Vấn đề nước liên quan tới khai thác than dưới biển
1. Giới thiệu
Khai thác than dưới biển đã được thực hiện ở nhiều phần khác nhau trên thế giới.
Sự nghiên cứu đầu tiên liên quan tới khai thác dưới biển hoặc cho những nội
dung bên dưới khối lượng lớn nước hoặc bên dưới tầng chứa nước dưới bề mặt,
là sự làm nhiễu loạn(quấy rầy) lên các địa tầng trên bề mặt công tác, với sự đưa
ra việc ngăn ngừa nước đi vào vùng khai thác.
Bờ biển ở Đông Bắc nước Anh, một số lượng hầm khai thác đã bị ảnh hưởng bởi
dòng chảy vào lượng lớn nước vào trong mặt gương lò chợ. Mặc dù các công
việc là dưới biển (nguồn gốc của nước), trừ một hoặc hai trường hợp không phải
là biển mà là tầng ngậm nước dưới bề mặt.
Những phân tích hóa học đã chỉ ra rằng nước từ những tầng ngậm nước khác
nhau hầu hết thường xuyên có lượng đặc trưng hóa học, ví dụ nước từ phạm vi
than chứa nước thường chứa Barium, và nước từ nền(đáy, cơ sở) Permian thường
chứa đựng trong sự đưa ra là 500000 phần triệu về chất rắn trở thành chất cao về
Chlorides và Sulphates. Khi nước trên nền Permian gặp lỗ khoan, áp lực thủy tĩnh
tương đương với mức áp lực của biển là đã đo lường được. Nước gặp phải trên bề
mặt thay đổi đặc trưng hóa học giống như sự thay đổi(gián đoạn, đứt, vỡ) nước
máy từ tầng chứa nước cao và đó là hậu quả của việc pha trộn. Cách mà những
kiểu phá vỡ qua bề mặt gương lò chợ dài là khác nhau cho việc dự đoán và xuất
hiện phụ thuộc vào vị trí và chiều dày của tầng ngậm nước, và những sự nứt vỡ
tồn tại trước giống như những đứt gãy và những vết nứt. Góc dốc địa tầng thường
rất quan trọng. Trong một vài trường hợp khe nứt lấp đầy do núi lửa đã được
nhận dạng(đồng nhất) giống như kênh dẫn(thân truyền dẫn).
Đối tượng của bản báo cáo này là việc nghiên cứu những tác động của địa tầng
phía trên bề mặt công tác với mối liên quan với nước được tìm thấy, bằng việc sử
dụng những kết quả từ việc quan sát những hoạt động, một vài sự đo lường tại
chỗ và mô hình vật lý.
Những tiêu chuẩn đã yêu cầu cho việc đưa ra cho việc làm giảm xác xuất về dòng
chảy vào và số lượng nước chảy vào khi khai thác dưới biển và dưới tầng chứa
nước lớn.
2. Những ví dụ trên thế giới về khai thác than dưới đáy biển
Ở nước Anh, tùy theo sự lưu giữ của lịch sử, sự khai thác khoáng sản đã đưa ra vị
trí dưới lưu vực nước rộng lớn từ thế kỷ 13. Khai thác than cũng được đưa ra
dưới đáy biển trong một vài nước khác. Ở mỗi nước, đó là những quy luật mà chỉ
huy những công tác dưới đáy biển. Những quy luật này đã được tiến triển, và
thường dựa trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa điểm và tạo ra bởi kết quả của
một vài điều tra nghiên cứu.
Quy tắc thực tiễn cho những công tác mỏ dưới biển và tầng chứa nước là được
thể hiện trên bảng 1. Một vài thông số nên được đưa vào sự xem sét trong việc
cung cấp xác định quy tắc thiết kế cho việc khai thác dưới biển. Danh sách Garity
17 thông số cái mà có thể ảnh hưởng đến dòng nước từ biển hoặc tầng ngậm
nước trong bề mặt công tác. Tuy nhiên, ngay cả với những thông số này, vẫn
chưa chắc chắn về một vài sự xuất hiện của nước, bởi vậy những thông số khác
nhiều hơn có thể cần thiết.
Bởi vì than dưới biển đã được khai thác ngoài sự tràn ngập chính của nước trong
những năm gần đây, có một cảm giác chung và chắc chắn rằng không có một sự
khác biệt quan trọng nào từ việc khai thác dưới đất. Tuy nhiên những sự ghi lại
của lịch sử đã đưa ra rằng một vài tai nạn thảm họa do bởi khai thác dưới biển.
Một vài sự tràn vào chính được đưa ra ở bảng 2. Nó có thể thấy được từ bảng
rằng, giống như có thể mong chờ(đòi hỏi, yêu cầu, hy vọng) những mối nguy về
sự tăng lên của nước tràn vào khi làm việc ở gần sát tầng nước biển hoặc gần
những chỗ đứt gãy.
Table 1
Table 2
3. Khai thác than dưới biển ở phía Đông Bắc nước Anh
Bên dưới nước Anh khu vực biển phía Bắc, vỉa than có chiều dày lên đến 15m đã
được tìm thấy ở độ sâu từ 600 đến 3000m. Khoáng sàn than có vị trí ở vùng mà
chiều sâu của biển biến thiên từ nhỏ hơn 25m đến 200m, và với khoảng cách lên
đến 100km từ phía Đông bờ biển nước Anh. Trước thời điểm hiện tại, khai thác
khoáng sàn dưới đáy biển đã bị hạn chế bởi vùng bờ biển nơi mà vỉa than dâng
lên(lối vào, lại gần) từ hoạt động nền đất chính giống như sự mở rộng của mỏ
hầm lò hiện tại. Hiện nay, khai thác có thể bảo đảm tại 9 hầm khai thác miền ven
biển lên đến 8-10 km từ đường bờ biển bằng việc sử dụng phương pháp thông gió
thông thường bổ sung bởi sự tăng quạt thông gió hầm lò. Những mỏ than cùng
nhóm là Ellington, Lynemouth, Bates, Wearnouth, Westoe, Vane Tempest,
Dawdon, Easington và Horden.
4. Tiêu chuẩn thiết kế khai thác than dưới biển của Anh
Tiêu chuẩn thiết kế là rất quan trọng trong những công tác bên dưới biển bởi vì
khả năng nguy hiểm về sự tràn vào của nước biển.
Sau khi khai thác, sự tăng độ thấm của đất có thể cho phép dòng nước chảy vào
trong mỏ và do đó chi phí của khai thác tăng lên.
Ở nước Anh, phương pháp khai thác bên dưới nước mặt và các tầng chứa nước
được đưa ra bởi The Mines Regulations 1979 và The N.C.B’s Mining
Department Instruction cho những công việc khai thác bên dưới biển. Sự ban
hành luật cấm khai thác với 45m của bất kỳ khả năng tồn tại nước ngoài việc sự
tán thành đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền (Inspectorate).
Những quy tắc thực hiện của NCB Mining Department Instruction P.I 1968/8
(sửa đổi năm 1971) giải thích với chi tiết hơn và đưa ra một vài đặc điểm kỹ thuật
cho khai thác gương lò chợ dài:
“Không có khai thác gương lò chợ dài nào sẽ thực hiện nơi mà độ dày của lớp
bao phủ giữa phía đỉnh của vỉa và tầng nước biển là nhỏ hơn 105m nơi mà toàn
bộ chiều dày địa tầng hệ cacborn phía trên đỉnh của vỉa là nhỏ hơn 60m. Những
vỉa sẽ được khai thác với bề dày và chiều sâu đến mức mà sức căng dãn gây ra tại
tầng nước biển sẽ không vượt quá 0,01 (10mm/m).”
Sự ứng dụng này cho cả lần đầu tiên và vỉa thực hiện hoàn thành, sự tích lũy
những tác động của toàn bộ những công tác này đã được đưa ra nghiên cứu.
Khai thác cột và ngăn từng phần và khai thác trụ bảo vệ cũng được bao phủ theo
như quy tắc (chỉ dẫn).
Trong những năm gần đây, vùng Đông Bắc của NCB đã đưa ra một biểu đồ cái
mà thể hiện bề mặt ẩm ướt và khô trong sự liên quan tới lớp bao phủ của nền
Permian cái mà che phủ địa tầng hệ carbon và có một khoảng cách với tầng nước
biển.
Giống như có thể thấy trong hình 1, trong vùng này, vượt qua một giá trị nào đó
lớp bao phủ đến tầng biển không ảnh hưởng đến điều kiện nước tại bề mặt gương
lò chợ. Lớp bao phủ của nền Permian rõ ràng là yếu tố chính. Nếu lớp bao phủ
của nền Permian là nhỏ hơn 150m một tỷ lệ phần trăm cao của gương lò chợ là
ẩm ướt trong khi mà nếu lớp bao phủ lớn hơn 150m chỉ một vài mặt gương lò
chợ là không khô.
Cũng có một yếu tố mà chiều sâu lớn hơn từ cấp biển (bởi vì mức cao cột áp thủy
tĩnh tại nền Permian, số lượng lớn hệ carbon bao phủ yêu cầu cho điều kiện làm
khô chủ yếu.
5. Cơ cấu máy móc của việc tác động địa tầng phía trên sự sập đổ gương lò
chợ dài
Ban đầu khi mà mặt lò chợ gương lò dài bắt đầu tiến lên, lớp mái trực tiếp bắt
đầu võng xuống, trượt(dịch chuyển) và tách ra. Giống như sự tiến lên của gương
lò chợ, những vết nứt của mái trực tiếp được tạo ra, và một vùng sập đổ được
hình thành(định hình).
Sự sập đổ nóc với một chiều cao (C):
Với M là chiều cao khai thác; F là hệ số phồng nở của chất sập đổ.
Nếu F=1,5 khi đó C=2M. Giá trị C=2M được đưa ra kết quả phù hợp với rất
nhiều sự quan sát, và thường được chấp thuận ở Anh và Đức.
Các địa tầng cao hơn, nơi mà gồm có mái chính và phần thấp của địa tầng trực
tiếp, xử lý(thái độ, cách cư xử) giống như một chuỗi các xà hoặc các dầm gỗ dài
và sự phân tầng trở nên rõ ràng hơn.
Những đặc trưng làm giãn ra(nở ra) của vật chất sụt lở và sự tồn tại của những
vết nứt trong những xà riêng rẽ là được chấp nhận. Sự tiến xa hơn nữa của lò chợ
kèm theo bởi sức căng và sự cố nứt vỡ chính. Cuối cùng là nó kết thúc trong sự
sập đổ của mái chính. Trong khi ấy khoảng trống phân tầng rất gần (sát). Sự tiếp
cận của cơ giới(máy móc) sẽ không ảnh hưởng tới địa tầng ở phía trên. Ở những
tin tức khác, sự rỗ(trống, rỗng) phân tầng có thể vẫn còn lại trong địa tầng phía
trên. Cuối cùng, vẫn tồn tại địa tầng phía trên cho đến lớp mặt trượt địa tầng bên
dưới. Khi các gương lò chợ liên tiếp tiến triển(thúc đẩy), những cơ cấu này sẽ lặp
lại lần nữa.
Sự tồn tại của sự phân chia tầng đã được nghiên cứu mở rộng ở Anh bằng việc sử
dụng lỗ khoan và mô hình vật lý cái mà đã đưa ra một kết quả tốt trong một vài
trường hợp.
6. Sự phân tầng qua bề mặt gương lò chợ dài
Hiện tượng “Sự phân tầng” là phổ biến(rộng rãi) trong sự đem đến những giải
thích nước tràn đột ngột lên gương lò chợ ở Anh. Bởi vậy, trong phần báo cáo
này, sự phân tầng sẽ được thảo luận. Trong những báo cáo trước tại Hội thảo thế
giới về tiến bộ nhanh chóng của khai thác mỏ than, Professor Labasse(8) miêu tả
sự dịch chuyển địa tầng phía trên gương lò chợ dài với mối liên quan(sự lưu tâm)
về kinh nghiệm khai thác ở vùng Liege. Ông ấy đã đưa ra rằng với nhiều tầng dễ
uốn(dẻo, linh hoạt) trở thành sự phân chia với nhiều tầng rắn chồng ở trên.
Không có một nghi ngờ nào về các tầng cứng(chắc, đặc sệt) liên tiếp có thể vắt
ngang(vượt qua, khắc phục) một khoảng trống nhưng bên dưới những thanh xà
cứng cái mà nứt vỡ có thể chạy(hoạt động) khi những thanh xà liên tiếp có độ
cứng vững thấp và có khả năng bắc ngang qua những khoảng trống và chính điều
này đã đưa ra sự phân tầng.
Ở phía Bắc Staffordshire, K.R. Whitworth(18) đã chứng minh sự tồn tại của vùng
phân tầng chật hẹp khác nhau theo mức tầng bằng việc sử dụng sự tháo nước(khử
nước, làm khô) lỗ khoan.
Hình 2 thể hiện một dãy phân chia tầng trong mức tầng phía trên của đặc trưng
khai thác gương lò chợ dài. Những quy định vị trí của các mức tầng, không phụ
thuộc vào khoáng thạch học, là hơi ngạc nhiên một chút.
7. Mô hình vật lý
Bộ phận kỹ sư khai thác ở trường đại học Newcastle upon Tyne chính mô hình
vật lý tải trọng đã được xây dựng dùng cho mỏ than Lynemouth khi còn nguyên
mẫu.
Những kết quả thu được từ mô hình đã đưa ra rằng sự phân tầng đã diễn ra với
những khoảng cách khác nhau phía trên bề mặt gương lò chợ dài. Khi gương lò
chợ tiến triển, mô hình thể hiện sự bắt đầu và sự kết thúc của hoạt động cơ cấu,
giống như thể hiện trên hình 3.
Không may, những công tác của mô hình đã dừng lại sau khi mái chính đầu tiên
bị đổ vỡ. Một mô hình xa hơn là cần thiết cho việc đem đến một sữ xác định lần
nữa về cơ cấu phân tầng liên tiếp.
8. Sự nghiên cứu mỏ
Trong những đánh giá nghiên cứu của Malone và Tomlin (17) chỉ ra rằng sự cố
định những lỗ hổng(khe hở, gián đoạn) thực tế là đã được tạo ra giữa các lớp đá
phía trên bề mặt gương lò chợ dài. Việc sử dụng máy đo biến dạng lỗ khoan và
sự đo đạc mặt ngang, sự bắt đầu và kết thúc của khe hở giữa các lớp đá đã được
tiến hành. Hình 4 thể hiện mối liên kết sự dịch chuyển các địa tầng từ nơi mà nó
có thể bao gồm những khe hở chính thường xuyên(vĩnh cửu, cố định) trong các
tầng bao bọc phía trên sau khi khai thác. Những sự xuất hiện này chỉ ra rằng cơ
cấu đóng lại sau khi sự phân tầng chưa hoàn thành. Điều này kết luận rằng sự hỗ
trợ(chống đỡ, bảo vệ) bằng sự đo lường mỏ bởi King, Whittaker và Batchelor(17)
và Oyangution(12). Tuy nhiên, trừ khi những khe hở yêu cầu là không liên tục
trong hướng ngang, đó là sự khó khăn cho việc điều hòa những kết quả này với
sự tiến hành củng cố sự phá sập cái mà phải cần sự (chuyển giao) truyền sức căng
dọc lớn thông qua các tầng đá bao phủ phía trên.
9. Vấn đề nước ở phía Đông Bắc nước Anh
Sự sản xuất với một số lượng hầm lò hoạt động phía bên Đông Bắc bờ biển nước
Anh đã ảnh hưởng đáng kể bởi dòng chảy với số lượng quan trọng của nước vào
trong bề mặt lò chợ.
Đặc biệt số lượng nước đáng kể có thể gây sự xáo trộn(phá hủy) điều kiện làm
việc ở Đông Nam Durham, đặc biệt ở mỏ than Blackhall và Horden. Mỏ than
Easington sẽ phải gặp điều kiện tương đương trong tương lai gần. Những kết quả
tiến hành từ sự phân tích nước chỉ ra rằng những sự phá hủy chính do bởi nước
đến từ Permian cái mà là tầng ngậm nước chính trong vùng.
9.1.
Mỏ than Blackhall
Toàn bộ 35 gương lò chợ trong vỉa Low Main (J) được thực hiện giữa năm 1967
và 1979, giống như thể hiện trong hình 5. Gương lò chợ công tác đã bị ảnh hưởng
tồi tệ bởi số lượng nước đáng kể. Việc đem đến sự giảm bớt dòng nước chảy vào
lò chợ công tác, chiều dài của lò chợ đá thay đổi.
Hệ thống gương lò hẹp đã tác động cục bộ(một phần) lên việc giảm sự tạo ra
nước nhưng một vài nhánh nước đã xuất hiện nhưng chúng thường xuyên có liên
quan tới những đứt gãy hoặc những nứt vỡ tự nhiên. Hệ thống khai thác cục bộ (ở
phía Bắc phần dưới biển của mỏ than) đã rất thành công trong việc ngăn ngừa sự
chảy vào của nước. Hệ thống cơ cấu mô hình đã được thực hiện nhiều và trên
toàn bộ, khai thác với tỷ lệ phần trăm cao về giới hạn(dự trữ) so với phương pháp
khai thác gương lò chợ dài. Do bởi chúng xuất hiện với nhiều tiến bộ.
Bộ phận lập bản đồ vùng Đông Bắc N.C.B đã chuẩn bị một bảng (13) cho những
gương lò chợ trong việc đưa ra sự so sánh gương lò chợ khô và ẩm tương
xứng(tùy theo) với sự ước lượng sức căng dãn tại nền Permian (B.O.P). Nó có thể
kết luận từ bảng 3 rằng nếu sức căng dãn nhỏ hơn 4mm/m thì mặt gương lò chợ
hầu hết là khô. Với những cái khác, hầu hết gương lò chợ biểu lộ là ẩm ướt nơi
mà sự đánh giá sức căng dãn tại B.O.P là nhiều hơn 6mm/m.
Sự sản xuất tại mỏ than Blackhall ngừng từ năm 1981 do bởi những vấn đề khác
nhau liên quan tới nước đi vào trong lò chợ công tác.
9.2.
Mỏ than Horden
Trong những trường hợp nghiên cứu chính đã được đưa ra tại mỏ than Horden
nơi mà có tình trạng là tương đồng với những cái ở mỏ than Blackhall. Những
cấu tạo (thành hệ) của sự khai thác trong 5 vỉa khác nhau được thể hiện trong
hình 6-10, nơi mà là vùng giữa những tọa độ lựa chọn(đồng hàng) đã được chọn
cho những trường hợp nghiên cứu. Trong vùng này 5 vỉa khác nhau đã được khai
thác qua nhiều năm. Đó là sự đem đến chiều sâu tăng lên: High Main (E), Main
(F), Yard (G), Low Main (J) và Hutton (L). Những cái này, Low Main (hình 9)
và Hutton (hình 10) lần lượt được khai thác từ những năm 1947 tới 1950 và 1947
tới 1953, bằng phương pháp buồng cột và cuối cùng vùng đã được khai thác toàn
bộ. Ở đó không có sự tác động của nước trong giai đoạn này. Vỉa High Main
(hình 6) đã được khai thác trong khoảng từ năm 1968 đến 1970 bằng phương
pháp gương lò chợ dài. Trong khi khai thác, sự tác động lớn của nước đã gặp
phải. Trong sự bảo vệ gương lò chợ, sự tháo khô lỗ khoan đã được khoan dưới sự
giám sát của H. Saul(14) người mà tin rằng sự quấy rầy từ nước có nguồn gốc từ
khoảng trống các tầng phân lớp được làm đầy bằng nước. Sau khi tháo khô nước,
tình trạng công việc trở nên bình thường.
Trong khoảng từ năm 1972-1976 ở vỉa Yard (hình 8) và 1976-1980 ở vỉa Main
(hình 7) đã được khai thác bởi phương pháp gương lò chợ dài ngoài những
trường hợp có vấn đề về nước. Từ sự xuất hiện nước ở mỏ than Horden, nó có thể
kết luận rằng cả hai vỉa Low Main và Hutton được so sánh độ khô bởi vì có độ
dày lớp bao phủ ở nền của Permian.
Ở những cái khác, vỉa High Main đã được khai thác rất gần với Permian. Sự xuất
hiện nước tuần hoàn và lớn về số lượng. nó được cho rằng những đặc trưng của
dòng chảy có liên quan tới sự phân tầng quan trọng trong địa tầng bao phủ.
Vỉa Yard và vỉa Main đã được khai thác sau vỉa High Main, vì vậy lớp địa tầng
phía trên hai vỉa này thực sự rất nhiễu loạn(bối rối, xáo trộn), phá vỡ và xốp
lên(long ra, yếu). Giống như những kết quả ở đó sự phân tầng không lớn. Sự làm
giảm bớt số lượng nước trong hai vỉa này chỉ ra rằng dòng nước chảy vào giống
như một sự thấm qua. Nó không xuất hiện giống như dòng nước chảy siết đột
ngột.
10.Kết luận
a. Sự khai thác bên dưới đáy biển hoặc bên dưới tầng chứa nước có thể
thường được thực hiện không mắc phải vấn đề lớn;
b. Với sự đưa ra công thức thiết kế có lý cho khai thác bên dưới biển một vài
công tác thực nghiệm (chính trong mỏ) sẽ là cần thiết để lấy được thông tin
về các thông số cái mà ảnh hưởng đến điều kiện làm việc.
Những yếu tố chính sẽ bao gồm những thông tin về tầng ngậm nước giống
như những tính thấm của chúng, thường tỷ lệ độ dốc và nguồn nạp thêm
(nạp lại), từ khi những cái mà sẽ ảnh hưởng đến số lượng tiềm tàng(khả
năng) và tốc độ của dòng nước từ tầng ngậm nước vào trong mỏ khai thác.
Những phay đứt gãy rõ ràng và những khe nứt đã bị lấp đầy có thể có ảnh
c.
d.
e.
f.
g.
hưởng quan trọng đến vấn đề nước. Hoạt động khai thác sẽ ảnh hưởng đến
các tầng đá phủ ở trên tạo ra vết nứt cái mà có thể thiết lập hướng kết nối
với tầng ngậm nước và trở thành kênh dẫn nước. Sự tạo ra và kết thúc của
những khe hở phân tầng chắc chắn là thành phần quan trọng cho toàn bộ
cơ cấu về dòng chảy vào của nước.
Mối quan hệ qua lại giữa yếu tố địa chất, hình học và ảnh hưởng cơ học
của địa tầng là chủ yếu và quan trọng hơn cả bất kỳ yếu tố riêng biệt nào;
Như vậy, trong mỗi mỏ than điều kiện vị trí nên được xem xét và thích hợp
với những quy định thiết kế được đưa ra;
Ở mỏ than Durham, nó được biểu lộ rằng xem xét sức căng tại nền
Permian cái mà gần sát với tầng ngậm nước chính phía trên vỉa than, nếu
sức căng dãn nhỏ hơn 4mm/m thì hầu hết các mặt gương lò là khô, nhưng
trái lại nếu sức căng vượt quá 6mm/m thì hầu hết các mặt gương lò chợ là
ẩm ướt. Sức căng của tầng biển là cần thiết nhỏ hơn những sức căng ở
B.O.P và chúng nhỏ hơn sức căng giới hạn địa tầng biển P.I là 10mm/m.
Do đó, ngay cả việc khai thác dưới đáy biển nó là sự cần thiết cho việc đưa
ra rằng sức căng gây ra tại nền gần sát với tầng ngậm nước chính đúng hơn
là tại đáy biển. Ở vỉa Durnam B.O.P đã có sự quan trọng hơn so với những
tầng ngậm nước trong phạm vi than.
Với sự khai thác nhiều vỉa bên dưới tầng ngậm nước chính nó đã được cho
là sự khai thác đầu tiên nên được thực hiện ở vỉa phía trên cùng giống như
điều này có thể làm giảm sự phân tầng trên vùng khai thác sau đó.
Dòng nước chảy vào trong mỏ là rất phức tạp và trong rất nhiều vùng đặc
trưng, ngày nay có một sự thiếu chính xác về các thông tin; giả thuyết là
dựa trên cơ sở phỏng đoán qua những dữ liệu thực. Bởi vậy, việc tạo ra
một sự tiến bộ quan trọng nhiều hơn những nghiên cứu là cần thiết. Điều
này có thể chắc chắn bởi sự đắt đỏ(giá cả) và tổng thời gian.
Từ quan điểm thực tiễn sự làm theo của bộ phận khai thác máy móc
cao(hiện đại) với những tác động thiết kế trụ chống đã biểu lộ sự xuất
hiện(đưa ra, sự đề nghị) giải pháp có giá trị nhất. Nhìn chung sự ngăn cản
chảy vào của dòng nước và sự tăng lên của toàn bộ giới hạn(sự dự trữ) mà
có thể khai thác.