩn nghèo của thế
giới (1USD/ngày) cho các nước đang phát triển
làm tỷ lệ nghèo tăng lên
• Người dân còn chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống,
sản xuất mà chưa có các thiết chế phòng ngừa hữu
hiệu, dễ tái nghèo trở lại
12
• Nền kinh tế phát triển không bền vững, tăng
trưởng tuy khá nhưng chủ yếu là do nguồn vốn
đầu tư trực tiếp, vốn ODA, kiều hối, thu nhập từ
dầu mỏ trong khi nguồn vốn đầu tư trong nước
còn thấp.
• Sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền, thành thị
và nông thôn, giữa các dân tộc cao
• Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn
13
Xóa đói, giảm nghèo ở nước ta - thành
tựu, thách thức và giải pháp
• Thành tựu :
• Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh trong khoảng thời gian 5 năm
từ 17,2% năm 2001 với 2,8 triệu hộ, xuống còn 8,3% năm
2004 với 1,44 triệu hộ, bình quân mỗi năm giảm 34 vạn
hộ, đến cuối năm 2005 còn khoảng dưới 7% với 1,1 triệu
hộ. Tất cả 8 vùng trong cả nước đều giảm; tỷ lệ nghèo ở 4
vùng đã thấp hơn tỷ lệ chung của cả nước, trong đó thấp
nhất là Đông Nam Bộ ….
• Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh, từ 17,2% năm
2001 xuống còn 6,3% năm 2005 (theo chuẩn nghèo cũ),
bình quân mỗi năm giảm được trên 30 vạn hộ
14
Thách thức:
• về nhận thức, một bộ phận không nhỏ người
nghèo và địa phương nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ
lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, nên
chưa chủ động vượt lên để thoát nghèo.
• sự đánh giá tỷ lệ nghèo còn thấp hơn thực tế ở một
vài địa phương, nên một bộ phận người thực sự
nghèo chưa được tiếp cận với các chương trình
xóa đói, giảm nghèo
15
• Nguồn lực huy động cho chương trình xóa đói,
giảm nghèo còn khiêm tốn.
• Một số cơ chế, chính sách và biện pháp hỗ trợ xóa
đói giảm nghèo chưa thật phù hợp, việc tổ chức
thực hiện còn bất cập, còn mang tính bao cấp, nên
không tạo được động lực để người nghèo chủ động
vượt nghèo
• Việc tổ chức thực hiện chương trình xóa đói, giảm
nghèo không đồng đều ở một số địa phương
16
Giải pháp :
1 - Dựa trên sự tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm để
nâng cao đời sống cho người nghèo
2 - Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển
các loại hình dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa và
bảo vệ môi trường
3 - Xã hội hóa các hoạt động xóa đói, giảm nghèo,
đặc biệt là về nguồn lực
4- Phải có một chính sách về thuế phù hộ với từng
giai đoạn phát triển của quốc gia
17
5- Đổi mới công tác tổ chức, bảo đảm tính công
khai, minh bạch và làm rõ trách nhiệm trong việc
lập kế hoạch, tạo điều kiện để chính quyền địa
phương chủ động, người dân bàn bạc, thảo luận,
nhằm tạo ra sự đồng thuận và hợp tác, quyết tâm
vượt nghèo, vươn lên làm giàu của các xã nghèo,
vùng nghèo và chính bản thân người nghèo trong
quá trình triển khai chương trình xóa đói, giảm
nghèo
6- Phải có một chính sách phúc lợi xã hội đúng đắn
nhằm điều tiết thu nhập, giảm bớt phaan hóa giàu nghèo.
18
Kết luận
• Thành quả xoá đói, giảm nghèo của Việt Nam đã
được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao,
báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 đã ghi
nhận: “Những thành tựu giảm nghèo của Việt
Nam là một trong những câu chuyện thành công
nhất trong phát triển kinh tế” tạo được sự đồng
thuận xã hội cao, góp phần ổn định chính trị, thu
hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng trưởng kinh tế của
đất nước, thực hiện cam kết thiên niên kỷ, góp
phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường
quốc tế .
19
20