TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
------ ------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG MẠNG LƯỚI CHỢ BÁN RAU
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
Tên sinh viên
: Trần Thị Thu Trang
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Lớp
: KT 51C
Niên khoá
: 2006 - 2010
Giảng viên hướng dẫn
: PGS.TS. Ngô Thị Thuận
HÀ NỘI - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, mọi số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin cam đoan, thời gian thực tập được thực hiện đúng với quy định
của nhà trường.
Hà Nội, ngày 24 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Trần Thị Thu Trang
i
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo
trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, các thầy cô giáo Khoa Kinh tế & Phát triển
nông thôn đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt tôi cả về kiến thức chuyên môn và
đạo đức con người trong suốt 4 năm học qua.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Ngô Thị
Thuận, Bộ môn Phân tích định lượng đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ
tôi tận tình trong quá trình thực tập để tôi có thể hoàn thành cuốn luận văn tốt
nghiệp này.
Tôi cũng xin cảm ơn các bác, các chú lãnh đạo của Ủy ban nhân dân thành
phố Thái Bình, các chú trong Ban quản lý các chợ Bồ Xuyên, chợ Đề Thám I,
chợ Quang Trung, chợ Đậu, chợ Tiền Phong, những người bán rau tại các chợ,
những người tiêu dùng rau tại thành phố Thái Bình đã tạo điều kiện thuận lợi,
giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và thu thập số liệu tại thành phố.
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người
thân, bạn bè – những người luôn ở bên, động viên tôi trong suốt quá trình học tập
cũng như nghiên cứu và hoàn thành báo cáo này.
Tuy nhiên, do thời gian có hạn và kinh nghiệm còn hạn chế nên không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Tôi mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy,
cô giáo và các bạn.
Hà Nội, ngày 24 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Trần Thị Thu Trang
ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài
“Nghiên cứu thực trạng mạng lưới chợ bán rau trên địa bàn thành phố
Thái Bình, tỉnh Thái Bình”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là đánh giá thực trạng hoạt động của mạng
lưới chợ bán rau trên địa bàn thành phố Thái Bình; Phân tích những điểm mạnh yếu, cơ
hội và thách thức của mạng lưới chợ bán rau từ đó đề xuất biện pháp chủ yếu nhằm ổn
định, phát triển các chợ nói chung và chợ bán rau nói riêng trên địa bàn thành phố cho
các năm tới.
Để thực hiện nghiên cứu này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp chủ yếu là
điều tra chọn mẫu, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh để so sánh giữa
các chợ, giữa các tác nhân tham gia buôn bán rau tại các chợ, phương pháp phân tích
SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của mạng lưới chợ ở
thành phố Thái Bình, làm căn cứ để đưa ra biện pháp nhằm ổn định, phát triển mạng
lưới chợ.
Những nội dung và kết quả chính của nghiên cứu:
1) Rau là loại thực phẩm không thể thiếu được trong cuộc sống con người, nhu
cầu tiêu dùng rau hàng ngày trung bình của mỗi người vào khoảng 250 - 300g (tức
khoảng 7,5 - 9 kg/người/tháng). Vì vậy cần phải tổ chức tốt việc sản xuất và tiêu thụ để
đáp ứng nhu cầu rau xanh của người dân.
2) Ở nước ta hình thức tiêu thụ rau rất phong phú bao gồm: chợ, bán rong, siêu
thị, cửa hàng bán rau; mỗi hình thức đều có những điểm mạnh, điểm yếu riêng.
3) Rau ở thành phố Thái Bình được tiêu thụ chủ yếu qua chợ. Tính đến năm
2009, toàn tỉnh Thái Bình có 288 chợ, trong đó 231 chợ đã quy hoạch chiếm 80,21%
tổng số chợ toàn tỉnh. Cùng năm, trên địa bàn thành phố Thái Bình, tổng số chợ là 25
chợ, trong đó số chợ đã quy hoạch là 14 chợ chiếm 6,06% tổng số chợ đã quy hoạch
toàn tỉnh, chiếm 56% tổng số chợ toàn thành phố. Đa số các chợ có quy mô trung bình
từ 2000 – 4000 m2, có tới 42,86% tổng số chợ có <100 người bán, chỉ có 28,57% tổng
số chợ có >200 người bán. Điều này cho thấy quy mô các chợ vẫn còn nhỏ, số lượng
người bán còn ít. Nguyên nhân là do đa số các chợ là chợ bán kiên cố (chiếm 64,29%),
đã được xây dựng lâu nên cơ sở vật chất của nhiều chợ xuống cấp (50% tổng số chợ đã
iii
được xây dựng >10 năm). Hiện tại, các chợ chủ yếu được quản lý theo hình thức Ban
quản lý, chợ quản lý theo mô hình doanh nghiệp còn ít (5 chợ, chiếm 35,71% tổng số
chợ đã quy hoạch), đặc biệt vẫn còn 2 chợ do tổ quản lý. Điều này ảnh hưởng đến hiệu
quả hoạt động của các chợ.
4) Thực trạng bán rau ở 5 chợ bán rau đại diện: chợ Bồ Xuyên, chợ Quang
Trung, chợ Đề Thám I, chợ Đậu, chợ Tiền Phong cho thấy: khối lượng tiêu thụ rau ở
các chợ bình quân một ngày lớn, đặc biệt là chợ bán buôn Bồ Xuyên (người bán buôn
bình quân tiêu thụ 700 – 800 kg/ngày, người thu gom bình quân 300 – 400 kg/ngày),
còn ở các chợ bán lẻ bình quân 70 – 90 kg/người/ngày. Doanh thu của những người
tham gia kinh doanh khá cao trong đó cao nhất là đối với cà chua: chợ bán buôn bình
quân 1047,5 nghìn đồng/người/ngày, chợ bán lẻ bình quân 127,57 nghìn
đồng/người/ngày.
5) Cơ sở vật chất của chợ còn nghèo nàn, mối quan hệ giữa các tác nhân còn
lỏng lẻo. Các chợ đã quy hoạch của thành phố Thái Bình chủ yếu là chợ bán lẻ, chợ
bán buôn, chợ đầu mối rất ít. Hiện tại mới chỉ có 1 chợ bán buôn rau Bồ Xuyên hình
thành tự phát. Lượng rau cung cấp cho thành phố thất thường, đặc biệt vào thời điểm
giáp vụ và trái vụ, phải nhập ở những tỉnh khác như Hà Nội, Nam Định… hay từ Trung
Quốc. Đây là nguyên nhân chính làm cho giá rau lên xuống thất thường và ảnh hưởng
đến chất lượng rau.
6) Việc bố trí, sắp xếp các mặt hàng kinh doanh còn chưa hợp lý, tình trạng vừa
thừa, vừa thiếu mặt bằng kinh doanh diễn ra ngay trong một chợ. Đặc biệt, diện tích
dành cho bán rau còn ít, diện tích bình quân 1 người bán rau quả chỉ khoảng 3,5 m 2.
Tại một số chợ, công tác quản lý hoạt động kinh doanh chưa có hiệu quả cao, chưa
phát huy hết chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định. Chưa thực hiện
nghiêm pháp lệnh giá, niêm yết giá tại chợ, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm,
phòng cháy chữa cháy. Sắp xếp chỗ bán hàng chưa hợp lý, còn lấn chiếm đường đi
trong chợ để bán hàng…Việc xử lý vi phạm còn hạn chế và chưa kịp thời.
Các kênh tiêu thụ rau hình thành rất nhiều, do nhiều nguồn cung cấp khác nhau
nên rất khó kiểm soát. Việc kiểm soát chất lượng rau rất hạn chế, các dụng cụ kiểm tra
nhanh còn thiếu. Giấy chứng nhận rau theo quy trình an toàn còn ít, người mua chủ yếu
iv
dựa vào lòng tin. Phương tiện vận chuyển chủ yếu là xe thồ, xe máy, chưa có phương
tiện bảo quản rau.
Mối quan hệ giữa sản xuất và thị trường còn lỏng lẻo, các ràng buộc về khối
lượng, chất lượng, an toàn thực phẩm, thời điểm cung cấp… chưa có sự cam kết giữa
người sản xuất, người trung gian và người tiêu dùng trong việc tiêu thụ.
7) Tiêu thụ rau ở các chợ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như dân số, thu nhập
dân cư, giá bán, trình độ văn hóa… và cách thức tổ chức, quản lý chợ. Tốc độ tăng dân
số bình quân hàng năm của thành phố giai đoạn 2005 – 2009 là 1,03%. Theo dự báo về
dân số của thành phố Thái Bình, do quá trình đô thị hóa và phát triển du lịch nên tốc độ
tăng dân số từ nay đến năm 2015 sẽ tăng lên khoảng 372.000 người. Đến năm 2015 dự
báo mức tiêu dùng bình quân nhân khẩu đô thị của Thái Bình là 97 kg rau/năm. Như
vậy nhu cầu rau đến năm 2015 của thành phố Thái Bình đạt 36,08 nghìn tấn rau/năm.
GDP bình quân đầu người (theo giá thực tế) năm 2015 đạt khoảng 58,6 triệu
đồng/người.
8) Những biện pháp nhằm phát triển mạng lưới chợ nói chung và chợ bán rau
nói riêng là: thực hiện quy hoạch mạng lưới chợ, hoàn thiện ban quản lý chợ, đầu tư
xây dựng, nâng cấp các chợ, đặc biệt là xây dựng chợ bán buôn, phát triển sản xuất rau
đảm bảo lượng rau cung cấp cho thành phố, bố trí hợp lý hệ thống phân phối rau, tổ
chức sơ chế, bảo quản rau, kiểm soát chất lượng rau, giá cả…
v
MỤC LỤC
Lời cam đoan................................................................................................................i
Lời cảm ơn...................................................................................................................ii
Tóm tắt khoá luận.......................................................................................................iii
Mục lục.......................................................................................................................vi
Danh mục các bảng....................................................................................................ix
Danh mục sơ đồ, đồ thị, hình ảnh...............................................................................x
Danh mục các từ viết tắt.............................................................................................xi
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tốc độ phát triển sản xuất rau trên thế giới giai đoạn 1998 – 2002..........................24
Bảng 2.2: Sản lượng rau trên thế giới........................................................................................25
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng rau phân theo vùng.................................................27
Bảng 2.4: Tỷ lệ tiêu thụ từng sản phẩm theo vùng....................................................................29
Bảng 2.5: Số lượng chợ cả nước đến năm 2005........................................................................32
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu phản ánh tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Thái
Bình............................................................................................................................................44
Bảng 4.1: Số lượng chợ bán rau của tỉnh Thái Bình đến năm 2009..........................................54
Bảng 4.2: Phân loại các chợ quy hoạch của thành phố Thái Bình theo diện tích......................56
Bảng 4.3: Phân loại các chợ đã quy hoạch của thành phố Thái Bình theo số người bán hàng. 58
Bảng 4.4: Phân loại các chợ đã quy hoạch của thành phố Thái Bình theo thời gian thành lập,
cơ sở vật chất và hình thức quản lý............................................................................................59
Bảng 4.5: Kết quả thu lệ phí, nộp ngân sách của các chợ quy hoạch trên địa bàn thành phố
Thái Bình năm 2008...................................................................................................................61
Bảng 4.6: Một số đặc trưng cơ bản của 5 chợ bán rau trên địa bàn thành phố Thái Bình.........63
Bảng 4.7: Chức năng, nhiệm vụ của các thành viên trong Ban quản lý chợ theo hình thức Ban
quản lý........................................................................................................................................68
Bảng 4.8: Chức năng, nhiệm vụ của các thành viên Ban quản lý chợ theo hình thức doanh
nghiệp quản lý............................................................................................................................70
Bảng 4.9: Tỷ trọng số người tham gia kinh doanh các mặt hàng trong chợ..............................72
Bảng 4.10: Diện tích mặt bằng bình quân/người bán của các chợ điều tra trên địa bàn thành
phố Thái Bình............................................................................................................................73
Bảng 4.11: Lượng rau tươi mua bán bình quân/ngày của 1 người kinh doanh ở chợ bán buôn
Bồ Xuyên...................................................................................................................................77
Bảng 4.12: Giá một số loại rau ở chợ bán buôn Bồ Xuyên.......................................................78
Bảng 4.13: Doanh thu bán rau bình quân 1 ngày của người bán tại chợ bán buôn Bồ Xuyên. .80
Bảng 4.14: Kết quả thăm dò ý kiến của người bán ở chợ bán buôn Bồ Xuyên về thuận lợi, khó
khăn và các kiến nghị.................................................................................................................80
Bảng 4.15: Khối lượng rau tiêu thụ bình quân 1 ngày 1 người bán lẻ ở các chợ bán lẻ............82
Bảng 4.16: Giá bán lẻ một số loại rau theo vị trí chợ................................................................84
Bảng 4.17: Ý kiến về đối tượng khách hàng của những người bán lẻ tại các chợ bán lẻ ở thành
phố Thái Bình............................................................................................................................85
Bảng 4.18: Doanh thu bán rau bình quân 1 ngày của người bán lẻ tại các chợ bán lẻ thành phố
Thái Bình...................................................................................................................................86
Bảng 4.19: Kết quả thăm dò ý kiến của người bán lẻ ở các chợ bán lẻ và các kiến nghị..........87
Bảng 4.20: Tổng thu hàng tháng của Ban quản lý chợ..............................................................89
vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, ẢNH
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức mô hình chợ có Ban quản lý............................................................14
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức quản lý chợ doanh nghiệp kinh doanh khai thác quản lý chợ.........16
Sơ đồ 2.3: Các cấp kênh phân phối............................................................................................20
Sơ đồ 4.1: Cơ cấu tổ chức quản lý chợ theo mô hình Ban quản lý............................................67
Sơ đồ 4.2: Cơ cấu tổ chức quản lý chợ theo hình thức doanh nghiệp kinh doanh khai thác chợ
....................................................................................................................................................69
Đồ thị 4.1: Tình hình biến động giá bán ra một số loại rau ở chợ bán buôn Bồ Xuyên............79
Đồ thị 4.2: Tình hình biến động giá bán lẻ một số loại rau.......................................................84
Ảnh 4.1: Chợ Đậu quản lý theo mô hình Ban quản lý...............................................................66
Ảnh 4.2: Chợ Quang Trung quản lý theo hình thức doanh nghiệp kinh doanh khai thác chợ. .68
viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQL
BTB
CNH – HĐH
CN – XD
DT
ĐBSCL
ĐBSH
ĐNB
ĐVT
GTSX
HCM
HTX
MNPB
NS
NTB
KT – XH
SL
TM – DV
TN
TP khác
Tr.đ
Tr.USD
UBND
Ban quản lý
Bắc Trung Bộ
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Công nghiệp – Xây dựng
Diện tích
Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Hồng
Đông Nam Bộ
Đơn vị tính
Giá trị sản xuất
Hồ Chí Minh
Hợp tác xã
Miền núi phía Bắc
Năng suất
Nam Trung Bộ
Kinh tế - xã hội
Sản lượng
Thương mại – dịch vụ
Tây Nguyên
Thành phố khác
Triệu đồng
Triệu đô la
Ủy ban nhân dân
ix
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Rau quả là loại thức ăn thiết yếu của con người. Rau quả cung cấp cho con
người nhiều vitamin và muối khoáng. Gluxit của rau quả chủ yếu là các thành phần
đường dễ tiêu hóa. Hàm lượng chất đạm trong rau quả tuy ít nhưng có vai trò quan
trọng trong trao đổi chất và dinh dưỡng. Chất béo trong rau quả không nhiều nhưng
dễ tiêu và có những axit béo không thể thay thế được. Rau quả còn cung cấp cho cơ
thể chất xơ, có tác dụng giải các độc tố phát sinh trong quá trình tiêu hóa thức ăn và
có tác dụng chống táo bón... Do vậy, trong chế độ dinh dưỡng của con người, rau quả
không thể thiếu và ngày càng quan trọng [30]. Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu
quốc tế về chính sách đối với thực phẩm IFPRI (2002) và Trung tâm Tin học - Thống
kê ICARD (2004), hầu hết các hộ đều tiêu thụ rau rất mạnh, và có tới 93% hộ tiêu thụ
quả. Các loại rau quả được tiêu thụ rộng rãi nhất là rau muống (95% số hộ tiêu thụ), cà
chua (88%) và chuối (87%) [29]. Hộ gia đình Việt Nam tiêu thụ trung bình 71 kg rau
quả cho mỗi người mỗi năm, trong đó tiêu thụ rau chiếm tới 3/4 [31]. Những năm gần
đây, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng khá, đời sống nhân dân được cải thiện, nhu cầu
tiêu dùng rau quả ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại.
Với truyền thống thâm canh trong nông nghiệp, Thái Bình không chỉ đạt
năng suất lúa 12 - 13 tấn/ha (với sản lượng trên một triệu tấn/năm) mà còn là địa
phương sản xuất rau màu với sản lượng lớn; mỗi năm tiêu thụ ở các tỉnh bạn
400.000 - 500.000 tấn. Từ năm 2002 đến nay, diện tích rau hàng năm đạt 25.466 ha,
cao nhất là hai năm 2004 và 2005: gần 28.000 ha. Chủng loại rau khá phong phú,
các nhóm rau có chất lượng, giá trị kinh tế cao ngày càng được đưa vào sản xuất
nhiều như: dưa chuột, dưa hấu, dưa gang, ớt, khoai tây xuân, cà chua, hành tỏi, bắp
cải, cải cuốn, su hào... Điều đáng ghi nhận hơn là diện tích sản xuất rau tập trung
(quy vùng 5 - 10 ha) 5 - 6 vụ/năm phân bố trên địa bàn hầu khắp các huyện, thành
phố [25].
Thành phố Thái Bình có hơn 140 ngàn dân, ngoài ra còn hàng chục ngàn
công nhân đang làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp ở các khu công nghiệp và cụm
công nghiệp. Hàng chục ngàn sinh viên đang học tại các trường đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Do vậy, nhu cầu tiêu dùng các loại thực
1
phẩm trong đó có rau là lớn nhất trong tỉnh. Rau là những sản phẩm chủ yếu được
sử dụng tươi có hàm lượng nước cao nên dễ bị thối, hỏng, dập nát. Tổ chức bảo quản
tốt và tiêu thụ nhanh có ý nghĩa đảm bảo được chất lượng, giảm tỷ lệ hao hụt góp phần
nâng cao hiệu quả kinh tế. Do nhận thức đúng vai trò của chợ trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội và được sự quan tâm của các cấp, các ngành, các địa phương năm 2003
Thái Bình đã triển khai thực hiện dự án quy hoạch phát triển mạng lưới chợ giai đoạn
2003 – 2015 nhằm đáp ứng nhu cầu dân sinh, tiêu thụ hàng hóa nông sản thực phẩm
góp phần đẩy mạnh sản xuất và phục vụ tốt đời sống nhân dân, bước đầu đã phát huy
được những tác dụng tích cực. Mạng lưới chợ trên địa bàn đã phát triển khá nhanh
chóng, đóng vai trò quan trọng trong việc lưu thông hàng hóa, phục vụ tốt sản xuất, đáp
ứng nhu cầu dân sinh, góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động, là nhân tố
quan trọng đối với phát triển KT - XH và giao lưu văn hóa trong vùng, mang lại nguồn
thu đáng kể cho ngân sách địa phương.
Bên cạnh đó, mạng lưới chợ bán rau của Thái Bình còn nhiều vấn đề bất cập
cần giải quyết. Đó là sự yếu kém về cơ sở vật chất, chợ tạm, chợ cóc còn tồn tại,
chợ họp lấn chiếm vỉa hè không đảm bảo an toàn giao thông. Việc cung cấp và điều
tiết rau trên địa bàn thành phố hiện tại chưa đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về
số lượng (lúc nhiều, lúc ít), chất lượng chưa đảm bảo. Sản phẩm rau tiêu thụ mang
tính thời vụ, công tác bảo quản không cho phép kéo dài thời gian cung cấp rau do đó
giá cả thường xuyên biến đổi. Thông tin về thị trường đối với những người tham gia
không đồng đều, cấu trúc thị trường còn đơn giản, nhiều nơi tiêu thụ rau chỉ là hoạt
động nhằm đáp ứng nhu cầu của cả người sản xuất và người tiêu dùng mà thiếu
những quy định cụ thể.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để khắc phục những tồn tại trên nhằm phát triển
mạng lưới chợ bán rau trên địa bàn thành phố Thái Bình? Cho đến nay đã có nhiều
công trình nghiên cứu về sản xuất và tiêu thụ rau nhưng những nghiên cứu về hoạt
động buôn bán ở các chợ nói chung và chợ bán rau nói riêng còn rất ít cần được
nghiên cứu tiếp, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào được tiến hành ở thành phố Thái
Bình. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu thực trạng mạng lưới chợ bán rau trên
địa bàn thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình” để nghiên cứu. Các câu hỏi được
đặt ra cho nghiên cứu này là:
2
- Thực trạng hoạt động của mạng lưới chợ bán rau trên địa bàn thành phố
Thái Bình những năm qua diễn ra như thế nào?
- Mạng lưới chợ đã đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, giải quyết được đầu ra
cho người sản xuất chưa?
- Việc tổ chức, quản lý mạng lưới chợ bán rau đã hợp lý, hiệu quả chưa?
- Những khó khăn, thuận lợi của các chợ bán rau trên địa bàn thành phố Thái
Bình đang gặp phải là gì?
- Những biện pháp nào cần được thực hiện nhằm ổn định, phát triển mạng
lưới chợ bán rau trên địa bàn thành phố Thái Bình?
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá đúng đắn thực trạng mạng lưới chợ bán rau mà đề xuất
định hướng một số biện pháp chủ yếu nhằm ổn định, phát triển các chợ bán rau trên
địa bàn thành phố Thái Bình.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về mạng lưới chợ nói chung, chợ bán rau
nói riêng.
- Đánh giá thực trạng hoạt động của mạng lưới chợ bán rau trên địa bàn
thành phố Thái Bình một số năm gần đây.
- Phân tích những điểm mạnh yếu, cơ hội và thách thức của mạng lưới chợ
bán rau ở thành phố Thái Bình.
- Đề xuất biện pháp chủ yếu nhằm ổn định, phát triển các chợ bán rau trên
địa bàn thành phố Thái Bình cho các năm tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính: đề tài tập trung nghiên cứu các chợ có bán rau
trên địa bàn thành phố Thái Bình.
- Đối tượng nghiên cứu bổ sung: những loại rau chính, những người tham gia
trên thị trường (người bán lẻ, người thu gom, người tiêu dùng...).
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi thành phố
Thái Bình, một số nội dung chuyên sâu được khảo sát ở một số chợ điển hình: chợ
Đề Thám I, chợ Bồ Xuyên, chợ Quang Trung, chợ Tiền Phong, chợ Đậu.
3
- Về nội dung nghiên cứu:
+ Đề tài tập trung đánh giá thực trạng hoạt động mạng lưới chợ bán rau của
thành phố Thái Bình.
+ Thông qua đó phân tích SWOT của các chợ nói chung và chợ bán rau nói
riêng.
+ Đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm ổn định, phát triển mạng lưới chợ
bán rau trên địa bàn thành phố.
- Về thời gian nghiên cứu:
+ Thông tin phục vụ cho việc đánh giá thực trạng hoạt động mạng lưới chợ
được thu thập từ năm 2007 – 2009, một số nội dung chuyên sâu được khảo sát vào
năm 2010.
+ Định hướng và biện pháp đến năm 2015.
4
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Lý luận về chợ nói chung
2.1.1.1 Khái niệm, đặc trưng của chợ
a) Khái niệm
Trên thực tế tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu mà có rất nhiều khái niệm khác nhau
về chợ:
- Theo định nghĩa trong các từ điển Tiếng Việt đang được lưu hành: “Chợ là nơi
công cộng để đông người đến mua bán vào những ngày hoặc những buổi nhất định”
[1]; “Chợ là nơi tụ họp giữa người mua và người bán để trao đổi hàng hoá, thực phẩm
hàng ngày theo từng buổi hoặc từng phiên nhất định (chợ phiên)...” [2].
- Theo Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương mại
hướng dẫn tổ chức và quản lý chợ “Chợ là mạng lưới thương nghiệp được hình
thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội”.
- Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát
triển và quản lý chợ “Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát
triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng
nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư”.
(1) Phạm vi chợ: là khu vực được quy hoạch dành cho hoạt động chợ, bao
gồm diện tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu vực dịch vụ (như: bãi để xe, kho
hàng, khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và đường bao quanh chợ.
(2) Chợ đầu mối: là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hàng hoá
lớn từ các nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng để
tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác.
(3) Điểm kinh doanh tại chợ: bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt, cửa hàng
được bố trí cố định trong phạm vi chợ theo thiết kế xây dựng chợ, có diện tích quy
chuẩn tối thiểu là 3 m2/điểm.
Từ những điểm hội tụ chung của nhiều định nghĩa, chúng tôi cho rằng: “Chợ
là một loại hình thương nghiệp, có tính truyền thống, một bộ phận của thị trường
xã hội, là nơi diễn ra tập trung các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ phong
5
phú của các thành phần kinh tế mà đa phần là kinh tế cá thể với các mặt hàng tiêu
dùng hàng ngày là chủ yếu. Đối tượng phục vụ là toàn thể các hộ dân cư thành phố
trên những địa điểm được chính quyền lựa chọn, quy định và cho phép hoạt động
theo từng mức độ khác nhau tùy theo các hoạt động của nền kinh tế - xã hội trong
từng thời kỳ”.
b) Đặc trưng của chợ
Chợ có những đặc trưng sau:
- Chợ là một nơi (địa điểm) công cộng để mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ
của dân cư, ở đó bất cứ ai có nhu cầu đều có thể đến mua, bán và trao đổi hàng hoá,
dịch vụ với nhau.
- Chợ được hình thành do yêu cầu khách quan của sản xuất và trao đổi hàng
hoá, dịch vụ của dân cư, chợ có thể được hình thành một cách tự phát hoặc do quá
trình nhận thức tự giác của con người. Vì vậy trên thực tế có nhiều chợ đã được
hình thành từ việc quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ của các cấp chính
quyền và các ngành quản lý kinh tế kỹ thuật. Nhưng cũng có rất nhiều chợ được
hình thành một cách tự phát do nhu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá của dân cư,
chưa được quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ.
- Các hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ tại chợ thường được diễn
ra theo một quy luật và chu kỳ thời gian (ngày, giờ, phiên) nhất định. Chu kỳ họp
chợ hình thành do nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ và tập quán của từng vùng,
từng địa phương quy định.
Để hình thành chợ cần có những yếu tố sau: Người bán, người mua có nhu cầu
trao đổi; có địa điểm trao đổi truyền thống hoặc làm mới được thừa nhận về pháp
lý; có những tập quán thương mại và quy tắc (nội quy chợ); có khả năng thu hút các
dịch vụ khác như hoạt động tín dụng, tiền tệ, thanh toán, du lịch, văn hoá...
c) So sánh chợ với siêu thị
Theo từ điển Kinh tế thị trường: “Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày bán
nhiều mặt hàng đáp ứng tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng như thực phẩm,
đồ uống, dụng cụ gia đình và các loại vật dụng cần thiết khác”.
6
Theo Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại của Bộ Công thương Việt Nam
ban hành ngày 24/9/2004: “Siêu thị là loại hình cử hàng hiện đại; kinh doanh tổng
hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, đảm
bảo chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật
và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh,
thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng”.
Như vậy, những nét đặc trưng cơ bản của siêu thị khác với chợ là:
- Siêu thị là một cửa hàng bán lẻ.
- Siêu thị áp dụng phương thức tự phục vụ.
- Giá ở siêu thị được niêm yết công khai.
- Siêu thị thường chú trọng ở nghệ thuật trưng bày hàng hoá.
- Siêu thị áp dụng các hình thức quản lý, bán hàng và thanh toán bằng những
tiến bộ của khoa học, công nghệ (tin học, điện tử, khoa học xã hội trong bán
hàng…).
2.1.1.2 Phân loại chợ
Hiện nay ở nước ta tồn tại rất nhiều các loại chợ khác nhau, dựa theo những
tiêu thức khác nhau ta có những cách phân loại sau:
a) Theo địa giới hành chính
Có hai loại chợ tồn tại theo tiêu thức này là chợ đô thị và chợ nông thôn:
* Chợ đô thị:
Là các loại chợ được tổ chức, tụ họp ở thành phố, thị xã, thị trấn. Do ở đây đời
sống và trình độ văn hoá có phần cao hơn ở nông thôn, cho nên các chợ thành phố
có tốc độ hiện đại hoá nhanh hơn, văn minh thương mại trong chợ cũng được chú
trọng, cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường, bổ sung và hoàn chỉnh. Phương
tiện phục vụ mua bán, hệ thống phương tiện truyền thông và dịch vụ ở các chợ này
thường tốt hơn các chợ ở khu vực nông thôn.
* Chợ nông thôn:
Là chợ thường được tổ chức tại trung tâm xã, trung tâm cụm xã. Hình thức
mua bán ở chợ đơn giản, dân dã (có nơi như ở một số vùng núi, người dân tộc thiểu
số vẫn còn hoạt động trao đổi bằng hiện vật tại chợ), các quầy, sạp có quy mô nhỏ
7
lẻ, manh mún. Nhưng ở các chợ nông thôn thể hiện đậm đà bản sắc truyền thống
đặc trưng ở mỗi địa phương, của các vùng lãnh thổ khác nhau.
b) Theo tính chất mua bán
Dựa theo tiêu thức này, ta có thể phân chia thành hai loại là chợ bán buôn và bán lẻ:
* Chợ bán buôn:
Là các chợ lớn, chợ trung tâm, chợ có vị trí là cửa ngõ của thành phố, thị xã,
thị trấn, có phạm vi hoạt động rộng, tập trung với khối lượng hàng hoá lớn. Hoạt
động mua bán chủ yếu là thu gom và phân luồng hàng hoá đi các nơi. Các chợ này
thường là nơi cung cấp hàng hoá cho các trung tâm bán lẻ, các chợ bán lẻ trong và
ngoài khu vực, nhiều chợ còn là nơi thu gom hàng cho xuất khẩu. Các chợ này có
doanh số bán buôn chiếm tỷ trọng cao (trên 60%), đồng thời vẫn có bán lẻ nhưng tỷ
trọng nhỏ.
* Chợ bán lẻ:
Là những chợ thuộc phạm vi xã, phường (liên xã, liên phường), cụm dân cư,
hàng hoá qua chợ chủ yếu để bán lẻ, phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng.
c) Theo đặc điểm mặt hàng kinh doanh
Có chợ tổng hợp và chợ chuyên doanh:
* Chợ tổng hợp:
Là chợ kinh doanh nhiều loại hàng hoá thuộc nhiều ngành hàng khác nhau.
Trong chợ tồn tại nhiều loại mặt hàng như: hàng tiêu dùng (quần áo, giày dép, các
mặt hàng lương thực thực phẩm, hàng gia dụng…), công cụ lao động nông nghiệp
(cuốc, xẻng, liềm búa…), cây trồng, vật nuôi…, chợ đáp ứng toàn bộ các nhu cầu
của khách hàng. Hình thức chợ tổng hợp này thể hiện khái quát những đặc trưng
của chợ truyền thống và ở nước ta hiện nay loại hình này vẫn chiếm ưu thế về số
lượng cũng như về thời gian hình thành và phát triển.
* Chợ chuyên doanh:
Là loại chợ chuyên kinh doanh một mặt hàng chính yếu, mặt hàng này
thường chiếm doanh số trên 60% đồng thời vẫn có bán một số mặt hàng khác,
các loại hàng này có doanh số dưới 40% tổng doanh thu. Hình thức chợ này cũng
tồn tại ở nước ta như chợ vải, chợ hoa tươi, chợ vật liệu xây dựng, chợ rau quả,
chợ giống cây trồng…
8
d) Theo số lượng hộ kinh doanh, vị trí và mặt bằng của chợ
Dựa theo cách phân loại trong Điều 3 Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính
phủ về phát triển và quản lý chợ thì chợ được chia thành 3 loại: chợ loại 1, chợ loại 2
và chợ loại 3.
* Chợ loại 1 là chợ phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
- Là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại
theo quy hoạch;
- Được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của tỉnh, thành
phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và được tổ chức họp
thường xuyên;
- Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức
đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá,
dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực phẩm
và các dịch vụ khác.
* Chợ loại 2 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:
- Là chợ có trên 200 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc là
bán kiên cố theo quy hoạch;
- Được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họp
thường xuyên hay không thường xuyên;
- Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức
các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng
hoá, dịch vụ đo lường.
* Chợ loại 3 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:
- Là chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư xây
dựng kiên cố hoặc bán kiên cố;
- Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã, phường
và địa bàn phụ cận.
e) Theo tính chất và quy mô xây dựng
Theo tiêu chí này, chợ được chia thành chợ kiên cố, chợ bán kiên cố và chợ tạm:
* Chợ kiên cố:
Là chợ được xây dựng hoàn chỉnh với đủ các yếu tố của một công trình kiến
trúc, có độ bền sử dụng cao (thời gian sử dụng trên 10 năm). Chợ kiên cố thường là
9
chợ loại 1 có diện tích đất hơn 10.000 m2 và chợ loại 2 có diện tích đất từ 6000 - 9000
m2. Các chợ kiên cố lớn thường nằm ở các tỉnh, thành phố lớn, các huyện lỵ, thị trấn
và có thời gian tồn tại lâu đời, trong một thời kỳ dài và là trung tâm mua bán của cả
vùng rộng lớn.
* Chợ bán kiên cố:
Là chợ chưa được xây dựng hoàn chỉnh. Bên cạnh những hạng mục xây dựng
kiên cố (tầng lầu, cửa hàng, sạp hàng) còn có những hạng mục xây dựng tạm như
lán, mái che, quầy bán hàng…, độ bền sử dụng không cao (dưới 10 năm) và thiếu
tiện nghi. Chợ bán kiên cố thường là chợ loại 3, có điện tích đất 3000 - 5000 m 2.
Chợ này chủ yếu phân bổ ở các huyện nhỏ, khu vực thị trấn xa xôi, chợ liên xã, liên
làng, các khu vực ngoài thành phố lớn.
* Chợ tạm:
Là chợ mà những quầy, sạp bán hàng là những lều quán được làm có tính chất
tạm thời, không ổn định, khi cần thiết có thể dỡ bỏ nhanh chóng và ít tốn kém. Loại
chợ này thường hay tồn tại ở các vùng quê, các xã, các thôn, có chợ được dựng lên
để phục vụ trong một thời gian nhất định (như tết, lễ hội…).
2.1.1.3 Vai trò của chợ trong phát triển kinh tế - xã hội nước ta hiện nay
Trong những năm qua, mạng lưới chợ ở nước ta đóng vai trò rất quan trọng
trong phát triển KT - XH đặc biệt là từ thập niên 80 và những năm đầu của thập
niên 90. Đây là giai đoạn mà mạng lưới siêu thị và trung tâm thương mại chưa hình
thành và phát triển, chợ vẫn là nơi tiêu thụ hàng hóa chủ yếu của các doanh nghiệp
sản xuất cũng như là nơi mua sắm chủ yếu của người dân. Tuy nhiên, hiện nay chợ
vẫn giữ một vai trò rất quan trọng thể hiện trên các mặt sau:
a) Về mặt kinh tế
Chợ là một bộ phận quan trọng trong cấu thành mạng lưới thương nghiệp xã hội:
- Đối với vùng nông thôn: Chợ vừa là nơi tiêu thụ nông sản hàng hoá, tập trung
thu gom các sản phẩm, hàng hoá phân tán, nhỏ lẻ để cung ứng cho các thị trường
tiêu thụ lớn trong và ngoài nước, vừa là nơi cung ứng hàng công nghiệp tiêu dùng
cho nông dân và một số loại vật tư cho sản xuất nông nghiệp ở nông thôn.
- Ở khu vực thành thị: Chợ cũng là nơi cung cấp hàng hoá tiêu dùng, lương thực
thực phẩm chủ yếu cho các khu vực dân cư. Tuy nhiên hiện nay đã xuất hiện khá
10
nhiều hình thức thương mại cạnh tranh trực tiếp với chợ, vì thế bên cạnh việc mở
rộng hay tăng thêm số lượng chợ chúng ta sẽ đầu tư nâng cấp chất lượng hoạt động
của chợ và đầu tư nâng cấp chất lượng dịch vụ của chợ.
Hoạt động của các chợ làm tăng ý thức về kinh tế hàng hoá của người dân, rõ
nét nhất là ở miền núi, vùng cao từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần tích
cực vào công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, miền núi. Trong các phiên chợ,
các buổi chợ là cơ hội của người dân giao lưu trao đổi, mua bán, lưu thông hàng hoá
của mình, cập nhật thông tin, ý thức xã hội, nó làm tăng khả năng phản ứng của
người dân với thị trường, với thời thế và tự mình có thể ý thức được công việc làm
ăn buôn bán của mình trong công cuộc đổi mới. Ở đâu chợ hoạt động tốt, ở đó các
hộ dân sinh sống xung quanh được hưởng lợi nhờ kinh doanh, dịch vụ ăn theo [22].
Theo thống kê, tỷ trọng hàng hóa dịch vụ qua hệ thống chợ chiếm khoảng 40%
tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ toàn xã hội, góp phần đáng kể vào phát triển
KT - XH các địa phương [32]. Hoạt động mua bán qua mạng lưới chợ là một kênh
quan trọng tiêu thụ hàng nông, lâm, thủy, hải sản và sản phẩm các làng nghề, cung
ứng vật tư cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống sinh hoạt nhân dân.
Mặt khác, sự hình thành chợ kéo theo sự hình thành và phát triển các ngành
nghề sản xuất. Đây chính là tiền đề hội tụ các dòng người từ mọi miền đất nước tập
trung để làm ăn, buôn bán. Chính quá trình này làm xuất hiện các trung tâm thương
mại và không ít số đó trở thành những đô thị sầm uất.
b) Về giải quyết việc làm
Chợ ở nước ta đã giải quyết được một số lượng lớn việc làm cho người lao
động. Hiện nay có khoảng 2 triệu hộ kinh doanh thường xuyên tại chợ chiếm 40%
số người hoạt động thương mại dịch vụ trong cả nước, trong đó người buôn bán cố
định tại chợ chiếm khoảng 51% [33].
Nếu mỗi người trực tiếp buôn bán có thêm 1 đến 2 người giúp việc (phụ việc
bán hàng, tổ chức nguồn hàng để đưa về chợ, đưa hàng tới các mối tiêu thụ theo yêu
cầu của khách…) thì số người lao động có việc tại chợ sẽ gấp đôi, gấp ba lần số
lượng người chỉ buôn bán ở chợ. Và như thế chợ giải quyết được một số lượng lớn
công việc cho người lao động khi hoạt động. Chỉ riêng tại TP.HCM, theo số liệu
của Sở Công thương, hiện có hơn 200 chợ đang bao bọc cuộc sống của gần trăm
ngàn tiểu thương và gia đình họ và vẫn đang chiếm giữ một phần đáng kể trong
tổng doanh số của ngành bán lẻ [34].
11
c) Về việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Có thể nói, chợ là một bộ mặt KT - XH của một địa phương và là nơi phản ánh
trình độ phát triển KT - XH, phong tục tập quán của một vùng dân cư. Tính văn hoá
ở chợ được thể hiện rõ nhất là ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa.
- Đối với người dân: Đồng bào đến chợ ngoài mục tiêu mua bán còn lấy chợ
làm nơi giao tiếp, gặp gỡ, thăm hỏi người thân, trao đổi công việc, kể cả việc dựng
vợ gả chồng cho con cái. Chợ còn là nơi hò hẹn của lứa đôi, vì vậy người dân miền
núi thường gọi là đi “chơi chợ” thay cho từ đi chợ mua sắm như là người dưới xuôi
thường gọi. Các phiên chợ này thường tồn tại từ rất lâu đời và nó là những bản sắc
văn hoá vô cùng đặc trưng của các dân tộc ở nước ta.
- Đối với chính quyền: ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa chợ là địa
điểm duy nhất hội tụ đông người. Tại chợ có đại diện của các lứa tuổi, tất cả các
thôn bản và các dân tộc. Vì thế, đã từ lâu, chính quyền địa phương đã biết lấy chợ là
nơi phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước, là nơi tuyên truyền cảnh giác và đấu tranh với những phần tử xuyên tạc
đường lối của Đảng. Từ phong trào kế hoạch hoá gia đình đến kỹ thuật chăm sóc
cây trồng vật nuôi, vệ sinh phòng dịch… đều có thể được phổ biến một cách hiệu
quả ở đây. Chính vì lý do đó, chợ miền núi hay miền xuôi đều được bố trí ở trung
tâm cụm, xã (nhất là miền núi). Trong mỗi chợ đều giành vị trí trung tâm làm công
tác tuyên truyền.
Trên thực tế, một số chợ truyền thống có từ rất lâu đời đang trở thành một địa
điểm thu hút khách du lịch (như chợ Tình Sa Pa, chợ Cầu Mây ở Nam Định…).
Nếu được đầu tư thoả đáng cả về cở sở vật chất cũng như sự quan tâm quản lý của
Nhà nước, đây sẽ là các địa danh hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài
nước, và nó sẽ là tiềm năng về kinh tế du lịch quốc gia.
Hiện nay, khi mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng bán lẻ đã
hình thành và phát triển mạnh, mặc dù vẫn có tầm quan trọng trong sinh hoạt của
người dân, nhưng không vì thế mà chợ mất đi vai trò của mình mà có thể nói chợ đã
hoàn thành vai trò lịch sử của mình và sự phát triển mạng lưới chợ chính là sự hỗ
trợ cho sự hình thành, phát triển của các loại hình kinh doanh mới, đó là siêu thị và
trung tâm thương mại.
Mặt khác, việc quy hoạch phát triển các chợ có ý nghĩa KT - XH và chính trị
rất lớn là đáp ứng nhu cầu hàng ngày cho mọi người dân mà chủ yếu cho tầng lớp
12
trung lưu và dân nghèo đô thị. Mặt khác giải quyết việc làm và thu nhập cho những
người lao động, buôn bán nhỏ, không mất nhiều công đào tạo, đặc biệt cho phụ nữ.
2.1.1.4 Một số hình thức tổ chức quản lý chợ
(1) Tổ chức, quản lý chợ theo mô hình Ban quản lý
Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 về phát triển và quản lý
chợ: "Ban quản lý chợ là đơn vị sự nghiệp có thu, tự trang trải các chi phí hoạt
động thường xuyên, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và có tài khoản riêng
tại Kho bạc Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý các hoạt động của chợ và tổ
chức kinh doanh các dịch vụ tại chợ theo quy định của pháp luật".
Căn cứ vào tính chất, đặc điểm và quy mô của chợ, Uỷ ban nhân dân các cấp
có thẩm quyền quyết định lập và giao cho BQL chợ quản lý một hoặc một số chợ
(liên chợ) trên địa bàn theo phân cấp quản lý. Trường hợp lập BQL liên chợ thì ở
từng chợ có thể lập Ban hay tổ điều hành chợ.
BQL chợ có trách nhiệm quản lý tài sản Nhà nước và các hoạt động trong
phạm vi chợ của một hoặc một số chợ; thực hiện ký kết hợp đồng với thương nhân
về thuê, sử dụng điểm kinh doanh; kinh doanh các dịch vụ tại chợ; tổ chức bảo đảm
công tác phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự, an toàn thực
phẩm trong phạm vi chợ; xây dựng nội quy của chợ trình UBND cấp có thẩm quyền
phê duyệt theo phân cấp quản lý chợ; tổ chức thực hiện nội quy chợ và xử lý các vi
phạm về nội quy chợ; điều hành chợ hoạt động và tổ chức phát triển các hoạt động
tại chợ; tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh của chợ và báo cáo định kỳ cho
các cơ quan quản lý Nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Thương mại.
13
Trưởng Ban quản lý chợ
Phó Ban quản lý
Đội bốc
xếp vận
chuyển
Đội
bảo
vệ
Bộ phận tổng hợp
Các
tổ dịch
vụ
Tổ cung Tổ kiểm
cấp thông định số
tin thị
lượng
trường
chất
lượng
Tổ
kiểm
tra
Tổ trông
giữ bảo
quản tài
sản
Tổ
điện
nước
Tổ vệ
sinh
môi
trường
Tổ
quản lý
ngành
hàng
Tổ
y tế
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức mô hình chợ có Ban quản lý
BQL chợ có trưởng ban và có một đến hai phó trưởng ban. Trưởng ban, phó
trưởng ban do Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền quyết định việc bổ nhiệm, miễn
nhiệm, khen thưởng và kỷ luật.
Trưởng BQL chợ chịu trách nhiệm trước UBND cấp có thẩm quyền về toàn bộ
hoạt động của chợ và của BQL chợ. Phó trưởng ban có trách nhiệm giúp trưởng ban
và chịu trách nhiệm trước trưởng ban thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ do
trưởng ban phân công.
Căn cứ tính chất, đặc điểm, khối lượng công việc và khả năng tài chính,
trưởng BQL chợ quyết định việc tổ chức các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ giúp
việc quản lý, điều hành chợ hoạt động và tổ chức các dịch vụ tại chợ; ký hợp đồng
tuyển dụng lao động, các hợp đồng khác với các cơ quan, doanh nghiệp về đảm bảo
vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy, an ninh trật tự… trong phạm vi chợ theo
quy định của pháp luật.
14
(2) Tổ chức quản lý chợ theo mô hình doanh nghiệp (Doanh nghiệp kinh doanh khai
thác và quản lý chợ)
Để hiểu được doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ là gì trước
hết cần phải định nghĩa khái niệm doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực
hiện các hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp là một danh từ chung để chỉ các đơn vị
kinh doanh thuộc các loại hình khác nhau như doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp
tư nhân, doanh nghiệp hợp tác xã, công ty, doanh nghiệp vừa và nhỏ…
Theo Luật doanh nghiệp được Quốc hội khoá X thông qua năm 1999 thì doanh
nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh.
Vậy tổ chức quản lý chợ theo mô hình doanh nghiệp (doanh nghiệp kinh
doanh, khai thác và quản lý chợ) là gì?
Ta coi chợ như một tổ chức hoạt động kinh doanh bình thường, các công ty,
các cá nhân, các tổ chức có mong muốn đều có thể tham gia đầu tư và tiến hành xây
dựng chợ, các cấp chính quyền địa phương thông báo mời thầu. Các tổ chức, các cá
nhân có khả năng có thể tham gia đấu thầu. Thông qua đấu thầu có thể chọn ra được
một tổ chức, một cá nhân có năng lực nhất để tiến hành đầu tư, kinh doanh, khai
thác, tổ chức và quản lý chợ đó. Khi đó, địa phương trên cơ sở là chủ sở hữu đất
cho thuê, có thể thu phí hàng năm, ngoài ra còn có thể thu thêm thuế Doanh nghiệp
theo quy định của pháp luật (vì đây là doanh nghiệp đầu tư để kinh doanh chợ).
Doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh chợ sẽ có doanh thu từ các khoản phí cho
thuê địa điểm chợ, các sạp chợ, các dịch vụ ở chợ… và cũng phải hoạt động độc lập
như các doanh nghiệp kinh doanh khác, vẫn chịu ảnh hưởng điều chỉnh của Luật
doanh nghiệp.
Tuy nhiên, các tổ chức, cá nhân khi tiến hành kinh doanh phải thu phí với một
mức phí hợp lý, để đảm bảo cho các hộ kinh doanh có thể buôn bán được tại chợ.
Ngoài ra còn có thể yêu cầu phía đơn vị kinh doanh lấy lao động trực tiếp ở các địa
phương nhằm giải quyết việc làm cho lao động địa phương.
15