TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM LỊCH SỬ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH SƯ PHẠM LỊCH SỬ
Đề tài:
ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN CON ĐƯỜNG HUYỀN THOẠI
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
ThS. KHOA NĂNG LẬP
BÙI NHẬT KHOA
MSSV: 6095942
Lớp: Sư Phạm Lịch Sử K35
Cần Thơ, tháng 5/2013
LỜI CẢM ƠN
Lênin đã nói:“Học! Học nữa! Học mãi!”. Quả đúng là như
vậy! Học tập là một quá trình lâu dài của mỗi cá nhân kể từ thuở ấu thơ cho đến
hết cuộc đời.
Bốn năm vừa qua, tôi đã được chung sống trong đại gia đình Bộ môn Sư
Phạm Lịch Sử trường Đại Học Cần Thơ để thực hiện việc học như Lênin đã
dạy. Tại đây, tôi đã được các Thầy Cô dạy bảo thật tận tình, không chỉ về
những kiến thức chuyên môn mà cả những bài học làm người thật sâu đậm và
giàu ý nghĩa - những bài học để trở thành người giáo viên có ích cho xã hội….
Qua luận văn tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong
Bộ môn Sư Phạm Lịch Sử trường Đại học Cần Thơ. Thầy cô là những người đã
luôn lo lắng, dạy dỗ, truyền đạt tận tình những kiến thức chuyên môn và
phương pháp giảng dạy cho tôi. Chính thầy cô là người đã tạo điều kiện để tôi
tiếp cận và thực hiện luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin được gửi lời tri ân và lời cảm ơn chân thành nhất tới Thầy
Khoa Năng Lập, người đã ủng hộ và trực tiếp chỉ dạy, hướng dẫn giúp tôi hoàn
thành đề tài luận văn này.
Hơn nữa, tôi xin gởi lời cảm ơn của mình đến quý thầy cô trong Trung
Tâm Học Liệu, Thư viện Khoa Sư Phạm; các cô chú, anh chị trong Thư viện
thành phố Cần Thơ, Thư viện Quân Khu 9, Thư viện tỉnh Vĩnh Long,… đã
nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình sưu tầm tài liệu.
Xin gởi lời cảm ơn đến gia đình, đến tập thể lớp Sư Phạm Lịch Sử K35 vì
các bạn đã luôn hổ trợ, động viên, ủng hộ và đóng góp cho tôi cả về mặt tài liệu
lẫn mặt tinh thần để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn và xin kính chúc sức khỏe, thành công !!
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
PHẦN NỘI DUNG ................................................................................................. 7
CHƯƠNG 1: THÀNH LẬP CON ĐƯỜNG HUYẾT MẠCH .............................. 7
1.1. Bối cảnh ra đời ............................................................................................... 7
1.2. Tổ chức ban đầu của đoàn công tác quân sự đặc biệt .................................... 12
1.3. Điểm mở đầu của đoàn công tác quân sự đặc biệt .......................................... 18
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ GIAI ĐOẠN 1959 - 1968 ............ 21
2.1. Bước đầu tổ chức và phát triển tuyến chi viện chiến lược
Trường Sơn (5/1959-1965) ............................................................................. 21
2.1.1. Tổ chức tuyến giao liên, gùi thồ (5/1959-1960) .................................... 21
2.1.2. Mở đầu vận tải cơ giới trên đường Trường Sơn .................................... 25
2.2. Phát triển vận tải cơ giới, chiến đấu chống ngăn chặn
và chi viện cho miền Nam (1965-1968) .......................................................... 28
2.2.1. Cơ cấu tổ chức thời chuyển sang vận tải cơ giới ................................... 28
2.2.2. Những khó khăn khi tiến hành sự chi viện bằng cơ giới ....................... 31
2.2.3. Thắng lợi của ta trong cuộc chiến chống ngăn chặn
(tháng 10/1966 đến tháng 10/1967) ...................................................... 35
2.2.4. Thắng lợi ở Trường Sơn trong mùa khô 1967 - 1968 ............................ 40
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ GIAI ĐOẠN 1969 - 1972 ............ 49
3.1. Tiến hành vận chuyển chi viện trong mùa khô 1969-1970 .......................... 49
Trang
3.1.1. Bộ đội Trường Sơn đánh tan thủ đoạn
“chiến tranh điện tử” của địch ................................................................ 49
3.1.2. Vận chuyển chiến lược trong mùa khô 1969-1970 .................................. 52
3.2. Công cuộc chiến đấu và chi viện trong những năm 1970-1971 ....................... 56
3.3. Bộ đội Trường Sơn phục vụ các chiến trường mở cuộc tiến công
chiến lược 1972, góp phần đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh ...... 64
3.3.1. Bộ đội Trường Sơn đánh bại thủ đoạn đánh phá mới của địch ............... 64
3.3.2. Bộ đội Trường Sơn phục vụ các chiến trường
mở cuộc tiến công chiến lược 1972 ........................................................ 65
CHƯƠNG 4: VAI TRÒ CỦA ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ GIAI ĐOẠN 1973 - 1974......... 70
4.1. Đổi mới tổ chức, hoàn thiện thế trận mới,
chuẩn bị thời cơ chiến lược (1973-1974) ........................................................ 70
4.1.1. Tình hình và nhiệm vụ mới đặt ra cho Bộ đội Trường Sơn.................... 70
4.1.2. Đổi mới tổ chức, hoàn thiện thế trận mới ............................................... 75
4.1.3. Hoàn thành kế hoạch chi viện mùa khô 1974 ......................................... 82
4.2. Hoàn thiện hệ thống cầu đường trên Đường Hồ Chí Minh
chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 ......................... 85
4.2.1. Tình hình mới, chủ trương mới của Đảng ............................................... 85
4.2.2. Hoàn thiện hệ thống cầu đường trên Đường Hồ Chí Minh
chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 ...................... 87
PHẦN KẾT LUẬN ................................................................................................. 95
PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN ........................ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ YẾU .................................................................. 116
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân Việt Nam
được xem là một trong những chiến công hiển hách của thế kỷ XX. Đối với dân tộc
ta, đây là bản anh hùng ca bất hủ của cuộc chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí
Minh. Thắng lợi này đã vạch ra một bước ngoặt lớn cho dân tộc Việt Nam. Từ đây,
nhân dân ta đã thoát khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, thoát khỏi thảm họa chia
cắt đất nước, miền Nam được giải phóng, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân
chủ nhân dân.
Những thắng lợi to lớn đó bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tất cả các lĩnh vực và trong tất cả các giai đoạn.
Một trong những nhân tố quyết định và cũng là bằng chứng xác thực cho thấy tầm
nhìn đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta là việc “cho mở con đường vận tải chi viện
chiến lược” từ Bắc vào Nam trên đại ngàn Trường Sơn.
Trong cuốn sử vàng chống Mĩ cứu nước đầy kỳ tích anh hùng mà nhân dân ta đã
viết nên, thì thành tích xuất sắc của bộ đội Trường Sơn nổi bật lên như một trong
những chiến công tiêu biểu nhất, hiển hách nhất và oanh liệt nhất.
Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là hiện thân của ý chí quyết thắng,
lòng dũng cảm, trí thông minh của con người Việt Nam và tình đoàn kết giữa ba dân
tộc Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia trong cuộc đấu tranh trường kì chống lại kẻ thù
chung. Trải qua 16 năm phấn đấu cực kỳ gian khổ nhưng anh dũng, từ khi còn là
những lối mòn giao liên, đến khi phát triển thành tuyến vận tải quân sự chiến lược,
đường Trường Sơn không chỉ là cầu nối giữa hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến
lớn miền Nam mà đây còn là căn cứ hậu cần chiến lược, trực tiếp bảo đảm cho các
chiến trường nam Đông Dương.
Bộ đội Trường Sơn đã thắng địch, thắng trời để xây dựng nên tuyến đường lịch
sử mang tên Bác Hồ vĩ đại. Không thể biết chính xác bao nhiêu ngàn tấn bom đạn của
kẻ thù đã trút xuống, bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu người con của Tổ quốc đã ngã
1
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
xuống để bảo vệ con đường - con đường dẫn tới sự toàn vẹn đất nước sau cả quãng
thời gian dài bị chia cắt. Cho tới bây giờ, những người Mĩ từng tham chiến ở Việt
Nam và những ai đã từng phục vụ cho chế độ ngụy quân vẫn chưa thể tìm ra câu trả
lời là tại sao với sự hỗ trợ của đủ loại vũ khí hiện đại, tối tân mà họ vẫn không thể cản
nổi bước tiến bền bỉ, quyết liệt của con đường mảnh dẻ này. Chính vì thế, các chuyên
gia quân sự phương Tây đã gọi con đường mòn này là trận đồ bát quái xuyên rừng
rậm bởi sự màu nhiệm của nó.
Đường Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành huyền thoại. Nó
không chỉ là một con đường tiếp tế mà nó còn là biểu tượng của cuộc chiến tranh Việt
Nam. Đường Trường Sơn đã để lại một vết hằn bất tử trong lịch sử chiến tranh với vô
vàn số phận, vô vàn bí mật và vô vàn sự hi sinh. Trên con đường huyền thoại đó, lớp
lớp các thế hệ người Việt Nam đã hành quân gian khổ vào chiến trường để đánh bại
mọi kẻ thù mà thống nhất nước nhà.
Con đường huyền thoại này không những là biểu hiện cao nhất của tinh thần
chiến đấu anh dũng của người dân Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân tộc mà
ánh sáng rực rỡ của biểu tượng đường mòn Hồ Chí Minh - đường Trường Sơn vẫn soi
sáng cho cả dân tộc ta tiến về phía trước khi bước sang thế kỉ XXI. Ngày nay con
đường huyết mạch này mang một ý nghĩa lớn lao và có giá trị thiết thực trong công
cuộc xây dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc. Đường Trường Sơn sẽ mãi vươn
xa hơn nữa để đưa dân tộc ta tiến lên tầm cao mới.
Là một sinh viên chuyên ngành Sư Phạm Lịch Sử, tôi quyết định chọn đề tài
“Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại” làm đề tài luận văn tốt nghiệp để thể
hiện lòng tự hào của cá nhân tôi khi là một người con của dân tộc Việt Nam anh hùng.
Qua luận văn, tôi muốn thể hiện sự tôn kính và lòng biết ơn đối với cả một thế hệ
thanh niên Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đã xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà
lòng phơi phới dậy tương lai.
Hi vọng qua luận văn này, tôi có thể đóng góp một phần nhỏ công sức của mình
vào việc làm sống lại những năm tháng hào hùng trên tuyến lửa Trường Sơn, để từ đó
làm tăng thêm niềm đam mê và sự yêu thích hơn ở môn học Lịch Sử.
2
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Đường Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh luôn là một đề tài rộng lớn và
thu hút được sự quan tâm của nhiều thế hệ là tại vì sao ? Lí do đơn giản là do con
đường mòn này đã trở thành huyền thoại, đã là biểu tượng cho cuộc kháng chiến
chống Mĩ trường kỳ ở Việt Nam. Nhắc đến đường Trường Sơn là nhắc đến chủ nghĩa
anh hùng, tinh thần gan dạ, ý chí sắt đá, lòng dũng cảm và tình đoàn kết của dân tộc
ta. Mặt khác, nơi đại ngàn này còn chứa đựng biết bao tình cảm và kỉ niệm của những
người lính 559 thuở xưa.
Nhằm để thể hiện sự tự hào, niềm kiêu hãnh khi dân tộc ta có một con đường
huyền thoại như thế và cũng để nhắc nhở về những kỉ niệm thời xẻ dọc Trường Sơn đi
cứu nước, nên rất nhiều những công trình, những trang viết về con đường mòn này đã
được ra đời. Sau đây tôi xin điểm qua một vài công trình tiêu biểu mà tôi đã được tìm
hiểu:
1. Sách Lịch sử Đoàn 559 - bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh do Tổng
cục Hậu cần biên soạn, xuất bản năm 1999, nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Sách đã
phản ánh được cơ bản lịch sử hào hùng của tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn từ
những bước đi gùi thồ đầu tiên cho đến ngày thắng lợi cuối cùng (từ tháng 5/1959 đến
tháng 4/1975). Đồng thời, khái quát được những kinh nghiệm quý giá có ý nghĩa thiết
thực đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của toàn dân, toàn quân ta ở hiện tại
và cho ngày mai sau.
2. Với tầm vóc và ý nghĩa lớn lao của mình, lịch sử bộ đội Trường Sơn được
đông đảo các tầng lớp nhân dân ta nói chung, lực lượng vũ trang nói riêng cũng như
bạn bè trên thế giới quan tâm. Để đáp ứng lại một phần sự quan tâm ấy, cuốn sách
Lịch sử bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh được ra đời năm 1994, do nhà xuất
bản Quân đội nhân dân in, với phần biên soạn của Tổng cục Hậu Cần - Bộ Quốc
phòng. Những trang viết đã tái hiện được lịch sử anh hùng của tuyến vận tải quân sự
chiến lược khi đã vượt qua mọi hoạt động ngăn chặn, đánh phá của kẻ thù, góp phần
quan trọng cùng nhân dân cả nước giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và làm
nghĩa vụ quốc tế cao cả.
3
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
3. Quyển sách“Đường mòn Hồ Chí Minh - con đường huyền thoại” của tác giả
Thượng tá Đoàn Thị Lợi, nhà xuất bản Quân đội nhân dân, xuất bản năm 2004. Thông
qua việc giới thiệu một cách tương đối toàn diện, có hệ thống quá trình xây dựng, bảo
vệ và phát triển của tuyến vận tải chi viện chiến lược Trường Sơn từ năm 1959 đến
năm 1975, mà chủ yếu là từ năm 1973 đến năm 1975, tác giả khẳng định vị trí, vai trò
to lớn của tuyến chi viện chiến lược 559 và sự lãnh đạo, chỉ huy tài tình, sáng tạo của
Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh để mang đến
thắng lợi cuối cùng.
4. Cuốn “Đường Hồ Chí Minh”, in năm 2007, nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
Sách có 2 nội dung chính: Lịch sử đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn và lịch
sử đường Hồ Chí Minh trên biển. Bằng những số liệu và dẫn chứng cụ thể, người viết
đã cho thấy được vai trò lịch sử lớn lao của tuyến vận tải chiến lược trong những năm
bom đạn. Qua đó tác giả thể hiện lòng tự hào của mình trước tinh thần chiến đấu anh
dũng của những người lính Trường Sơn thuở xưa.
5. Sách “Năm đường mòn Hồ Chí Minh” của Giáo sư Đặng Phong viết năm
2009, nhà xuất bản Tri thức. Giáo sư đã cung cấp nhiều tư liệu quý giá về lịch sử của
5 con đường mòn Hồ Chí Minh là: đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ tức đường
Trường Sơn, con đường xăng dầu, đường Hồ Chí Minh trên biển, đường hàng không
và đường chuyển ngân. Sách là một công trình nghiên cứu, sưu tầm tư liệu rất công
phu và có giá trị. Với 103 tư liệu trong và ngoài nước được tập hợp lại để miêu tả, giải
thích về tầm quan trọng và mối quan hệ của 5 con đường trong việc chi viện cho cuộc
đấu tranh giải phóng miền Nam. Qua đó, người đọc sẽ thấy được tại sao chúng ta lại
có thể đối đầu và chiến thắng được kẻ thù, câu hỏi mà nhiều người, nhiều thế hệ mong
muốn có được lời đáp.
6. Sách “Đường Hồ Chí Minh trong chiến tranh” nhà xuất bản Chính trị quốc
gia 2007. Sách được viết bằng ba thứ tiếng: Việt, Anh và Pháp. Tác giả đã làm sống
lại lịch sử hình thành và phát triển của tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn bằng
những hình ảnh cực kì “hiếm”, kết hợp với những lời bình và bài viết của những
người đã từng trực tiếp chiến đấu và lãnh đạo trên con đường mòn này. Đây là một
4
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
công trình rất quý giá nhằm để tưởng nhớ, ghi ơn và tôn vinh bộ đội Trường Sơn
đường mòn Hồ Chí Minh.
7. Cũng là viết về đề tài đường Trường Sơn, nhưng tác giả - Đại tá Nguyễn Việt
Phương lại viết cuốn “Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh huyền thoại” theo dạng hỏi
đáp để người đọc dễ tìm hiểu hơn. Sách được xuất bản năm 2004 bởi nhà xuất bản
Trẻ. Đại tá đã phân tích từ những chi tiết nhỏ đến lớn dưới dạng từng câu hỏi để vẽ lại
lịch sử của con đường huyền thoại. Từng là một người lính, người chỉ huy trên tuyến
lửa nên tác giả đã dễ dàng trong việc làm sống lại những ngày tháng oai hùng đó.
Trên đây là những công trình lớn, nổi tiếng nói về con đường mòn huyền thoại
Trường Sơn mà tôi đã mai mắn được tiếp cận. Ngoài ra, còn rất nhiều các công trình
nghiên cứu trong và ngoài nước khác với nhiều hình thức khác nhau, nhằm để ghi nhớ
và tôn vinh đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh mà mỗi khi nhắc đến, chúng ta
luôn lấy đó làm tự hào.
3. Phạm vi nghiên cứu :
Trong giới hạn đề tài nghiên cứu của một sinh viên lần đầu tìm hiểu và nghiên
cứu khoa học, tôi chỉ mong muốn giới thiệu khái quát về lịch sử hình thành, xây dựng
và phát triển của con đường chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh huyền
thoại từ năm 1959 đến năm 1974. Qua đó, tôi sẽ phân tích và đánh giá để thấy được
vai trò to lớn của con đường huyết mạch này trong cuộc kháng chiến chống Mĩ trường
kỳ của nhân dân Việt Nam.
4. Đối tượng nghiên cứu:
Lịch sử hình thành, phát triển và vai trò của đường Trường Sơn trong kháng chiến
chống Mĩ giai đoạn 1959 - 1974.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu mà tôi sử dụng để hoàn thành đề tài là thu thập,
tổng hợp rồi phân tích tư liệu từ sách, báo, tạp chí, phim phóng sự....Qua đó, tôi mới
tiến hành chọn lọc những tư liệu thích hợp, lấy đó làm nền tảng để viết bài.
5
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
Trong quá trình hoàn thiện đề tài luận văn, tôi đã sử dụng phương pháp lịch sử,
phương pháp logic để phân tích, đánh giá, so sánh, nhận xét, tường thuật và trích dẫn
để làm nổi bật được nội dung đề tài.
6. Cấu trúc luận văn:
Bố cục luận văn gồm có các phần:
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG: Nội dung gồm có 4 chương:
Chương 1: Thành lập con đường huyết mạch.
Chương 2: Vai trò của đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mĩ giai đoạn
1959 - 1968.
Chương 3: Vai trò của đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mĩ giai đoạn
1969 - 1972.
Chương 4: Vai trò của đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mĩ giai đoạn
1973 - 1974.
PHẦN KẾT LUẬN
PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ YẾU.
6. Đóng góp của luận văn: Luận văn này thực hiện nhằm mục đích:
Góp phần tìm hiểu khái quát về lịch sử hình thành, xây dựng, phát triển và
những đóng góp của đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trong cuộc kháng
chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc ta từ năm 1959 đến năm 1974.
Tôi mong muốn sẽ làm sống lại những trang sử vàng mà các chiến sĩ Đoàn 559
đã khắc được trong lịch sử dân tộc. Từ đó, giúp cho người đọc tăng thêm lòng tự hào
về truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống kẻ
thù xâm lược, thống nhất nước nhà.
6
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: THÀNH LẬP CON ĐƯỜNG HUYẾT MẠCH
1.1. Bối cảnh ra đời:
Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc của nhân dân ta,
núi rừng Trường Sơn luôn giữ vai trò là địa bàn chiến lược quan trọng. Hơn thế nữa,
Trường Sơn còn là điểm tựa của nhân dân Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia để cùng
nhau hợp sức chống kẻ thù chung.
Như một yêu cầu tất yếu để tồn tại trước họa xâm lăng, đặc biệt là sự thống trị
của thực dân Pháp từ cuối thế kỉ XIX, nhân dân vùng Tây Nguyên, Trung Bộ nước ta
đã cùng một bộ phận nhân dân các bộ tộc Lào và Cam-pu-chia dựa vào núi rừng
Trường Sơn, xây dựng một số căn cứ kháng chiến. Cùng với việc hình thành những
căn cứ đó, nhiều lối mòn, nhiều con đường đã xuất hiện như những mạch máu lưu
thông tiếp sức cho các khu căn cứ.
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), các lối mòn
giao liên xuyên qua vùng rừng núi Trường Sơn ngày càng được mở rộng và phục vụ
đắc lực, góp phần làm nên những thắng lợi trong cuộc kháng chiến trường kỳ của ba
dân tộc Việt, Lào và Cam-pu-chia.
Từ năm 1945, để thực hiện thắng lợi đường lối kháng chiến và nghệ thuật chỉ đạo
lấy rừng núi làm căn cứ, Xứ ủy và các tỉnh ủy Nam Trung Bộ, Nam Bộ đã phối hợp
với các lực lượng kháng chiến của nước bạn, dựa vào con đường rừng mở tuyến giao
liên dọc Trường Sơn.
Cuối năm 1947, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ cho mở đường từ Phú Yên đến Bà
Rịa để dễ dàng liên lạc. Song song đó, các con đường từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng
Trị cũng xé rừng tới Tân Ấp, Phong Nha, Ta Lê vượt sang Tây Trường Sơn qua đến
Trung Lào. Đường giao liên men theo dãy Trường Sơn đã nối Trung - Hạ Lào, đông
bắc Cam-pu-chia với các căn cứ của ta ở Miền Đông và Tây Nam Bộ. Nhiều đồng chí,
cán bộ lãnh đạo của ta từ chiến trường Nam Bộ, Nam Trung Bộ đã vượt Trường Sơn
7
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
qua Thanh - Nghệ - Tỉnh lên Việt Bắc nhận chỉ thị của Trung ương Đảng rồi trở lại
chiến trường lãnh đạo nhân dân kháng chiến, góp phần tạo nên thắng lợi.
Vậy ta thấy được, trước khi đoàn 559 ra đời, những tuyến đường hoặc có tên
hoặc chưa có tên trên đại ngàn Trường Sơn đã được hình thành trong dòng chảy liên
tục của lịch sử. Cội nguồn của những con đường đó là ý chí độc lập tự do, quyết tâm
đánh thắng giặc xâm lược của dân tộc ta, là tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù
chung của nhân dân ba nước Đông Dương.
Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi đã mở ra một trang mới cho
cách mạng Việt Nam. Ngày 21/7/1954 “Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết đánh dấu
thắng lợi to lớn của nhân dân ta, thắng lợi của chín năm kháng chiến lâu dài và gian
khổ, của gần một trăm năm đấu tranh giải phóng dân tộc”
(1)
. Nhưng do so sánh lực
lượng và tình hình chính trị thế giới phức tạp lúc đó nên nước ta tạm thời bị chia cắt
làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau: miền Bắc hoàn toàn giải phóng đi lên
xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam tạm thời chịu sự kiểm soát của đế quốc Mĩ
và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Như vậy, mỗi miền có nhiệm vụ chiến lược
thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, nhưng lại có mối quan hệ khăng khít với
nhau. Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hậu phương lớn, xây
dựng về mọi mặt: chính trị, kinh tế, quốc phòng,... tạo tiềm lực lớn quyết định sự phát
triển của cách mạng Việt Nam. Như vậy, miền Bắc vừa là chỗ dựa vững chắc cho
quân dân miền Nam đấu tranh, vừa là tiền tuyến lớn của cả nước. Miền Nam thì thực
hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với mục tiêu là đánh đuổi kẻ thù, đồng
thời phải bảo vệ miền Bắc. Mục tiêu chung của cả hai miền lúc này là hoàn thành cách
mạng dân tộc, dân chủ, thực hiện hòa bình thống nhất đất nước.
Sau Hiệp định, lực lượng quân đội, cán bộ đảng viên của ta phải tập kết ra Bắc,
vì thế so sánh lực lượng cách mạng và phản cách mạng ở miền Nam lúc này bất lợi
cho ta. Tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải có những việc làm thật sáng suốt và kịp
thời. Với cách nhìn sâu rộng, trong bài báo cáo của mình tại Hội nghị Trung ương
Đảng lần thứ 6 (tháng 7/1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tranh lấy hòa bình
không phải là việc dễ, nó là cuộc đấu tranh trường kì, gian khổ, phức tạp”.(2)
8
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
Đảng lãnh đạo, nhân dân miền Bắc đã phát huy những thuận lợi và khắc phục
những khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ khôi phục kinh tế. Với cải cách ruộng đất và
cải cách dân chủ, ta đã xóa bỏ cơ bản chế độ người bóc lột người, thiết lập quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa. Các chỉ tiêu về nông nghiệp, công nghiệp, văn hóa, giáo
dục, y tế,...đã được thực hiện tốt. Lực lượng quân đội được xây dựng hiện đại sẵn
sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc và chi viện cho miền Nam. Nghị quyết Hội nghị Ban
chấp hành Trung ương lần thứ 6 nhận định: “Ngày nay, do tình hình mới, ta thay đổi
phương châm, chính sách và sách lược đấu tranh cốt để thực hiện một cách thuận lợi
mục đích trước mắt”. (3)
Cũng trong khoảng thời gian đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân miền Nam
đã đấu tranh kiên cường, bền bỉ với nhiều hình thức, để đòi đối phương phải thi hành
Hiệp định Giơ-ne-vơ, thực hiện tổng tuyển cử thống nhất nước nhà.
“Đế quốc Mỹ đã chà đạp lên mọi điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ, công
nhiên đưa vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh vào miền Nam với một nhịp độ
ngày càng tăng thêm. Chúng ráo riết tăng cường can thiệp về mọi mặt, gấp rút xây
dựng cho chính quyền tay sai một quân đội chính quy có trang bị hiện đại” (4). Nhằm
đối phó với phong trào cách mạng ngày một dâng cao, đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai ra
sức phá hoại Hiệp định, tuyên bố đặt miền Nam trong “tình trạng chiến tranh”, âm
mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, chúng ngày càng dấn sâu vào con
đường độc tài, phát-xít tàn bạo. Chúng ra đạo luật 5/57 gạt Đảng Cộng sản và những
người kháng chiến ra ngoài vòng pháp luật. Những vụ đầu độc ở nhà tù Phú Lợi, tàn
sát ở Vĩnh Trinh, Hướng Lập làm cho nhân dân vô cùng căm tức. Hàng loạt đạo luật
cực kỳ phản động được địch ban ra. Song song đó là các cuộc hành quân, càn quét,
gom dân để tiêu diệt tận gốc lực lượng kháng chiến, mở những chiến dịch “tố cộng”,
“diệt cộng” tàn khốc, lê máy chém đi khắp miền Nam, gây ra tội ác vô cùng dã man.
Các tỉnh miền Nam tới tấp gởi thư và cử người ra tận Trung ương yêu cầu cho đánh
địch để tự vệ mới thực thi được Hiệp định.
Năm 1956, Bộ chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết khẳng định phương
pháp mà ta tiến hành là đấu tranh chính trị, nhưng trong từng hoàn cảnh cụ thể ta có
9
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
thể dùng đến vũ trang để tự vệ. Phải tranh thủ củng cố lực lượng vũ trang, bán vũ
trang, xây dựng các cơ sở quần chúng vững mạnh vì đó là điều kiện cơ bản nhất để
phát triển phong trào cách mạng. Đầu tiên, miền Nam phải giữ gìn lực lượng, ra sức
mở các hoạt động công khai, tích cực xây dựng những tổ chức vũ trang tuyên truyền,
dùng những vũ khí đã cất giấu sẵn trang bị cho lực lượng tự vệ chiến đấu. Từ đó,
Đảng lãnh đạo nhân dân dấy lên hàng loạt phong trào đấu tranh hợp pháp, lôi cuốn
đông đảo người dân tham gia với quy mô rộng khắp miền Nam. Từ năm 1956 đến
năm 1959, các phong trào phát triển ngày càng mạnh mẽ, đấu tranh vũ trang để tự vệ
và trừ gian, diệt ác ôn được dấy lên rộng khắp. Các đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên
được thành lập ở chiến khu Đ, song song đó nhân dân đã vùng lên ở khắp mọi nơi.
Tuy đã kịp thời chuyển hướng đấu tranh, giữ gìn và củng cố lực lượng, song do
chính sách khủng bố tàn độc của kẻ thù vào những năm 1957-1958 nên cách mạng
miền Nam đã gặp phải muôn vàn khó khăn, thử thách và đã bị tổn thất rất nặng nề.
Con đường sống duy nhất lúc này là vùng lên đấu tranh, dùng bạo lực cách mạng để
đánh tan bạo lực phản cách mạng của kẻ thù.
Trước yêu cầu tình hình mới và để đáp ứng lại nguyện vọng tha thiết của mọi
tầng lớp nhân dân miền Nam mong được vũ trang để chống lại kẻ thù, tháng 1/1959,
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) lần thứ 15 được triệu tập và ra
Nghị quyết nêu rõ phương thức tiến hành cách mạng miền Nam lúc này là “dùng bạo
lực...lấy sức mạnh quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ
yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang hoặc nhiều, hoặc ít để đánh đổ quyền thống trị
của đế quốc, phong kiến...” (5)
Hội nghị đã phân tích tình thế chiến lược chung một cách khoa học, đi đến khẳng
định đường lối của cách mạng miền Nam lúc này là “Giải phóng miền Nam khỏi ách
thống trị của đế quốc phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập và người cày có ruộng,
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước
Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Nhiệm vụ trước mắt
là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một
chính phủ liên hiệp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và quyền
10
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ gìn hòa bình, thực hiện thống nhất đất
nước. Để giành thắng lợi, nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài, con đường phát triển
cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là con đường bạo lực.” (6)
Nghị quyết khẳng định việc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là
cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà. Miền Bắc có nhiệm vụ vừa thực
hiện sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa phải trực tiếp chi viện cho miền Nam.
Đường lối và biện pháp cách mạng của Nghị quyết 15 nhanh chống được quán
triệt xuống các cấp Đảng bộ, phù hợp với nguyện vọng của quãng đại quần chúng,
biến thành phong trào vùng lên khởi nghĩa đồng loạt, triệt hạ đồn bót, đập tan từng
mảng bộ máy cai trị và hệ thống kìm kẹp của Mĩ - ngụy ở cấp cơ sở. Các khu căn cứ
cách mạng được mở rộng và củng cố bao gồm những vùng rừng núi và nhiều vùng
nông thôn nằm sâu trong lòng địch. “Nghị quyết của Trung ương Đảng đã trở thành
hành động quật khởi của quần chúng”.
(7)
. Nhân dân giành được quyền làm chủ, tịch
thu ruộng đất của địa chủ phản động, ác ôn chia cho dân nghèo, xây dựng và phát
triển lực lượng vũ trang nhân dân, liên tiếp tiến công địch đạt hiệu suất chiến đấu cao.
“Nghị quyết 15 có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó đáp ứng nhu cầu bức thiết nhất của cách
mạng miền Nam lúc đó, làm xoay chuyển tình thế và mở đường cho cách mạng miền
Nam tiến lên, đưa cách mạng thoát khỏi tình thế hiểm nghèo. Nghị quyết thứ 15 đến
với cách mạng miền Nam đã thổi bùng ngọn lửa Đồng khởi trên nhiều vùng rộng lớn
ở miền Nam.” (8)
Mặt khác, cũng trong lúc này, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào chủ trương lãnh
đạo quần chúng vùng lên chống đế quốc Mĩ và tay sai, phá thế kìm kẹp của chúng, mở
rộng vùng giải phóng, thành lập chính quyền tự quản và xây dựng lực lượng vũ trang
chiến đấu. Tháng 5/1959, tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào đã phá vòng vây trở về căn cứ
kháng chiến. Trong làn sóng cách mạng, binh sĩ quân đội và nhân dân vương quốc
Lào đã làm cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Phu-mi Nô-xa-vẳn. Từ đó, cách mạng
Lào đã chuyển hẳn sang một giai đoạn mới, đó là thời kỳ kết hợp đấu tranh vũ trang
với đấu tranh chính trị để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, đánh đuổi được kẻ
thù, giành lại chính quyền.
11
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
Trước tình hình đấu tranh cách mạng đang chuyển biến sôi sục đó, đòi hỏi hậu
phương phải đáp ứng cao nhất những yêu cầu của cách mạng miền Nam đặt ra. Trước
kia, ngay từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, để giữ vững liên lạc giữa hai miền, bảo đảm
cho Trung ương Đảng chỉ đạo phong trào cách mạng ở miền Nam, ta mới chỉ có tuyến
liên lạc ngang qua miền tây Quảng Trị do Liên khu ủy 5 phụ trách chỉ đạo từ giới
tuyến trở vào và Ủy ban Thống nhất Trung ương phụ trách từ giới tuyến trở ra. Ủy
ban Thống nhất Trung ương có Phòng Giao Liên thành lập năm 1956 với nhiệm vụ
bảo đảm giao thông liên lạc, vận chuyển giữa Trung ương và địa phương như đưa
rước cán bộ, vận chuyển phương tiện vật liệu, thư từ, công văn từ Trung ương vào đến
nam giới tuyến. Con đường giao liên này từ Quảng Nam đến tây Trị Thiên gọi là
“đường Thống nhất”, mang mật danh “ Quận 9”. Do phải đi dọc đường giáp ranh,
địch đóng đồn bót khá dày đặc nên một năm ta chỉ đi được vài lần, mà chủ yếu là đưa
cán bộ đi công tác. Mỗi lần đi phải bí mật mốc nối cơ sở rất công phu. Địch thường
xuyên tung nhiều toán biệt kích phục kích, lùng sục trên tuyến đường. Người dân ở
dọc tuyến đường rất thưa, có khi đi cả mấy ngày trong một cung giao liên mà không
có một bản làng nào. Trục đường này ta không có căn cứ vững chắc do quá gần địch.
Khi cách mạng ở miền Nam đã chuyển sang thế tiến công thì hình thức đường dây
Thống nhất không còn thích hợp nữa mà một yêu cầu mới đặt ra là phải có một tuyến
đường vận tải quân sự chiến lược, mới đủ sức đảm bảo khẩn trương mọi nhu cầu ngày
càng lớn của chiến trường.
Trong tình thế quân sự cấp bách đó đòi hỏi nhất thiết phải xây dựng được hệ
thống đường vận chuyển từ Bắc vào Nam. Tuyến 559 đã gấp rút được ra đời theo
Nghị quyết của Bộ Chính trị và Tổng quân ủy (sau là Quân ủy Trung ương), thực hiện
nhiệm vụ chi viện cho chiến trường ở miền Nam và kể cả chiến trường ở Nam Lào
cùng với chiến trường Cam-pu-chia.
1.2. Tổ chức ban đầu của đoàn công tác quân sự đặc biệt:
Quán triệt tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng (1/1959), ngày
2/5/1959 Tổng Quân ủy quyết định lập phòng nghiên cứu hoạt động chi viện quân sự
cho miền Nam. Ba ngày sau (5/5/1959), Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh - Ủy viên
12
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
Trung ương Đảng, Phó Tổng Tham mưu trưởng, thay mặt Thường trực Tổng Quân ủy
trực tiếp giao cho Thượng tá Võ Bẩm, nguyên Cục phó Cục nông trường quân đội với
nhiệm vụ tổ chức cơ quan nghiên cứu công tác chi viện cho miền Nam, “mở một con
đường đặc biệt trên dãy Trường Sơn và tổ chức lực lượng vận chuyển vật chất súng
đạn chi viện cho miền Nam tiến hành chiến tranh giải phóng theo tinh thần của Nghị
quyết 15, lực lượng này có tên gọi “Đoàn công tác quân sự đặc biệt”….Đây là một
công việc lớn lao, rất khó và tuyệt đối bí mật…”. (9)
Tiếp đó, Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị điều động thêm một số cán bộ về đoàn
nhận nhiệm vụ. Để đảm bảo tính bí mật, cán bộ chiến sĩ phải lấy ở những đơn vị bộ
đội miền Nam tập kết và những người từng hoạt động ở miền Nam thời kháng chiến
chín năm. Tiền nông, lúc đầu lấy từ quỹ bí mật của Tổng Quân ủy, vũ khí quân dụng
thì lấy từ nguồn chiến lợi phẩm. Các đồng chí được đưa về nhận nhiệm vụ gồm:
Nguyễn Ngọc Anh trợ lý quân giới, Hồ Sĩ Phấn trợ ký quân khí, Huỳnh Chuẩn trợ lý
quân nhu, Huỳnh Thương trợ lý tài vụ, Phạm Công Chuyên trợ lý xây dựng kho, Lê
Trọng Tâm thư ký đoàn trưởng,…Những đồng chí này điều là cán bộ hoạt động ở
Liên khu 5 trong thời kì kháng chiến chống Pháp, sau khi tập kết ra Bắc, công tác tại
sư đoàn 324, Quân khu 4.
Sau khi thành lập Đoàn, nhóm cán bộ đầu tiên của Đoàn công tác quân sự đặc
biệt được bố trị làm việc tại các căn nhà số 61, 63, 83 phố Lý Nam Đế, Hà Nội.
Những ngôi nhà này tuy xen kẽ khu dân cư nhưng đa phần là cán bộ Nhà nước, tiện
cho cán bộ miền Nam ra công tác. Mặt khác, những cơ sở này gần cơ quan Bộ và Văn
phòng Tổng Quân ủy, vừa thuận lợi cho đoàn nhận chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên,
vừa tiện cho việc tiếp xúc với cán bộ từ chiến trường ra công tác.
Khi cán bộ được điều về đã tạm đủ, Thường trực Tổng Quân ủy quyết định thành
lập Ban Cán sự - cơ quan thực hiện công tác Đảng, công tác chính trị của đoàn và đặt
phiên hiệu Đoàn công tác quân sự đặc biệt là Đoàn 559. Ngày 12/9/1959, Bộ Quốc
phòng ra Quyết định số 446-QĐ hợp thức hóa việc thành lập Đoàn công tác quân sự
đặc biệt. Cuộc họp đầu tiên của Ban Cán sự chỉ huy Đoàn tại ngôi nhà lớn số 25A
Phan Đình Phùng, Hà Nội vào ngày 20/5/1959 để triển khai cụ thể nhiệm vụ của Tổng
13
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
Quân ủy giao. Do tính chất bảo mật nên cơ quan rất gọn, từ chỉ huy đoàn đến trợ lí
đều do Thường trực Quân ủy xét duyệt.
Thượng tá Võ Bẫm được cử làm Trưởng đoàn, Chính ủy kiêm Bí thư Ban Cán
sự. Ông nguyên là cán bộ cách mạng từ năm 1930 ở khu 5, từng bị Pháp bắt giam ở
các nhà tù Buôn Ma Thuộc và Lao Bảo. Trong kháng chiến chống Pháp, ông từng làm
công tác vận tải ở Khu 5 tham gia vượt biển sang Trung Quốc mua vũ khí…, rồi giữ
chức trưởng ban tác chiến Liên khu 5. Năm 1954 tập kết ra Bắc, ông tiếp tục nhiệm vụ
quân sự, được bổ nhiệm làm phó Cục trưởng nông trường quân đội.
Trung tá Nguyễn Thạnh nguyên là chiến sĩ du kích Ba Tơ, đảng viên Đảng Cộng
sản từ năm 1934 và Nguyễn Chương (tức Nguyễn Ngọc Chương) nguyên là công
nhân ở Đà Nẵng, gia nhập Vệ quốc quân Liên khu 5 từ năm 1945 là hai ủy viên.
“Cơ cấu chỉ huy của Bắc Việt trên dọc đường mòn cũng trải qua một sự thay đổi
quan trọng. Các tiểu đoàn biên phòng đóng dọc biên giới Nam Lào, trước kia vẫn phụ
thuộc các bộ tư lệnh quân khu ở Bắc Việt nay lần đầu tiên đặt dưới quyền một bộ tư
lệnh thống nhất độc lập, bộ tư lệnh mới lấy tên là đoàn 559, chỉ huy tất cả lực lượng
biên phòng, lực lượng bảo vệ đường mòn, công binh, thông tin và liên lạc, dân công
dẫn đường cũng như các đơn vị đang di chuyển dọc đường mòn…” (10)
Ngày 19/5/1959, Thường trực Tổng Quân ủy triệu tập Ban Cán sự Đoàn 559 phổ
biến nhiệm vụ cụ thể của đoàn là: mở đường chi viện vào chiến trường miền Nam.
Trước tiên, bảo đảm giao thông liên lạc từ miền Bắc vào miền Nam, vận chuyển gấp
một số lượng hàng quân sự theo yêu cầu khẩn cấp của Khu 5, gồm 7.000 súng bộ
binh, tổ chức bảo đảm cho 500 cán bộ quân sự từ cấp trung tá trở xuống, có trang bị
vũ khí, là lực lượng khung bổ sung cho các chiến trường. Thường trực Tổng Quân ủy
chỉ thị toàn bộ những nhiệm vụ trên phải hoàn thành trong năm 1959.
Để đảm bảo tính bí mật tuyệt đối hoạt động chi viện cho cách mạng miền Nam,
nguyên tắc hoạt động của Đoàn 559 được xác định: Ban Cán sự chịu sự chỉ đạo trực
tiếp của Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy, khi cần quan hệ với cơ quan, đơn vị hoặc cá
nhân nào đó đều phải thông qua Tổng Quân ủy. Chỉ những cán bộ của đoàn do trên
chỉ định mới được quan hệ, làm việc với những cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân đó. Mọi
14
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
hoạt động của đoàn trên tuyến giao liên vận tải phải chấp hành nghiêm nguyên tắc
tuyệt đối an toàn và bí mật. Khẩu hiệu mà tất cả các chiến sĩ hoạt động ở tuyến 559
đều phải nằm lòng và thực hiện nghiêm chỉnh đó là: “đi không dấu, nấu không khói,
nói không tiếng”.
Biên chế ban đầu của Đoàn 559 gồm 500 người, được tổ chức thành một tiểu
đoàn giao liên vận tải và các bộ phận: xây dựng bảo quản kho, bao gói hàng, sửa chữa
vũ khí, chế biến thực phẩm.
Thời gian này tình hình đấu tranh ở miền Nam rất quyết liệt, điều đó càng thôi
thúc Ban cán sự Đoàn 559 phải tìm cách nhanh nhất để tổ chức chi viện cho chiến
trường. Cuối tháng 5/1959 đồng chí Võ Bẩm cùng hai ủy viên cán sự cầm giấy ủy
nhiệm của Tổng Quân Ủy đến làm việc với Thường vụ Đảng ủy - Bộ Tư lệnh các
Quân khu 3, 4, đi các sư đoàn miền Nam tập kết (sư đoàn 305, 324 và 325), gặp Ban
giám đốc tập đoàn sản xuất miền Nam. Nơi nào đoàn cũng được Đảng ủy - Bộ chỉ huy
niềm nở thông báo tình hình, cơ quan hết sức giúp đỡ, lập danh sách hàng ngàn cán
bộ, chiến sĩ. Từng người có trích ngang phân tích rất tỉ mỉ. Nhờ vậy đã nhanh chóng
thực hiện được đúng chỉ tiêu “đặc tuyển” của Tổng Quân Ủy.
Chọn người là công việc phải rất thận trọng, đúng nguyên tắc. Tiêu chuẩn đề ra
không châm chước, gồm đủ các yêu cầu như: hoàn toàn tự nguyện, có tinh thần dũng
cảm đã xác minh qua chiến đấu, tinh thần kỹ luật tự giác cao đã thể hiện trong quá
trình công tác, ý thức bảo mật tốt, lý lịch rõ ràng không quan hệ phức tạp, kiên định
lập trường cách mạng, trung thành tuyệt đối, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải
phóng miền Nam, có sức khỏe dẻo dai.” (11)
Chỉ mấy ngày sau, các đơn vị đã cung cấp đủ số lượng cán bộ, chiến sĩ mà cấp
trên yêu cầu, đảm bảo những tiêu chuẩn cơ bản. Đây là những đảng viên hoặc đoàn
viên giác ngộ sâu sắc nhiệm vụ giải phóng miền Nam, không bị chi phối bởi hoàn
cảnh riêng tư và có đủ sức khỏe, lòng hỏa cảm để đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ nhiệm
vụ gì mà cấp trên giao phó.
Ngày 26/5/1959 những cá bộ chiến sĩ được tuyển chọn đã tập trung đầy đủ tại hội
trường sư đoàn 305 ở đỉnh đồi gần trung tâm nông trường Vân Lĩnh, Phú Thọ. Trung
15
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
tá Nguyễn Thạnh đã phổ biến tình hình nhiệm vụ cách mạng miền Nam và nhiệm vụ
chi viện của hậu phương miền Bắc đối với miền Nam, đồng thời khẳng định: “Ngoài
vinh dự, đoàn đang bước vào một cuộc chiến đấu thầm lặng, rất ác liệt và phải chịu
nhiều hy sinh, gian khổ. Ở mặt trận này, người lính không chỉ đương đầu với kẻ thù
rình rập đánh phá mà còn phải chống chọi với thú dữ, với thời tiết khắc nghiệt của
rừng núi Trường Sơn. Từng người phải có quyết tâm cao, lòng dũng cảm, sức chịu
đựng bền bỉ, mới vượt qua được những thử thách, nguy nan đó.”
(12)
. Cả hội trường
447 đồng chí, không ai tỏ ý ngần ngại, nhất loạt giơ thẳng cánh tay với quyết tâm sắt
đá thề sẽ vượt mọi khó khăn, gian khổ, chấp nhận hi sinh để hoàn thành cho bằng
được nhiệm vụ quan trọng này. Với 447 trái tim hỏa cảm, Tiểu đoàn 301 (Đ301) được
thành lập. Ban chỉ huy gồm ba đồng chí : Đại úy Chu Đăng Chữ giữ chức Tiểu đoàn
trưởng, đồng chí Nguyễn Danh là Chính trị viên và đồng chí Ngô Văn Diệm đảm
nhận chức Tiểu đoàn phó.
Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ và đặc điểm tình hình lúc này nên mọi hoạt động
phải lấy “phòng tránh” làm phương châm bảo đảm tuyệt mật mọi hành tung công tác.
Toàn đoàn luôn cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu tay không, sử dụng dao mác để bảo
đảm an toàn cho hàng hóa chi viện. Công việc huấn luyện cán bộ của Đ559 được tiến
hành rất nghiêm túc với các nội dung cơ bản là:
+ Hành quân ban đêm đường núi, gùi hàng nặng theo các cung đoạn thích hợp
địa hình: cung đoạn dài 20 km thì gùi 30 kg, cung đoạn ngắn 15 km thì gùi 40 kg.
+ Những người chiến sĩ phải tìm phương hướng vào ban đêm ở trong rừng, tìm
đường vòng tránh qua các vùng đồn bót hoặc bất ngờ đụng độ với kẻ thù.
+ Phải khảo sát cắm tuyến mở đường bí mật xuyên rừng núi hiểm trở, lúc nghĩ
ngơi phải chọn và sắp xếp chỗ ngủ cho thật nhanh.
+ Phải tuân thủ đúng kĩ thuật bám địch, bám dân trinh sát, nắm bắt tình hình, địa
vật, bối cảnh và đặc biệt không được ghi chép.
+ Kĩ thuật thông tin liên lạc, mật báo ban ngày, ban đêm ở vùng có địch.
+ Võ thuật chiến đấu cá nhân tay không hoặc có gậy chống lại kẻ địch đông.
+ Các biện pháp bảo vệ hàng để không rơi vào tay địch khi bị vây hãm.
16
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
+ Kĩ thuật tìm kiếm thức ăn, nước uống, dược liệu trên tuyến Trường Sơn.
+ Kĩ thuật tự cấp cứu khi bị rắn, rết, bọ cạp, muỗi độc,… cắn và chống ngộ độc
thức ăn do ăn uống.
+ Kĩ thuật bảo mật nổi tiếng là “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”.
Trung tá Nguyễn Thạnh, Phó Đoàn trưởng được phân công lãnh đạo triển khai tổ
chức thực hiện chương trình huấn luyện, chọn địa điểm thao trường, mời thầy dạy,
chuẩn bị học cụ,… Tiểu đoàn 301 phiên chế lực lượng xong, hành quân đến hạ trại ở
vùng đồi núi Lâm Thao (Phú Thọ). Đây là vùng thưa dân, dễ bảo đảm tính bí mật. Ban
chỉ huy tiểu đoàn trực tiếp quản lý, rèn luyện đội quân vận tải chiến đấu đầu tiên trên
Trường Sơn.
Nhiệm vụ đầu tiên mà đoàn triển khai là chuẩn bị vũ khí để vận chuyển vào miền
Nam. Những vũ khí là chiến lợi phẩm đã được đưa về kho vũ khí bí mật ở Kim Lũ
cạnh cửa sông Tô Lịch phía nam Hà Nội. Lúc này Kim Lũ vừa là kho vừa là xưởng do
Trung úy Nguyễn Ngọc Linh phụ trách với nhiệm vụ sửa chữa, hiệu chỉnh các loại vũ
khí và đóng thành từng gói để đưa vào chiến trường. Những khó khăn lần lượt được ta
khắc phục bởi ai nấy đều sống trong cảnh ngày Bắc, đêm Nam. Chỉ một thời gian
ngắn, số hàng đã được chuyển tới kho bí mật đặt ở trong cánh rừng già phía tây nam
Quảng Bình, giáp với Vĩnh Linh. Như vậy, hàng đã sẵn sàng, vấn đề còn lại là khâu
vận chuyển để đem đến chiến trường.
Mặt khác, với sự trợ giúp của Cục Quân nhu, Đoàn 559 đã tổ chức được một
xưởng sản xuất lương khô cho lực lượng hoạt động trên tuyến. Cơ sở sản xuất đặt ở xã
Thạch Vịnh gần Nông trường Thạch Ngọc (Thạch Hà, Hà Tĩnh). Đây là nơi vừa bảo
đảm tính bí mật lại vừa thuận lợi cho việc chế biến thực phẩm khô. Cục Quân y cũng
cử Phó Cục trưởng đặc trách tổ chức sản xuất, đóng gói các loại thuốc điều trị các vết
thương thường gặp, thuốc trị sốt rét, trúng độc, lở loét,…gởi đi “B” và cung cấp cho
Đ559. Cục Tài vụ cũng cử Phó Cục trưởng chuyên lo kinh phí mật cho Đ559. Việc
chi tiêu, giúp đỡ Đoàn công tác quân sự đặc biệt thời kì này không phải thông qua các
cơ quan chức năng mà trực tiếp làm việc với bộ phận của thường trực Quân ủy và Chủ
nhiệm Ủy ban Thống nhất Trung ương.
17
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
1.3. Điểm mở đầu của đoàn công tác quân sự đặc biệt:
Những bộ phận cần thiết đã được ta chuẩn bị một cách tạm ổn nhưng khâu then
chốt là việc mở một con đường tuyệt mật xuyên Trường Sơn thì ta vẫn chưa giải quyết
được. Vì tuyến giao liên phải vượt qua rất nhiều hệ thống đồn bót của giặc. Vậy làm
cách nào để xé được đường rừng mà đi? Nên bắt đầu đi từ đâu? Cung, chặng với bố trí
như thế nào? Những câu hỏi như thế luôn day dứt đối với cán bộ lãnh đạo và chỉ huy
Đ559. Để giải quyết những câu hỏi đó, đồng chí Trần Lương (tức Trần Nam Trung) Ủy viên Trung ương Đảng gợi ý việc ta cần phải làm việc với các đồng chí lãnh đạo
Liên tỉnh ủy Trị - Thiên, Khu ủy 5 và các đồng chí đặc trách công tác ở Quảng Trị.
Đầu tháng 6/1959 Đoàn trưởng Võ Bẩm vào Hồ Xá - Vĩnh Linh gặp đồng chí Lê
Hành - Phó bí thư tỉnh ủy Quảng Trị đặc trách công tác giao liên mật ở bắc Quảng Trị.
Sau cuộc hợp, Đ559 đã cử ngay đội khảo sát để tìm đường mở tuyến. Giúp đỡ
cho đoàn có đồng chí Cương - huyện ủy viên Hướng Hóa và một số cán bộ thông thạo
địa hình nhiệt tình dẫn đường mở tuyến. Đoàn thám hiểm mở đường nghiên cứu kĩ
lưỡng con đường của Lữ đoàn 270 Quân khu 4 mở để khai thác gỗ, kết hợp cơ động
với việc chiến đấu bảo vệ vùng giới tuyến. Sau khi đã nghiên cứu, suy xét, Đoàn
trưởng Võ Bẩm đã quyết định dựa vào con đường mà Lữ đoàn 270 đã mở để vào Khe
Hó và lấy Khe Hó làm cột mốc đầu tiên, từ đây sẽ tìm đường vượt đại ngàn Trường
Sơn. “Sau ba ngày bàn bạc với Bí thư Đặc khu ủy Vĩnh Linh Hồ Sĩ Thản, tôi quyết
định chọn Khe Hó làm điểm mốc đầu tiên xuất phát vượt Trường Sơn.” (13)
Khe Hó nằm giữa một thung lũng hẹp dưới chân dãy động Nóc, động Châu và
Vít Thù Lù, kề thượng nguồn Rào Thanh, phía tây - nam Vĩnh Linh. Dân cư ở đây chủ
yếu là người Pa Cô, Vân Kiều,…nặng tình với cách mạng. Ban lãnh đạo 559 đã sáng
suốt khi chọn Khe Hó làm điểm xuất phát vì nơi đây vừa đảm bảo tính bí mật lại vừa
bất ngờ đối với địch do khu vực này nằm trong vùng phi quân sự, kề cận bên địch.
Sau khi con đường phía bắc sông Bến Hải được Đoàn trưởng Võ Bẩm soi xong
thì đồng chí phó đoàn Nguyễn Thạnh cũng đã chỉ huy soi tiếp đoạn đường phía nam.
Tuy gặp phải nhiều khó khăn về thời tiết, địa hình và sự kiểm tra của kẻ địch, nhưng
cuối cùng kế hoạch đề ra cũng đã được hoàn thành đúng dự kiến.
18
Đường Trường Sơn - con đường huyền thoại
GVHD: Khoa Năng Lập
SV: Bùi Nhật Khoa
MSSV: 6095942
Sau khi đã hoàn thành công việc khảo sát, Đoàn 559 đã quyết định mở tuyến
hành lang bắt đầu từ Khe Hó đi qua các địa điểm động Nóc, Bô Hô Sứ, động Voi
Mẹp, động Ca Lư rồi vượt đường 9 qua làng Riêu, làng Rao đến Tà Riệp, Pa Linh là
điểm đặt trạm cuối, kế cận trạm nhận tiếp tế đầu tiên của Khu 5. Tuy “con đường
không dài nhưng phải vượt qua nhiều dãy núi cao hiểm trở, là vùng có điều kiện tự
nhiên vô cùng khắc nghiệt.” (14)
19