Tải bản đầy đủ (.pdf) (88 trang)

nghệ thuật tự sự trong tập truyện cánh đồng bất tận của nguyễn ngọc tư

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (703.85 KB, 88 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

LÂM THỊ CHÂN
MSSV: 6095837

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TẬP TRUYỆN
CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN
CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ

Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: Ths. LÊ THỊ NHIÊN

Cần Thơ, 2012


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư

ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

NỘI DUNG


Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT
1.1. Một số vấn đề lí luận về nghệ thuật tự sự
1.1.1. Khái niệm tự sự
1.1.2. Kết cấu tự sự
1.1.2.1.

Lời đề từ

1.1.2.2. Cốt truyện
1.1.2.3. Kết cấu truyện
1.1.3. Điểm nhìn và giọng điệu trần thuật
1.1.3.1. Điểm nhìn trần thuật
1.1.3.2. Giọng điệu trần thuật

1.2.

Đôi nét về tác giả - tác phẩm

1.2.1. Tác giả
1.2.2. Tác phẩm
1.2.2.1. Giới thiệu tập truyện Cánh đồng bất tận
1.2.2.2. Tóm tắt mười bốn tác phẩm trong tập truyện Cánh đồng bất tận

GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư


Chương 2. KẾT CẤU TRẦN THUẬT TRONG TẬP TRUYỆN
CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
2.1. Lời đề từ
2.2. Cốt truyện
2.2.1. Chi tiết nghệ thuật
2.2.2. Kết thúc tác phẩm

2.3.

Kết cấu truyện

2.3.1. Tình huống truyện
2.3.2. Kết cấu trần thuật giàu tính đối thoại

Chương 3. ĐIỂM NHÌN VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG
TẬP TRUYỆN CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN
CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
3.1. Điểm nhìn trần thuật
3.1.1. Điểm nhìn bên ngoài
3.1.2. Điểm nhìn bên trong
3.1.3. Điểm nhìn di chuyển

3.2. Giọng điệu trần thuật
3.2.1. Giọng tâm tình
3.2.2. Giọng giễu cợt, phê phán, lạnh lùng
3.2.3. Giọng triết lí suy ngẫm

KẾT LUẬN

GVHD: LÊ THỊ NHIÊN


SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nghệ thuật tự sự là đối tượng nghiên cứu đặc thù của tự sự học. Trong tiến trình phát
triển của văn học hiện đại, nghệ thuật tự sự ngày càng thu hút được sự quan tâm của giới
nghiên cứu. Nghệ thuật tự sự có nội hàm rất rộng bao gồm nhiều vấn đề như: văn bản tự sự,
các phương tiện, các thủ pháp được sử dụng mà trong đó mỗi văn bản tự sự là một sản phẩm
của một chủ thể sáng tạo nhất định. Do vậy, xuất phát từ đặc trưng thể loại để tìm hiểu tác
phẩm là một trong những biện pháp tối ưu nhằm đánh giá khách quan và toàn diện về đóng
góp của một nhà văn trong giai đoạn văn học.
Văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới đã có những bước chuyển biến đáng ghi nhận.
Thành tựu mà văn xuôi giai đoạn này đã gặt hái được trên cả hai phương diện nội dung và
nghệ thuật là rất quan trọng. Chọn một tác giả tiêu biểu có đóng góp không nhỏ cho văn
xuôi Việt Nam thời kỳ này, xem xét sáng tác của một nhà văn dưới góc độ nghệ thuật tự sự
cũng góp phần nhận diện đánh giá những thành tựu của văn học thời kỳ đổi mới.
Trong số các nhà văn trẻ những năm gần đây, Nguyễn Ngọc Tư là gương mặt đáng chú
ý. Là nhà văn với tuổi đời còn rất trẻ nhưng chị sớm khẳng định được mình và gặt hái được
nhiều thành công bằng nhiều tập truyện ngắn chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật với nhiều
giải thưởng văn học. Lần đầu tiên Nguyễn Ngọc Tư được biết đến với tác phẩm Ngọn đèn
không tắt - tác phẩm đạt giải nhất cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần thứ 2 năm
2000 của Hội nhà văn Tp HCM và Báo Tuổi Trẻ. Từ đó liên tục, đều đặn tác giả đã cho ra
đời nhiều tác phẩm khác như: Ông ngoại, Giao thừa, Biển người mênh mông, Nước chảy
mây trôi, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, v.v… đặc biệt là tập truyện Cánh đồng bất tận vào
năm 2005, Cánh đồng bất tận ra đời thực sự gây được tiếng vang, trở thành sự kiện văn học
tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại. Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư mang khuynh

hướng hiện đại, bám sát nhịp sống hiện đại và mang đậm hơi thở của đời sống ấy. Về
phương diện nghệ thuật tự sự, tìm hiểu cấu trúc sự kiện, cấu trúc lời văn của truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư chúng ta sẽ lý giải được sự hấp dẫn, độc đáo và mới lạ trong truyện ngắn
của chị.
Xuất phát từ sự trân trọng, ngưỡng vọng về một tác giả văn học, trong quá trình tiếp
xúc, nghiên cứu tác phẩm - đặc biệt là nghiên cứu về phương diện nghệ thuật trong sáng tác
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

1

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
của Nguyễn Ngọc Tư chúng tôi nhận thấy hầu hết những tác phẩm của chị đều gây nhiều
chú ý trên văn đàn và được giới lí luận, phê bình quan tâm tìm hiểu và khám phá. Song nhà
văn Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện chưa lâu nên cho đến nay, việc nghiên cứu, tìm hiểu về tác
giả, tác phẩm của chị còn rất ít, những bài nghiên cứu chủ yếu nằm rãi rác trên các báo,
chưa được tập hợp thành sách. Tất cả mới chỉ dừng lại ở những bài viết có tính chất khảo
sát, nhận diện. Nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tư, khám phá nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn
của chị, người viết muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc khắc phục tình trạng trên.
Đồng thời đây cũng là dịp để chúng ta thấy rõ hơn tài năng sáng tạo cùng đóng góp của tác
giả cho văn học đương đại nói riêng, và văn học Việt Nam nói chung. Đó cũng chính là lý
do thôi thúc người viết chọn đề tài “Nghệ thuật tự sự trong tập truyện Cánh đồng bất tận
của Nguyễn Ngọc Tư”

2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, đến nay chỉ có 36 năm tuổi đời, nhưng có nhiều đóng
góp đặc sắc cho nền văn học Việt Nam đương đại. Truyện ngắn là mảng sáng tác khá thành
công với phong cách riêng. Từ năm 2000 với nhiều giải thưởng có giá trị, cho đến nay nhà

văn Nguyễn Ngọc Tư đã cho ra đời với hơn 10 tập truyện ngắn, cùng với tạp văn, tản văn.
Tuy chưa phải là đỉnh cao của văn học, số lượng tác phẩm chưa thật đồ sộ sánh ngang với
những nhà văn có tên tuổi nhưng văn của chị đạt đến một chất lượng, chị đã khẳng định
được mình và có một vị trí nhất định trên văn đàn. Chị trở thành một hiện tượng của văn
học trong nước, gây dư luận xôn xao trong năm 2005-2006 và đã có không ít ý kiến cảm
nhận, đánh giá, nghiên cứu. Phần nhiều là các ý kiến trên internet như các bài đăng trên báo
Tuổi Trẻ, Thanh niên, Văn nghệ, Tạp chí nghiên cứu Văn học, Văn nghệ Đồng bằng Sông
Cửu Long và các trang Web,…
Thông qua thư điện tử trên trang o/NNTu/index.htm, phóng
viên H.T.P phỏng vấn một Việt Kiều Mỹ là giáo sư kinh tế Trần Hữu Dũng, ông nói về nhà
văn Nguyễn Ngọc Tư: “Trước hết cô là nhà văn có biệt tài, trong văn phong cũng như
trong nhận xét vô cùng tinh tế của cô, ai đọc cô cũng thấy điều đó. Thứ nữa là sự chân thật,
đôn hậu, trong sáng tỏa ra từ những gì cô viết (cả truyện lẫn bút ký). Nhưng có thể điều làm
cho người miền Nam như tôi xúc động nhất là những phương ngữ, phương ngôn mà cô
dùng. Tôi chưa bao giờ sống gần như trọn vẹn lại thời thơ ấu, ở quê hương tôi, như khi tôi
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

2

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
đọc văn Nguyễn Ngọc Tư” [25;]. Đây là một độc giả nếu như căn cứ vào công việc thì
không ai nghĩ rằng ông lại có những nhận xét về văn chương một cách tinh tế sâu sắc như
thế? Trong lời nhận xét này, điều mà ta lưu ý đó là những phương ngữ, phương ngôn mà
Nguyễn Ngọc Tư dùng khiến ông nhớ tới tuổi thơ, nhớ quê hương da diết. Đây cũng là một
biệt tài trong việc dùng ngôn ngữ địa phương của chị.
Một lần nữa với bài “Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản Miền Nam”, Trần Hữu Dũng, đã
không ngớt lời khen ngợi dành cho truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư. Ấn tượng sâu sắc

nhất của Giáo sư khi đọc truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là chất Nam bộ sâu đậm, đặc biệt ở
phương ngữ Nam bộ, giáo sư đã khẳng định rất nhiều những chi tiết nghệ thuật trong sáng
tác của Nguyễn Ngọc Tư: “…Phương ngữ mộc mạc miền Nam, giọng điệu dân dã miền
Nam hoàn toàn có khả năng cấu tạo một nhánh văn chương đặc biệt, không giống, nhưng
chuẩn mực không kém những miền khác,…sử dụng phương ngữ tối đa và đúng chỗ vào
những câu chuyện thật “miền Nam”…Trong cách chọn lựa tình tiết, cốt truyện, Nguyễn
Ngọc Tư đã trung thành (một cách khó giải thích) với cái ‘tình tự” Nam bộ của quê hương
cô…Văn của Nguyễn Ngọc Tư nghe như nhạc. Nhiều câu trong trẻo và buồn (nhưng không
nghẹn ngào) như một bản vọng cổ hoài lang…cách dẫn chuyện gọn gàng, sự cắt cảnh
chuyển lớp chính xác của Nguyễn Ngọc Tư, nhưng chưa thấy ai nói đến cấu trúc câu của
cô. Mới và độc đáo. Lối bắt đầu với chữ Mà, rồi một dấu phẩy. Hoặc lối chen vào giữa câu
một chi tiết trong ngoặc đơn…” [25;]. Ý kiến này có lẽ tác giả đề cập đến rất nhiều những
chi tiết nghệ thuật. Từ phương ngữ, tình tiết, cốt truyện…được Nguyễn Ngọc Tư trung
thành một cách khó giải thích với Nam bộ quê hương cô. Ngoài ra tác giả còn cho rằng văn
của Nguyễn Ngọc Tư nghe như nhạc, rồi biệt tài dẫn chuyện, cắt cảnh,…cho đến việc sáng
tạo những câu văn. Điểm qua tất cả những chi tiết nghệ thuật trên tác giả khẳng định ,
“Nguyễn Ngọc Tư “đặc sản” miền Nam”.
Tác giả Đoàn Ánh Dương với bài “Cánh đồng bất tận, nhìn từ mô hình tự sự và ngôn
ngữ trần thuật” ở Tạp chí nghiên cứu văn học, số 2/2007, cho rằng: Nguyễn Ngọc Tư là
nhà văn trẻ gây ấn tượng nhiều nhất bởi giọng văn đậm chất Nam bộ. Với lối viết hồn nhiên,
chân chất, Cánh đồng bất tận khiến người đọc ngỡ ngàng trước tài năng bứt phá của nữ văn
sĩ còn quá trẻ này. Phải chăng đây là tín hiệu đáng mừng cho nền văn học đương đại. Cánh
đồng bất tận xứng đáng có một chổ ngồi trang trọng bên cạnh các nhà văn có tên tuổi. Theo
Đoàn Ánh Dương, chiều sâu nhân bản của Cánh đồng bất tận đó là nhà văn Nguyễn Ngọc
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

3

SVTH: LÂM THỊ CHÂN



Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
Tư đã làm mờ nhòe ranh giới giữa cái thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu, mặt trái và mặt phải
của vấn đề, “Biểu tượng của tác phẩm không trực tiếp mà ẩn sâu trong tâm trạng, giằng xé
trước cuộc sống bộn bề. Nỗi niềm khao khát lương thiện càng mãnh liệt cháy bỏng bao
nhiêu thì càng bị cự tuyệt, nhứt nhối bấy nhiêu”. Đoàn Ánh Dương cho rằng, Cánh đồng
bất tận mang đầy chất tiểu thuyết, trong khuôn khổ một truyện ngắn, Nguyễn Ngọc Tư đã
rất khéo léo xử lý từ sự lựa chọn mô hình tự sự đến ngôn ngữ trần thuật. “Đó là tài năng
cũng là tấm lòng Nguyễn Ngọc Tư, tác giả đã xử lý thành công sự lồng ghép của hai hệ
thống tự sự trên nền cảm xúc và suy tưởng của nhân vật chính. Nhà văn đã gia giảm đến
mức tối đa cốt truyện sự kiện và gia tăng thật thành công cốt truyện tâm lý. Từ đó nhìn nhân
vật triết luận nhân sinh được đưa ra không mang tính khiên cưỡng mà thật cụ thể sinh động,
đa diện, theo dòng cảm xúc nội tâm”.
Bên cạnh sự lựa chọn mô hình tự sự, lối viết theo “chính cách nói tiếng An Nam ròng”
một thứ ngôn ngữ đời sống đích thực lại là một phương diện thành công khác của tác phẩm
– có thể nói chưa bao giờ phương ngữ Nam bộ đi vào văn Nguyễn Ngọc Tư lại tự nhiên
phong phú đến vậy. Nguyễn Ngọc Tư có sự kế thừa và tiếp thu truyền thống văn học Nam
bộ để cống hiến cho người đọc những trang văn chân chất đầy sinh động.
Khi khai thác nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, ở trang Web http:// wwwviet-studies.info, Nguyễn Trọng Bình còn có bài viết Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn của
Nguyễn Ngọc Tư, tác giả khai thác nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong truyện ngắn của chị,
cụ thể là: hệ thống từ ngữ địa phương Nam bộ. Lớp từ gợi ấn tượng về văn hóa sông nước.
Sáng tạo và biến ngôn ngữ đời thường của người bình dân thành ngôn ngữ văn học. Cách
phân tích này, tác giả đã chỉ ra được nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ Nam bộ rất độc đáo của
Nguyễn Ngọc Tư.
Nói về một khía cạnh khác của nghệ thuật, Nguyễn Thị Hoa, có bài “Giọng điệu trần
thuật của Nguyễn Ngọc Tư qua tập truyện Cánh đồng bất tận”, cho rằng đó là “giọng dân
dã mộc mạc trong những trang văn tả thiên nhiên, tả cảnh cuộc sống sinh hoạt của người
dân Nam bộ, giọng điệu đôn hậu, ấm áp, chân tình, giọng điệu trữ tình sâu lắng…” [26;].
Cách tìm hiểu này có hàm ý khẳng định một chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm Cánh đồng
bất tận nói riêng, trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nói chung, đó là cách sử dụng giọng

điệu trong tác phẩm. Nổi bật là giọng điệu trữ tình sâu lắng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư.
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

4

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
Bài “Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận” của Hoàng Thiên Nga đăng trên
Báo văn nghệ số 39, ngày 24/9/2005 cho rằng: “Điều đáng nói là truyện quá hay và độc giả
nào cũng thèm, cũng tha thiết cần cái sự hay ấy”. Hoàng Thiên Nga đánh giá cao tài năng
và phẩm chất nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Ngòi bút của nhà văn dường như có một ma lực
mạnh mẽ vô cùng, câu văn ngắn gọn, không gian rộng, cách chuyển cảnh dứt khoát, lạnh
lùng,…Để lại phía sau tầng lớp ngữ nghĩa ẩn đầy dư vị. Hoàng Thiên Nga khẳng định
“Truyện Nguyễn Ngọc Tư hấp dẫn từ đầu đến tới dấu chấm hết vẫn thấy ngòi bút tác giả
bình thản như đôi chân vàng chưa đuối sức sau cuộc chạy maratong. Tôi tin với tư chất
thông minh, văn tài thiên phú, Nguyễn Ngọc Tư đủ bản lĩnh, tỉnh táo đi trên quãng đường
dài văn nghiệp vốn không hiếm cạm bẫy danh vọng và vô số khen chê luôn khiến người đọc
ngộ nhận và đánh giá mất mình”.
Nhà văn Nguyên Ngọc trong bài “Còn có rất nhiều người cầm bút có tư cách” trên
trang web: , ngày 02/1/2005 đã đưa ra rất nhiều lời khen cho
Nguyễn Ngọc Tư: “Mấy năm nay chúng ta đều rất thích Nguyễn Ngọc Tư. Cô ấy như một
cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam bộ vậy, tươi tắn lạ thường,
đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế và chân chất”, đặc biệt Nam bộ một
cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các tác giả Nam bộ đi trước.
Tác giả Đăng Vũ với bài “Cổ tích trên Cánh đồng bất tận”, đăng trên Tạp chí Nhà văn
số 12/2006 cho rằng: thực sự sửng sốt khi đọc truyện của Nguyễn Ngọc Tư “cứ như là
những câu chuyện cổ tích có sức hút lạ kỳ. Nhà văn có lối viết truyện thật hay, không theo

khuôn phép nào cũng chẳng theo chủ nghĩa này nọ, không gò bó mà trái lại rất tự nhiên,
thoải mái, viết như chơi”. Phải là nhà văn thật sự có tài, nhiều công lực mới có thể viết hay
như vậy. Nguyễn Ngọc Tư tài tình khi hóa thân vào các nhân vật để kể lại cuộc đời. Thế
giới nhân vật trong truyện của nhà văn đều là những con người bất hạnh, không có ai được
sống cho ra sống. Đúng là “một thế giới của cổ tích, của huyền thoại mà ở đó những con
người rất đổi bình dị, rất đổi nhân văn nhưng thật cô đơn, cô đơn đến tận cùng giống như
những con người cô đơn trong thế giới “Trăm năm cô đơn” của Marquez”.
Nguyễn Tiến Hưng với bài “Ngồi ở nhà Nguyễn Ngọc Tư”, đăng trên Báo Tiền phong
xuân 2007 đã có những nhận xét rất tinh tế: Ở ngoài đời Nguyễn Ngọc Tư hiền lành chân
chất giống hệt hơi văn của tác giả, cuộc sống gia đình cũng chẳng khấm khá gì, tuổi thơ vất
vả, học hành dang dở,… Tác giả tỏ ra “kính nể” nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, ngồi viết trong
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

5

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
nhà chật, giữa phố chợ đông người ồn ào,… ấy vậy mà Nguyễn Ngọc Tư vẫn viết được một
cách ngon lành. Số lượng tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư ngày càng lớn, điều đó đồng nghĩa
với không gian Nam bộ càng được mở rộng thêm, sâu thêm, hiện thực hơn và sôi động hơn.
Nguyễn Tiến Hưng còn nhấn mạnh, điều lạ ở Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn viết không theo
một kế hoạch cụ thể nào, chỉ khi nào tác giả thấy đầy cảm hứng là viết và tác giả mong cái
nhẹ nhàng, tự do cho ngòi bút được thoải mái tung hoành.
Trên trang Web http:// www-viet-studies.info, Nguyễn Trọng Bình có bài: “Những
dạng tình huống thường gặp trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư”, có phân tích những
dạng tình huống cụ thể là: Tình huống một sự cố, một biến cố bất ngờ (xảy đến với nhân vật
chính). Tình huống cảm thông chia sẻ. Tình huống yêu đương trắc trở…cũng là một trong
những cách tiếp cận về nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc

Tư. Trên cơ sở cách tiếp cận này, người viết sẽ tiếp tục khai thác những dạng tình huống
khác trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
Ngoài những bài viết khá chuyên sâu về một vài khía cạnh trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư, còn có công trình là luận văn Thạc sĩ, cũng có đề cặp ít nhiều những đặc điểm về
nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn của chị. Đáng chú ý có:
Tiền Văn Triệu “Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư”, luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ. Đại học Đà
Lạt. Đối tượng mà luận văn này khảo sát là truyện ngắn, tản văn, tạp văn của Nguyễn Ngọc
Tư, nên người nghiên cứu không tập trung sâu vào một thể loại nào. Riêng đối với lĩnh vực
truyện ngắn, luận văn này cũng tập trung phân tích, thẩm định một vài khía cạnh về nội
dung và nghệ thuật. Phần nội dung thì chủ yếu khai thác đặc trưng về văn hóa Nam bộ, con
người Nam bộ. Phần nghệ thuật thì là các chi tiết, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ,…trong
truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư.
Tất cả những ý kiến trên phần nhiều là tập trung ca ngợi sự thành công trong thể loại
truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, đặc biệt là tác phẩm Cánh đồng bất tận. Tuy chưa có
một bài nghiên cứu nào đi sâu vào nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư,
song các bài nghiên cứu đều chỉ ra và có phát hiện về phong cách, ngôn ngữ, giọng điệu,
cách kết cấu riêng trong truyện ngắn của chị.
Dựa vào những ý kiến, cũng như các công trình nghiên cứu trên làm gợi ý đắc lực cho
người viết tham khảo, lấy kết cấu tự sự, cốt truyện tự sự, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu
trần thuật làm đối tượng nghiên cứu, người viết đã tiến hành khảo sát một cách hệ thống các
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

6

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
tác phẩm truyện ngắn trong tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư để đem lại
cái nhìn mới về nghệ thuật tự sự của chị.


3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này đặt ra mục đích yêu cầu sau:
Một là tìm hiểu để thấy rõ hơn về nghệ thuật tự sự trong tập truyện Cánh đồng bất tận
của Nguyễn Ngọc Tư, qua đó có thể hiểu sâu sắc hơn về hiện thực xã hội đương thời đồng
thời cũng nhằm rút ra phong cách tự sự độc đáo của nhà văn.
Hai là có thể thấy được quan niệm về cuộc sống và những vấn đề còn suy ngẫm của tác
giả qua việc tìm hiểu nghệ thuật tự sự ở các khía cạnh: Kết cấu, cốt truyện, điểm nhìn và
giọng điệu trần thuật .
Ba là qua việc nghiên cứu đề tài trên giúp người viết nắm vững hơn kiến thức về lí
luận văn học.

4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi tư liệu nghiên cứu dùng cho luận văn này là mười bốn truyện ngắn trong tập
Cánh đồng bất tận. Bên cạnh đó người viết cũng khảo sát thêm các tác phẩm khác của chị,
và một số tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn của một số nhà văn khác, để có những nhận
xét, phát hiện ra cái mới, cái hay, cái đặc sắc của cây bút trẻ Nguyễn Ngọc Tư cũng như
đóng góp của chị cho nền văn học Việt Nan hiện đại.

5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, người sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
Phương pháp hệ thống: để hệ thống các chi tiết, sự kiện, tình huống xảy ra với từng
nhân vật trong cốt truyện để thấy rõ sự đa dạng của nhân vật, mối quan hệ giữa các nhân vật
và tính cách nhân vật nhằm làm bật nổi vấn đề tự sự trong tập truyện.
Phương pháp thống kê so sánh: thống kê, so sánh đối chiếu với một số tác giả khác để
có cái nhìn toàn diện hơn về nghệ thuật tự sự trong tập truyện Cánh đồng bất tận, để có thể
nhìn thấy sự khác biệt, cái mới, lạ so với các truyện ngắn khác.
Phương pháp phân tích chứng minh: trên cơ sở hệ thống một số vấn đề lí luận và tác
phẩm cụ thể, người viết đi vào tìm hiểu, phân tích, lập luận, lí luận và chứng minh bằng dẫn
chứng, tài liệu cụ thể…làm rõ nghệ thuật tự sự của truyện ngắn mà tác giả thể hiện.

GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

7

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư

NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT
1.1.

Một số vấn đề lí luận về nghệ thuật tự sự

1.1.1. Khái niệm tự sự
Văn chương vốn đa dạng về loại thể, mỗi loại thể có phương pháp phản ánh khác nhau
và có những đặc trưng về thủ pháp nghệ thuật cũng như nội dung. Có nhiều cách phân chia
văn học ra thành loại thể khác nhau, nhưng ý kiến được đồng tình ủng hộ nhiều nhất từ các
nhà lí luận là văn học có thể chia văn học làm ba loại hình cơ bản: tự sự, trữ tình và kịch.
Riêng về lại hình tự sự, theo Đặng Anh Đào, tự sự là “là một khái niệm rất rộng, có thể xét
ở hai phương diện”: thứ nhất là “Đồng nghĩa với câu chuyện kể, đối lập với miêu tả”; thứ
hai là “được xem xét theo hành động kể chuyện”, tức bao hàm vấn đề người kể chuyện
(điểm nhìn, giọng điệu)”[17;tr.170]. Còn theo Từ điển thuật ngữ văn học, tự sự là “phương
thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ
sở để phân loại tác phẩm văn học” [5;tr.385].
Đặc điểm của tác phẩm tự sự là phản ánh hiện thực thông qua các yếu tố sự kiện, biến
cố và hành vi con người; thường có cốt truyện gắn với hệ thống nhân vật. Tác phẩm trữ tình
phản ánh hiện thực mang đậm màu sắc chủ quan, chú ý nhiều đến tâm trạng của chủ thể trữ

tình. Khác hơn, loại hình tự sự thể hiện tâm trạng, tư tưởng tình cảm của chủ thể thông qua
phản ánh hiện thực khách quan. Tức cái chủ quan trong tác phẩm tự sự ẩn đi hoặc hòa vào
cái khách quan, đánh lừa độc giả bằng thế giới hiện thực được phản ánh bên trong tác phẩm
nằm ngoài tính chủ quan của nhà văn. Để phản ánh hiện thực, nhà văn phải dùng đến các
yếu tố như sự kiện, nhân vật trong một thời gian và không gian nghệ thuật nhất định. Chính
vì thế, truyện phải có chuyện, tức có cốt truyện gắn liền với hệ thống nhân vật. Và để
chuyển tải tác phẩm nghệ thuật của mình đến độc giả, nhà văn phải sáng tạo ra hình tượng
người kể chuyện, các yếu tố nghệ thuật khác như điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu,…làm
nên những đặc trưng riêng cho loại hình tự sự.
Với đặc điểm và phương thức phản ánh trên, tự sự trở thành loại hình có khả năng
phản ánh hiện thực sâu rộng nhất so với trữ tình và kịch. Chức năng phản ánh cũng như nội

GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

8

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
dung, tư tưởng của tác phẩm đều được thể hiện qua các phương thức nghệ thuật, cốt truyện,
kết cấu, hình tượng người trần thuật, điểm nhìn, lời văn, giọng điệu…

1.1.2. Kết cấu tự sự
Một tác phẩm văn học, dù dung lượng lớn hay nhỏ cũng đều là một chỉnh thể nghệ
thuật được cấu tạo bởi nhiều yếu tố, bộ phận,…Và những yếu tố, bộ phận phải được sắp
xếp, tổ chức theo một trật tự, hệ thống nhất định. Vì thế, khi đề cập đến tác phẩm văn học
nói chung hay tác phẩm tự sự nói riêng, chúng ta không thể bỏ qua yếu tố kết cấu.
Bùi Việt Thắng định nghĩa: “Kết cấu là toàn bộ tổ chức của văn bản nghệ thuật vừa
thể hiện thế giới nghệ thuật vừa biểu đạt tư tưởng tình cảm” [2;tr.113]

Theo Lại Nguyên Ân, kết cấu “là sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ
thuật; tức là sự cấu tạo tác phẩm, tùy theo nội dung và thể tài (…) là kết quả của nhận thức
thẩm mỹ, phản ánh những liên hệ bề sâu của thực tại”[1;tr.167]; hay nói cách khác: kết cấu
“là toàn bộ tổ chức nghệ thuật phức tạp và sinh động của tác phẩm văn học”[5;tr.156]. Từ
điển thuật ngữ văn học đã đi vào chi tiết, cụ thể hóa về bản chất hình thức của tác phẩm
nghệ thuật ngôn từ. Điều này phù hợp với xu hướng vận động mang tính tất yếu của khoa
học nghiên cứu văn học. Như thế, mọi định nghĩa đều thừa nhận kết cấu là một yếu tố tất
yếu của tác phẩm tự sự. Nếu không có yếu tố kết cấu thì không thể có một tác phẩm văn học
mà nó chỉ là khối những sự kiện, nhân vật chắp vá một cách vô hồn về cả hình thức và nội
dung.
Một tác phẩm nghệ thuật hay, có giá trị đích thực là ở đó người đọc không thể tự ý tách
rời, hay cắt xén đi một yếu tố nào vì chúng đã được kết cấu theo ý đồ nghệ thuật nhất định
của nhà văn. Kết cấu có vai trò tổ chức và liên kết các yếu tố nghệ thuật khác nhau như: sắp
xếp các sự kiện, biến cố, hành động của các nhân vật, tổ chức hệ thống các hình tượng, lựa
chọn về không gian, thời gian hay tổ chức ngôn ngữ, câu văn,…Kết cấu “bộc lộ tốt chủ đề
và tư tưởng của tác phẩm: triển khai, trình bày hấp dẫn cốt truyện; cấu trúc hợp lí hệ thống
tính cách; tổ chức điểm nhìn trần thuật của tác giả; tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm như
là một hiện tượng thẫm mĩ” [5;tr.157]. Có thể nói kết cấu là kĩ thuật, kĩ xảo của nghệ thuật.
Kết cấu tạo nên một kiến trúc đa tầng chứa đựng nội dung của tác phẩm. Mỗi nhà văn sẽ có
sở trường, sự sáng tạo, dụng ý riêng về mặt kết cấu để chuyển tải được thông điệp về nghệ

GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

9

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
thuật trong tác phẩm. Vì thế, kết cấu thể hiện nhận thức, tài năng và phong cách của nhà

văn.
Bên cạnh các yếu tố nghệ thuật khác, kết cấu cũng có những biến chuyển trải qua các
thời kì văn học, đi cùng với bước tiến của nền văn học thế giới nói chung và nền văn học
Việt Nam nói riêng. Kết cấu trong tác phẩm văn học truyền thống thường theo trật tự thời
gian trần thuật, tổ chức hệ thống nhân vật cũng theo cái nhìn nhị nguyên; truyện có mở đầu
và kết thúc rõ ràng. Trong truyện ngắn hiện đại, kết cấu ngày càng phức tạp hơn và thường
được xây dựng ở dạng kết cấu mở, kết cấu tương phản – đối lập, kết cấu theo đảo tuyến, kết
cấu đơn tuyến, kết cấu đa tuyến, kết cấu tâm lí, kết cấu truyện lồng trong truyện, kết cấu
phân mảnh,…Đó là các hình thức kết cấu thường gặp trong truyện ngắn của Thạch Lam,
Nam Cao, Phan Thị Vàng Anh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp,
Nguyễn Ngọc Tư…Các hình thức kết cấu này chứa đựng, dồn nén được nhiều sự kiện, nhân
vật, tình tiết hơn để phát huy tối đa khả năng phản ánh hiện thực và tầng bậc ý nghĩa ở các
hình thức và nội dung. Và đặc biệt, chúng mở ra trường đối thoại giữa độc giả và người kể
chuyện, khiến câu chuyện kể sinh động, khách quan hơn.

1.1.2.1. Lời đề từ
Đề từ là “thành phần nằm ngoài văn bản của một tác phẩm, được viết ở đầu sách hoặc
sau tiêu đề mỗi chương trong cuốn sách nhằm hướng người đọc vào ý đồ nghệ thuật của tác
giả hoặc tư tưởng của tác phẩm”. [6;tr.112]
Về hình thức, đề từ có thể là một câu hay một đoạn trích tiêu biểu trong tác phẩm mà
tác giả lựa chọn. Cũng có thể được dẫn dắt một cách dài dòng, như là một câu chuyện bổ

sung, tồn tại song song bên cạnh tác phẩm. Cũng có khi lấy từ bên ngoài tác phẩm: có thể
là một danh ngôn, một đoạn trích từ kinh Phật, một câu thơ một câu hát dân gian một lời
nói, một câu tục ngữ…. Tất cả đều có thể vận dụng vào, mục đích là nhằm để bộc lộ chiều
sâu của tư tưởng - chủ đề của tác phẩm, là một phần bổ sung không thể thiếu cho văn bản
tác phẩm, góp phần tạo nên sự toàn vẹn của chỉnh thể, cũng như khơi nguồn cảm hứng cho
tác giả trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Đề từ có thể xem như là một đoạn trữ tình

ngoại đề thổi vào không gian tâm tưởng những day dứt và tạo một dấu ấn sâu đậm khắc

ghi trong lòng người đọc.

GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

10

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
Về tần số xuất hiện của đề từ: Không phải tất cả tác phẩm văn học cũng đều có lời đề
từ, mà lời đề từ xuất hiện còn phụ thuộc vào dụng ý nghệ thuật cũng như tài năng của nhà
văn. Trong các tác phẩm nghiên cứu phê bình, thường sử dụng lời đề từ cho mỗi chương

như Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh, Chân trời có người bay của Đỗ Lai
Thuý...hay tản văn, truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư cũng sử dụng lời đề từ cho văn
xuôi tự sự với tần số cao.
Chúng ta cần phải hiểu rõ, đề từ không phải là tên của tác phẩm, tên tác phẩm ngắn
gọn, súc tích hơn, còn đề từ nó như là một ẩn dụ của nội dung câu chuyện. Vì thế, chúng
ta cần phải lưu ý xem xét, nếu bỏ qua, hoặc bỏ sót sẽ không khám phá hết giá trị nội
dung của tác phẩm.

1.1.2.2. Cốt truyện
Cốt truyện là hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là
các xung đột xã hội một cách có nghệ thuật. Qua đó, các tính cách hình thành và phát triển
trong mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề, tư tưởng tác phẩm. Chính vì
vậy, nhiều nhà văn khi cầm bút sáng tác rất coi trọng cốt truyện.
Môôm- nhà văn chuyên viết truyện ngắn thời hiện đại khẳng định sự cần thiết của cốt
truyện: “nhà văn sống bằng cốt truyện, y như họa sĩ sống bằng màu và bút vẽ vậy”.
[11;tr.94]

Tương tự, A.Tônxtôi cho rằng: “cần tìm cho được cốt truyện. Đôi khi chỉ xảy ra chốc
lát vài giây thôi, nhưng giống như một thứ thuốc thử đậm đặc, những cốt truyện hay có khả
năng khiến cho tư tưởng, những quan sát và những hiểu biết đang chồng chất hỗn loạn
bỗng hiện ra thành lớp lang rành mạch. Những cốt truyện kiểu đó là cả một tìm tòi, một
phát hiện” [11;tr.194]. Sáng tạo truyện ngắn đồng nghĩa với sáng tạo cốt truyện. Cốt truyện
đôi khi có sẵn trong cuộc sống, nhưng khai thác thế nào là công việc của nhà văn.
Xoay quanh vấn đề cốt truyện trong tác phẩm tự sự, có rất nhiều ý kiến bàn luận và
định nghĩa khác nhau. Theo Bal: “cốt truyện là lược đồ tối giản của các sự kiện trần thuật
không đưa ra những nét riêng biệt để cá thể hóa các tác nhân hay hành động thành tính
cách và các sự kiện cụ thể” [18;tr.26]. Với quan niệm này Bal đã xem cốt truyện là một
lược đồ hành động; nó là một quá trình trừu tượng hóa tổng hợp chứ không phải là hành
động cụ thể, nở rộ mà chúng ta xây dựng khi đọc hoặc xem trần thuật. Còn theo Lê Huy
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

11

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
Bắc: “cốt truyện là toàn bộ những sự kiện được nhà văn kể trong văn bản tự sự (và văn bản
kịch) mà người đọc có thể kể lại (…) Cốt truyện là cái khung để đở cho toàn bộ tòa nhà
nghệ thuật ngôn từ đứng vững” [24;tr.45]. Nhà nghiên cứu này cũng lưu ý việc phân định
giữa truyện (story) và cốt truyện (plot). So với Lê Huy Bắc thì Trần Đình Sử nhìn nhận cốt
truyện ở phạm vi rộng hơn. Ông cho rằng “cốt truyện là hệ thống những biến cố, sự kiện
được hình thành từ các hành động nhân vật, hay nói cách khác là sự vận động không gian,
thời gian của cái được miêu tả” [5;tr.118]. Cùng nhấn mạnh về tầm quan trọng của sự kiện,
Trần Thiện Khanh quan niệm: cốt truyện trong tác phẩm tự sự bao “gồm một hệ thống sự
kiện, hành động mà trong quá trình vận động tạo nghĩa của chúng hình thành nên cái khung
của sự kể”. Với định nghĩa này, Trần Thiện Khanh nhấn mạnh điều kiện hình thành nên cốt

truyện tự sự là người kể, hành động kể và câu chuyện kể. Khác với các tác giả trên, Đinh
Thị Khang khi nghiên cứu về yếu tố không gian, thời gian trong cấu trúc văn bản tự sự đã
cho rằng: “Đối với tác phẩm tự sự, cốt truyện là nội dung hiện thực mà tác phẩm chiếm
lĩnh, và phản ánh” [17;tr.256]. Đây là một khái niệm chung, chưa đi sâu, cụ thể vào những
yếu tố cấu thành cốt truyện.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ thể
được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản quan
trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm… hoặc có thể là toàn bộ các biến cố, sự kiện
được nhà văn kể ra và cái mà người đọc có thể đem kể lại”. [7;tr.130]
Nhìn chung, các định nghĩa về cốt truyện tự sự đều thừa nhận: chất liệu cơ bản tạo nên
cốt truyện là hệ thống các sự kiện. Cốt truyện là tiến trình các sự kiện diễn biến theo những
nguyên tắc nhất định dẫn đến một kết cục chung, thể hiện những mối quan hệ giữa các tính
cách trong một hoàn cảnh xã hội nào đó nhằm hướng đến chủ đề của câu chuyện được kể
trong tác phẩm tự sự. Khái niệm cốt truyện chỉ dùng chủ yếu cho tác phẩm tự sự hoặc tác
phẩm kịch.
Có thể nói, cốt truyện là yếu tố đầu tiên, yếu tố quan trọng bậc nhất của tác phẩm tự sự.
Nó là phương tiện đắc lực để nhà văn tái hiện các xung đột trong nội tại tính cách của con
người, gần với việc tổ chức tình huống. Từ đó, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm được soi sáng.
Điều đó cho thấy cốt truyện biểu thị năng lực hư cấu và thế giới quan của chủ thể thẩm mĩ.
Mọi cốt truyện đều là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Cốt truyện chi phối các
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

12

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
yếu tố tự sự như điểm nhìn, ngôi kể,… Một khi đã có chuyện kể chắc chắn phải có cốt
truyện. Cốt truyện “tuân thủ nguyên tắc: “có truyện để kể””.

Cốt truyện bao gồm các thành phần: thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút. Các thành
phần này có ý nghĩa tương đối và cần được nhận thức một cách linh hoạt khi đi vào tìm hiểu
và phân tích tác phẩm, tuy rằng mỗi thành phần của cốt truyện có một vị trí và chức năng
riêng. Thắt nút là sự kiện đánh dấu sự bắt đầu của một mối quan hệ tất yếu sẽ phát triển
trong tác phẩm. Trong một tác phẩm có nhiều thắt nút. Phát triển là phần quan trọng của cốt
truyện, là những sự kiện, sự triển khai và sự vận động của các mối quan hệ, các mối quan hệ
được nảy sinh từ phần thắt nút. Cao trào là sự kiện phát triển đến đỉnh điểm là bước ngoặt
đối với sự phát triển của cốt truyện. Mở nút là sự kiện hoặc chuỗi sự kiện sau cùng đánh dấu
sự kết thúc của các mối quan hệ, chấm dứt một quá trình vận động và giải quyết các xung
đột trong tác phẩm. Ở một số tác phẩm lớn còn có phần trình bày ở đầu tác phẩm và vĩ
thanh ở cuối tác phẩm. Ngoài những thành phần trên còn có các yếu tố ngoài cốt truyện và
các tình huống giữa các sự kiện. Đó là kể một cách đầy đủ, theo trình tự thông thường. Tuy
nhiên, không phải bất cứ cốt truyện nào cũng nhất thiết phải bao hàm đầy đủ các thành phần
như vậy mà cấu trúc của cốt truyện có sự biến hóa sinh động như cuộc sống muôn màu tùy
thuộc vào quan hệ thẩm mĩ của tác giả đối với hiện thực và ý đồ nghệ thuật mà nhà vă n
muốn thể hiện. Hiểu được cốt truyện là bước đầu để hiểu nhân vật, hiểu bức tranh đời sống
và hiểu ý nghĩa của tác phẩm.

1.1.2.2.1. Chi tiết nghệ thuật
Chi tiết là các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng. Chi
tiết là một yếu tố quan trọng trong các sáng tác văn học, là phương tiện cơ bản để thể hiện
nhân vật và tính cách sao cho sinh động, hấp dẫn. Chi tiết nghệ thuật có khả năng thể hiện,
giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của
tư tưởng tác phẩm, đóng vai trò như một vật liệu xây dựng tạo nên tình huống truyện và làm
tiền đề cho cốt truyện phát triển thuận lợi và hợp lí. Những chi tiết đắt giá càng làm bậc lên
cốt truyện.
Trong Thi pháp học hiện đại, Trần Đình Sử đã viết rằng “Hình tượng nghệ thuật được
dệt nên từ những chi tiết nhỏ” [15;tr.82]. Và Trần Đình Sử định nghĩa chi tiết như sau: “chi
tiết là những yếu tố nhỏ tự nó không có ý nghĩa độc lập nhưng lại biểu hiện đựơc ý nghĩa
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN


13

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
của các chỉnh thể mà chúng thuộc vào” [15;tr.82]. Chi tiết có giá trị rất lớn để biểu hiện tính
cách phẩm chất nhân vật. Nhiều khi chỉ một chi tiết đắt mà làm toát lên được cả thần thái
của nhân vật.
Chi tiết và chủ đề tạo nên một mối quan hệ mật thiết với nhau. Chi tiết dù hay đến đâu
mà “không phục vụ chủ đề thì cũng trở nên vô ích”. Trong truyện ngắn, tìm được chi tiết
hay đã khó nhưng muốn làm cho nó phát lộ hết các nội dung, ý nghĩa thì phải đặt nó trong
một “mắt xích” nghĩa là đặt chi tiết trong mối liên hệ với nhau. Tác phẩm được soi rọi, làm
sáng tỏ ý nghĩa là nhờ vào những chi tiết.
Chủ đề tác phẩm được thể hiện tràn đầy, sâu sắc cần thiết phải chọn tìm được những
chi tiết phát sáng, những chi tiết không thể thay thế, chi tiết đắt, nhiều ẩn ý, thể hiện chiều
sâu. Một chi tiết đắt giá phải là một chi tiết chân thực còn cần phải đạt tới ý nghĩa tượng
trưng, hàm chứa một cách nhìn của tác giả, năng lực tưởng tượng của nhà văn về cuộc sống
và con người.
Hệ thống chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự phong phú đa dạng hơn so với hai
loại kịch và trữ tình. Chi tiết trong tác phẩm trữ tình thường gắn với chất thơ còn chi tiết
trong tác phẩm tự sự thì mang chất văn xuôi và nhiều loại. Chi tiết là những nét cụ thể được
nhà văn sử dụng để miêu tả về ngoại hình, tâm lí, sinh lí, phản ứng nội tâm, hành vi, lời nói,
phong cảnh, phong tục, đồ vật, binh khí, lịch sử, đời sống văn hóa, sản xuất,…bao gồm cả
những chi tiết tưởng tượng, liên tưởng, hoang đường mà không nghệ thuật nào khác trình
diễn được. Tóm lại, đó là mọi chi tiết về sự tồn tại con người. Đan dệt hàng loạt chi tiết với
nhau mới có được một bức tranh bằng ngôn ngữ có thể tạo nên ấn tượng tương đối xác định
về nhân vật.


1.1.2.2.2. Kết thúc tác phẩm
“ Kết thúc là một trong những thành phần của cốt truyện thường tiếp theo ngay sau
đỉnh điểm, đảm nhiệm chức năng thể hiện tính trạng thái cuối cùng của xung đột được miêu
tả trong tác phẩm”. [6;tr.157]
Do đặc điểm của truyện ngắn là miêu tả cuộc sống không thi vị hóa, không lãng mạn
hóa, cũng không lí tưởng hóa mà miêu tả cuộc sống gần với đời thực. Truyện ngắn có khả
năng phản ánh cuộc sống ở góc độ đời tư. Nhân vật trong truyện ngắn là con người “nếm
trải”, trong truyện ngắn tất cả mọi chuyện đều có thể xảy ra như trong hiện thực. Cho nên
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

14

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
không giống như truyện cổ tích có kết thúc có hậu, truyện ngắn chấp nhận cả kết thúc không
có hậu vì cuộc sống thực sự không giống như mong đợi của con người mà có rất nhiều biến
cố xảy ra, con người phải tự giải quyết những vấn đề của mình và có khi con người thua
cuộc. Và cũng có thể là kết thúc mở còn bỏ ngỏ nhà văn chỉ miêu tả đến một lúc nào đó rồi
dừng lại nhưng cuộc sống của nhân vật thì không dừng lại ở đó mà còn tiếp tục diễn biến và
thay đổi không ngừng, để cho người đọc tự nghĩ ra kết thúc bằng những suy tư về cuộc sống
của chính bản thân. Mỗi kết thúc đều thể hiện một quan điểm của tác giả về cuộc sống, một
chân lí trong cuộc sống.

1.1.2.3. Kết cấu truyện
1.1.2.3.1. Tình huống truyện
Tình huống (còn gọi là tình thế, cảnh huống, trường hợp). Theo nhà văn Nguyễn Minh
Châu: “Đó là sự tác động qua lại giữa con người và hoàn cảnh. Những nhà văn có tài tạo
ra những tình thế xảy ra truyện vừa rất cá biệt vừa mang tính phổ biến, hoặc tượng trưng.

Có những nhà văn lại cố tình đưa nhân vật của mình vào những va chạm bình thường hằng
ngày. Những tình huống giao tiếp bình thường hằng ngày ai cũng đã nhiều lần trải qua và
cái tình thế xảy ra lại nằm trong tâm trạng tính cách của con người” [20;tr.43].
Trong một tác phẩm tự sự có rất nhiều tình huống nhưng trong đó sẽ có rất nhiều tình
huống mà ở đó sẽ làm bật lên câu chuyện. Tình huống truyện là một yếu tố không thể thiếu
khi sáng tạo ra một tác phẩm. Tình huống truyện tạo nên một hiện tượng xã hội, và tạo nên
vấn đề trong câu truyện. Nó giúp người đọc nhận biết được nhân vật, phát hiện ra tính cách,
cuộc sống, hoàn cảnh xã hội nơi mà nhân vật đang hiện hữu. Tình huống truyện là đầu mối
quan trọng trong từng câu chuyện, không có tình huống thì không có câu chuyện. Chúng ta
có thể hiểu bản chất của tình huống qua một số dạng thức tóm tắt của tác giả Bùi Việt
Thắng [21;tr.44-49] như sau:
Tình huống truyện là thời khắc tiêu biểu (có người gọi là khoảnh khắc, chốc lát,..) có ý
nghĩa cực kì quan trọng trong cuộc sống con người.
Tại thời khắc đó các nhân vật có cơ hội châu tuần lại, gắn kết với nhau (mà trước đó họ
vốn xa lạ với nhau hoặc gắn mà chưa có điều kiện hiểu biết lẫn nhau).
Tại thời khắc đó đã bộc lộ cái bản chất trong quan hệ giữa các tính cách nhân vật, giữa
nhân vật với hoàn cảnh.
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

15

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
Tình huống là sự thể hiện sâu sắc các chủ đề tác phẩm.
Một số tình huống truyện ngắn:
- Tình huống - kịch: bao hàm các xung đột mang tính kịch cao, trong đó sự va chạm
giữa các nhân vật là trở nên gay gắt bị dồn nén trong một không gian, thời gian và hành
động theo quy tắc “tam nhất” của kịch.

- Tình huống - luận đề: là cách tạo dựng tình huống truyện theo những luận đề, những
tư tưởng có sẵn để tạo ra những truyện ngắn - luận đề.
- Tình huống - tâm trạng (còn gọi là tình huống - tâm lí): là loại tình thế xảy ra trong
tâm trạng, tính cách của nhân vật khi va chạm vào cuộc sống. Loại tình huống này thường
có trong truyện tâm tình, truyện không có cốt truyện tiêu biểu nhưng sâu sắc về tâm lí.
- Tình huống - tượng trưng: là kiểu tình huống trong đó cái ý nghĩa của hình tượng, sự
bộc lộ chủ đề rất kín đáo, thậm chí có khi bị phủ bởi một lớp sương mờ huyền hoặc. Theo
nghĩa rộng, tượng trưng chỉ cái phần mà hình tượng vượt ra khỏi chính nó. Kiểu tình huống
này thường phản ánh mối quan hệ giữa cái ảo và cái thực trong đời sống, cần phải nhận thức
cái này thông qua cái kia.
Bên cạnh đó, còn có một số tình huống truyện như tình huống tương phản, tình huống
thắt nút.
Như vậy, việc phân chia các dạng tình huống khác nhau là thao tác cần thiết để tìm
hiểu các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của nhà
văn trong việc tiếp cận và thể hiện hiện thực đời sống. Trong tác phẩm tự sự, tình huống gắn
liền với những biến cố của sự kiện, của nhân vật. Tình huống truyện càng sinh động thì càng
hứng thú người đọc. Do đó, tạo tình huống là phần lao động quan trọng nhất của qui trình
sáng tạo một truyện ngắn. Người viết có được một tình huống đặc sắc là đã có một tiền đề
khá chắc chắn cho thành công của cả truyện ngắn. Còn người đọc, nắm được tình huống thì
xem như đã có một chìa khoá tin cậy để mở vào thế giới bí ẩn của tác phẩm. Và khi phân
tích truyện theo tình huống cần chú ý đảm bảo các bước: Xác định tình huống; nhận diện
loại tình huống; diễn biến tình huống và ý nghĩa của tình huống.

GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

16

SVTH: LÂM THỊ CHÂN



Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư

1.1.2.3.2. Tính đối thoại
Tính đối thoại là một đặc trưng của tác phẩm tự sự, chứa đựng nhiều tiếng nói khác
nhau, được tạo nên bởi đối thoại giữa các nhân vật với những tình cảm, suy tư khác nhau,
đối lập nhau, đứng cạnh nhau, trao đổi, tranh luận với nhau.
Theo Từ điển văn học đối thoại là “sự giao tiếp bằng lời nói giữa hai người (hoặc
nhiều hơn) với nhau; một phần của văn bản ngôn từ nghệ thuật, một thành tố mà chức năng
là tái tạo sự giao tiếp bằng lời nói của các nhân vật;…trong đó tư tưởng của tác giả được
khai triển dưới dạng trò chuyện, tranh cãi giữa hai người (hoặc nhiều người)”. [8;tr.448]
Ngôn từ đối thoại là nhân tố tổ chức văn bản ngôn từ, hiện diện với tư cách là đối
tượng của sự miêu tả, nên nó mang màu sắc chủ quan và bộc lộ đặc tính của những chủ thể
phát ngôn. Các lời phát ngôn tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các quá trình giao tiếp và
thực hiện giao tiếp đều có tính chất đối thoại.
Đặc trưng của đối thoại là sự luân phiên của các phát ngôn ngắn, của những người phát
ngôn khác nhau. Yếu tố đối thoại đã có mặt ở lời nói của một người, được kích thích bởi nét
mặt và cử chỉ của người cùng trò chuyện. Ở thế kỷ XIX-XX ngôn từ mang tính chất đối
thoại được sử dụng đa diện và rộng rãi hơn các giai đoạn trước, do nhà văn chú trọng đến
đời sống riêng tư của con người, chú trọng đến việc khắc họa ngôn ngữ cá nhân và ngôn
ngữ xã hội. Đối thoại được xem như là bản chất quan trọng nhất của hoạt động lời nói, một
phương tiện của tồn tại con người, nên ngôn từ đối thoại “là các kiểu xúc tiếp không mang
tính quang phương, tính công cộng; là kiểu trò chuyện giản dị, xuề xòa, nói bằng khẩu ngữ;
là không khí bình đẳng về tinh thần – đạo đức giữa những người phát ngôn” [8;tr.448].

1.1.3. Điểm nhìn và giọng điệu trần thuật
1.1.3.1. Điểm nhìn trần thuật
Trong văn bản trần thuật, điểm nhìn là một tiêu điểm quan trọng của nghiên cứu văn
học, là một vấn đề then chốt của kết cấu văn bản trần thuật. Và là vấn đề quan hệ giữa người
sáng tạo và cái được sáng tạo. Điểm nhìn được xem như là một yếu tố quan trọng hàng đầu
của nghệ thuật tự sự.

Nhà nghiên cứu Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học coi điểm nhìn là một
vấn đề quan trọng trong tác phẩm tự sự. Ông nhấn mạnh: “Trong tác phẩm tự sự, điều quan
trọng là... điểm nhìn của người trần thuật đối với những gì mà anh ta miêu tả” [3;tr.90].
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

17

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
Trong Lý luận văn học, các nhà lý luận cho rằng: “Nghệ sĩ không thể miêu tả, trần
thuật các sự kiện về đời sống được, nếu không xác định cho mình một điểm nhìn đối với các
sự vật hiện tượng: nhìn từ góc độ nào, xa hoặc gần, cao hay thấp, từ bên trong ra hay từ
bên ngoài vào... Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng tạo
nghệ thuật” [13;tr.310].
Với nhà nghiên cứu Nguyễn Thái Hoà, điểm nhìn “không phải là lập trường chính trị
xã hội mà là toạ độ thời gian được lựa chọn cho hoạt động kể chuyện, phát triển nội dung,
sắp xếp bố cục, hư cấu thành truyện” [9;tr.122].
Đề xuất một khái niệm điểm nhìn toàn diện, Trần Đình Sử định nghĩa: điểm nhìn trần
thuật “không chỉ là điểm nhìn thuần tuý quang học như khái niệm tiêu cự, tụ điểm mà nó
còn mang nội dung, quan điểm, lập trường tư tưởng, tâm lý của con người” [16;tr.182].
Như vậy, cơ bản các ý kiến của các nhà nghiên cứu đều chỉ ra một đặc điểm mang tính
chất chức năng của điểm nhìn là nó thể hiện vị trí và quan điểm, thái độ của chủ thể trần
thuật đối với việc trần thuật. Nói cách khác, điểm nhìn là phương thức miêu tả, trình bày, là
cách nhìn, cách cảm thụ của người trần thuật về câu chuyện được kể.
Để nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu thì khái niệm điểm nhìn phải gắn với ngôi kể
(hay ngôi trần thuật) của người kể chuyện (hay người trần thuật). Điểm nhìn trần thuật chia
thành hai loại: Điểm nhìn trần thuật bên ngoài (điểm nhìn khách quan ở ngôi thứ ba của
người kể chuyện hàm ẩn) và điểm nhìn bên trong (điểm nhìn chủ quan của người kể chuyện

xưng “tôi”). Loại điểm nhìn thứ nhất là điểm nhìn sử dụng trong các truyện kể truyền thống
với người kể chuyện là người biết tất và kể lại câu chuyện theo ý kiến khách quan của mình.
Người kể chuyện này luôn luôn đứng cao hơn nhân vật. Còn kiểu điểm nhìn thứ hai là điểm
nhìn trong các truyện kể hiện đại với người kể chuyện được lộ diện ở ngôi thứ nhất đồng
thời là nhân vật. Tuy nhiên, trong thực tế sáng tác, đặc biệt là các sáng tác hậu hiện đại, các
nhà văn không chỉ sử dụng một điểm nhìn cố định từ đầu đến cuối tác phẩm mà có sự di
chuyển linh hoạt các điểm nhìn để tạo nên tính chất đa thanh, phức điệu cho tác phẩm. Với
loại điểm nhìn này, nhà văn bắt buộc phải sử dụng đến nhiều ngôi kể (có khi là ngôi thứ
nhất, có khi là ngôi thứ ba hoặc có thể cả ngôi thứ hai). Và như vậy, vị trí của tác giả (người
kể chuyện) không còn cao hơn nhân vật nữa mà bằng hoặc thấp hơn nhân vật.

GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

18

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
Như vậy, điểm nhìn trần thuật là một phương thức quan trọng trong nghệ thuật tự sự,
giúp người đọc nhìn sâu vào cấu tạo nghệ thuật và nhận ra đặc điểm phong cách của nhà
văn trong quá trình thể hiện tư tưởng nghệ thuật trong tác phẩm của mình.

1.1.3.2. Giọng điệu trần thuật
Trong nghệ thuật tự sự, giọng điệu là một yếu tố quan trọng bên cạnh điểm nhìn. Mỗi
một tác phẩm tự sự, tác giả đều có những giọng điệu đặc trưng riêng. Nếu thiếu giọng điệu
ấy thì tác giả cũng như tác phẩm sẽ trở nên mờ nhạt và thiếu bản sắc.
Trong đời sống hằng ngày, giọng điệu là giọng nói, lối nói...biểu thị thái độ của người
phát ngôn. Giọng điệu trong văn học là một hiện tượng “siêu ngôn ngữ học” được thể hiện ở
ngôn ngữ và điểm nhìn của chủ thể đối với hiện thực và đối tượng được đề cập tới.

Có rất nhiều định nghĩa về giọng điệu, theo Từ điển thuật ngữ văn học, giọng điệu là
“thái độ, tình cảm, lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu
tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách
cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm,…” [7;tr.134].
Bên cạnh đó, giọng điệu còn “có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và
tác dụng truyền cảm cho người đọc. Thiếu một giọng điệu nhất định nhà văn chưa thể viết
ra được tác phẩm, mặc dù đã có đủ tài liệu và sắp xếp xong hệ thống nhân vật”. [7;tr.134]
Nguyễn Thái Hoà trong Những vấn đề thi pháp của truyện đã khẳng định: “Giọng
điệu chính là mối quan hệ giữa chủ thể và hiện thực khách quan thể hiện bằng hành vi ngôn
ngữ trong đó bao hàm cả việc định hướng, đánh giá và thói quen cá nhân sử dụng ngôn từ
trong những tình huống cụ thể” [9;tr.154]. Nhà lí luận này cũng nhấn mạnh rằng: “Giọng kể
trong truyện là hiệu quả của giọng văn đem sử dụng vào việc kể chuyện, định hướng bởi
loại thể (kể, tả, lập luận, đưa đẩy), bởi đối tượng và nội dung được kể nó là biến thiên của
giọng trong trường hợp bị khúc xạ vào hoàn cảnh cụ thể, tuy vậy mỗi truyện cũng có một
cấu trúc giọng kể riêng và người kể phải giữ nhất quán” [9;tr.160].
Trong Dẫn luận nghiên cứu văn học, N. Pospelov còn coi giọng điệu là “các kiểu cách
dùng để kể câu chuyện” của nhà văn. [3;tr.89]
Như vậy, không thể xét một văn bản tự sự mà không đề cập đến giọng điệu trong tác
phẩm đó. Nếu như trong đời sống, giọng điệu giúp ta nhận ra con người cụ thể thì trong văn
học giọng điệu giúp ta nhận ra tác giả. Nên đòi hỏi người trần thuật phải có khẩu khí, có
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

19

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
giọng điệu phù hợp với đối tượng và mang nội dung khái quát nghệ thuật. Nền tảng của
giọng điệu là cảm hứng chủ đạo của nhà văn khi sáng tạo tác phẩm. Tuy nhiên, khi trần

thuật, tác giả sử dụng nhiều giọng điệu, sắc thái khác nhau trên cơ sở một giọng điệu cơ bản
chủ đạo để tạo nên tiếng nói đa thanh, phức điệu cho tác phẩm tự sự chứ không đơn điệu.
Giọng điệu là một hiện tượng nghệ thuật, thống nhất với toàn bộ chỉnh thể nghệ thuật
của tác phẩm với tư cách là một yếu tố của sinh thể nghệ thuật toàn vẹn. Giọng điệu vừa
mang nội dung vừa khái quát nghệ thuật và phối hợp với đối tượng mà nó thể hiện. Bởi vậy
để xác định giọng điệu của một nhà văn, chúng ta căn cứ vào đối tượng thể hiện, vào sự lặp
lại của các yếu tố hình thức. Khi bàn về vấn đề giọng điệu trong văn chương, Khrapchenko
nhận định: “Đề tài, tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong môi trường và giọng điệu
nhất định... Hiệu suất cảm xúc của lối kể chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tình
trước hết thể hiện ở giọng điệu chủ yếu vốn là đặc trưng của tác phẩm văn học với tư cách
là một thể thống nhất hoàn chỉnh” [10;tr.167,168].
Có thể nói, giọng điệu giữ vai trò quan trọng trong quá trình sáng tạo của nhà văn. Một
nhà văn thành công không thể không có một giọng điệu cho riêng mình để gọi là bản sắc,
phong cách độc đáo của nhà văn đó. Giọng điệu trần thuật đi cùng với điểm nhìn được đặt
vào hình tượng người kể chuyện mà nhà văn gửi gắm thái độ, quan điểm của mình về hiện
thực và nhân sinh trong tác phẩm tự sự.

1.2. Đôi nét về tác giả - tác phẩm
1.2.1. Tác giả
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, quê quán ở xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà
Mau. Chị xuất thân trong một gia đình nghèo phải rời ghế nhà trường năm 13 tuổi. Dù vậy,
ý chí và nghị lực của chị không ngừng vươn lên, nên sau đó chị quyết định đi học lại. Trong
hoàn cảnh khó khăn này Nguyễn Ngọc Tư đã tập tành viết nhật kí, từ đó viết với chị là lẽ
sống. Năm 1995 chị gửi tập truyện ngắn đầu tiên, dựa trên một phần nhật kí của mình đến
Tạp chí văn học và nghệ thuật Cà Mau. Sau khi tạp chí đăng truyện ngắn của chị, chị chính
thức theo đuổi sự nghiệp sáng tác. Chính những hoài bảo ước mơ đó đã giúp Nguyễn Ngọc
Tư trở thành một cây bút chuyên nghiệp - một nhà văn với những tác phẩm có giá trị.

GVHD: LÊ THỊ NHIÊN


20

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
Với sự vươn lên và có được thành công Nguyễn Ngọc Tư đã nhận được nhiều giải
thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, trung ương Đoàn. Đặc biệt, chị nhận được giải thưởng
ASEAN.
Nguyễn Ngọc Tư vừa là nhà báo, vừa là nhà văn. Chị là một trong những hội viên trẻ
nhất của Hội nhà văn Việt Nam. Các tác phẩm chính được xuất bản là:
Ngọn đèn không tắt (Tập truyện - Nxb Trẻ - 2000)
Ông ngoại (Tập truyện thiếu nhi - Nxb Trẻ - 2001)
Giao thừa (Tập truyện - Nxb Trẻ - 2003)
Biển người mênh mông (Truyện ngắn – Nxb Kim Đồng - 2003)
Nước chảy mây trôi (Truyện ngắn – Ký - Nxb Văn nghệ TPHCM - 2004)
Sầu trên đỉnh Puvan (2007)
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Nxb Văn hóa Sài Gòn - 2005)
Cánh đồng bất tận (Tập truyện ngắn – Nxb Trẻ - 2005)
Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (2005)
Ngày mai của những ngày mai (2007)
Gió lẻ và chín câu chuyện khác (Tập truyện – Nxb Trẻ - 2008)
Biển của mỗi người (2008)
Yêu người ngóng núi (tái bản 2010)
Khói trời lộng lẫy (Tập truyện – Nxb Trẻ - 2010)
Sông (Tiểu thuyết – Nxb Trẻ - 2012).

1.2.2. Tác phẩm
1.2.2.1. Giới thiệu tập truyện “Cánh đồng bất tận”
Tập truyện Cánh đồng bất tận gồm có 14 tác phẩm: “Cải ơi”, “Thương quá rau răm”,

“Hiu hiu gió bấc”, “Huệ lấy chồng”, “Cái nhìn khắc khoải”, “Nhà cổ”, “Mối tình năm cũ”,
“Cuối mùa nhan sắc”, “Biển người mênh mông”, “Nhớ sông”, “Dòng nhớ”, “Duyên phận so
le”, “Một trái tim khô”, “Cánh đồng bất tận”.
Tập truyện Cánh đồng bất tận viết về hiện thực xã hội của một bộ phận người dân
nghèo vùng đồng bằng sông Cửu Long, với những mối quan hệ giữa con người với con
người, con người với xã hội,...đang tồn tại trong xã hội Việt Nam. Tập truyện được thể hiện
với bút pháp tự sự tự nhiên, chân chất, nhẹ nhàng đậm chất Nam Bộ, nhưng lại ẩn chứa nội
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

21

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
dung tư tưởng sâu sắc. Bên cạnh việc thể hiện những suy tư trăn trở về số phận của những
người nông dân, Nguyễn Ngọc Tư còn thể hiện thái độ phê phán một cách nhẹ nhàng, kín
đáo những mặt trái của hiện thực cuộc sống, những tiêu cực đang hiện diện trong xã hội,
đồng thời tác giả đã thể hiện quan niệm của mình về cuộc sống, bộc lộ một cái nhìn hướng
thiện và bao dung rộng lượng vị tha đối với con người.

1.2.2.2. Tóm tắt mười bốn tác phẩm trong tập truyện “Cánh đồng bất tận”
Cải ơi, truyện kể về cuộc đời lưu lạc thăng trầm nơi xứ lạ quê người của ông Năm
Nhỏ. Đứa con riêng của vợ tên là Cải, bỏ nhà đi vì làm mất đôi trâu. Vợ ông và mọi người
nghĩ rằng ông đã giết Cải nên luôn trách ông. Ông rất khổ sở vì chịu nổi oan “giết chết con
riêng” của vợ. Và để giải nỗi oan ấy ông phải bôn ba hơn mười năm trời, làm sai vặt trong
đoàn hát để nhắn tìm con, rồi đi bán kẹo kéo. Ông càng già đi trong niềm mong mỏi đi tìm
con bé nhưng vẫn bặt vô âm tính.
Thương quá rau răm truyện kể về nhân vật Văn – một bác sĩ trẻ ở thành phố về công
tác ở trạm xá cù lao Mút Cà Tha. Năm người bác sĩ đến đây rồi cũng lại ra đi. Trưởng ấp Tư

Mốt ngay lần gặp đầu tiên, ngó Văn cũng hiền, nên ông rất quý và luôn đối xử tử tế với anh.
Ông hay đến trạm xá nói chuyện với Văn để mong giữ anh ở lại lâu dài. Nga- con gái ông
Tư Mốt luôn chăm sóc và đem lòng yêu Văn. Nhưng cuộc sống ở đất cù lao thiếu thốn và
buồn đã khiến Văn không thể gắn bó lâu dài. Cuối cùng Văn đã bỏ ra đi không lời từ biệt.
Hiu hiu gió bấc truyện xoay quanh nhân vật Hết. Anh là người hiền lành, giỏi giang
lại rất hiếu thảo, nhưng chỉ tội cái tật mê cờ. Anh và chị Hoài rất yêu nhau nhưng đành dang
dở vì mẹ chị Hoài chê anh Hết nghèo. Ngày chị Hoài lấy chồng, anh ngồi đánh cờ tỉnh bơ,
nhưng nước mắt anh rớt trên con tướng bởi “thương con chốt. Qua sông là không mong
về”. Còn Hảo, yêu đơn phương anh, chờ đợi anh đến thành gái lỡ thì, trong khi anh luôn
thầm lặng chôn chặt tình yêu trong lòng. Đã bốn mùa gió bấc và thêm một mùa gió bấc nữa
nhưng chị Hảo vẫn chưa lấy chồng. Bởi “chờ người ta thôi buồn khi đưa chốt qua sông”.
Và kết thúc tác phẩm là hình ảnh “gió bấc hiu hiu lại về”.
Huệ lấy chồng truyện mở đầu là cuộc nói chuyện của Huệ và một cô bạn thân tên
Điềm trong một đêm vu quy của Huệ. Thi và Huệ từng học và chơi chung từ nhỏ. Lớn lên
hai người yêu nhau. Thi là giáo viên dạy cấp II, tiền lương không bao nhiêu nhà lại nghèo
nên Thi xin lên trường huyện dạy thêm để kiếm tiền cưới Huệ. Biến cố xảy xa từ đây, Thi
GVHD: LÊ THỊ NHIÊN

22

SVTH: LÂM THỊ CHÂN


×