Tải bản đầy đủ (.pdf) (57 trang)

Lựa chọn bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực cho đội bóng rổ nữ trường THPT yên phong số 1 bắc ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (693.25 KB, 57 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ HỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

NGÔ THỊ HẢI

LƢ̣A CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ KỸ THUẬT TẠI CHỖ NÉM RỔ
BẰNG HAI TAY TRƢỚC NGƢ̣C CHO
ĐỘI BÓNG RỔ NƢ̃ TRƢỜNG THPT
YÊN PHONG SỐ 1 – BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

HÀ NỘI, 2012


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ HỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

NGÔ THỊ HẢI

LƢ̣A CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ KỸ THUẬT TẠI CHỖ NÉM RỔ
BẰNG HAI TAY TRƢỚC NGƢ̣C CHO
ĐỘI BÓNG RỔ NƢ̃ TRƢỜNG THPT
YÊN PHONG SỐ 1 – BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP TDTT – GDQP
Hƣớng dẫn khoa học

TH.S VŨ TUẤN ANH


HÀ NỘI, 2012


1

LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Ngô Thị Hải
Sinh viên: Lớp k34 GDTC - GDQP trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu khoa học này là của tôi. Những vấn
đề chúng tôi đưa ra bàn luận đều là những vấn đề mang tính cấp thiết và đúng
với thực tế cũng như điều kiện khách quan của trường THPT Yên Phong số 1Bắc Ninh. Đề tài không trùng kết quả nghiên cứu với bất cứ đề tài nào trước
đây.
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2012
Sinh viên

Ngô Thị Hải


2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TDTT:

Thể dục thể thao

ĐH TDTT:

Đại học thể dục thể thao


HLV:

Huấn luyện viên

GDTC:

Giáo dục thể chất

GD - ĐT:

Giáo dục đào tạo

VĐV:

Vận động viên

THPT:

Trung học phổ thông

TN:

Thực nghiệm

ĐC:

Đối chứng

TW:


Trung ương

TP:

Thành phố

NXB:

Nhà xuất bản

s:

Giây

%:

Phần trăm


3
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ

1

CHƢƠNG 1:TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CƢ́U

4


1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trong trường học
1.2. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi THPT

5

1.2.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi THPT

5

1.2.2. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi THPT

6

1.3. Đặc điểm và phương pháp giảng dạy , huấn luyện kỹ thuật động tác 8
ném rổ bằng hai tay trước ngực trong Bóng rổ hiện đại
1.3.1. Đặc điểm kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực

9

1.3.2. Vai trò của kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực trong 11
Bóng rổ hiện đại
1.3.3. Những yếu tố chi phối hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai 11
tay trước ngực
CHƢƠNG 2: NHIỆM VỤ, PHƢƠNG PHÁP VÀ TỔ CHƢ́C

15

NGHIÊN CƢ́U
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu


15

2.2. Phương pháp nghiên cứu

15

2.3. Tổ chức nghiên cứu

17

CHƢƠNG3: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍ CH KẾT QUẢ NGHIÊN CƢ́U 20
3.1. Đánh giá thực trạng công tác GDTC và khả năng tại chỗ ném rổ

20

bằng hai tay trước ngực của đội Bóng rổ nữ yrường THPT Yên Phong
số 1 - Bắc Ninh
3.2. Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập tại chỗ ném rổ

25

bằng hai tay trước ngực của đội Bóng rổ nữ trường THPT Yên Phong
số 1 - Bắc Ninh
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

44

TÀI LIỆU THAM KHẢO

46



4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số bảng

Nội dung

Trang

biểu
Bảng 3.1 Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường

21

THPT Phong số 1 - Bắc Ninh
Bảng 3.2 Bảng 3.2 Thực trạnh cơ sở vật chất TDTT của trường

22

THPT Yên Phong số 1 - Bắc Ninh
Bảng 3.3 Hiệu quả sử dụng các kỹ thuật ném rổ của đội nữ Bóng

23

rổ nữ trường THPT Yên Phong số 1 - Bắc Ninh trong
giải Bóng rổ học sinh tỉnh Bắc Ninh 2011
Bảng 3.4

Hiệu quả sử dụng kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay


24

trước ngực của đội Bóng rổ nữ tham dự giải Bóng rổ
học sinh tỉnh Bắc Ninh 2011
Bảng 3.5

Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập nhằm nâng cao
hiệu quả kỹ thuật

26

tại chỗ ném rổ bằng hai tay trướ c

ngực cho đội Bóng rổ nữ trường THPT Yên Phong số 1
- Bắc Ninh
Bảng 3.6

Kết quả phỏng vấn lựa chọn các test đáng giá hiệu quả

36

bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại ném rổ bằng hai
tay trước ngực cho đội Bóng rổ trường THPT Yên
Phong số 1 - Bắc Ninh (n = 20)
Bảng 3.7

Kết quả test kiểm tra trước thực nghiệm của hai nhóm

38


TN và ĐC ( nA= nB = 9 )
Bảng 3.8 Bảng tiến trình thực nghiệm (6 tuần)

39

Bảng 3.9 Kết quả kiểm tra các test sau thực nghiệm của hai nhóm

40

ĐC và TN ( nA= nB = 9 )


5
Bảng

KÕt qu¶ hai sè trung b×nh quan s¸t

3.10

qua c¸c test kiÓm tra trước thực nghiệm và

41

sau thực nghiệm của nhóm TN
Bảng

KÕt qu¶ hai sè trung b×nh quan s¸t

3.11


qua c¸c test kiÓm tra trước thực nghiệm và

41

sau thực nghiệm của nhóm ĐC
Biểu đồ Biểu đồ thể hiện kết quả kiểm tra bằng test 1(Ném rổ
3.1

42

bằng hai tay trước ngực ngoài vạch 6m25 ở 5 vị trí 20
lần)

Biểu đồ Biểu đồ thể hiện kết quả bằng test 2 (tại điểm ném phạt
3.2

ném rổ bằng hai tay trước ngực 10 lần)

43


6

ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận của nền văn hoá xã hội là
phương tiện quan trọng nhằm phát triển con người toàn diện đức, trí, thể, mỹ.
Từ khi hình thành đến nay, trải qua hàng ngàn năm TDTT ngày càng
phát triển góp phần quan trọng vào việc duy trì bảo vệ sức khỏe , nâng cao thể
chất, nâng cao hiệu suất lao động và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Đặc biệt

trong xã hội hiện đại TDTT đã trở thành một công cụ xây dựng và phát triển
sự ổn định kinh tế xã hội và nền văn minh nhân loại.
Ở nước ta ngay từ những ngày đầu cách mạng tháng Tám thành công,
Bác đã nêu rõ tầm quan trọng của TDTT đối với việc “Giữ gìn dân chủ, xây
dựng nhà nước, gây đời sống mới” [7] coi đó là một công tác cách mạng. Bản
thân người cũng đã nêu gương “Tự Tôi ngày nào cũng tập” [7]. Và thời gian
sau đó, Bác còn nêu tấm gương sáng trong việc tập luyện liên tục, bền bỉ ở
nhiều môn như Bóng chuyền, Thể dục dưỡng sinh, Thái cực quyền…
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác TDTT nói chung và
GDTC trong nhà trường nói riêng, coi sức khỏe là một vốn quý của con
người, là tài sản quốc gia vô cùng quan trọng. Sự quan tâm đó được thể hiện
trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn
cách mạng với các yêu cầu, nhiệm vụ và tình hình cụ thể. Hiện nay mục đích
cao cả và bao trùm của các nghành Công nghiệp, Nông nghiệp, Quốc phòng,
An ninh, Giáo dục, Khoa học công nghệ, Đối ngoại, Văn hóa (trong đó có
GDTC)… Là góp phần vào sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và bảo
vệ Tổ quốc.
Trong sự nghiệp giáo dục thì GDTC là một mặt của giáo dục toàn diện
cho học sinh , sinh viên trong nhà trường . GDTC là phương tiện có hiệu quả


7
nhất để phát triển hài hòa, cân đối về thể hì nh, nâng cao năng lực thể chất của
người học.
Đối vớ i các trường THPT, GDTC với hì nh thức chủ yếu là chương
trình thể dục nội khóa và những hoạt động thể thao ngoại khóa . Có rất nhiều
môn thể thao được đưa vào chương trì nh giảng dạy và thi đấu , trong đó Bóng
rổ cũng là môn thể thao hết sức quan trọng.
Bóng rổ là một môn thể thao ra đời từ Mỹ vào năm 1891. Tuy du nhập
vào Việt Nam khá muộn vào năm 1930 song mãi tới năm 1990 cùng với sự

phát triển kinh tế xã hội Bóng rổ mới dần được phục hồi. Bước sang đầu thế
kỷ 21 Bóng rổ Việt Nam mới có được những bước phát triển đáng khích lệ.
Nhiều trung tâm TDTT của các tỉnh thành như: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà
Nội, Quảng Ninh, Yên Bái đã đạt được thành tích cao trong các kì Đại Hội
TDTT.
Trước tốc độ phát triển mạnh mẽ của phong trào Bóng rổ trong những
năm gần đây đã có nhiều trường THPT trên cả nước thành lập đội tuyển Bóng
rổ. Những đơn vị này đã có được sự trang bị cơ sở vật chất tương đối hoàn
thiện cùng với đội ngũ HLV có trình độ chuyên môn cao phụ trách huấn
luyện.
Qua tổng hợp số liệu thu được ở các giải thi đấu Bóng rổ của nữ sinh
THPT trong một vài năm gần đây chúng tôi nhận thấy các VĐV nữ thực hiện
các kỹ thuật ném rổ chủ yếu sử dụng một tay ở cự ly trung bình và gần, vận
dụng rất ít kỹ thuật ném rổ hai tay trước ngực.
Như chúng ta đã biết kỹ thuật ném rổ bằng hai tay trước ngực là một kỹ
thuật quan trọng trong tấn công. Ném rổ bằng hai tay trước ngực là kỹ thuật
sử dụng hai tay ném rổ. Do vậy, lực tạo ra sẽ lớn hơn khi sử dụng kỹ thuật
ném rổ bằng một tay có thể thực hiện ở cự ly xa rổ, mặt khác sử dụng kỹ thuật
ném rổ ở cự ly xa sẽ tránh được sự phòng thủ và cản phá quyết liệt của đối


8
phương. Kỹ thuật này phù hợp với các đối tượng nữ. Mặt khác ném rổ ở cự ly
xa điểm số lại rất cao.
Trường THPT Yên Phong số 1 - Bắc Ninh là trường có bề dày thành
tích thể thao nhiều năm. Tuy nhiên thành tích môn Bóng rổ vẫn còn nhiều hạn
chế, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều nguyên nhân trong đó điển hình là khâu
ghi điểm các kỹ thuật còn đơn điệu không đa dạng. Trong quá trình nghiên
cứu tài liệu tôi thấy có nhiều đề tài nghiên cứu về Bóng rổ như: Bùi Xuân
Hùng k31 trường ĐHSPHN2 với đề tài “ Lựa chọn bài tập nâng cao hiệu quả

kỹ thuật hai bước lên rổ cao tay ”, Nguyễn Văn Nam K37 trường TDTT Bắc
Ninh với đề tài “ Lựa chọn một số bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật ném rổ
1 tay trên cao cự ly gần ”…Tuy nhiên các đề tài trên chưa nghiên cứu kỹ thuật
tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Lựa chọn bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng
hai tay trước ngực cho đội Bóng rổ nữ trường THPT Yên Phong số 1 - Bắc
Ninh”
* Mục đích nghiên cƣ́u
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Lựa chọn được bài tập nâng cao
hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực cho đội Bóng rổ nữ
trường THPT Yên Phong số 1 - Bắc Ninh.


9

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CƢ́U
1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về công tác GDTC trƣờng học
Nhà nước rất coi trọng công tác GDTC trong trường học, công tác này
nhằm phát triển, hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh - thiếu niên, nhi đồng.
GDTC là nội dung bắt buộc của học sinh - sinh viên, nó được thực hiện trong
hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học. Nhà nước khuyến khích
và tạo điều kiện cho học sinh được tập luyện TDTT phù hợp với đặc điểm lứa
tuổi và điều kiện cơ sở vật chất từng nơi.
Chỉ thị 36/CT - TW ngày 24/03/1994 của Ban Bí thư TW Đảng giao
trách nhiệm cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục TDTT thường xuyên phối
hợp chỉ đạo công tác GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, để việc tập
luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên.
Chỉ thị 36/CT - TW đã được Đại hội Đảng lần thứ IX xác định phương

hướng và nhiệm vụ “ Đẩy mạnh hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng và tầm
vóc của người Việt Nam. Phát triển phong trào TDTT quần chúng với mạng
lưới cơ sở rộng khắp, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ VĐV thể thao thành tích cao,
đưa Việt Nam lên trình độ chung trong khu vực Đông Nam Á và có vị trí cao
trong nhiều bộ môn. Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích nhân dân và các tổ
chức tham gia thiết thực, có hiệu quả cao trong các hoạt động văn hóa thể
thao” [1].
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII cũng khẳng định: “Công
tác TDTT cần được coi trọng và nâng cao chất lượng GDTC trong các
trường học. Tổ chức hướng dẫn và vận động nhân dân tham gia rèn luyện
hàng ngày” [1].
Với mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ tương lai của đất nước phát triển toàn
diện : Đức, trí, thể, mĩ. Tại Hội nghị TW IV khóa VIII về đổi mới công tác


10
Giáo dục - Đào tạo, trong Văn kiện có ghi: “Phát triển cao về trí tuệ, cường
tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thần [1] …” đã
khẳng định mục tiêu giáo dục nhằm giáo dục về nhân cách tăng cường thể lực
cho học sinh, sinh viên. Ngày 07/08/1995 Thủ Tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị
113/TT nêu rõ yêu cầu đối với tổng cục TDTT: “Ngành TDTT phải xây dựng
định hướng phát triển có tính chiến lược, trong đó quy định rõ các hình thức
hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng lứa tuổi tạo thành phong
trào tập luyện rộng rãi của quần chúng hướng đến mục tiêu khỏe để xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc” [1].
GDTC trong nhà trường phổ thông nhằm từng bước nâng cao trình độ
văn hóa thể thao cho học sinh góp phần vào sự nghiệp TDTT của đất nước và
đặc biệt Nghị quyết TW II khoá VIII về công tác Giáo dục và Đào tạo đã
khẳng định rõ GDTC trong trường học là rất quan trọng.
Công tác TDTT phải góp phần tích cực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế

- xã hội, Quốc phòng - An ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước,
trước hết là góp phần nâng cao sức khỏe, rèn luyện ý chí, giáo dục đạo đức,
nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân, nâng cao lòng tự hào dân tộc và đẩy lùi tệ nạn xã hội ở từng địa
phương.
1.2. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi THPT
1.2.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi THPT
Ở lứa tuổi này các em đã tỏ ra là những người lớn thực sự và đối với mọi
người xung quanh phải tôn trọng mình, tỏ ra mình là người có hiểu biết,
không phải là trẻ con nữa. Các em đã hiểu biết rộng, ưa hoạt động hơn, thích
những việc có hoài bão lớn. Do quá trình hưng phấn chiếm ưu thế nên các em
tiếp thu cái mới rất nhanh song những hoạt động có tính chất lại nhiều lần,
đơn điệu sẽ gây cho các em cảm giác nhanh chán và nhiều khi các em dễ bị


11
môi trường tác động do đó tạo nên sự đánh giá cao về bản thân. Chính vì vậy
sự thành công sẽ tạo cho các em sự kiêu kỳ và khi thất bại các em trở nên tự
ti, rụt rè, sự đánh giá cao sẽ gây tác động không tốt trong luyện tập. Do đó
quá trình huấn luyện cần kèm theo khen thưởng đúng mức. Tù đó các em tỏ ra
không chán nản, có định hướng và khi đó hiệu quả bài tập sẽ được nâng lên.
1.2.2. Đặc điểm sinh lý của học sinh THPT
Ở lứa tuổi này các em đã phát triển mạnh mẽ về các cơ quan cũng như
yếu tố thể lực để tiến tới sự hoàn thiện chức năng nên có những biểu hiện về
sinh lý như sau:
- Hệ xƣơng:
Thời kỳ này hệ xương của các em lớn lên một cách đột ngột cả chiều
dài và chiều dày, đàn tính xương giảm, tăng lượng canxi trong xương. Xuất
hiện sự cốt hóa ở một số bộ phận của xương như mặt (cột xương sống). Các
tổ chức sụn được thay thế bằng các mô xương nên cùng với sự biến đổi của

cột sống không giảm mà trái lại tăng lên và có thể có xu hướng cong vẹo.
- Hệ máu:
Hoạt động cơ bắp làm cho hệ máu có những thay đổi nhất định sau:
Thời gian tập luyện lâu dài và căng thẳng ở các em học sinh nam thì lứa
tuổi này đã tăng. Khối lượng máu tỉ lệ với trọng lượng cơ thể tăng ở mức
hoàn thiện. Lượng hồng cầu trong máu tăng, sau các hoạt động kéo dài lượng
hồng cầu giảm đi và quá trình hồi phục xảy ra nhanh.
- Hệ tuần hoàn:
Ở lứa tuổi này đã phát triển, kích thước của tim tương đối lớn, tần số
co bóp của tim đã giảm và tương đối ổn định.
Hệ tim mạch của cơ thể các em ở lứa tuổi này đã thích nghi với sự tăng
công suất hoạt động. Sự hồi phục tim mạch sau khi hoạt động thể lực tất nhiên
là phụ thuộc vào độ lớn của lượng vận động. Song đối với các em nam sự


12
phục hồi cũng tương đối nhanh, hệ thống điều ứng của hệ tuần hoàn trong vận
động, mạch đập và huyết áp hồi phục tương đối nhanh. Cho nên, lứa tuổi này
có thể tập những bài tập dai sức và những bài tập có khối lượng và cường độ
hoạt động hoặc các bài tập phát triển sức bền, cần phải thận trọng và thường
xuyên kiểm tra theo dõi trạng thái sức khỏe của học sinh.
- Hệ hô hấp:
Ở lứa tuổi này có sự thay đổi rõ nét về độ dài của chu kỳ hô hấp. Tỷ lệ
thở ra hít vào thay đổi sau và tần số hô hấp, dung tích sống và không khí phổi
tối đa tăng, khả năng hấp thụ oxy tối đa lớn.
Tuy nhiên, các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn của lồng ngực
nhỏ, chủ yếu là co giãn cơ hoàch. Trong tập luyện cần thở sâu và tập trung
chú ý thở bằng ngực: các bài tập bơi, chạy cự ly trung bình, việt dã có tác
dụng tốt đến sự phát triển của hệ hô hấp.
- Hệ cơ:

Ở giai đoạn này hệ cơ phát triển với tốc độ nhanh, nhưng vẫn chậm so
với hệ xương biểu hiện là các em cao, gầy. Khối lượng cơ tăng không đều và
chủ yếu là các cơ nhỏ dài, độ phì đại của cơ chưa cao. Do đó khi hoạt động
nhanh dẫn đến mệt mỏi. Vì vậy trong quá trình giảng dạy giáo viên phải chú ý
phát triển cơ bắp của các em nhằm phát triển một cách hoàn thiện cho hệ cơ.
- Hệ thần kinh:
Bộ não của các em thời kỳ này tiếp tục phát triển và đưa đến hoàn thiện
khả năng tư duy nhất là khả năng phân tích tổ hợp trừu tượng hóa, phát triển
rất thuận lợi cho việc hình thành phản xạ có điều kiện. Ngoài ra do sự hoạt
động mạnh của các tuyến giáp, trong các tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho
tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế và ức chế không cân bằng ảnh
hưởng đến hoạt động TDTT. Tuy nhiên với một số bài tập đơn điệu cũng làm


13
cho học sinh nhanh mệt mỏi, vì vậy thay đổi nhiều hình thức tập luyện, tận
dụng các hình thức trò chơi thi đấu. Hoàn thành tốt các bài tập đã đề ra.
1.3. Đặc điểm và phƣơng pháp trong giảng dạy và huấn luyện kỹ thuật
động tác ném rổ bằng hai tay trƣớc ngực trong Bóng rổ hiện đại
Trong xu thế của Bóng rổ hiện đạ i thì tầm vóc , thể lực và năng lực
khéo léo của VĐV Bóng rổ phát triển mạnh, do vậy khả năng phòng thủ cũng
được nâng lên. Các cự ly trung bình và gầ n rổ được bảo vệ rất chặt với nhiều
hệ thống phòng thủ phong phú . Việc sử dụng kỹ thuật đột phá cá nhân hoặc
chuyền bóng vào khu vực sát rổ gặp rất nhiều khó khăn , kỹ thuật tại chỗ ném
rổ bằng hai tay trước ngực là một kỹ thuật phù hợp với chiến thuật tấn công
xa rổ và đem lại hiệu quả cao trong thi đấu đặc biệt là phù hợp với các nữ
VĐV. Do vậy kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực đã được nhiều
VĐV sử dụng đặc biệt là các VĐV nữ . Điều này được thể hiện rõ ở các giải
Vô đị ch Quốc gia, các nữ VĐV của chúng ta thường xuyên thực hiện kỹ thuật
này, song do điều kiện thể lực nhất là sức bền chuyên môn và tí nh ổn đị nh của

kỹ thuật không cao nên khả năng duy trì lâu dài và độ chính xác của kỹ thuật
còn thấp.
Đội Bóng rổ nữ trường THPT Yên Phong số 1 - Bắc Ninh là một đội có
truyền thống Bóng rổ lâu năm với bề dày thành tích qua các năm thi đấu, với
đội ngũ giáo viên có bề dày kinh nghiệm . Trong kế hoạch huấn luyện trước
đây cũng đã đưa kỹ thuật tại chỗ ném rổ xa bằng hai tay trước ngực vào trong
chương trì nh huấn luyện cho các em nữ VĐV nhưng mới chỉ ở mức giới
thiệu. Nhưng vài năm gần đây, cùng với việc trình độ thi đấu và thể lực, chiều
cao của các đội trong hệ thống các trư

ờng THPT được tăng lên một c ách

mạnh mẽ , thì kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực ở cự ly xa đã
được chú trọng hơn, với điều kiện thể lực , trình độ kỹ thuật và thời gian tập
luyện của đội Bóng rổ nữ trường THPT Yên Phong số 1 - Bắc Ninh bắt kị p


14
với xu thế phát triển mới của Bóng rổ hiện đại , đồng thời cũng phù hợp với
yêu cầu của Ban lãnh đạo phải thường xuyên đổi mới phương pháp giảng dạy,
huấn luyện phù hợp với xu thế thời đại , nhằm từng bước đưa đội tuyển Bóng
rổ nữ trường THPT Yên Phong số 1 - Bắc Ninh trở thành đội mạnh trong hệ
thống giải Bóng rổ các trường THPT tỉnh Bắc Ninh.
1.3.1. Đặc điểm kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực
Qua tham khảo tài liệu, quan sát thực tế thi đấu và trên băng ghi hì nh
các VĐV Bóng rổ đẳng cấp cao trên thế giới và Việt Nam , cấu trúc kỹ thuật
tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực cự ly xa gồm 4 giai đoạn chí nh sau:
1- Tư thế chuẩn bị .
2- Nhún chân tạo đà.
3- Ném rổ.

4- Kết thúc động tác.
Việc thực hiện kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực của các
VĐV có điểm khác biệt đó là ở giai đoạn đầu thực hiện kỹ thuật : Giai đoạn
chuẩn bị và tạo đà . Có những VĐV tư thế chuẩn bị cao , chân trước sau , khi
bắt đầu thực hiện kỹ thuật thì một chân bước lên trước

(chân trước sau ), khi

bắt đầ u thực hiện kỹ thuật thì bước một chân lên trước tạo đà ném rổ

, có

những VĐV tư thế chuẩn bị thấp - gối hơi trùng , khi thực hiện kỹ thuật thì
nhún cả hai chân tạo đà ném rổ , cũng có VĐV tư thế chuẩn bị đứng hai chân
tại chỗ, trọng tâm cao, sau đó nhún chân bật nhảy ném rổ…
Tuy nhiên, đa số VĐV đứng ở tư thế chuẩn bị gối hơi trùng sau đó khi
thực hiện kỹ thuật thì nhún chân tạo đà ném rổ . Trong phạm vi của đề tài và
đặc điểm sinh lý củ a các em nữ học sinh THPT thì chủ yếu chúng tôi đi vào
nghiên cứu kỹ thuật ném rổ xa phổ biến nhất mà các VĐV thường sử dụng là
kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực với tư thế chuẩn bị thấp.


15
* Tư thế chuẩn bị:
Người tập đứng ở tư thế chuẩn bị thấp : hai chân đứng song song bằng
vai, trọng tâm dồn đều hai chân , người hơi khom về trước , hai tay cầm bóng
trước ngực, bàn tay xòe rộng tự nhiên, hai tay cùng với các ngón tay giữ bó ng
thoải mái ở tầm ngang thắt lưng , hai khuỷu tay hạ xuống bằng chuyển động
vòng tròn của hai tay kéo bóng về phía ngực.
* Nhún chân tạo đà:

Từ tư thế chuẩn bị , trùng xuống tạo đà, dùng mũi bàn chân của hai bàn
chân đạ p mạnh đất , lúc này thực hiện đồng thời các động tác : duỗi đùi, duỗi
cẳng chân và ngửa lưng hai tay đưa bóng theo hì nh elí p nhỏ từ vị trí chuẩn bị
vào trong lên trên trước mặt , sao cho hai bàn tay và bóng cách mặt khoảng 15
- 20cm. động tác tạo đà phải mạnh , dứt khoát nhưng không lao người về phía
trước hay đổ người ra phí a sau quá nhiều sẽ làm cho cơ thể mất thăng bằng

,

ảnh hưởng tới việc thực hiện động tác ném rổ.
* Ném rổ:
Sau khi nhún chân tạo đà , bóng được ném ra phía trước bằng cách đẩy
thẳng hai tay và bồi tiếp bằng động tác của bàn tay do đó làm cho bóng xoay
theo chiều ngược lại.
* Động tác kết thúc:
Sau khi đã hoàn thành động tác ném rổ th ì tay thả lỏng và hạ xuống ,
VĐV thẳng người, tiếp theo giữ vị trí đứng hai chân hơi khuỵu xuống.
Nhìn chung kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực cự ly xa
cho phép tạo lực ném tốt hơn một tay đặc biệt là đối vớ i các nữ VĐV THPT
do các em chưa phát triển toàn diện các tố chất thể lực và chiều cao bị hạn
chế.
Do sự xuất hiện và phát triển của kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng

hai tay

trước ngực ở cự ly xa là hoàn toà n phù hợp với các nữ VĐV B óng rổ THPT,


16
nó tạo ra sự đa dạng trong tấn công , bẻ gãy các mối liên kết và kéo giãn đội

hình phòng thủ của đối phương với sự vượt trội về thể lực và tầm vóc

. Tuy

nhiên sau khi thực hiện ném rổ việc giành lại quyền kiểm soát bóng là rất khó,
nếu bóng không vào rổ thì sẽ không ghi được điểm mặt khác lại tạo cơ hội
cho đối phương ghi được điểm.
1.3.2. Vai trò của kỹ thuật ném rổ bằng hai tay trước ngực trong Bóng rổ
hiện đại
Trong Bóng rổ hiện đại chiến thuật tấn công đa dạng , muốn thực hiện
được cần phải có các kỹ - chiến thuật đòi hỏi những động tác kỹ thuật ném rổ
đáp ứng được các yếu tố nhanh bất ngờ , chiếm lĩ nh không gian và thoát được
sự phòng thủ chặt chẽ của đối phương. Chính vì vậy, các chuyên gia B óng rổ
hàng đầu thế giới như Montero

(Braxin), Kim Yong Chin (Hàn Quốc ),

Ivancôp (Nga) đều có nhận xét chung cho rằng kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng
hai tay trước ngực cự ly xa có vai trò hết sức quan trọng trong thi đấu Bóng rổ
hiện đại đối với các nữ VĐV bởi lẽ kỹ thuật này có một số

đặc tí nh cơ bản

sau:
- Động tác đơn giản, dễ thực hiện.
- Độ chuẩn xác và tính hiệu quả cao khi thực hiện ở cự ly xa rổ.
- Dễ dàng chiếm lĩ nh về không gian, giành thế chủ động trong tấn công.
1.3.3. Những yếu tố chi phối hiệu quả kỹ thuật tại chỗ né m rổ bằng hai tay
trước ngực
* Qúa trình học tập kỹ thuật chi phối hiệu quả kỹ thuật.

Quá trình học tập kỹ thuật phải tuân theo ba giai đoạn của quá trì nh kỹ
năng vận động đó là giai đoạn nắm động tác sơ bộ , giai đoạn hoàn thiện kỹ
thuật và giai đoạn tự động hóa kỹ thuật.


17
Trong giai đoạn nắm động tác sơ bộ . Giáo viên, HLV phải giảng giải
làm mẫu động tác một cách dễ hiểu chính xác để từ đó biến biểu tượng vận
động thành các hành động kỹ thuật một cách sơ bộ.
Giai đoạn này cần sử dụng các bài tập dẫn dắt để người tập nắm được
động tác từ dễ tới khó , từ đơn giản tới phức tạp , từ riêng rẽ đến hoàn chỉ nh .
Giai đoạn này dài hay ngắn phụ thuộc vào năng lực và phương pháp giảng
dạy của người ht ầy, tính tích cực và chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh
.
Giai đoạn hoàn thiện kỹ thuật . Trong giai đoạn giảng dạy ban đầu học
sinh sẽ hì nh thành động tác kỹ thuật ban đầu do nhiều yếu tố như việc nắm
khái niệm còn chưa đầy đủ và sâu sắc , hoặc do trì nh độ thể lực làm cho còn
nhiều động tác dư thừa hoặc các sai lầm về kỹ thuật

. Nhiệm vụ của người

thầy trong giai đoạn này là phát hiện những sai lầm mắc phải và đề ra các b ài
tập và các biện pháp sửa chữa nhằm giúp học sinh nắm vững kỹ thuật chí nh
xác hợp lý . Giai đoạn này dài hay ngắn phụ thuộc vào năng lực phát hiện và
sử dụng bài tập sửa chữa có hiệu quả hay không . Đồng thời phụ thuộc vào
tinh thần thái độ cũng như phương pháp tự đào tạo cửa học sinh.
Giai đoạn tự động hóa. Đây là giai đoạn cuối của việc học tập kỹ thuật,
trên cơ sở người học đã sửa chữa được các sai lầm kỹ thuật và được lặp

lại


nhiều lần sẽ làm cho động tác có thể hoàn thành.
Song trên thực tế không phải VĐV nào trì nh độ kỹ thuật khi đã đạt
được trì nh độ tự động hóa là đã có thể đạt hiệu quả cao trong thi đấu . Bởi lẽ
kỹ thuật trong thi đấu còn bị ràng buộc bởi các tì nh huống khác nhau , như cự
ly, đối thủ… bởi vậy chỉ có thông qua tập luyện và thi đấu nhiều qua đó VĐV
có nhiều cơ hội để vận dụng kỹ thuật trong các tình huống khác nhau mới
nâng cao được hiệu quả kỹ thuật.
* Trình độ thể lực đáp ứng đòi hỏi của việc thực hiện kỹ thuật
trong thi đấu


18
Lượng vận độn g trong thi đấu B óng rổ là rất lớn , theo các nhà sinh lý
học TDTT một trận thi đấu B óng rổ quốc tế VĐV thi đấu trong 4 hiệp VĐV
nói chung phải di chuyể n khoảng 6000 - 6500m với tốc độ khá cao , chưa kể
hàng trăm lần bật nhẩy hoặc dùng sức tranh cướp bóng

. Vì vậy năng lượn g

tiêu hao rất lớn khoảng 1500 - 2000 Kcal tùy theo trọng l ượng. Vì vậy VĐV
Bóng rổ sau trận đấu thường giảm từ 2 - 4 kg trọng lượng cơ thể.
Do năng lượng tiêu hao lớn mà làm cho các tố chất thể lực cũng giảm .sút theo
Như chúng ta đều biết thể lực phân ra thể lực chung và thể lự c chuyên
môn, thể lực chung là tiền đề phát triển thể lực chuyên môn.
Thể lực chung cũng như thể lực chuyên môn đều bao gồm tố chất sức
nhanh, sức mạnh , sức bền , mềm dẻo và khéo léo . Theo các nhà kh oa học
Bóng rổ thì trình độ huấn luyện thể lực của các VĐV thấp sẽ hạn chế năng lự c
tiếp thu vốn kỹ - chiến thuật cũng như khả năng hoàn thiện kỹ - chiến thuật
này đặc biệt là tố chất như sức nhanh , sức mạnh bật nhảy , di chuyển, sức bền

tốc độ, năng lực nhị p điệu (khéo léo). Cần có sự phát triển tốt mới có thể hoàn
thành được động tác.
Một khi các tố chất phát triển không tốt thì trong điều kiện năng lực
tiêu hao lớn sẽ làm cho các thông số kỹ thuậ t bị sai lệch ảnh hưởng đến việc
thực hiện kỹ thuật một cách chí nh xác . Vì vậy khi mệt mỏi , hiệu quả đánh
bóng trong đó có hiệu quả động tác tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực ở
cự ly xa của VĐV sẽ không chính xác. Qua đó có thể thấy trì nh độ phát triển
các tố chất thể lực là một yếu tố quan trọng trực tiếp ảnh hưởng và hạn chế
hiệu quả kỹ thuật nói chung và kỹ thuật

tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước

ngực ở cự ly xa nói riêng.
Tóm lại:
Trong sự phát triển của các hì nh thức tấn công tổng lực nhanh chóng ,
chiếm lĩ nh không gian, thời gian tạo ra yếu tố bất ngờ trong tấn công từ xa thì
kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng

hai tay trước ngực đã ra đời và

phát huy tính

hiệu quả rất cao trong thi đấu B óng rổ hiện đại. Kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng


19
hai tay trước ngực có đặc điểm riêng của nó . Kỹ thuật này bị chi phối bởi quá
trình học tập kỹ thuật , trình độ thể lực của cá c VĐV. Đứng trước tình trạng
yếu kém về kỹ thuật tại chỗ ném rổ b ằng hai tay trước ngực của đội B óng rổ
trường THPT Yên Phong số 1 - Bắc Ninh nói riêng và các đội Bóng rổ nữ các

trường T HPT khác nói chung . Yêu cầu bức thiế t đặt ra phải nhanh chón g
nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực . Do điều
kiện không cho phép trong khuôn khổ của đề tài , chúng tôi chỉ tập trung vào
nghiên cứu yếu tố kỹ thuật , yếu tố thể lực được chúng tôi tiến hành lồng ghép
trong các giáo án huấn luyện được trì nh bày ở phần sau.
Đó là cơ sở để chúng tôi tiếp cận vấn đề nghiên cứu và giải quyết các nhiệm
vụ nghiên cứu trong phần tiếp theo của đề tài.


20

CHNG 2
NHIấM VU, PHNG PHAP VA Tễ CHC NGHIấN CU
2.1. Nhiờm vu nghiờn cu
ờ t c muc ớch nghiờn cu trờn chỳng tụi gii quyt hai nhim
vu c bn sau:
Nhim v 1: ỏnh giỏ thc trng cụng tỏc GDTC v kh nng ti ch
nem r bng hai tay trc ngc cua i Búng r n trng THPT Yờn Phong
s 1 - Bc Ninh.
Nhim v 2: La chn, ng dung v ỏnh giỏ hiu qu bi tp ti ch
nem r bng hai tay trc ngc cho i Búng r n trng THPT Yờn Phong
s 1 - Bc Ninh.
2.2. Phng phap nghiờn cu
2.1.1. Phng phỏp phõn tớch v tng hp ti liu
Ph-ơng pháp này đ-ợc chúng tôi sử dụng để nghiên
cứu tổng hợp các tài liệu có liên quan tới đề tài
nhằm tìm các cơ sở lí luận, sinh lý, tâm lý và thực
tiễn cùng với một số sách chuyên môn nh-: Búng r
hiện đại, kỹ, sinh lý học TDTT, tâm lý học TDTT, lý
luận và ph-ơng pháp TDTT, ph-ơng pháp nghiên cứu

khoa học, toán học thống kê và một số sách báo đề
tài của các khóa tr-ớc. Việc tham khảo tài liệu đã
giúp chúng tôi nhiều trong quá trình nghiên cứu. Đặc
biệt ph-ơng pháp này còn đ-ợc sử dụng để tìm hiểu
nội dung huấn luyện các bài tập, các ph-ơng pháp tập
luyện có hiệu quả nhất.
2.2.2. Phng phỏp phng vn


21
Đây là phương pháp thu thập thông tin qua phiếu hỏi và trả lời giữa nhà
nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu về vấn đề quan tâm. Chúng tôi sử dụng
phương pháp phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp đối với đối tượng lựa chọn. Đối
tượng phỏng vấn là các chuyên gia thể thao, các HLV, các giáo viên TDTT.
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong việc theo dõi các buổi
thi đấu và các buổi tập của đội nữ Bóng rổ trường THPT Yên Phong số 1Bắc Ninh. Mục đích của việc sử dụng phương pháp này là theo dõi việc thực
hiện kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực và các kỹ thuật khác của
các nữ VĐV Bóng rổ trường Yên Phong số 1 - Bắc Ninh.
2.2.4. Phương pháp thực nghiêm sư phạm
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng với mục đích kiểm nghiệm
tác dụng các bài tập mà đề tài đã lựa chọn và ứng dụng huấn luyện nhằm nâng
cao hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực cho đội Bóng rổ
nữ trường THPT Yên Phong số 1- Bắc Ninh. Đề tài tiến hành thực nghiệm
song song trên 2 nhóm:
- Nhóm A: Là nhóm thực nghiệm, tập theo bài tập chúng tôi lựa chọn.
- Nhóm B: Là nhóm đối chứng, tập theo bài tập vẫn thường sử dụng.
Mỗi nhóm gồm 9 học sinh nữ đội tuyển Bóng rổ trường THPT Yên
Phong số 1 - Bắc Ninh, thời gian thực nghiệm 6 tuần. Sau đó đánh giá kết quả
thu được của quá trình thực nghiệm.

2.2.5. Phương pháp kiểm tra sư phạm
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng nhằm mục đích kiểm tra,
đánh giá hiệu quả kỹ thuật tại chỗ ném rổ bằng hai tay trước ngực cho đối
tượng nghiên cứu thông qua ứng dụng các bài tập đã lựa chọn nhằm giải
quyết hai nhiệm vụ của đề tài. Các test được chúng tôi sử dụng để kiểm tra:


22
- Ném rổ bằng hai tay trước ngực ngoài vạch giới hạn 6m25 ở 5 vị trí
(20 lần).
- Tại điểm ném phạt ném rổ bằng hai tay trước ngực (10 lần).
2.2.6. Phương pháp thống kê
Để có cơ sở đánh giá hiệu quả của việc áp dụng các bài tập còn phải sử
dụng một số công thức toán học thống kê như sau:
n

å x

- Số trung bình cộng :

i

X = i= 1
n

n

- Phương sai (n < 30)

2


å

d=

-Độ lệch chuẩn (  ):

2

(Xi - X)

i= 1

n- 1

  2

- So sánh 2 số trung bình quan sát (t):
t

Trong đó



2

x

A


xA - xB
δ2
δ2
+
nA
nB

(x
=

A

(nA, nB < 30)

- x A )2 +  (x B - x B )2
nA + nB - 2

: Là số trung bình của nhóm A

x

B

: Là số trung bình của nhóm B

n

A

: Kích thước tập hợp mẫu nhóm A


n

B

: Kích thước tập hợp mẫu nhóm B

Kết quả tí nh toán của các tham số đặc trưng trên được chúng tôi trì nh
bày trong kết quả nghiên cứu của đề tài.
2.3. Tổ chƣ́c nghiên cƣ́u


23
2.3.1. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 11/2011 đến tháng 5/2012 và
được chia làm 3 giai đoạn:


×