Tải bản đầy đủ (.pdf) (191 trang)

Nhân sinh quan người Việt qua Folklore Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.68 MB, 191 trang )

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

PH NG THỊ AN NA

NH¢N SINH QUAN NG¦êI VIÖT
QUA FOLKLORE VIÖT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2015


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

PH NG THỊ AN NA

NH¢N SINH QUAN NG¦êI VIÖT
QUA FOLKLORE VIÖT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

Mã số: 62 22 03 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGA
2. PGS.TS. ĐỖ LAN HIỀN


HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trọng luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và
được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả

Phùng Thị An Na


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
6
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Các công trình nghiên cứu về nhân sinh quan và folklore
1.2. Các công trình nghiên cứu về nhân sinh quan người Việt qua lễ
hội dân gian và tín ngưỡng dân gian
1.3. Các công trình đề cập đến vấn đề kế thừa và giải pháp phát huy
những giá trị tốt đẹp, hạn chế những tiêu cực từ nhân sinh quan
truyền thống người Việt
1.4. Một số vấn đề đặt ra để luận án tiếp tục giải quyết
Chương 2: NHÂN SINH QUAN NGƯỜI VIỆT VÀ FOLKLORE VIỆT

6

15
27

30
32

NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1. Nhân sinh quan và nhân sinh quan người Việt
2.2. Folklore Việt Nam - Khái niệm, đặc trưng, các loại hình
2.3. Folklore - Một hình thức thể hiện độc đáo của nhân sinh quan
người Việt
Chương 3: NHÂN SINH QUAN NGƯỜI VIỆT QUA MỘT SỐ LỄ HỘI

32
43
56
65

VÀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN - GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ

3.1. Nhân sinh quan người Việt qua một số lễ hội dân gian
3.2. Nhân sinh quan người Việt qua một số tín ngưỡng dân gian
3.3. Những giá trị tích cực, những hạn chế từ nhân sinh quan truyền
thống người Việt qua một số lễ hội và tín ngưỡng dân gian
Chương 4: XU HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA LỄ HỘI VÀ TÍN

65
81
100

115

NGƯỠNG DÂN GIAN VÀ GIẢI PHÁP NHẰM KHẮC
PHỤC YẾU TỐ TIÊU CỰC, PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÍCH
CỰC TRONG NHÂN SINH QUAN TRUYỀN THỐNG
NGƯỜI VIỆT QUA CÁC LOẠI HÌNH ĐÓ

4.1. Dự báo một số xu hướng hoạt động của lễ hội và tín ngưỡng
dân gian ở Việt Nam hiện nay
4.2. Một số nhóm giải pháp nhằm phát huy giá trị tích cực, hạn chế
yếu tố tiêu cực trong nhân sinh quan truyền thống người Việt
qua lễ hội và tín ngưỡng dân gian

115

KẾT LUẬN

145
148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

127

149
159



1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Folklore Việt Nam, hay văn hóa dân gian Việt Nam là kho tư liệu ít
được khai thác về mặt triết học, vì người ta thường coi nó là thứ văn hóa
truyền miệng, không bác học, có nhiều hạn chế, lạc hậu. Nói là dân gian
nhưng không có nghĩa đấy là sản phẩm của những người nông dân thất học,
mà dân gian ở đây có thể là khuyết danh, “nó” cũng là sản phẩm của các bậc
đại trí trong xã hội thời kỳ trước, chỉ có điều, họ chưa khái quát được thành hệ
thống mà chỉ đúc kết ra từ những trải nghiệm cuộc sống, nhưng đó lại là cơ
sở, nền tảng để sau này xây dựng thành các lý thuyết, hệ thống tư tưởng. Bởi,
trong thứ văn hóa bình dân ấy đã ẩn chứa những khái niệm trừu tượng, ẩn
chứa minh triết của cha ông chúng ta. Ở đó, chúng ta cũng có thể thấy được
năng lực tư duy, những phán đoán, phân tích và sự nhận thức của người Việt,
hay nói khác đi, văn hóa dân gian Việt Nam cho thấy giá trị bản nhiên của tư
duy người Việt, không hòan toàn vay mượn tư tưởng của Nho, Phật, Lão.
Nghiên cứu tư tưởng triết học trong các di sản tinh thần thuộc lĩnh vực
văn hóa dân gian vốn được đặt ra từ lâu, song cho đến nay vẫn chưa được
thực hiện. Đã có không ít các công trình và tác giả nghiên cứu Folklore Việt
Nam dưới các góc nhìn văn hóa học, dân tộc học hay nhân học, giúp chúng
ta biết được vô số điều thú vị, đặc sắc về cuộc sống, sinh hoạt, lao động sản
xuất, văn hóa, tín ngưỡng của tổ tiên chúng ta trên mảnh đất Việt Nam.
Những nghiên cứu phong phú đó là cần thiết nhưng chưa đủ, con cháu hôm
nay cần biết cha ông ngày xưa đã nghĩ gì qua những hoạt động và những
biểu tượng vẫn được gìn giữ và lưu truyền cho đến ngày nay. Do vậy, cần
phải tiếp cận vấn đề này dưới góc độ triết học, liên ngành triết học - văn hóa,
nhằm soi tỏ những nội dung chủ yếu trong tư tưởng của người xưa. Việc
nghiên cứu này còn cần thiết vì nằm trong khuôn khổ một nhiệm vụ lớn hơn



2
là luận chứng cho sự tồn tại hệ thống các tư tưởng triết học của Việt Nam
trong lịch sử.
Folklore thực sự là nơi quy tụ và kết tinh những triết lý nhân sinh sâu
sắc của các bậc tiền nhân về con người, về hành vi, ứng xử và lẽ sống ở đời
của con người. Những năm gần đây, có khá nhiều triết gia đi vào nghiên cứu
vấn đề nhân sinh quan, nhưng tìm hiểu về mối liên hệ giữa những tư tưởng,
triết lý nhân sinh trong kho tàng Folklore thì lại ít được quan tâm. Cũng có
một vài nhà khoa học từng đặt vấn đề nghiên cứu tư tưởng triết học của
người Việt qua những văn hóa bất thành văn, chỉ có điều, những tác phẩm
này chưa đi vào phân tích nhân sinh quan triết học qua Folklore một cách
đầy đủ, mà chỉ nghiên cứu tư tưởng dân tộc qua phong tục tập quán hay di
chỉ khảo cổ của văn hóa vật thể (như trống đồng, mộ táng…) mà thôi. Thực
chất, chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách cụ thể nhân
sinh quan của người Việt qua Folklore. Đây chính là nhiệm vụ của luận án,
nhằm góp phần tìm hiểu sâu hơn về minh triết của người Việt qua một số
loại hình Folklore, góp phần bổ sung thêm cho tư tưởng triết Việt, để lịch sử
tư tưởng Việt Nam được toàn diện và hệ thống hơn.
Thêm nữa, nghiên cứu nhân sinh quan người Việt qua Folklore Việt
Nam, nghĩa là chúng ta một lần nữa tìm về bản sắc văn hóa dân tộc, đề cao
“tính dân tộc” của mình, bởi Folklore chính là văn hóa truyền thống của
người Việt. Văn hóa dân gian Việt Nam rất phong phú, đa dạng, do vậy, việc
tìm hiểu những biểu hiện triết học trong văn hóa dân gian giúp chúng ta thấy
được tính độc đáo, đặc sắc của nền văn hóa truyền thống Việt Nam. Khảo cứu
nhân sinh quan người Việt qua Folklore không chỉ giúp củng cố giá trị, bản
sắc văn hóa dân tộc mà còn là việc làm phát huy tinh thần yêu nước - yêu
những giá trị văn hóa của dân tộc.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Nhân sinh quan người Việt
qua Folklore Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học.



3
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Luận án tập trung làm rõ nhân sinh quan người Việt thể hiện qua
Folklore Việt Nam, cụ thể là qua lễ hội và tín ngưỡng dân gian, từ đó, đề xuất
một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực, khắc phục những hạn
chế trong nhân sinh quan đó.
2.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ khái niệm nhân sinh quan và đặc thù nhân sinh quan của
người Việt; khái niệm, đặc trưng của Folklore Việt Nam.
- Phân tích nhân sinh quan người Việt qua một số lễ hội và tín ngưỡng
dân gian điển hình; chỉ ra những giá trị tích cực và những hạn chế trong nhân
sinh quan đó.
- Dự báo xu hướng hoạt động của các lễ hội và tín ngưỡng dân gian ở
Việt Nam, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích
cực, khắc phục những hạn chế trong nhân sinh quan truyền thống người Việt
qua các loại hình đó.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhân sinh quan người Việt qua một số lễ hội và tín ngưỡng dân gian
Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Khái niệm “người Việt” trong luận án này dùng để chỉ người Việt
truyền thống.
- Trong phạm vi của một luận án Tiến sĩ, chúng tôi chỉ có thể khảo cứu
nhân sinh quan của người Việt qua 2 loại hình của Folklore là: lễ hội dân gian
và tín ngưỡng dân gian. Đối với lễ hội, chúng tôi lựa chọn 3 lễ hội: lễ hội đền
Gióng, lễ hội đền Tống Trân và lễ hội Chử Đồng Tử; với loại hình tín ngưỡng



4
dân gian, chúng tôi chọn 3 tín ngưỡng: tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng Phồn
thực và tín ngưỡng Thờ nhiên thần làm khách thể khảo sát và nghiên cứu.
Có thể nói, đây là những lễ hội và tín ngưỡng dân gian phản ánh một
cách tương đối điển hình các triết lý nhân sinh truyền thống của người Việt
trên ba mối quan hệ: gia đình, xã hội và môi trường tự nhiên mà đề tài có
tham vọng phân tích.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, mối quan hệ giữa
các hình thái ý thức xã hội; quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng
sản Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng. Luận án cũng kế thừa các công trình
nghiên cứu khoa học, các bài viết có liên quan đã được công bố.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, kết hợp với các phương pháp cụ thể như: phương pháp thống nhất
lịch sử - lôgic, phân tích - tổng hợp, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn…
Luận án cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, quan sát thực
địa, khảo cứu văn bản…
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Góp phần bổ sung lý luận cho công tác nghiên cứu triết học Việt Nam
trên loại hình văn hóa dân gian/Folklore. Chứng minh cho những giá trị bản
nhiên của tư duy người Việt từ khi chịu tiếp biến, ảnh hưởng của văn hóa triết học ngoại lai.
- Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề nhận thức luận triết học và các
vấn đề liên quan đến Folklore Việt Nam, nhân sinh quan người Việt.
- Nghiên cứu nhân sinh quan người Việt qua Folklore từ góc nhìn triết
học, luận án đã góp phần chỉ ra những xu hướng biến đổi của các hoạt động lễ



5
hội, tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn
và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa của dân tộc, góp phần phát triển tư
duy lý luận cho người Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh
viên, học viên chuyên ngành Triết học, Văn hóa học, Tôn giáo học.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho việc nghiên cứu về triết học Việt Nam, văn hóa Việt Nam, tôn giáo
ở Việt Nam.
- Kết quả nghiên cứu của luận án là sự thể nghiệm hoá chủ trương của
Đảng và Nhà nước về việc giữ gìn, phát huy các bản sắc và giá trị văn hóa,
tinh thần truyền thống của dân tộc.
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần nâng cao năng lực nghiên
cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ của Học viện.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
được kết cấu làm 4 chương, 12 tiết.


6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN SINH QUAN VÀ FOLKLORE

1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về nhân sinh quan
Có thể nói, không có nhiều công trình bàn trực tiếp vấn đề nhân sinh
quan hay lý luận về nhân sinh quan. Trong hầu hết các công trình mà chúng

tôi khảo cứu về vấn đề này, các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những
nhận định hoặc những khía cạnh khác nhau thuộc phạm trù nhân sinh quan.
Vì đề tài nghiên cứu nhân sinh quan theo quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin, nên chúng tôi đã khảo cứu khá nhiều công trình về nhân sinh quan
dưới góc nhìn triết học mácxít:
Trong hai tác phẩm Quan niệm của C. Mác, Ph. Ăngghen về con người
và sự nghiệp giải phóng con người của Bùi Bá Linh [73] và “Vấn đề con
người trong học thuyết Mác và phương hướng, giải pháp phát triển con người
cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay” của
Hòang Đình Cúc [13], học thuyết Mác về con người được các tác giả luận giải
trên cơ sở làm rõ quan niệm về “cơ sở hiện thực” cho sự tồn tại của con người
với tư cách thực thể sinh học - xã hội, về lao động với tư cách là điều kiện
quyết định của sự hình thành con người, về sự thống nhất biện chứng giữa
yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người, về mối liên hệ giữa cá nhân
và xã hội, về sự giải phóng con người, giải phóng xã hội... Từ đó, các tác giả
phân tích, làm rõ phương hướng chung về phát triển con người mà Đảng
Cộng sản Việt Nam đã xác định trong công cuộc đổi mới đất nước và đề xuất
một số giải pháp để thực hiện phương hướng đó.
Hai tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm và Vũ Trọng Dung đã nhận định qua
các bài viết “Những tư tưởng cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về


7
mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên” [111] và “Hiểu quan điểm
của C.Mác về bản chất con người như thế nào?” [17] rằng: chỉ có trên cơ sở
xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng về con người mới thấy được bản
chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực, không phải là cái
vốn có trong cơ thể riêng lẻ mà là tổng hòa các quan hệ xã hội; không chỉ là
các quan hệ hiện tại trong đó con người đang sống mà còn là những quan hệ
xã hội trước kia, những quan hệ cổ truyền của quá khứ còn in đậm trong con

người hiện thời, những di sản của thế hệ đi trước mà con người kế thừa trong
lịch sử của mình [17, tr. 61].
Nhóm tác phẩm “Về triết lý con người chinh phục tự nhiên” của Hồ Sỹ
Quý [84] , và “Xây dựng đạo đức sinh thái - một trách nhiệm xã hội của con
người đối với tự nhiên” của Phạm Thị Ngọc Trầm [112] chủ yếu bàn về mối
quan hệ biện chứng giữa con người với giới tự nhiên. Các tác giả phân tích
vai trò của tự nhiên đối với con người, xã hội cùng với sự tác động của con
người lên tự nhiên thông qua hoạt động thực tiễn của mình. Trong quan hệ
đạo đức sinh thái, con người bao giờ cũng là chủ thể, còn tự nhiên là khách
thể; sự tác động giữa chúng chỉ đi theo một chiều là mang lại lợi ích cho con
người và xã hội, bỏ quên lợi ích và giá trị nội tại của khách thể tự nhiên. Vì
vậy, con người đã gây ra những hậu quả khôn lường cho môi trường sống.
Cuối cùng, các tác giả kết luận, vấn đề xây dựng đạo đức sinh thái phải được
tiến hành ở mỗi thành phần cấu trúc của nó: ý thức đạo đức, quan hệ đạo đức,
ở sự kết hợp hành vi đạo đức với trách nhiệm xã hội của con người trong ứng
xử với tự nhiên, nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của tự nhiên và
con người.
Trong các công trình nêu trên, người đọc có thể hiểu được những vấn
đề cơ bản về nhân sinh quan triết học mácxít như: bản chất con người là gì?,
mối quan hệ của con người với con người trong xã hội, mối quan hệ của con
người với giới tự nhiên, vấn đề giải phóng và phát triển toàn diện con người...


8
Một số công trình đi vào nghiên cứu vấn đề nhân sinh quan trong các
học thuyết chính trị - xã hội và tôn giáo cũng là nguồn tư liệu quý cho chúng
tôi khi triển khai thực hiện đề tài.
Tác giả Hoàng Tăng Cường trong bài viết “Mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên trong quan niệm của Nho giáo” [15] cung cấp cho người
đọc các lập trường khác nhau của Nho giáo khi bàn về vấn đề này. Tuy nhiên,

chúng đều có chung một điểm là khẳng định con người có mối quan hệ mật
thiết với “Trời”, con người phải hiểu được “Mệnh trời” và không thể làm trái
với “Mệnh trời” [15, tr. 28]. Từ đó, tác giả khẳng định một lần nữa tư tưởng
của Nho giáo khi xem xét mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, đó là
sự phục tùng, phụ thuộc của con người vào giới tự nhiên. Có thể nói, quan
điểm của Hòang Tăng Cường tỏ ra khá phiến diện, chỉ tiếp cận phương diện
đạo đức siêu hình của Nho giáo mà không thấy được những đóng góp của
Nho giáo trong việc nhìn nhận vai trò của giới tự nhiên với cuộc sống con
người. Tiêu biểu như quan điểm của Mạnh Tử về không giết mổ vật nuôi vào
mùa sinh sản, không dùng lưới mắt nhỏ để bắt cá thì mới đảm bảo được cuộc
sống đầy đủ cho con người... Như vậy, quan điểm của Mạnh Tử có ý nghĩa
vượt thời gian khi ông nhìn nhận sự khai thác tự nhiên phải theo và phù hợp
với quy luật của nó.
Tác giả Nguyễn Văn Bình với bài “Cách xem xét, đánh giá con người
thông qua các mối quan hệ xã hội cơ bản của Nho giáo - một giá trị cần kế
thừa và phát triển” [6] đã nhận định:
... ứng với mỗi quan hệ xã hội của con người, Nho giáo lại đưa ra
những yêu cầu rất chi tiết, thiết thực, sao cho thái độ ứng xử của
con người đạt tới “tận thiện, tận mỹ”, là khuôn vàng thước ngọc để
mọi người noi theo và đánh giá lẫn nhau. Từ đó, Nho giáo đề cao
những con người có giáo dục, biết tu dưỡng theo những người quân


9
tử suốt đời “chính tâm tu thân” để vươn lên làm chủ bản thân, ứng
xử mẫu mực trong tất cả các mối quan hệ xã hội [6, tr. 23].
Từ nhận định trên, tác giả nhấn mạnh đến ý nghĩa và giá trị của đạo đức
Nho giáo trong việc giáo dục con người để trở thành mẫu “người quân tử”.
Bài viết “Vấn đề con người trong đạo Phật” của tác giả Hoàng Thơ
[103] khẳng định đạo Phật là một triết lý về con người hướng nội. Tác giả đã

nêu rõ điểm tích cực của triết lý nhân sinh Phật giáo là con người nội tâm, vô
thần, bình đẳng về đạo đức. Đạo Phật tập trung phân tích con người nhận
thức, tâm lý hướng nội nên đã đạt được một số nhận định độc đáo về trực
giác, về làm chủ tâm thức. Tiếp cận hướng nội của đạo Phật là chỗ làm cho
các triết học hướng ngoại tự thấy thiếu hòan chỉnh khi sự khát khao hiểu biết
bản chất con người trở thành một nhu cầu có tính triết học [103, tr. 44].
Tác giả Đỗ Hương Giang trong bài “Vấn đề nhân sinh quan trong triết
học Phật giáo thời Trần” [27] đã khái quát một số nội dung chính của các đại
biểu tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần.
Về nguồn gốc và bản chất con người: trên quan điểm duyên sinh,
các ông cho rằng con người do tứ đại, ngũ uẩn hợp thành nên bản
chất con người là “Không”; vì nguồn gốc con người là không thực
cho nên con người không thể thoát khỏi vòng sinh tử; quan niệm về
cuộc sống: đời là khổ, ngắn ngủi, mong manh và luôn thay đổi;
cuối cùng, các ông cho rằng tự do và giải thoát là tiêu chuẩn cho
một cuộc sống lý tưởng [27, tr. 3].
Có thể nói, quan điểm của các đại biểu Phật giáo thời Trần thể hiện tinh thần
nhập thế của Phật giáo Việt Nam. Các ông đã đưa đạo Phật đi vào cuộc đời,
hành động và áp dụng giáo lý Phật giáo vì con người và cho con người.
Nhìn chung, vấn đề nhân sinh quan trong các học thuyết tôn giáo chủ
yếu nghiên cứu con người từ góc độ bản ngã, cái tôi, chủ thể, từ phương diện
tâm lý học, đạo đức học, luân lý học.


10
Một trong những nhiệm vụ của luận án là khảo cứu đặc điểm nhân sinh
quan thần thoại, vì thế chúng tôi thử đi tìm các tác phẩm bàn về vấn đề này,
song, rất tiếc đây dường như là mảng nghiên cứu còn bỏ trống.
Tìm hiểu qua các công trình viết về nhân sinh quan nói chung, chúng
tôi cũng ít nhiều thu nhận được những tài liệu cho quá trình triển khai luận án.

Trong cuốn sách Mạn đàm nhân sinh của tác giả Nguyễn Thế Trắc
[109], những vấn đề về nhân sinh quan như: mối quan hệ Thiên - Địa - Nhân
với kiếp người; Quan niệm về hoạ, phúc với đời người; Quan niệm tu thân
tích đức, hòan thiện nhân cách... đã được trình bày khá rõ nét. Tác giả Nguyễn
Thế Trắc rất tâm huyết khi phân tích và bình luận một cách sâu sắc những
triết lý sống cần thiết cho con người hiện nay, cũng như hướng con người tới
những chân giá trị của cuộc đời.
Cuốn Hành trình nhân sinh quan: Phản tỉnh trên đường trải nghiệm
của tác giả Nguyễn Tất Thịnh [94] đề cập đến nhiều vấn đề của cuộc sống
nhằm chia sẻ những trải nghiệm sống, giúp người đọc tự tìm cho mình những
bài học quý giá của nhân sinh, những kỹ năng sống, cách ứng xử chân - thiện mỹ để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn, luôn có cái nhìn lạc quan vào
cuộc sống.
Hai nhà nghiên cứu Trịnh Hiểu Giang, Nguyễn An trong cuốn Những
hiểu biết về cuộc đời [28] đã cung cấp cho người đọc trí tuệ phong phú của
các nhà hiền triết trong lịch sử nhân loại về bản chất sinh mệnh, nội dung của
đời người, trạng thái sinh tồn, các kỹ xảo cần thiết để có cuộc sống hạnh
phúc. Đặc biệt, các tác giả đã đi sâu phân tích cuộc đời của các nhà hiền triết
Trung Quốc thời xưa, từ đó, liên hệ đến các trạng thái đời người hiện đại,
đồng thời, giới thiệu cho chúng ta về một môn khoa học tương đối phát triển
ở Trung Quốc - khoa học nhân sinh.
Có thể thấy rằng, nhân sinh quan là một đề tài lớn, đã được nghiên cứu,
tìm hiểu từ lâu bởi nhiều học giả. Trong các công trình đó, mặc dù chưa đưa


11
ra được một khái niệm hay một hệ thống lý luận về nhân sinh quan, song các
vấn đề liên quan đến nhân sinh quan được đề cập khá đầy đủ, toàn diện. Đây
chính là nguồn tài liệu hết sức phong phú giúp chúng tôi hiểu rõ nhân sinh
quan là gì, và gồm những nội dung gì?
1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về Folklore Việt Nam

Nghiên cứu về Folklore/văn hóa dân gian của người Việt Nam, chúng
ta không thể bỏ qua những công trình viết về lịch sử văn hóa của dân tộc.
Là một trong những công trình quan trọng nhất của học giả Đào Duy
Anh, Việt Nam văn hóa sử cương [1] đã bao quát tất cả các mảng sinh hoạt
kinh tế, sinh hoạt chính trị và sinh hoạt tri thức, do đó, đã tóm tắt, phác hoạ và
minh định được ở chừng mực nào đó lược sử văn hóa của người Việt. Hơn thế
nữa, Đào Duy Anh chỉ ra cả những biến đổi của văn hóa Việt Nam ở thời đại
Âu hoá, với sự rạn vỡ hoặc biến đổi của những giá trị cũ, sự lên ngôi của
những giá trị mới.
Tác giả Nguyễn Duy Hinh trong cuốn Văn minh Đại Việt [43] đã trình
bày cuộc đại hội nhập văn hóa Việt - Trung - Ấn để hình thành văn minh Đại
Việt. Tác giả chọn xuất phát điểm là thời kỳ trước Hán (năm 111 Tr.CN làm
mốc) để định ra vị trí của văn minh Đại Việt trên thang bậc văn minh nhân
loại nói chung, trong quan hệ so sánh với văn minh Hán Đường đồng đại nói
riêng. Tác giả cũng chú trọng nghiên cứu văn hóa Việt Nam trước khi tiếp xúc
với văn hóa Hán qua chính quyền đô hộ và qua con đường giao lưu văn hóa,
xác định vốn văn hóa trước Hán của dân tộc ta, coi đó là bản sắc, bản lĩnh, cơ
sở, động lực tồn tại của dân tộc Việt Nam.
Cuốn sách Việt Nam phong tục [5] của nhà nghiên cứu Phan Kế Bính là
nguồn tài liệu phong phú cung cấp cho độc giả nhiều kiến thức quý báu để tìm
hiểu về văn hóa dân tộc, từ tục lệ trong gia đình tới thói quen ngoài xã hội, kể
cả thuần phong mỹ tục lẫn hủ tục. Quan điểm của tác giả tỏ ra tiến bộ khi đề


12
cập tới tục lệ cũ và ý muốn dần dần canh tân hủ tục, đồng thời, duy trì những
mỹ tục quốc tuý của nước nhà.
Tác giả Vũ Ngọc Khánh, trong suốt cuộc đời nghiên cứu của mình,
ông đã dành thời gian tìm hiểu về Folklore Việt Nam. Có thể kể đến các
công trình:

Cuốn sách Dẫn luận nghiên cứu Folklore Việt Nam [60] có thể coi là
công trình đầu tiên giới thiệu diện mạo Folklore Việt Nam. Tinh thần nổi bật
của tác phẩm là khẳng định sự tồn tại của Folklore Việt Nam. Folklore Việt
Nam đã được phác hoạ rõ nét, từ môi trường xuất phát, nội hàm, quá trình vận
động, quá trình nhận thức, nghiên cứu và giới thiệu..., góp phần tô đượm sức
sống và nguồn sống của dân tộc [60, tr. 15].
Trong cuốn Tiếp cận kho tàng Folklore Việt Nam [61], Vũ Ngọc Khánh
bước đầu giới thiệu sự tồn tại của Folklore và vị trí của nó trong nền văn hóa
dân tộc. Sau khi chứng minh sự hiện hữu của Folklore ở Việt Nam, tác giả đi
vào phân tích một số thành tố của Folklore như Folklore ngôn từ, Folklore tạo
hình, Folklore biểu diễn... Đặc biệt, Vũ Ngọc Khánh đã xác định sự vận động
Folklore qua những địa bàn không gian nhất định, tìm hiểu những sinh hoạt
phong phú của nó, nhìn đúng diện mạo, sắc thái có khả năng phân biệt với
những địa bàn khác, do những nguyên nhân nào đó tạo nên [61, tr. 251]. Điều
này có tác dụng thiết thực, giúp cho việc nhận diện rõ sự phong phú đa dạng
của toàn bộ Folklore Việt Nam, cũng như có cái nhìn về sắc thái địa phương
để hiểu sâu hơn nữa tâm hồn dân tộc.
Cuốn Hành trình vào thế giới Folklore Việt Nam của ông [63] góp
phần làm rõ cái mà ta gọi là đậm đà bản sắc dân tộc. Dạo qua các “điểm”
Folklore tiêu biểu (khu vực Hùng Vương, khu vực Thánh Tản, khu vực Hai
Bà Trưng) [63, tr. 9-138] để thấy những dấu ấn cội nguồn dân tộc được biểu
hiện tập trung, đặc sắc trên các hình thái văn hóa, Vũ Ngọc Khánh một lần
nữa khẳng định sức sống mãnh liệt của Folklore Việt Nam. Từ đó, ông đi


13
vào nghiên cứu thế giới dân ca - diễn xướng, thế giới hội hè, thế giới tâm
linh của người Việt như một cách bày tỏ niềm tự hào với những di sản văn
hóa của dân tộc.
Cuốn sách Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian Việt Nam của tác giả

Đinh Gia Khánh [53] thường được coi là tài liệu gối đầu giường cho những ai
nghiên cứu về Folklore Việt Nam. Trong cuốn sách này, tác giả đã đi hết một
loạt các vấn đề thuộc phạm trù Folklore, đó là giải đáp Folklore là gì?, sự hình
thành, phát triển của Folklore ở Việt Nam, các thành tố chủ yếu của Folklore,
vai trò của Folklore Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới.
Cuốn Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt
Nam của Đinh Gia Khánh [56] cung cấp một cách hệ thống những giá trị
truyền thống và ảnh hưởng của văn hóa dân gian đối với sự phát triển của
xã hội trong giai đoạn mới. Cuốn sách khẳng định văn hóa dân tộc và bản
sắc dân tộc của văn hóa luôn trường tồn cùng lịch sử, giúp dân tộc ta trụ
vững trước bao cuộc xâm lăng, bao biến thiên xã hội. Với những truyền
thống tốt đẹp của mình, văn hóa dân gian đã đóng vai trò tích cực trong sự
phát triển của xã hội Việt Nam, đồng thời, đang phát huy ảnh hưởng rộng
lớn với toàn xã hội trên bước đường xây dựng đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Tác giả Ngô Đức Thịnh trong cuốn Quan niệm về Folklore [95] đề cập
đến các quan niệm, định nghĩa khác nhau về Folklore. Từ quan niệm về
Folklore ở Anh, Mỹ, các nước Mỹ Latinh đến quan niệm về Folklore ở Pháp,
Ý, Nga và một số nước Đông Âu; các quan niệm về Folklore của Mác,
Ăngghen, Lênin, của các nhà lãnh tụ, các học giả và các nhà văn hóa Việt
Nam... được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, súc tích. Qua đó, người đọc có được
những kiến thức cơ bản về Folklore, như Folklore là gì, Folklore bao gồm
những thành tố gì... [95, tr. 10] Công trình này góp phần giúp ích không nhỏ


14
cho giới nghiên cứu Folklore nói riêng, cho giới nghiên cứu khoa học xã hội
nói chung.
Cuốn sách Văn hóa dân gian - những lĩnh vực nghiên cứu do các tác
giả Nguyễn Xuân Kính, Lê Ngọc Canh và Ngô Đức Thịnh chủ biên [54] là

cuốn sách tập hợp những bài viết về lịch sử Folklore, lý luận Folklore và
phương pháp luận nghiên cứu Folklore. Điểm nổi bật của cuốn sách là xác
định nét đặc thù cơ bản của Folklore là một nghệ thuật nguyên hợp, gồm
nhiều thành tố gắn bó hữu cơ với nhau, từ đó xác định phương pháp nghiên
cứu cơ bản là phương pháp tổng hợp [54, tr. 8].
Tác giả Lê Ngọc Canh với cuốn Văn hóa dân gian Việt Nam - những
thành tố [7] đã giới thiệu công phu, đề cập khá tỉ mỉ về những thành tố
Folklore Việt Nam. Công trình giới thiệu những vấn đề lý luận về thành tố
văn hhoádân gian, khảo sát những đặc điểm môi trường của các thành tố này,
cũng như khảo cứu cụ thể từng thành tố. Điểm đáng quý ở công trình này là
qua việc khảo cứu các thành tố Folklore Việt Nam, tác giả đã cố gắng đưa ra
những dẫn chứng, tư liệu quý của một số tộc người ở nước ta.
Trong các công trình của các học giả nêu trên, người đọc có thể hiểu
được những nét cơ bản về Folklore Việt Nam. Đó là những tri thức về khái
niệm, đặc trưng, thể loại của Folklore, là những tri thức về nguồn gốc, bản
chất của văn hóa dân gian Việt Nam. Qua đó, các tác giả cũng giúp chúng ta
hiểu được văn hóa dân gian chính là cội nguồn, là bản sắc của văn hóa dân
tộc. Văn hóa dân gian gắn với lịch sử lâu đời của dân tộc, là nguồn sản sinh
và tiếp tục nuôi dưỡng văn hóa dân tộc.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về Folklore hay văn hóa dân
gian cho chúng ta cái nhìn đa chiều về các thành tố hợp thành bản sắc văn hóa
Việt. Tuy nhiên, các tác phẩm chủ yếu phân tích đặc trưng của loại hình văn
hóa dân gian mà nó đề cập, hoặc là giá trị của văn hóa dân gian trong đời sống


15
xã hội đương đại, mà rất ít, thậm chí bỏ qua việc tìm hiểu nhân sinh quan
người Việt thể hiện như thế nào qua văn hóa dân gian. Đó chính là nhiệm vụ
của luận án này.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN SINH QUAN NGƯỜI

VIỆT QUA LỄ HỘI DÂN GIAN VÀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN

Trên thực tế, các công trình nghiên cứu về từng lĩnh vực, từng loại hình
của Folklore vô cùng phong phú và đa dạng, bởi bản thân mỗi một loại hình
văn hóa dân gian đã là một kho tri thức mà chúng ta chưa hiểu hết được. Do
đó, để tổng thuật tất cả các công trình nghiên cứu về các loại hình văn hóa dân
gian là một việc làm đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Trong giới hạn cho
phép, chúng tôi chỉ đi vào những mảng vấn đề lớn, liên quan hoặc trực tiếp
bàn đến nhân sinh quan người Việt qua một số loại hình của Folklore (trong
khuôn khổ luận án, chúng tôi lựa chọn hai loại hình Folklore để khảo cứu là lễ
hội dân gian và tín ngưỡng dân gian).
1.2.1. Nhóm công trình bàn về nhân sinh quan của người Việt qua
lễ hội dân gian
Tác giả Thuận Hải trong cuốn Bản sắc văn hóa lễ hội: văn hóa dân
gian đặc sắc qua những lễ hội dân gian trong năm [31] đã khẳng định lễ hội
là một hình thức sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất,
tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, tâm linh và đời thường…, là sinh
hoạt có sức hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội.
Không những thế, lễ hội là những sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật
truyền thống của cộng đồng, mà thông qua đó, có thể hiểu được giá trị tinh
thần và những triết lý sâu sắc của nền văn hóa của một quốc gia.
Tiếp tục hành trình khai quật “lối cũ lề xưa” trong đời sống của người
Việt Nam, trong cuốn Hội hè đình đám [4], học giả Toan Ánh nói về những
niềm vui của một thời đơn sơ, những ý niệm tôn giáo lẫn những nỗi niềm
khao khát gửi gắm, những nỗi sợ hãi và cả những sự ghi ơn,... Vừa mang tính


16
tâm linh trang nghiêm, vừa là chốn vui chơi trần tục, hội hè là sự phản chiếu
thú vị và đa chiều nhất về văn hóa người Việt xưa.

Cuốn Văn hóa lễ hội dân gian cộng đồng các dân tộc Việt Nam của tác
giả Nguyễn Hải Yến [122] giúp người đọc nắm bắt một cách có hệ thống,
toàn diện những nghi thức, nghi lễ và nội dung của các lễ hội, các hình thái tín
ngưỡng dân gian của các dân tộc Việt Nam. Qua đó, có thể thấy rõ vai trò
quan trọng của lễ hội đối với đời sống tinh thần của cộng đồng, để từ đó biết
trân trọng, kế thừa phát huy những cái hay, nét đẹp của chúng, góp phần xây
dựng nền văn hóa các dân tộc Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Các nhà khoa học Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng trong cuốn Lễ hội
dân gian trong đời sống xã hội hiện tại [58] nhấn mạnh đến những mặt tích
cực và tiêu cực của sự phát triển trở lại của các lễ hội dân gian. Các tác giả
nêu ra một số quan điểm đang phổ biến khi đánh giá về sự phát triển trở lại
của lễ hội gồm: 1/Những ý kiến không tán thành với sự phát triển trở lại này
vì cho rằng việc ấy gây nên lãng phí tiền của, thời gian; 2/Những ý kiến cho
rằng sự phát triển của lễ hội gây ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội do nó liên
quan đến các hiện tượng mê tín dị đoan; 3/Một số nhà nghiên cứu phê phán sự
pha tạp giữa các yếu tố truyền thống và các yếu tố hiện đại, coi đây là những
sự lai căng, cần phải loại bỏ [58, tr. 27-28]. Qua đó, các tác giả khẳng định
phải gìn giữ, phát huy những giá trị tích cực của lễ hội dân gian cũng như phải
gạn lọc, loại bỏ những phản giá trị nảy sinh từ hoạt động lễ hội trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tác giả Ngô Đức Thịnh trong bài viết “Những giá trị của lễ hội cổ
truyền trong đời sống xã hội hiện nay” [97] khẳng định việc tổ chức lễ hội
nhằm giáo dục truyền thống văn hóa, chống ngoại xâm, xây dựng đất nước,
quê hương, tri ân và tôn vinh những người có công khai phá dựng thôn, xóm,
bản, mường, các vị tổ nghề… Lễ hội chính là bảo tàng sống về sinh hoạt văn
hóa tinh thần của nhân dân qua mỗi giai đoạn lịch sử. Thông qua việc tổ chức


17
lễ hội, nhiều bộ môn nghệ thuật, diễn xướng dân gian được phục hồi, tác động

sâu sắc đến tình cảm, góp phần xây dựng tính cách con người Việt Nam, giáo
dục truyền thống tự hào, tự tôn với quê hương, đất nước.
Bài viết “Hội lễ dân gian và sự phản ánh những truyền thống của dân
tộc” của tác giả Đinh Gia Khánh [57] nhấn mạnh lễ hội phản ánh những sinh
hoạt, những khát vọng cùng tài năng của nhân dân về nhiều mặt của đời sống;
đồng thời, thông qua lễ hội, trí tuệ, đạo lý, tình cảm, khuynh hướng thẩm mỹ
của nhân dân được toả sáng. Lễ hội đáp ứng một cách hiện thực, hiệu quả đời
sống văn hóa tinh thần của nhân dân trong tổ chức các nghi lễ và hưởng thụ
các hoạt động “hội”, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các vùng,
miền, tri ân công đức các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, các bậc tiền
bối đã có công dựng nước và giữ nước. Qua sinh hoạt lễ hội, nhân dân được
hưởng thụ và sáng tạo văn hóa.
Khảo cứu các công trình nghiên cứu về lễ hội nói chung, chúng tôi
nhận thấy, mặc dù đa số các tác phẩm chỉ miêu tả diện mạo của lễ hội hoặc
nêu lên ý nghĩa, biểu trưng của lễ hội, song lẩn khuất đâu đó vẫn là những
quan niệm sống, triết lý sống mà ông cha ta muốn gửi gắm thông qua các lễ
hội, đặc biệt là qua các lễ hội nông nghiệp.
Cuốn sách Lễ hội nông nghiệp Việt Nam của tác giả Lê Văn Kỳ [67] đã
phân tích lễ hội nông nghiệp theo từng mục đích của lễ hội như: cầu nước,
cầu đất, cầu lúa, cầu phồn thực... với rất nhiều dẫn chứng, minh hoạ sinh
động. Có thể nói, đây là công trình cung cấp cái nhìn khá toàn diện về các lễ
hội nông nghiệp ở Việt Nam với những ý nghĩa sâu sắc của đối tượng thờ,
biểu hiện sinh động của nghi thức thờ, sự phong phú của nội dung thờ..., qua
đó giúp chúng ta thêm hiểu biết về tâm, ý, ước vọng của người xưa gửi gắm
trong các lễ hội nhà nông.
Cũng bàn về lễ hội nông nghiệp, nhóm tác phẩm “Lễ cầu ngư của làng
ven biển” của Lê Trung Vũ [118], “Lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây


18

Bắc Việt Nam” của Vũ Thị Hoa [45], “Lễ đón mẹ lúa của người Khơmú” của
Hà Lâm Kỳ [66], “Lễ rửa lá lúa trong cư dân Mường” của Trần Chí Quang
[83], “Lễ hội chuyển mùa của người Chăm” của Ngô Văn Doanh [16], “Lễ
hội Lồng thồng của dân tộc Tày ở Lạng Sơn” của Hòang Văn Páo [80]... là
những công trình ít nhiều đề cập đến triết lý sống của người Việt qua các lễ
hội nông nghiệp. Dễ dàng nhận thấy, qua các tác phẩm này, nhân sinh quan
người Việt toát lên trong từng nghi lễ, cách thức cầu mùa. Nó thể hiện sự
mong ước của người dân về một năm mưa thuận gió hòa, về một vụ mùa bội
thu, nhưng ẩn chứa sâu xa trong đó là thái độ tôn trọng tự nhiên, một phương
thức sống “hòa hợp” với thiên nhiên của cha ông ta.
Nhìn chung, nhóm công trình nêu trên cho chúng ta cái nhìn tương đối
đa chiều về lễ hội dân gian trên các vùng miền Việt Nam. Các công trình chú ý
khai thác những giá trị tích cực mà lễ hội mang lại cho cộng đồng, xã hội, đồng
thời cũng liệt kê những yếu tố tiêu cực phát sinh từ chính các lễ hội dân gian,
qua đó, thể hiện phần nào quan niệm, lối sống, cách tư duy của người Việt
truyền thống và hiện tại. Tuy nhiên, bàn sâu về triết lý sống của người Việt qua
các lễ hội dân gian dường như còn là “khoảng trống” chưa được lắp đầy, đó
cũng chính là kỳ vọng của chúng tôi khi triển khai nghiên cứu đề tài này.
1.2.2. Nhóm công trình bàn về nhân sinh quan của người Việt qua
tín ngưỡng dân gian
Bộ sách Tín ngưỡng Việt Nam (quyển Hạ) và Nếp cũ tín ngưỡng Việt
Nam (quyển Thượng) của tác giả Toan Ánh [2], [3] giúp người đọc có thêm
những hiểu biết cần thiết về cội nguồn dân tộc, về những phong tục, tập quán,
lễ nghĩa phong hóa xưa nay của cha ông ta. Qua đó, chúng ta có dịp ôn lại lai
lịch và sự tiến hóa của dân tộc trên con đường dựng nước và giữ nước, khởi
nguồn từ cá nhân từng con người riêng biệt từ lúc sinh ra đến khi về cõi vĩnh
hằng, từ cuộc sống mỗi gia đình đến họ tộc, mở rộng đến làng xóm, rồi cả
quốc gia. Bộ sách chỉ ra cho chúng ta những bài học hay, biết gạn lọc cái dở,



19
những tệ tục mê tín, dị đoan, hủ lậu... đã tạo thói vị kỷ, xấu xa của con người,
nhằm vươn tới chân thiện mỹ, đồng thời là những ứng xử linh hoạt, nhân hòa,
khoan dung của con người Việt Nam hiện đại.
Trong công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam do nhà
nghiên cứu Ngô Đức Thịnh chủ biên [98], ngoài một số quan điểm lý luận
liên quan tới tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng, các tác giả đi vào nghiên cứu
một số tín ngưỡng dân gian cụ thể, nổi bật là tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của
các gia tộc, dòng họ và trên bình diện quốc gia - dân tộc là thờ cúng Quốc tổ
Hùng Vương. Đây là một hình thức tín ngưỡng nhằm thắt chặt quan hệ huyết
thống của gia đình và dòng họ, phổ biến rộng khắp ở người Kinh và một số
dân tộc thiểu số. Cũng trong công trình nghiên cứu này, các tác giả còn đề cập
tới khái niệm văn hóa tôn giáo tín ngưỡng, biểu hiện trên các hình thức khác
nhau của sinh hoạt tâm linh của cộng đồng, như nhạc lễ, hát thờ, múa thiêng,
tranh thờ, giáng bút, diễn xướng, nghi lễ, lễ hội... giúp chúng ta thấy được
mối quan hệ chặt chẽ giữa các hình thức nghệ thuật tín ngưỡng và nghệ thuật
đời thường, qua đó tâm thức dân tộc được thể hiện sinh động qua các loại
hình tín ngưỡng dân gian.
Tín ngưỡng và phong tục Việt Nam mang giá trị nhân sinh sâu sắc, trở
thành sợi dây nối liền con người với con người, có tác dụng liên kết cộng
đồng, tạo nên sức mạnh đoàn kết vô cùng rộng lớn. Với ý nghĩa đó, công trình
Tản mạn về tín ngưỡng và phong tục tập quán của người Việt do Khai Đăng
sưu tầm và biên soạn [25] gồm 3 chương: Chương 1 khái quát về văn hóa
Việt Nam, trong đó trình bày việc nhận diện văn hóa Việt Nam, lớp văn hóa
bản địa, lớp văn hóa ngoại sinh; Chương 2 bàn về tín ngưỡng của người Việt;
Chương 3 giới thiệu phong tục truyền thống của người Việt như hôn nhân,
tang ma, lễ tết và lễ hội… đã phần nào nói lên được ý nghĩa của tín ngưỡng,
phong tục Việt Nam đối với đời sống của người Việt Nam.
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam bao gồm một hệ thống các tín ngưỡng
vô cùng phong phú và đa dạng, loại hình tín ngưỡng nào cũng ẩn chứa những



20
minh triết của người xưa, đồng thời cũng phản ánh nhu cầu, tâm thức của dân
tộc. Trong giới hạn của luận án, chúng tôi chỉ có điều kiện khảo cứu 3 loại
hình tín ngưỡng là tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng phồn thực và tín ngưỡng
thờ nhiên thần ở Việt Nam, nhưng có thể coi là những tín ngưỡng tiêu biểu
cho giá trị Việt, văn hóa Việt, qua đó ta hiểu thêm văn hóa tâm linh và những
quy phạm đạo đức của dân tộc gói ghém trong các nghi lễ, phong tục.
Mặc dù không bàn nhiều về nhân sinh quan của người Việt Nam qua
tín ngưỡng thờ Mẫu, nhưng khi tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi không thể bỏ
qua bộ sách Đạo Mẫu Việt Nam tập 1 và tập 2 của nhà nghiên cứu văn hóa
dân gian Ngô Đức Thịnh [100], [101]. Công trình đã nghiên cứu và hệ thống
khá đầy đủ, toàn diện về đạo Mẫu ở nước ta, đi sâu nghiên cứu đạo Mẫu từ
khía cạnh xã hội và con người, từ cộng đồng tới cá nhân. Đặc biệt, Giáo sư
Ngô Đức Thịnh đã làm nổi bật ý nghĩa của tín ngưỡng thờ Mẫu trong đời
sống tâm linh của người Việt, coi nó như một thứ “tôn giáo bản địa” gắn chặt
với nhu cầu và tâm thức của mỗi một người dân Việt Nam.
Bài viết “Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt
Nam” của Giáo sư Đinh Gia Khánh [55] khẳng định tục thờ Mẫu mang căn
cơ văn hóa thờ phụng Việt cổ và di truyền theo chiều ngang không gian của
nhà - làng - nước và theo chiều dọc huyết thống gia tộc từ ngàn đời trong cấu
trúc xã hội nông nghiệp Việt Nam. Song, tác giả cũng lại nhận định một cách
biện chứng rằng, tín ngưỡng thờ Mẫu một mặt góp phần mang lại nhiều ý
nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, mặt khác, chính do xuất phát từ những điều
kiện và các yếu tố ấy đã làm cho dạng thức tín ngưỡng này nhuốm màu sắc
mê tín, nặng tính thần quyền, có thể đưa đến một số suy nghĩ sai lệch.
Giáo sư Trần Quốc Vượng trong bài viết “Nguyên lý mẹ của nền văn
hóa Việt Nam” [120] đã khẳng định việc thờ nữ thần có gốc gác đa dạng:
nhân thần, nhiên thần, thiên thần... - dù đã được dung hoá ở các cấp/mức độ

khác nhau với những văn hóa, tôn giáo bên ngoài - cũng chính là biểu tượng


21
thể hiện vị thế của người đàn bà Việt ảo - thực/thiêng - phàm trong đời sống
gia đình và xã hội. Có thể thấy, cơ tầng văn hóa sâu và lâu bền nhất của người
Việt thiên về tính nữ, với nguyên lý trọng âm (cả từ trong vô thức chứ không
chỉ ý thức).
Tác giả Thích Nguyên Hiền với bài viết Nguyên lý mẹ trong văn hóa và
tín ngưỡng Việt Nam [41] nhấn mạnh: người Việt Nam xem tất cả các thần
linh là các bà, khuynh hướng đề cao nữ tính ấy hòan toàn phù hợp với nền văn
minh nông nghiệp sau khi đã kết hợp nhuần nhuyễn thuyết âm - dương. Cuối
cùng, tác giả đi đến khẳng định, “âm tính” trở thành nền tảng tư duy của dân
tộc Việt Nam.
Luận án Tiến sĩ Triết học “Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ
Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ” của Nguyễn Hữu Thụ [104] đã
cung cấp cho người đọc cái nhìn khá đầy đủ những vấn đề lý luận chung về
tín ngưỡng thờ Mẫu, từ khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu, cơ sở hình thành và
tồn tại của tín ngưỡng thờ Mẫu cho tới ảnh hưởng của các tín ngưỡng nội
sinh và tôn giáo ngoại nhập đến tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam nói chung,
ở vùng đồng bằng Bắc bộ nói riêng. Một điểm đáng lưu ý trong luận án này
là đã đề cập đến một số khía cạnh nhân sinh trong tín ngưỡng thờ Mẫu của
người Việt, đặc biệt nhấn mạnh đến quan niệm về con người và thân phận
con người.
Tín ngưỡng phồn thực là loại hình tín ngưỡng cổ xưa của người Việt,
mang ý nghĩa đề cao khát vọng sinh sôi nảy nở không chỉ trong giới tự nhiên
mà còn ở con người. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều triết lý nhân sinh trong
tín ngưỡng phồn thực, do đó, không thể bỏ qua việc khảo cứu các tác phẩm về
đề tài phồn thực.
Tác giả Vũ Anh Tú với cuốn sách Tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội

dân gian người Việt ở Châu Thổ Bắc Bộ [117] đã phân tích nguồn gốc và bản
chất của tín ngưỡng phồn thực, coi đó là một hoạt động mang “tính thiêng”


×