Tải bản đầy đủ (.pdf) (13 trang)

phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh cà mau

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (121.22 KB, 13 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

TRIỆU NHẬT PHI

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH
CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
Ở TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. NGUYỄN THANH LONG

2014


PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI
TÔM THẺ CHÂN TRẮNG Ở TỈNH CÀ MAU
Triệu Nhật Phi và Nguyễn Thanh Long
Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ
Email:
Tóm tắt
Tôm thẻ chân trắng hiện là một trong những mô hình nuôi thủy sản quan trọng ở vùng
ven biển ở tỉnh Cà Mau. Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 12/2013 đến tháng
5/2014 thông qua phỏng vấn 34 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng nhằm phân tích, đánh giá
khía cạnh kỹ thuật và tài chính của hệ thống nuôi, xác định những thuận lợi và khó khăn
của mô hình nuôi này. Kết quả cho thấy các hộ nuôi có diện tích đất nuôi tôm thẻ chân
trắng trung bình là 0,72±0,56 ha/hộ và diện tích ao nuôi trung bình là 0,22±0,08 ha/ao.
Tôm giống có kích cỡ từ PL8 đến PL12, có nguồn gốc từ ở các tỉnh miền Trung, và được


thả nuôi với mật độ 74,7±12,6 con/m2. Tôm được cho ăn chủ yếu bằng thức ăn công
nghiệp. Sau thời gian nuôi 87,4±16,4 ngày, tôm được thu hoạch với tỉ lệ sống đạt
71±10%, kích cỡ tôm thu hoạch đạt 92,4±43,1 con/kg, hệ số tiêu tốn thức ăn 1,07±0,08
và năng suất trung bình đạt 6.366±3.029 kg/ha/vụ. Kết quả cho thấy với chi phí sản xuất
là 498±198 triệu đồng/ha/vụ, tổng doanh thu đạt 989±502 triệu đồng/ha/vụ và lợi nhuận
bình quân khá cao là 491±378 triệu đồng/ha/vụ với tỉ suất lợi nhuận đạt 1,00±0,75 lần.
Tuy nhiên, nghề nuôi cũng gặp một số khó khăn lớn như chi phí thức ăn tăng cao, vốn
đầu tư lớn, dịch bệnh và giá con giống cao.
Từ khóa: Tôm thẻ chân trắng, Penaeus Vannamei, hiệu quả tài chính.
Abstract:
White leg shrimp culturing is one of the most important aquaculture farming systems in
the coastal areas in Ca Mau province. This study was conducted from December 2013 to
May 2014 through interviewing 34 households culturing white leg shrimp in order to
evaluate technical and economic aspects of the farming system and to identify
advantages and disadvantages of the farming system. Results of the survey showed that
the average culturing white leg shrimp area for each household was 0.72±0.56 ha and
the mean area of culturing pond is 0.22±0.08 ha/pond. The post larvae which has the
size from PL8 to PL12 sourced from central provinces were stocked at density of
74.7±12.6 PL/m2. Shrimp was mainly feed by commercial feed. After 87.4±16.4
culturing days, shrimp was harvested with high survival rate of 71±10%, average yield
of productivity was 6,366±3,029 kg/ha/crop, final body weight of 92.4±43.1
individuals/kg, and feed conversion ratio (FCR) of 1.07±0.08. In addition, with
production cost of 498±198 million VND/ha/crop, gross income of 989±502 million
VND/ha/crop, net income was rather high of 491±378 million VND/ha/crop and benefit
ratio was 1.00±0.75 times. However, there are some difficulties existing in this system
such as hight feed cost, lack of funds, shrimp disease, hight PL price.
Key words: White leg shrimp, Penaeus Vannamei, financial efficiency.
Title: Analyzing financial efficiency of white leg shrimp farming system in Ca Mau
province.



1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Ngành thủy sản từ lâu đã là một ngành nghề kinh tế mũi nhọn, đóng một vai trò quan
trọng trong nền kinh tế quốc gia. Thủy sản vừa góp phần đem nguồn ngoại tệ lớn cho đất
nước vừa góp phần đóng góp vào quá trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, cải
thiện chất lượng cuộc sống và cung cấp nguồn thực phẩm cho nhu cầu của con người.
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2012 đạt 6,13 tỷ USD tăng 0,3% so với năm 2011.
Sản lượng nuôi trồng thủy sản (NTTS) năm 2012 đạt 3,27 triệu tấn, tăng 8,99% so với
năm 2011 (Tổng cục Thống kê, 2012).
Cà Mau có điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho phát triển tổng hợp toàn ngành thủy
sản và trở thành vùng nuôi thủy sản trọng điểm của cả nước. Ngành thủy sản Cà Mau
liên tục dẫn đầu cả nước trên cả ba lĩnh vực là NTTS, chế biến và xuất khẩu. Cà Mau có
ba mặt giáp biển với chiều dài bờ biển là 254 km nên có điều kiện tốt cho ngành khai
thác thủy sản và NTTS phát triển. Các sản phẩm NTTS chủ yếu là các loài nghêu, sò
huyết, các loại tôm, cua, cá nước mặn đã và đang đem lại giá trị kinh tế lớn. Trong đó
nuôi tôm đang được đẩy mạnh đầu tư và trở thành thế mạnh của Cà Mau. Sản lượng tôm
nuôi đạt 125.483 tấn, tăng 8.131 tấn so với năm 2011 (Cục Thống kê tỉnh Cà Mau,
2013).
Hiện nay, nghề nuôi tôm thẻ chân trắng (TTCT) đang là nghề mang lại thu nhập chính
của nhiều người dân trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đặc biệt là ở
các tỉnh ven biển trong đó có tỉnh Cà Mau. Trong những năm gần đây người nuôi tôm
chuyển dần từ mô hình nuôi tôm sú sang nuôi TTCT làm cho sản lượng và diện tích nuôi
TTCT ngày càng tăng. Để nắm rõ hoạt động sản xuất của mô hình này, đề tài “Phân
tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Cà Mau” đã được
thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát hiệu quả tài chính của mô hình nuôi TTCT nhằm cung cấp thông tin làm cơ sở
cho việc quản lý nghề NTTS. Từ đó đưa ra các giải pháp đầu tư nuôi tôm để góp phần
tăng hiệu quả tài chính của mô hình cũng như góp phần phát triển bền vững nghề nuôi

TTCT của tỉnh Cà Mau.
1.3 Nội dung nghiên cứu
-

Khảo sát khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi TTCT ở tỉnh Cà Mau;

-

Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng;

-

Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng.

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phạm vi nghiên cứu
-

Thời gian thực hiện: Đề tài đã được thực hiện từ tháng 12/2013 đến tháng 5/2014

-

Địa điểm thực hiện: Số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp
34 hộ nuôi TTCT tại tỉnh Cà Mau, như huyện Đầm Dơi và Thành phố Cà Mau.

2.2 Phương pháp thu số liệu


2.2.1 Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông

thôn, các cơ quan ban ngành địa phương cấp huyện trên địa bàn nghiên cứu. Các nghiên
cứu có liên quan được thực hiện trước đây đã được xuất bản như: Tạp chí chuyên ngành,
luận văn tốt nghiệp đại học và cao học. Bài báo và các website chuyên ngành và một số
tài liệu có liên quan.
2.2.2 Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 34 hộ nuôi
tôm thẻ chân trắng ở huyện Đầm Dơi và thành phố Cà Mau thông qua bảng câu hỏi đã
được soạn sẵn.
Các thông tin sơ cấp được phỏng vấn trực tiếp từ các chủ nuôi bằng bảng câu hỏi soạn
sẵn với những nội dung chính như:
* Thông tin về chủ nuôi: Địa chỉ, họ tên chủ hộ, tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, số năm
kinh nghiệm nuôi thủy sản, lí do chọn mô hình.
* Kỹ thuật: Tổng diện tích nuôi/vụ, thời gian thả giống, thời gian thu hoạch, thời gian
nuôi 1 vụ, mật độ thả, kích cỡ con giống thả, hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR); các bệnh
thường gặp; kích cỡ thu hoạch, tỉ lệ sống, tổng sản lượng khi thu hoạch/vụ.
* Tài chính: Chi phí cố định, chi phí biến đổi, tổng doanh thu, lợi nhuận và tỉ suất lợi
nhuận.
* Thông tin khác: Về ảnh hưởng môi trường, cộng đồng. Thuận lợi và khó khăn trong
quá trình nuôi.
2.3 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu
Số liệu phỏng vấn được kiểm tra và nhập vào máy tính. Phần mềm Excel được sử dụng
để nhập và phân tích số liệu. Các số liệu được thể hiện thống kê mô tả, tần số xuất hiện,
giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tỉ lệ phần trăm, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất.
Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính được tính dựa trên những công thức sau (tính cho 1 vụ):
-

Tổng thu nhập = tổng số tiền bán sản phẩm

-


Tổng chi phí = Tổng chi phí biến đổi + Tổng chi phí cố định + chi phí khấu hao

-

Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí

-

Tỉ suất lợi nhuận = Tổng lợi nhuận/Tổng chi phí

-

Giá thành = Tổng chi phí/tổng sản lượng

3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Những thông tin chung về nông hộ mô hình nuôi TTCT ở tỉnh Cà Mau
Số tuổi trung bình của chủ hộ là 46 tuổi. Nhỏ nhất là 30 tuổi và lớn nhất là 67 tuổi. Mô
hình nuôi TTCT đa phần tập trung ở độ tuổi trung niên. Đặc biệt ở mô hình nuôi TTCT,
qua khảo sát cho thấy 100% hoạt động đều do Nam giới phụ trách. Do tính chất của
công việc nuôi tôm là phải làm việc ngoài trời, làm những công việc nặng nên thích hợp
với Nam giới hơn Nữ giới. Nữ giới thường chỉ giúp người Nam trong việc chăm sóc,


quản lý tôm. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Sinh
và ctv (2006), tỉ lệ Nam quyết định trong hoạt động NTTS chiếm 75,7% và tham gia
thực hiện mô hình NTTS chiếm 63,6%.
Số lao động trung bình trong gia đình là 3,41 người/hộ, trong đó số lao động tham gia
mô hình trung bình là 2,12 người/hộ. Hộ có số lao động ít nhất là 1 người và nhiều nhất
là 6 người. Số năm kinh nghiệm của hộ nuôi TTCT trung bình là 5,29 năm. Hộ có kinh
nghiệm lâu năm nhất là 14 năm và ít nhất là 2 năm. Những hộ có kinh nghiệm lâu năm

sẽ có nhiều lợi thế hơn vì họ đã thành thạo trong việc chăm sóc tôm, phòng ngừa dịch
bệnh ở tôm, chế độ thay nước và khẩu phần ăn hợp lý nên hiệu quả đạt được của mô
hình sẽ khả quan hơn so với những hộ ít kinh nghiệm.
Bảng 1: Thông tin về tuổi, số lao động tham gia mô hình, số năm kinh nghiệm
Nội dung

Giá trị

Tuổi của chủ hộ NTTS (tuổi)

45,6±9,53

Tổng số lao động trong gia đình (người/hộ)

3,41±1,26

Số lao động tham gia mô hình (người/hộ)

2,12±0,95

Số lao động thuê mướn (người/hộ)

0,24±0,43

Số năm kinh nghiệm (năm)

5,29±3,22

Đa số các hộ nuôi TTCT ở Cà Mau sử dụng lao động gia đình để nuôi tôm là chủ yếu.
Số lao động thuê mướn của nông hộ trung bình là 0,24 người/hộ. Điều này cho thấy

phần lớn mô hình số lao động được thuê mướn còn quá ít chỉ giải quyết lao động trong
gia đình. Chỉ có những hộ nuôi TTCT có qui mô lớn mới thuê thêm lao động nên nếu
qui mô của các hộ nuôi TTCT ở Cà Mau được mở rộng thì sẽ tăng thêm lao động thuê
mướn, khi đó sẽ giải quyết được nhiều việc làm cho người dân ở địa phương.
Về trình độ học vấn của người nuôi TTCT cho thấy học vấn của chủ hộ tương đối cao.
Số chủ hộ có trình độ cấp II đạt 14,7%, trình độ cấp III chiếm tỉ lệ cao nhất (55,9%),
trình độ trung cấp đạt 17,6%, trình độ đại học đạt 11,8%. Trong khu vực khảo sát, không
có chủ hộ nào ở trình độ cấp I và trình độ cao đẳng. Trình độ học vấn của người nuôi
tôm tương đối cao nên việc tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào mô hình nuôi
tốt. Góp phần nâng cao năng suất và chất lượng tôm. Việc tiếp thu tốt như vậy thì các
chủ trương, chính sách của nhà nước sẽ được người dân thực hiện nghiêm túc. Nâng cao
năng suất và chất lượng tôm. Góp phần phát triển bền vững nghành NTTS địa phương.
Bảng 2: Trình độ học vấn
Trình độ học vấn

n

Tỉ lệ (%)

Cấp II

5

14,7

Cấp III

19

55,9


Trung cấp

6

17,6

Đại học

4

11,8

Bảng 3 cho biết những lý do mà người dân đã chọn nuôi mô hình TTCT để sản xuất. Lý
do chủ yếu chọn mô hình nuôi TTCT là vì mô hình mang lại lợi nhuận cao và mô hình


có thời gian thu hoạch ngắn (90 đến 120 ngày), ngắn hơn so với mô hình nuôi tôm sú
(120 đến 150 ngày). Ngoài ra, còn những lý do khác như: Mô hình dễ nuôi, dễ quản lý, ít
gặp phải rủi ro, có nhiều lợi thế khi nằm trong vùng có nhiều hộ nuôi TTCT, mô hình
tận dụng được đất và lao động sẵn có từ gia đình.
Bảng 3: Lý do chọn mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng
Lý do

Điểm

Xếp hạng

Mô hình mang lại lợi nhuận cao và thời gian thu hoạch
ngắn


62

1

Mô hình dễ nuôi, dễ quản lí

17

2

Mô hình ít rủi ro

13

3

Mô hình tận dụng được đất và lao động sẵn có từ gia đình

6

4

Nằm trong vùng có nhiều hộ nuôi TTCT

4

5

Thông qua những lý do trên cho thấy người dân quan tâm chủ yếu đến lợi nhuận mà mô

hình nuôi mang lại. Mô hình nuôi có phương pháp và kỹ thuật tương đối đơn giản nên
những công việc trong các khâu chăm sóc và quản lý cũng được thực hiện dễ dàng. Việc
tận dụng được đất và lao động sẵn có sẽ giúp hộ nuôi giảm thiểu được rất nhiều chi phí
mua đất và thuê mướn nhân công. Trong vùng có nhiều hộ nuôi TTCT nên dễ dàng cho
các nông hộ trong việc trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật nuôi để hỗ trợ nhau tốt hơn và
nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần phát triển nghành NTTS Cà Mau nói riêng và
ĐBSCL nói chung.
3.2 Khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi TTCT ở tỉnh Cà Mau
Cà Mau là tỉnh dẫn đầu cả nước trong lĩnh vực NTTS. NTTS ven biển, đặc biệt là nuôi
tôm đang phát triển nhanh chóng và trở thành thế mạnh của tỉnh Cà Mau (Phạm Văn
Uýnh, 2011). Nguồn nước cung cấp cho các hộ nuôi tôm ở Cà Mau chủ yếu là từ các
sông nhánh hoặc các kênh thủy lợi. TTCT là đối tượng nuôi tuy đã phổ biến nhưng
khoảng vài năm trở lại đây mới thật sự phát triển ở tỉnh Cà Mau, diện tích NTTS trung
bình của hộ không lớn (7.247 m2/hộ) so với diện tích của hộ nuôi tôm sú (3,73 ha/hộ)
(Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Thanh Phương, 2010) nên các hộ nuôi thường tận
dụng gần hết diện tích để nuôi TTCT (5.853 m2/hộ).
Ao nuôi TTCT ở tỉnh Cà Mau có diện tích trung bình 2.218 m2/ao, ao nuôi có diện tích
lớn nhất là 4.000 m2 và nhỏ nhất là 500 m2. Tùy diện tích và cách phân chia diện tích ao
mà mỗi hộ có số lượng ao nuôi tôm khác nhau, trung bình ở Cà Mau mỗi hộ nuôi TTCT
có khoảng 2,35 ao/hộ. Hộ có số ao cao nhất là 8 ao và thấp nhất là 1 ao.
Trong nuôi tôm, quản lí ao nuôi là một khâu quan trọng ảnh hưởng nhiều đến năng suất
và chất lượng của tôm. Lượng vật chất dư thừa như phân tôm, thức ăn thừa… lắng đọng
lâu ngày sẽ tạo ra nhiều loại khí độc như H2S, NH3, CH4... mang theo nhiều mầm bệnh
ảnh hưởng đến tôm nuôi. Vì thế, ao lắng rất quan trọng đối với mô hình nuôi TTCT vì
sau một thời gian nuôi, một số đặc tính của nước sẽ bị thay đổi và cần được xử lý bằng
cách thay nước. Qua kết quả khảo sát, ao lắng của hộ NTTS có diện tích trung bình 921
m2/ao. Gần bằng với kết quả nghiên cứu trước đây của Ngô Thế Trường (2009). Ao lắng
có diện tích lớn nhất là 2700 m2 và nhỏ nhất là 200 m2. Số lượng ao lắng còn phụ thuộc



vào số lượng ao nuôi và diện tích mặt nước sử dụng NTTS, trung bình mỗi hộ NTTS có
1,06 ao. Cao nhất là 2 ao và thấp nhất là 1 ao. Hiện nay, ao nuôi TTCT ngày càng được
mở rộng hơn vì mật độ nuôi TTCT thấp nên sử dụng ao lớn sẽ thuận tiện cho việc quản
lý ao hơn.
Tôm giống là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và tỉ lệ sống
của tôm. Nếu thả tôm giống kém chất lượng sẽ xảy ra trường hợp tôm bệnh, chết hàng
loạt, tôm chậm lớn, dẫn đến thời gian nuôi dài và FCR cao. Vì vậy, việc lựa chọn con
giống tốt, chất lượng, không nhiễm mầm bệnh là nhiệm vụ hàng đầu của các hộ nuôi
TTCT.
Bảng 4: Kết cấu mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng
Nội dung

Giá trị

Tổng diện tích của hộ NTTS (m2/hộ)

7.247±5.604

Tổng diện tích mặt nước NTTS (m2/hộ)

5.853±3.638

Diện tích mặt nước 1 ao nuôi (m2/ao)

2.218±778

Số lượng ao nuôi của hộ NTTS (ao/hộ)

2,35±1,50


Diện tích mặt nước ao lắng (m2/ao)
Số lượng ao lắng của hộ (ao/hộ)

1.237±1.982
1,06±0,24

Qua kết quả (Bảng 5) khảo sát 34 hộ nuôi TTCT cho thấy tôm thẻ có thể thả nuôi quanh
năm. Tùy thuộc vào nguồn giống, nhưng tập trung nhiều là vào tháng 4,10 và 11 do
đúng lịch thời vụ và thời tiết thuận lợi. Vì vào các tháng 4, 10 và 11 thì ít mưa, nguồn
nước có độ mặn cao thuận lợi cho sự phát triển của tôm. Thời điểm thu hoạch thường
sau thời điểm thả giống khoảng 87,4 ngày. Thời gian nuôi của hộ NTTS ngắn nhất là 40
ngày và dài nhất là 120 ngày. Thời gian nuôi ngắn hay dài sẽ biểu hiện được mức hiệu
quả sản xuất của mô hình. Số vụ nuôi trung bình của hộ NTTS là 2,35 vụ/năm. Hộ có số
vụ NTTS ít nhất là 2 vụ/năm và nhiều nhất là 3 vụ/năm.
Tôm giống được thả nuôi khoảng thời gian là 87,4 ngày đạt khối lượng trung bình 92,4
con/kg và năng suất trung bình là 6.366 kg/ha/vụ. Kết quả này thấp hơn nghiên cứu của
Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2012), năng suất của TTCT ở Bến Tre là
9,6±3,5 tấn/ha/vụ.
Mô hình nuôi TTCT ở Cà Mau được thả nuôi với mật độ trung bình rất cao (74,7
con/m2). Hộ nuôi TTCT có mật độ thả cao nhất là 100 con/m2 và thấp nhất là 50 con/m2.
Với mật độ nuôi này nên trong quá trình khảo sát thấy tôm bị bệnh khá nhiều trong thời
gian đầu. Tuy nhiên, kết quả này vẫn nhỏ hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn
Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2012) với 89 con/m2.
Kết quả khảo sát cho thấy các hộ nuôi tôm ở Cà Mau rất ít thay nước, mỗi vụ các hộ mới
thay nước một lần. Khi nào môi trường ao nuôi tốt sau khi thu hoạch thì các hộ nuôi tôm
tiến hành thả ngay tôm giống mới mà không cần phải cải tạo, thay nước. Vì khi thay
nước mới có thể chất lượng nước không bằng nguồn nước trong ao và tiết giảm chi phí
sản xuất. Vào mùa nắng thì nước sẽ bốc hơi nhiều nên cần bơm bổ sung nước vào ao
nuôi. Theo kết quả nghiên cứu, thời gian châm thêm nước của các hộ nuôi là 40
ngày/lần, mỗi lần bơm thêm trung bình 7,47%.



Về thức ăn cho tôm thì hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp, mỗi ngày cho ăn trung bình
là 3,76 lần. Cách thức cho tôm ăn của hộ NTTS qua khảo sát cho thấy thường sử dụng
hai cách chủ yếu là rãi thức ăn trực tiếp xuống ao hoặc dùng sàn. Việc cho thức ăn trên
sàn vừa kiểm soát được thức ăn dư thừa vừa tránh thức ăn rơi xuống nền đáy làm nền
đáy bị xáo trộn. Tuy nhiên, cách làm này vẫn chưa được sử dụng nhiều (chiếm 11,8%
tổng số hộ) ở các hộ nuôi TTCT tại địa điểm khảo sát.
Nguồn gốc con giống TTCT chủ yếu là từ các tỉnh miền Trung, được thương lái mua về
và bán lại cho người nuôi (100%). Giá con giống TTCT tương đối cao, trung bình 86,6
đồng/con. Nguyên nhân giá con giống cao chủ yếu là do nguồn cung cấp giống TTCT ở
ĐBSCL chưa đáp ứng đủ nhu cầu khiến người nuôi phải nhập giống từ các tỉnh miền
Trung nên giá tôm cao. Việc giá con giống cao như vậy sẽ ảnh hưởng nhiều đến chi phí
sản xuất của hộ NTTS ở tỉnh Cà Mau.
Qua khảo sát, có rất ít hộ nuôi ương con giống trước khi thả nuôi (8,82%). Con giống
thả nuôi có kích cỡ từ PL8 đến PL12. Tỉ lệ sống trung bình của TTCT khá cao (71%).
Con giống có chất lượng tốt nên phần lớn người nuôi không kiểm dịch mà chỉ kiểm tra
bằng mắt thường (73,5%), còn lại là kiểm tra bằng PCR (26,5%). Có đến 95% hộ nuôi
đánh giá chất lượng con giống TTCT là khá tốt và tốt. Chỉ có 5% hộ nuôi còn lại đáng
giá chất lượng con giống là trung bình. Qua đó cho thấy người dân nhận biết tốt về
nguồn tôm giống nên đa số người nuôi đều tìm được con giống tốt. Kích cỡ con giống
khi thu hoạch khá cao, trung bình 91 con/kg.
Bảng 5: Các thông số kỹ thuật của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng
Nội dung

Giá trị

Thời gian nuôi (số ngày/vụ)

87,4±16,4


Số vụ nuôi (vụ/năm)

2,35±0,49

2

Mật độ thả (con/m )

74,7±12,6

Giá giống bình quân ( đồng/con)

86,6±4,55

Kích cỡ con giống thả (PL)

Từ PL8 đến PL12

Kích cỡ thu hoạch (con/kg)

92,4±43,1

Tỉ lệ sống (%)
Năng suất (kg/ha/vụ)
Tỉ lệ hộ có ương giống trước khi thả (%)

71±10
6.366±3.029
8,82


Lượng nước thay (%/lần)

7,47±2,15

Lượng thức ăn (kg/ha/vụ)

6.789±3.314

Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR)

1,07±0,08

Lượng thức ăn phụ thuộc vào thời gian nuôi và tốc độ tăng trưởng của con giống. Một số
hộ có lượng thức ăn thấp là do tôm thất mùa, chết sớm buộc phải thu hoạch sớm. Lượng
thức ăn trung bình của mô hình nuôi là 6.789 kg/ha/vụ. Hệ số tiêu tốn thức ăn càng cao
thì giá thành sản xuất càng cao, người nuôi càng mất nhiều chi phí và lợi nhuận. Hệ số
thức ăn cao hay thấp phụ thuộc vào thời gian nuôi, mật độ thả nuôi, chất lượng tôm


giống và chất lượng thức ăn. FCR của mô hình TTCT có giá trị tương đối thấp là 1,07.
Đã giảm so với trước đây vì hiện nay, kỹ thuật nuôi đã tiến bộ và con giống có chất
lượng tốt nên tôm tăng trưởng nhanh và thức ăn đỡ hao phí. Nếu sử dụng thức ăn có chất
lượng cao, cách thức cho ăn hợp lý thì FCR sẽ thấp hơn và lượng thức ăn cung cấp cho
ao nuôi thấp sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
3.3 Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng.
Chi phí đầu tư cho mô hình trung bình là 281 triệu đồng/ha/năm. Chi phí cố định cho mô
hình nuôi TTCT trung bình là 120 triệu đồng/ha/vụ và chủ yếu là chi phí cho việc đào ao
(37%), hệ thống thổi khí (25,2%), máy bơm (15,8%) phục vụ sản xuất, xây cống và hệ
thống cấp nước (14,5%), xây nhà phục vụ sản xuất (4,11%), chi phí ghe, xuồng, xe

phục vụ sản xuất (3,44%).
Chi phí khấu hao cho mô hình nuôi TTCT trung bình là 34,2 triệu đồng/ha/vụ.
Chi phí biển đổi chiếm tỉ lệ cao trong tổng chi phí, kết quả cho thấy các mô hình nuôi
TTCT có chi phí biến đổi cao hơn chi phí khấu hao (Bảng 6 và 7). Đối với mô hình nuôi
TTCT thì ba chi phí chiếm tỉ lệ cao nhất đó là chi phí mua thức ăn (48,3%), chi phí mua
tôm giống (18,3%) và chi phí thuốc, hóa chất (16,4%) (Bảng 7).
Bảng 6: Chi phí cố định và chi phí khấu hao của mô hình nuôi.
Nội dung

Chi phí đào ao

Chi phí đầu tư

Chi phí cố định

Chi phí khấu hao

(triệu
đồng/ha/năm)

(triệu
đồng/ha/vụ)

(triệu
đồng/ha/vụ)

104±107

46,9±54,7


9,82±4,03

Hệ thống thổi khí

70,7±43,0

30,1±17,3

8,68±5,85

Máy bơm phục vụ sản xuất

44,5±28,6

19,4±12,8

6,24±4,40

Xây cống, hệ thống cấp
nước

40,6±43,1

16,3±16,8

7,38±6,68

Xây nhà phục vụ sản xuất

11,5±11,1


4,8±4,5

3,10±2,54

Ghe xuồng phục vụ sản xuất

9,66±21,1

3,93±8,66

3,88±3,74

281±158

120±74

34,2±14,9

Tổng

Lượng thức ăn phụ thuộc vào thời gian nuôi và tốc độ tăng trưởng của con giống. Chi
phí thức ăn trung bình của hộ NTTS là 170 triệu đồng/ha/vụ. Hộ có chi phí thức ăn cao
nhất là 516 triệu đồng/ha/vụ và thấp nhất là 56,7 triệu đồng/ha/vụ. Chi phí cao thứ hai
đứng sau chi phí thức ăn là chi phí con giống (18,4%). Hiện nay con giống TTCT có giá
khá cao, đa phần những hộ được khảo sát mua con giống từ miền Trung đã được kiểm
dịch, ương giống sẵn và không mất chi phí vận chuyển. Cho nên, tuy giá cao nhưng con
giống chất lượng, không phải ương giống nên rút ngắn được thời gian nuôi. Kết quả
khảo sát phù hợp với nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và ctv (2006): Giống, thức ăn, thuốc
thú y thủy sản là ba khoản chi phí lớn nhất có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả nuôi tôm

cũng như chất lượng tôm nguyên liệu.


Qua kết quả nghiên cứu thì chi phí thuốc và hóa chất trong mô hình chiếm tỉ lệ khá cao
(16,4%) điều này cho thấy mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thường xảy ra dịch bệnh.
Nguyên nhân xảy ra dịch bệnh là do môi trường ô nhiễm, ảnh hưởng của biến đổi khí
hậu, thời tiết thất thường và con giống mang mầm bệnh. Tuy nhiên, dù tôm thường xuất
hiện bệnh nhưng tỉ lệ sống của mô hình vẫn rất cao (71%).
Bảng 7: Chi phí biến đổi của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng
Nội dung
Chi phí thức ăn (triệu đồng/ha/vụ)

Giá trị

Tỉ lệ (%)

170±95,9

48,3

Chi phí mua con giống (triệu đồng/ha/vụ)

64 ,5±11,6

18,3

Chi phí thuốc và hóa chất (triệu đồng/ha/vụ)

57,9±32,9


16,4

Chi phí điện (triệu đồng/ha/vụ)

31,6±18,1

8,99

Chi phí sửa chữa (triệu đồng/ha/vụ)

10,4±4,05

2,95

Chi phí nhân công (triệu đồng/ha/vụ)

8,03±18,2

2,28

Chi phí nhiên liệu (triệu đồng/ha/vụ)

1,01±3,56

0,29

Chi phí kiểm dịch con giống (triệu đồng/ha/vụ)

0,33±1,01


0,09

344±139

100

Tổng chi phí biến đổi (triệu đồng/ha/vụ)

Đa phần các hộ NTTS ở Cà Mau sử dụng nguồn điện chủ yếu cho hệ thống thổi khí và
máy bơm. Chi phí điện trung bình là 31,6 triệu đồng/ha/vụ. Chi phí sửa chữa trung bình
của mô hình nuôi TTCT là 10,4 triệu đồng/ha/vụ. Chi phí trung bình cho nhiên liệu là
1,01 triệu đồng/ha/vụ. Những chi phí này chiếm tỉ lệ không lớn so với tổng chi phí biến
đổi nên không ảnh hưởng nhiều đến giá thành và lợi nhuận.
Ở mô hình nuôi này, mỗi hộ nuôi chỉ sử dụng rất ít lao động thuê mướn mà chủ yếu là
lao động gia đình. Chính vì vậy mô hình sẽ tiết kiệm được chi phí nhân công. Do đó, chi
phí nhân công trong mô hình nuôi TTCT chiếm tỉ lệ không cao (2,4%) (Bảng 7). Như
vậy, mô hình nuôi TTCT hiện tại ở tỉnh Cà Mau chưa giải quyết nhiều được việc làm
cho địa phương.
Trong nuôi tôm, ngoài việc nuôi tôm thành công đạt năng suất cao thì giá cả cũng ảnh
hưởng rất nhiều đến lợi nhuận của mô hình nuôi. TTCT có giá trị kinh tế cao, giá bán
biến động từ 55.000 đồng/kg đến 181.000 đồng/kg nên mô hình có tổng thu nhập rất cao
(989 triệu đồng/ha/vụ). Do tổng chi phí cho mô hình là 498 triệu đồng/ha/vụ nên lợi
nhuận của mô hình đạt được rất cao (491 triệu đồng/ha/vụ) (Bảng 8). Hộ nuôi TTCT có
lợi nhuận cao nhất là 1.637 triệu đồng/ha/vụ. Trong những năm gần đây, giá bán của tôm
sú cao hơn TTCT nhưng so về mặt năng suất, thời gian nuôi và cạnh tranh trên thị
trường nên người nuôi vẫn ưu tiên chuyển từ nuôi tôm sú sang nuôi TTCT.
Tỉ suất lợi nhuận đạt 1,00 lần, cao hơn tỉ suất lợi nhuận của mô hình nuôi tôm sú (0,66
lần) (Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Thanh Phương, 2010). Phần lớn các hộ nuôi
TTCT đều đạt lợi nhuận cao, chỉ có 8,82% hộ nuôi bị thua lỗ (Bảng 8). Giá thành của
TTCT trong mô hình đạt trung bình 85.870 đồng/kg. Từ kết quả trên cho thấy mô hình

nuôi TTCT rất có tiềm năng phát triển, cần được hỗ trợ để đa dạng hóa loài nuôi thủy
sản, nhất là vùng ven biển.


Qua kết quả khảo sát, hầu hết các hộ nuôi tôm sú đều chọn cách bán tôm cho các thương
lái ở trong và ngoài địa phương. Do bán cho các thương lái dễ dàng, thương lái tự thu
hoạch và kiểm tra chất lượng tương đối dễ, chủ yếu là kiểm tra chất lượng thịt và cỡ
tôm, ít kiểm tra các chỉ tiêu an toàn thực phẩm. Ngoài ra, người dân rất thích bán cho
các thương lái là do hình thức thanh toán chủ yếu của các thương lái là bằng tiền mặt và
thanh toán liền trong lúc mua.
Bảng 8: Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng
Nội dung

Giá trị

Tổng thu nhập (triệu đồng/ha/vụ)

989±502

Tổng chi phí (triệu đồng/ha/vụ)

498±198

Lợi nhuận (triệu đồng/ha/vụ)

491±378

Tỉ lệ số hộ bị thua lỗ (%)

8,82


Tỉ suất lợi nhuận (lần)

1,00±0,75

Giá thành (đồng/kg)

85.870±34.518

3.4 Những thuận lợi và khó khăn của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Cà Mau
Bảng 9 thể hiện những thuận lợi của mô hình nuôi TTCT. Kết quả cho thấy người dân
tham gia mô hình nuôi TTCT là do TTCT là loài dễ nuôi, điều kiện chăm sóc dễ dàng.
Hộ nuôi có nhiều kinh nghiệm trong nghành NTTS nên sẽ có nhiều lợi thế trong sản
xuất. Mô hình còn tận dụng được nguồn lao động sẵn có từ gia đình nên sẽ giảm thiểu
được chi phí thuê mướn nhân công. Cà Mau là vùng có nhiều lợi thế để phát triển NTTS,
đặc biệt là nuôi tôm nên được Nhà nước, chính quyền địa phương quy hoạch phát triển
và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng điện nước. Cà Mau còn những yếu tố thuận lợi phát
triển như: thị trường tiêu thụ rộng lớn, việc tiêu thụ sản phẩm dễ dàng và được sự hỗ trợ
của nhà nước về mặt kỹ thuật.
Bảng 9: Thuận lợi của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Cà Mau
Nội dung

Điểm

Xếp hạng

Mô hình dễ nuôi

45


1

Chủ hộ có nhiều kinh nghiệm NTTS

25

2

Nguồn lao động sẵn có từ gia đình

16

3

Dễ vận chuyển con giống, thức ăn

9

4

Được hỗ trợ từ địa phương mặt kĩ thuật

7

5

Mặc dù mô hình nuôi TTCT đem lại lợi nhuận cao nhưng chi phí cho một vụ rất cao
(498 triệu đồng/ha/vụ) mà phần lớn là do giá thức ăn. Chính vì vậy khó khăn lớn nhất
đối với người nuôi đó là vấn đề về thức ăn. Vốn đầu tư trung bình của mô hình nuôi
TTCT tuy không nhiều bằng một số mô hình khác nhưng nó cũng là khó khăn của hầu

hết các hộ nuôi có qui mô nhỏ. Còn phải tốn khá nhiều chi phí cho thuốc và hóa chất vì
hiện nay TTCT xảy ra dịch bệnh nhiều nên vốn đầu tư đang là vấn đề nan giải cho người
dân.


Dịch bệnh cũng là nỗi lo lắng và thách thức rất lớn mà người nuôi tôm phải đối mặt. Đặc
biệt là dịch bệnh rất khó trị và không trị được. Điển hình như hoại tử gan tụy hiện nay là
căn bệnh hiểm nghèo của tôm mà chưa có thuốc trị. Đây là nỗi lo lắng hàng đầu của
người nuôi tôm vì gây thiệt hại cho quá trình sản xuất khi tôm gặp phải bệnh này. Dịch
bệnh tăng lên kéo theo chi phí cải tạo, phòng bệnh và trị bệnh cũng tăng lên. Thông
thường để hạn chế dịch bệnh trên tôm thì người nuôi tôm sẽ cải tạo ao thật kỹ trước khi
thả nuôi, tìm kiếm nguồn giống có chất lượng, thả giống vào những thời điểm thích hợp
để hạn chế dịch bệnh, nếu dịch bệnh xảy ra thì biện pháp tốt nhất là thu hoạch gấp.
Môi trường nuôi TTCT ngày càng bị ô nhiễm và sinh ra dịch bệnh, mà nguyên nhân chủ
yếu là do phần lớn các hộ nuôi không có hệ thống xử lý nước thải khi thải ra môi trường
và ảnh hưởng của các chất thải công nghiệp. Đây cũng là yếu tố gây khó khăn trong
nghề nuôi tôm hiện nay. Ngoài ra còn nhiều yếu tố gây ô nhiễm khác nhưng nguyên
nhân phần lớn là do nhận thức của người nuôi tôm về vấn đề môi trường chưa cao.
Bảng 10: Khó khăn của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Cà Mau
Nội dung

Điểm

Xếp hạng

Giá thức ăn tăng cao

32

1


Vốn đầu tư cao

29

2

Dịch bệnh

24

3

Giá con giống cao

12

4

5

5

Bị ép giá

Giá con giống cao, bị ép giá cũng là những khó khăn chính gây cản trở cho sự phát triển
của mô hình (Bảng 9). Vì giá con giống cao sẽ tăng thêm chi phí sản xuất và giá bán sản
phẩm NTTS thấp thì sẽ làm giảm doanh thu. Hai điều này sẽ kéo theo lợi nhuận giảm,
thậm chí có thể gây lỗ vốn.
Để nghề nuôi TTCT phát triển, cần có chính sách hỗ trợ cho người dân vay vốn. Tìm

nguồn cung cấp thức ăn chất lượng với giá thấp. Đẩy mạnh những hội thảo về thuốc trị
bệnh và phòng chống dịch bệnh ở TTCT. Ngoài ra, việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu
sinh sản nhân tạo giống TTCT để chủ động cung cấp giống cho người nuôi và giảm giá
thành con giống cũng là yếu tố quan trọng góp phần phát triển mô hình nuôi TTCT của
Cà Mau nói riêng và ĐBSCL nói chung.
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Kết luận
-

Các hộ nuôi có diện tích đất nuôi tôm thẻ chân trắng trung bình là 0,72±0,56
ha/hộ và diện tích ao nuôi trung bình là 0,22±0,08 ha/ao.

-

Tôm giống có kích cỡ từ PL8 đến PL12, có nguồn gốc bắt nguồn từ tự nhiên ở các
tỉnh miền Trung, và được thả nuôi với mật độ 74,7±12,6 con/m2.

-

Tôm được cho ăn chủ yếu bằng thức ăn công nghiệp. Sau thời gian nuôi
87,4±16,4 ngày, tôm được thu hoạch với tỉ lệ sống đạt 71±10%, kích cỡ tôm thu
hoạch đạt 92,4±43,1 con/kg, hệ số tiêu tốn thức ăn 1,07±0,08 và năng suất trung
bình đạt 6.366±3.029 kg/ha/vụ.


-

Với chi phí sản xuất là 498±198 triệu đồng/ha/vụ, tổng doanh thu đạt 989±502
triệu đồng/ha/vụ và lợi nhuận bình quân khá cao là 491±378 triệu đồng/ha/vụ. Tỉ
suất lợi nhuận đạt 1,00±0,75 lần.


-

Qua kết quả cho thấy nghề nuôi TTCT cũng gặp một số khó khăn chủ yếu như
chi phí thức ăn tăng cao, vốn đầu tư lớn, dịch bệnh và giá con giống cao.

4.2 Đề xuất
-

Có chính sách hỗ trợ vay vốn ưu đãi, vay vốn tín dụng cho những nông hộ có mô
hình nuôi TTCT để phát triển nghành NTTS địa phương.

-

Hỗ trợ các hộ nuôi, các tổ hợp tác ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp cung
cấp thức ăn, giống, thuốc và các nhà máy chế biến nhằm nâng cao hiệu quả phân
phối, giảm chi phí trong sản xuất.

-

Người dân cần thường xuyên tham gia các lớp tập huấn, nâng cao kỹ thuật nuôi
TTCT.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cục Thống kê tỉnh Cà Mau, 2013. Niên giám thống kê tỉnh cà Mau 2012.
Lê Xuân Sinh, Đỗ Minh Chung, Phan Thị Ngọc Khuyên và Từ Thanh Truyền, 2006. Tác
động về mặt xã hội của hoạt động nuôi trồng thủy sản mặn lợ, ven biển Đồng bằng
sông Cửu Long. Tạp chí khoa học, quyển 2, Đại học Cần Thơ.
Ngô Thế Trường, 2009. So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của các mô hình nuôi
thâm canh tôm sú (Penaus monodon) và tôm thẻ chân trắng (Penaneus Vanamei) ở

tỉnh Kiên Giang. Luận văn tốt nghiệp ngành Quản lý nghề cá, Đại học Cần Thơ.
Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền, 2012. So sánh hiệu quả đầu tư nuôi thâm canh
tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở Bến Tre. Số 155, tạp chí Thương mại thủy sản.
Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Thanh Phương, 2010. Phân tích khía cạnh kinh tế và kĩ
thuật của các mô hình nuôi thủy sản ven biển ở tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học,
Đại học Cần Thơ. 2010:14 222-232.
Phạm văn Uýnh, 2011. Giới thiệu tổng quan tỉnh Cà Mau.
Truy cập ngày: 10/01/2014
Tổng cục thống kê, 2012. Niên giám Thống kê 2011. NXB Thống kê Hà Nội.



×