Tải bản đầy đủ (.pdf) (44 trang)

Khảo sát đặc điểm nông sinh học và giá trị chọn giống của 10 dòng lúa mới tại xuân hoà phúc yên vĩnh phúc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.64 MB, 44 trang )

Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

Trường đại học sư phạm hà nội 2
Khoa: Sinh-KTNN

Đoàn Thị Phương Thùy

Khảo sát đặc điểm nông sinh học
và giá trị chọn giống của 10 dòng
lúa mới tại Xuân Hoà- Phúc Yên Vĩnh Phúc

Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Di truyền- Chọn giống

Người hướng dẫn khoa học
TS. Đào Xuân Tân

Hà Nội - 2007
3


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Nước ta có tới 80% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong
đó lúa là cây lương thực chủ yếu và có vai trò quan trọng trong ngành trồng


trọt của nước ta. Nhờ có sự cố gắng, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, nước ta
đã thoát khỏi tình trạng thiếu lương thực, vươn lên đứng hàng thứ 2 trên thế
giới về xuất khẩu gạo [4]. Mặc dù vậy chúng ta vẫn phải tập trung sức phát
triển mạnh đưa nông nghiệp thành một ngành sản xuất hàng hoá.
Theo tổ chức Nông Lương thế giới thì tổng sản lượng lương thực đã tăng
từ 460 triệu tấn năm 1987 lên tới 560 triệu tấn năm 1997 và phải đạt tới 760
triệu tấn năm 2020 mới có thể đáp ứng được mức tăng dân số như hiện nay
[8]. Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp lại, đặc
biệt là ở các nước Châu á... do đô thị hoá và phát triển cơ sở hạ tầng, đất nông
nghiệp bị chuyển thành đất sinh hoạt. Do vậy, diện tích trồng lúa ngày càng bị
thu hẹp, không thể tăng năng suất theo hướng mở rộng diện tích trồng mà chỉ
có thể tăng sản lượng bằng hướng tăng năng suất cây lúa. Bởi vậy, việc tạo ra
một bộ giống cây lương thực trong đó có cây lúa là một nhu cầu tất yếu.
Muốn vậy, chúng ta phải đưa nhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản suất nông nghiệp, trong đó đất và giống cây trồng là cơ sở quan trọng để
tăng năng suất. Đường lối, chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong Báo cáo
chính trị của Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ 9 đã chỉ rõ "Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công
nghệ nhất là công nghệ sinh học..."
Nhờ áp dụng nhanh chóng những thành tựu khoa học vào công tác tạo
giống mà trong nhiều năm qua các nhà chọn giống đã tạo được nhiều giống
lúa mới phù hợp với điều kiện thâm canh, cho năng suất cao và chất lượng gạo
ngon. Điều này đã trở thành nhu cầu tất yếu, là mục đích cuối cùng trong công
tác chọn giống và lai tạo giống
Với mong muốn đóng góp một phần vào việc chọn tạo giống lúa mới,
chúng tôi chọn đề tài:
"Đặc điểm nông sinh học và giá trị chọn giống của 10 dòng lúa mới
tại Xuân Hoà- Phúc Yên - Vĩnh Phúc".


4


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

2. Mục đích nghiên cứu.
- Khảo sát đặc điểm hình thái và các yếu tố cấu thành năng suất của 10
dòng lúa: H4, KDĐB, T37B, C10, LC1, T10, B2, CL10, C9B trong bộ sưu tập
của TS. Đào Xuân Tân.
- Tuyển chọn một số dòng cho năng suất cao, thích hợp với khu vực
Xuân Hòa - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Khảo sát các yếu tố nông sinh học.
- Chiều cao cây.
- Chiều dài cổ bông.
- Chiều dài lá đòng.
- Độ tàn lá.
- Chiều rộng lá đòng.
- Độ cứng cây.
- Chiều dài bông.
- Độ thoát cổ bông.
3.2. Khảo sát các yếu tố cấu thành năng suất.
- Số bông / khóm.
- Tỷ lệ hạt chắc.
- Tổng số hạt / bông.
- Trọng lượng 1000 hạt (P1000).
- Số hạt chắc / bông.
- Năng suất lý thuyết (NSLT).

3.3. Một số đặc điểm về hình dạng hạt thóc.
- Chiều dài (D).
- Chiều rộng (R).
- Tỷ lệ dài trên rộng (D/R).
3.4. Thời gian sinh trưởng (TGST).
4. Điều kiện nghiên cứu.
- Phòng thí nghiệm khoa Sinh - KTNN
- Lúa được cấy trên ruộng thuận lợi tưới tiêu, được chăm sóc và bảo vệ
tốt tại khu ruộng Xuân Hoà - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
5. ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
5.1. ý nghĩa khoa học
- Tìm hiểu đặc điểm nông sinh học và giá trị chọn giống của 10 dòng lúa
mới tại Xuân Hoà - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
5.2. ý nghĩa thực tiễn.
- Nghiên cứu, so sánh các đặc điểm nông sinh học, các yếu tố cấu thành
năng suất giữa các dòng lúa so với giống đối chứng. Làm cơ sở cho việc xác
định vị trí vai trò của giống trong nghiên cứu và sử dụng giống.

5


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

Chương I
Tổng Quan
1. Nguồn gốc cây lúa.
Loài lúa trồng Oryza sativa. L được thuần hoá từ lúa dại có số lượng NST
2n = 24. Về nguồn gốc cây lúa có nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra

các ý kiến khác nhau.
- Theo Candalle (1986): cây lúa có nguồn gốc từ ấn Độ.
- Theo Roscleviez (1931): cây lúa có nguồn gốc ở Đông Nam á, đặc biệt
là ấn Độ và Đông Dương [5].
Theo Stato: tổ tiên của cây lúa là ở Đông Nam á (Việt Nam, Thái Lan...)
Mặc dù nguồn gốc xuất xứ của Oryza sativa.L có nhiều ý kiến khác
nhau, nhưng hiện nay các nhà khoa học đã đi đến thống nhất là nguồn gốc cây
lúa ở Đông Nam á. Bởi vì đây là vùng có diện tích trồng lúa tập trung và lớn
nhất thế giới. Có khí hậu nóng ẩm, thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển
của cây lúa. Ngoài ra các tài liệu về lịch sử, các di tích khảo cổ ở các nước
thuộc vùng này đều nói về cây lúa cũng như nghề trồng lúa, và ở đây dễ tìm
thấy bộ gen đầy đủ của cây lúa.
2. Vị trí kinh tế của cây lúa.
Là một trong ba cây lương thực chủ yếu (lúa, lúa mỳ, ngô). Cây lúa từ
lâu trở thành cây lương thực chính của con người. Khoảng 40% dân số thế giới
coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% dân số sử dụng lúa gạo trên 1/2
khẩu phần lương thực hàng ngày. Như vậy lúa gạo có ảnh hưởng tới 65% đời
sống của dân số trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết
vấn đề thiếu lương thực [1].
ở một số quốc gia như ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam... gạo là
nguồn lương thực chủ yếu có giá trị kinh tế. Khi so sánh thành phần hoá học
của lúa gạo với một số cây lương thực khác ta thấy lúa gạo giàu tinh bột và
đường, tuy nhiên lại nghèo Protein và chất béo hơn lúa mỳ và ngô. Protein của

6


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh


gạo có Lizin chiếm 4,26%, Triptophan chiếm 1,63% - 2,14%, Methionin
1,44% - 1,77%, Treonin 3,39% - 4,42%.
Có thể nói lúa gạo là loài cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao. Từ lúa gạo
người ta có thể sản xuất ra tinh bột, cồn tân dược sử dụng làm lương thực, từ
rơm, rạ, trấu người ta có thể sản xuất ra giấy, cacton.. [4].
Việt Nam hiện nay là nước xuất khẩu lúa gạo đứng hàng thứ 2 thế giới
(sau Thái Lan) [4]. Sản lượng lúa gạo hàng năm của Việt Nam tăng lên
khoảng một triệu tấn đó chính là thành quả thu được của nền nông nghiệp
Việt Nam, khoa học chọn giống đã góp vào một phần quan trọng quyết định
sự phát triển nền nông nghiệp Việt Nam. Năm 2005 xuất khẩu lúa gạo của
Việt Nam đạt 5,2 triệu tấn thu về 1,4 tỷ USD cho nền kinh tế quốc dân.
3. Phân loại.
Lúa thuộc bộ lúa (tên khoa học: poalis), họ lúa (poa ceae) chi Oryza. Chi
Oryza hiện nay được phân bố rộng trên thế giới. Theo sự phân loại của viện
lúa quốc tế IRRI chi Oryza được chia làm 22 loài, có loài sống 1 năm, có loài
sống nhiều năm. Trong số đó chỉ có 2 loài lúa trồng đó là:
- Oryza sativa. L được trồng phổ biến trên thế giới.
- Oryza sativa. L. Glaberrima trồng ở 1 số nước thuộc châu Phi.
Việc phân loại Oryza sativa. L cũng có nhiều quan điểm khác nhau.
Theo KaKawa và Kota (1931) Oryza sativa. L được chia làm 2 loài phụ:
- Oryza sativa sub. Sp. Japolica Kota (loài phụ Nhật Bản)
- Oryza sativa. Sub. Sp. Indica Kota (loài phụ ấn Độ)
Theo Gout chin(1954) chia chi Oryza sativa. L làm 3 nhóm: Indica,
Japonica, Javanica.
- Indica: hạt dài, lá mỏng, màu xanh nhạt, thân cao, mềm, ít chịu phân,
dễ đổ, phẩm chất gạo ngon, năng suất thấp và mẫn cảm với chu kỳ ánh sáng,
phân bố nhiều ở các nước nhiệt đới.
- Japonica: hạt tròn, thân thấp, cứng, bé, lá xanh, ít đổ, chịu rét tốt, phản
ứng với nhiệt độ, năng suất cao, phân bố ở vùng ôn đới cao nguyên và vùng

nhiệt đới.
7


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

- Javanica: có hình thái trung gian, hạt tròn, thân cao trung bình, năng
suất cao, có khả năng chịu nhiệt, nhóm này gần với Indica hơn.
Theo Hoàng Thị Sản (1999 ) loài lúa chia làm 2 thứ
- Oryza sativa. L. var.utilissima A.camus : lúa tẻ
- Oryza sativa. L. var.glutinosa Tanaka : lúa nếp
ở Việt Nam phân loại hoá theo hoá theo vụ trồng
- Lúa chiêm

- Lúa mùa

- Lúa xuân

- Lúa hè thu [4].

4. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam.
4.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới.
Theo số lượng thống kê của FAO tính đến năm 1989 tổng diện tích trồng
lúa trên thế giới là 145 triệu ha. Diện tích phân bố không đều, có khoảng gần
90% diện tích tập trung ở Châu á, 5,9% tập trung ở Châu Phi và 5,7% tập
trung ở Châu Mỹ. Trong từng vùng khác nhau thì năng suất cũng khác nhau.
Hiện nay có khoảng 20 nước có năng suất 5 tấn/ha, 9 nước có bình quân
4 tấn/ha, 15 nước có bình quân 3 - 4 tấn/ha, 78 nước có bình quân 3 tấn/ha.

Ngoài ra có một số nước có bình quân năng suất cao như úc 5,3 - 6,8 tấn/ha,
Nhật Bản 5,6 - 6,8 tấn/ha, Triều Tiên 6,3 - 6,7 tấn/ha, Hàn Quốc 5,5-6,6
tấn/ha. Sản lượng lúa của thế giới ngày càng tăng do sự mở rộng diện tích, áp
dụng biện pháp kỹ thuật và đặc biệt là việc áp dụng công nghệ sinh học, di
truyền học vào chọn giống đã lai tạo được nhiều giống lúa có năng suất cao
phẩm chất tốt [2].
4.2. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam.
Với điều kiện khí hậu nhiệt đới, Việt Nam cũng có thể là cái nôi hình
thành cây lúa nước. Đã từ lâu cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu có ý
nghĩa đáng kể trong nền kinh tế và xã hội ở nước ta.
Với địa bàn trải dài trên 100 vĩ độ Bắc bán cầu từ Bắc vào Nam đã hình
thành những đồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, cung cấp nguồn lương
thực chủ yếu để nuôi sống cả vài chục triệu người.

8


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

Trước năm 1945 diện tích trồng lúa ở hai đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ
là 1,8 và 2,7 triệu ha với sản lượng thóc tương ứng là 2,4 và 3,0 triệu tấn. Năng
suất bình quân đạt 13 tạ/ha.
Khoảng 2 thập kỷ sau vào những năm 60 của thế kỷ XX miền Bắc có
phong trào phấn đấu giành 5 tấn/ha/năm. Cho đến năm 1974 đã đạt được mục
tiêu này, năng suất lúa đạt 51,4 ta/ha/năm.
ở miền Nam vào những năm 60 của thế kỷ XX, các giống lúa mới của
viện IRRI như IR8, IR5, Đài Trung, IR20, IR22... cũng đã được nhập nội. Đến
năm 1973 diện tích cấy giống mới ở miền Nam đã lên tới 890.000 ha với năng

suất bình quân 35,8 tạ/ha trong khi năng suất toàn vùng là 24,8 tạ/ha.
Từ sau năm 1975 khi đất nước thống nhất sản xuất nông nghiệp có điều
kiện phát triển và dần đi tới đỉnh cao về năng suất và phẩm chất. Trước năm
1989 cả nước thiếu lương thực trầm trọng, từ năm 1989 nước ta đã đủ lương
thực và có để xuất khẩu. Năm 1994 nước ta đã xuất khẩu lúa gạo đạt 1,95 triệu
tấn và đến năm 2005 cả nước xuất khẩu được 5,2 triệu tấn.
Tổng sản lượng lúa tăng theo hàng năm tương ứng ( triệu tấn ) là:
Từ năm 1991 đến năm 1995 đạt 24,8 triệu tấn, năm 1996 đạt 27,5 triệu
tấn, năm 1997 đạt 30,6 triệu tấn, năm 2000 đạt 32,7 triệu tấn, từ năm 2001
đến năm 2005 đạt 40,3 triệu tấn/ năm .
5. Đặc điểm sinh học của cây lúa.
5.1 Đời sống cây lúa.
5.1.1. Thời gian sinh trưởng (TGST).
TGST của cây lúa tính từ khi nảy mầm cho đến khi chín kéo dài từ 90 180 ngày tùy từng giống và điều kiện ngoại cảnh, ở nước ta các giống ngắn
ngày có thời gian sinh trưởng khoảng 90 - 120 ngày, các giống trung ngày có
thời gian sinh trưởng 140 - 160 ngày. Các giống lúa chiêm cũ ở miền Bắc do
sinh trưởng trong điều kiện nhiệt độ thấp, TGST kéo dài từ 180 - 200 ngày,
nếu trồng ở miền núi phía Bắc có thể kéo dài đến 240 ngày. ở đồng bằng sông
Cửu Long các giống lúa địa phương có TGST trong vụ mùa cũng tương đối dài
200 - 240 ngày. Trong đời sống cây lúa hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng
9


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực. Xét về mặt nông học người ta chia đời
sống cây lúa làm 3 giai đoạn là giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, giai đoạn
sinh trưởng sinh thực và giai đoạn chín.

TGST của cây lúa phụ thuộc vào giống, thời vụ và điều kiện ngoại cảnh
nắm được quy luật sinh trưởng của cây lúa là cơ sở để chúng ta xác định thời
vụ gieo cấy cũng như xây dựng kế hoạch thâm canh tăng vụ.
5.1.2. Các thời kỳ sinh trưởng của cây lúa.
Trong toàn bộ đời sống của cây lúa có thể chia ra làm ba thời kỳ chủ yếu
là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, sinh trưởng sinh thực và thời kỳ chín
- Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng là thời kỳ được tính từ khi gieo cấy đến
khi làm đòng. ở thời kỳ này cây lúa chủ yếu hình thành và phát triển cơ quan
sinh dưỡng như rễ, thân, lá, đẻ nhánh.
- Thời kỳ sinh trưởng sinh thực là thời kỳ phân hoá hình thành cơ quan
sinh sản bắt đầu từ khi làm đòng đến khi chín hết hoàn toàn. Bao gồm làm
đòng, trỗ bông hình thành hạt...
- Thời kỳ chín : hoa lúa được thụ tinh, xảy ra quá trình tích luỹ tinh bột
và sự phát triển hoàn thiện của phôi. Nếu dinh dưỡng đủ, không bị sâu bệnh
phá hoại, thời tiết thuận lợi thì các hoa đã được thụ tinh phát triển thành hạt
chắc -sản phẩm chủ yếu của cây lúa [6].
Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng ảnh hưởng đến việc hình thành số bông.
Thời kỳ sinh trưởng sinh thực ảnh hưởng đến số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc/bông,
hạt lép/bông, trọng lượng 1000 hạt (P1000)...
Theo "Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá" IRRI thì cây lúa được chia làm 9
giai đoạn.
1. Giai đoạn nảy mầm.

6. Giai đoạn trỗ bông.

2. Giai đoạn mọc mầm.

7. Giai đoạn chín sữa.

3. Giai đoạn đẻ nhánh.


8. Giai đoạn vào chắc.

4. Giai đoạn vươn lóng.

9. Giai đoạn chín hoàn toàn [9].

5. Giai đoạn làm đòng.

10


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

5.2. Đặc điểm hình thái của cây lúa.
5.2.1. Rễ lúa.
Thuộc loại rễ chùm có 2 loại: rễ mầm và rễ phụ.
- Rễ mầm: hình thành từ phôi hạt, sau khi nảy mầm rễ mầm chỉ có 1 rễ
không phân nhánh, chỉ phát triển 1 thời gian rồi teo đi.
- Rễ phụ: mọc từ các đốt dưới đất của thân mẹ hoặc phân nhánh. Trên rễ
phụ còn mọc ra các rễ nhỏ. Rễ mầm phát triển 1 thời gian rồi rễ phụ mới mọc
ra [4].
5.2.2. Thân lúa.
Thân lúa phát triển từ thân mềm có hình ống thân gồm các đốt đặc và giữ
cho cây đứng, là nơi ra rễ, lá, nhánh và bông lúa, làm nhiệm vụ vận chuyển dự
trữ nước và muối khoáng lên lá để quang hợp, vận chuyển ôxi và các sản
phẩm quang hợp khác từ lá tới các bộ phận rễ, nhánh, bông, hạt và là nơi dự
trữ đường, tinh bột vận chuyển về hạt ở thời kỳ sau trỗ

5.2.3. Lá lúa.
Lá lúa mọc ở hai bên thân chính gồm 2 loại:
- Lá không hoàn toàn (lá bao) là loại lá chỉ có bẹ ôm lấy thân, phát triển
ngay sau khi hạt nảy mầm.
- Lá hoàn toàn (lá thật) gồm có bẹ lá, phiến lá, tai lá, cổ lá. Lá lúa là
trung tâm hoạt động sinh lý của cây lúa, hoạt động quang hợp, hô hấp, tích lũy
chất khô, thoát hơi nước điều tiết nhiệt độ nhận oxy của không khí vào thân,
xuống rễ. Bẹ lá còn giúp cho thân chống đỡ và làm nhiệm vụ như một kho tinh
bột đường tạm thời trước khi trỗ bông. Tùy vị trí trên cây lúa mà lá có chức
năng khác nhau.
Theo chức năng lá lúa được chia làm 3 loại: Lá lúa sinh trưởng sinh
dưỡng thúc đẩy quá trình đẻ nhánh (lá 3 - lá 7). Lá lúa phát triển thúc đẩy thân
và tạo bông hạt (lá 8 - lá 10). Lá lúa sinh trưởng bông hạt (lá thứ 11 trở đi).

11


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

5.2.4. Bông lúa.
Bông lúa gồm có cuống, cổ, thân bông, gié, hoa, hạt thóc.
Cuống bông là phần dưới của thân bông. Thân bông và cuống bông được
nối với nhau bằng đốt cổ bông.
Thân bông có 5-10 đốt, mỗi đốt có gié cấp 1 và gié cấp 2. Mỗi gié cấp 1
và cấp 2 được chia làm nhiều chẽ, mỗi chẽ đính 1 hoa.
Hoa lúa là hoa lưỡng tính gồm đế hoa, lá biếc, vảy cá, nhị và nhụy. Lá
bắc có 4 lá, 2 lá phía trong phát triển thành 2 vỏ trấu, 2 lá phía ngoài là mày
hoa. Vảy cá là mảng không màu hình vảy cá nằm giữa bầu nhụy và vỏ trấu

điều khiển quá trình đóng mở của vỏ trấu khi hạt lúa phơi màu. Nhụy có 6
nhụy mọc xen kẽ thành 2 vòng, bao phấn có 4 ngăn chứa hạt phấn. Hạt phấn
có 2 phần tế bào và có lỗ để nảy mầm. Nhụy của hoa có hình trứng dài. Đầu
nhụy có 3 nhánh nhưng có 2 nhánh phát triển, 1 nhánh thoái hoá.
Hạt thóc bao gồm mày, vỏ trấu, hạt gạo, thai mộng.
Bông lúa chứa chất đường, tinh bột để làm nhiệm vụ sinh sản và phần lớn
để con người sử dụng. Bông lúa được phát triển từ đốt cuối của thân trải qua
các thời kỳ phân hoá, trỗ, phơi màu, thụ phấn, thụ tinh, chín sữa và chín hoàn
toàn [10].
6. Xu hướng chọn giống lúa hiện nay.
Dựa trên các phân tích, sự quan sát và số liệu thực nghiệm, các nhà chọn
giống đã nêu ra những tiêu chuẩn cần đạt của một số giống lúa tốt theo IRRI.
Các tiêu chuẩn đó là:
+ Lá tương đối ngắn, thẳng, hẹp, dày, màu lục đậm.
+ Chín sớm, không cảm ứng với chu kỳ quang.
+ Thân ngắn cứng, ít bị đổ khi liều lượng đạm cao.
+ Chịu sâu bệnh và sâu hại.
+ Hạt bám tương đối chắc, ít rụng.
+ Tỷ lệ gạo cao, năng suất cao.
+ Kiểu gạo nấu nướng thích hợp.
12


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

7. Các phương pháp lai.
7.1. Tạo giống bằng phương pháp lai.
Lai giống là một phương pháp nhằm kết hợp nhiều đặc trưng và đặc tính

tốt của các giống để tạo ra các tổ hợp gen mới do việc kết hợp các kiểu gen
của bố mẹ. Đây là phương pháp cơ bản có hiệu quả cao được sử dụng rộng rãi
để tạo ra giống mới.
7.1.1. Lai trong loài - lai gần.
Lai gần là phương pháp lai giữa các cá thể khác nhau trong cùng một
loài. Tùy mục đích cụ thể trong việc tạo giống mới, người ta áp dụng các kiểu
lai khác nhau.
- Lai đơn: lai một lần giữa 2 dạng bố mẹ.
- Lai thuận nghịch: kiểu lai trong đó, trường hợp này dạng này làm bố,
trường hợp khác dạng đó lại làm mẹ.
- Lai phức : phép lai trong đó hơn 2 dạng bố mẹ tham gia hoặc thế hệ
con lai được giao phối lặp lại với một trong các bố mẹ.
- Lai trở lại: kiểu lai đem con lai lai trở lai với bố hoặc mẹ.
- Lai hồi quy: đem các con lai F1 lai trở lại theo 2 hướng, một hướng trở
lại với bố, một hướng trở lại với mẹ. Sau 3- 4 lần lai trở lại ta thu được dãy hồi
quy, đem lai chúng với nhau.
- Lai nhiều bậc: kiểu lai đem con lai F1 lai trở lại với các giống khác
nhau hoặc loài khác nhau, khi tạo thành cây lai mới đem lai lại với các giống
khác.
7.1.2. Lai khác loài - lai xa.
Lai xa là lai giữa các cá thể khác loài (species); khác chi (genus) hoặc xa
hơn nữa.
7.2. Tạo giống bằng phương pháp đột biến.
- Phương pháp đột biến là phương pháp sử dụng các tác nhân hóa học và
tác nhân phóng xạ để gây đột biến tạo ra các giống cây trồng khác nhau.
7.2.1. Tác nhân hoá học gây đột biến.
- Nhóm tác nhân gây đột biến lúc ADN tái sinh: Azaserin, 5-Brômuraxin,
xanhmetylen, Acrindin....
- Nhóm gây đột biến khi ADN ở trạng thái tĩnh: HNO2, EI, NEU, NMU...
13



Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

7.2.2. Tác nhân phóng xạ gây đột biến.
Tác nhân phóng xạ gây đột biến gồm các nhóm: phóng xạ hạt, phóng xạ
điện từ, phóng xạ không iôn hoá, tia tử ngoại và nhóm phóng xạ gây iôn hoá.
8. Một số thành tựu của chọn tạo giống lúa.
8.1. Trên thế giới.
8.1.1. Thành tựu của chọn tạo giống lúa bằng lai giống.
Từ những năm 1930 của thế kỷ XX, Viện sỹ Sixin tiến hành lai thành
công giữa lúa mỳ với cỏ băng và với nhiều loài khác nữa giống lúa mỳ này
được trồng trong sản xuất và phát triển mạnh có năng suất cao, chịu lạnh,
chống gỉ sắt. Vào những năm 80, công trình của Brar và các nhà khoa học của
IRRI đã tiến hành lai thành công giữa cỏ với loài lúa Indica và Japonica, giữa
các loài lúa trồng Indica với Olatirolia... đặc biệt ở Trung Quốc nhờ sử dụng
thành tựu ưu thế lai với các giống lúa mỳ nổi tiếng như Shan ưu 99, Shan ưu
63, Bắc ưu 64... có năng suất cao, phẩm chất tốt, thích ứng rộng... Trung Quốc
đã đạt năng suất bình quân 5,7 tấn/ha, đưa số thóc vượt lên do sử dụng lúa
trong những năm qua lên gần 200 triệu tấn.
Theo dự kiến của FAO, diện tích lúa lai năm 1990 chiếm 10% diện tích
lúa của thế giới, nhưng lại tạo ra 20% tổng sản lượng lúa. Nếu như thay thế
hoàn toàn lúa truyền thống bằng lúa lai thì tổng sản lượng lúa trên thế giới sẽ
tăng gấp đôi đáp ứng được nhu cầu lương thực của hơn tỷ người
8.1.2. Thành tựu của chọn tạo giống lúa bằng phương pháp đột biến.
Theo FAO và IAEA, năm 1960 mới chỉ có 7 giống cây trồng tạo ra bằng
phương pháp chọn giống đột biến, đến năm 1965 là 30 giống. Năm 1969 tại
hội thảo về vấn đề "Bản chất tạo và sử dụng đột biến thực nghiệm ở thực vật''

tổ chức tại Pullamn (Mỹ), Sigurbjon và Mike công bố danh sách 77 giống cây
trồng đột biến được tạo ra bằng phương pháp đột biến. Đến tháng 12 năm
1997 đã có 1847 giống, trong đó loại ngũ cốc chiếm 1357 giống, trong số này
những giống cây trồng bằng hạt là 1284 giống.

14


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

8.2. ở Việt Nam.
8.2.1. Thành tựu của chọn tạo lúa bằng lai giống.
ở Việt Nam người đầu tiên tiến hành lai thành công lúa O.sativa.Sub.
Inđica với O.sativa.Japonica là tiến sỹ nông học Lương Đình Cưa (1951 1953) chính ông là người đầu tiên ở Châu á thu được kết quả quan trọng khi
lai các loài phụ ở lúa.
Viện khoa học kỹ thuật Việt Nam đã lai giống NN2 với NN8 tạo ra giống
x1 (NN75-10) vừa chống bệnh bạc lá, vừa cho năng suất cao.
Viện cây lương thực và thực phẩm đã tạo được các giống lúa lai có biến
dị tổ hợp đáp ứng nhu cầu thâm canh của Việt Nam như NN75-6, NN75-1
Viện di truyền nông nghiệp cũng nghiên cứu và đưa ra hàng loạt giống
lúa mới như DT10, DT 13, DT33.
8.2.2. Thành tựu của chọn tạo giống lúa bằng phương pháp đột biến.
Từ năm 1990 - 1998, Viện cây lương thực và thực phẩm đã tạo ra được
nhiều giống quốc gia và nhiều giống khu vực bằng phương pháp đột biến như
Xuân số 4, Xuân số 5, Xuân số 6 (1991), Xuân số 10 (1996) và N29 (1998) của
tập thể tác giả Vũ Tuyên Hoàng, Trương Văn Kính và cộng sự. Từ năm 1989
đến năm 2000, Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam đã công bố 6 giống
quốc gia: DT10, DT11 (1989-1990), DT13, DT33 (1991-1993), DT16 và nếp

thơm DT21 (2000).
Trường ĐHSPHN, Viện Di truyền nông nghiệp và Viện lúa đồng bằng
sông Cửu Long đã phối hợp nghiên cứu tạo ra giống quốc gia: Tài nguyên đột
biến 100 (1997), Tép hành đột biến (1990), Tám thơm đột biến (2000).
Trường đại học tổng hợp Hồ Chí Minh và Viện Di truyền nông nghiệp đã
tạo giống lúa A20 được công nhận giống quốc gia năm 1991.Viện khoa học
kỹ thuật nông nghiệp miền Nam chiếu xạ trên hạt khô của giống lúa DR64
bằng tia gamma (Co60) đã tạo ra 2 giống lúa VN95-20 và VN95-19 (năm 2000).

15


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

Chương II
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu.
1.1. Đối tượng nghiên cứu.
- 10 dòng lúa: H4; B2; KDĐB; T37; T37B; C10; T10; CL10; C9B; LC1;
trong bộ sưu tập của TS. Đào Xuân Tân và KD là giống đối chứng (ĐC)
1.2. Giống khang dân (KD).
1.2.1. Nguồn gốc.
Khang dân là giống lúa thuần Trung Quốc do phòng Nông lâm thuỷ sản
huyện Hải Ninh - Quảng Ninh nhập về được mở rộng trong sản xuất từ vụ
mùa 1996 đã được đưa vào khảo nghiệm giống quốc gia.
1.2.2. Những đặc tính chủ yếu.
- Là giống lúa ngắn ngày, gieo cấy trong trà xuân muộn thời gian sinh
trưởng là 130 - 135 ngày, trong trà mùa sớm có thời gian sinh trưởng 115 120 ngày.

- Chiều cao cây 95 - 100 cm, phiến lá cứng, rộng, gọn, khóm màu xanh
vàng. Khả năng đẻ nhánh trung bình kém.
- Hạt thon, nhỏ màu vàng đẹp. Khối lượng 1000 hạt 19,5 - 20,0 gam, chất
lượng gạo tốt, cho năng suất trung bình 40 - 45 tạ/ha, cao đạt 55 - 60 tạ/ha.
- Khả năng chống lốp đổ trung bình. Nhiễm khô vằn, đạo ôn từ nhẹ đến
trung bình. Khả năng thích ứng rộng.
1.2.3. Hướng sử dụng và yêu cầu kỹ thuật.
- Chủ yếu gieo cấy cho vụ xuân muộn, ngoài ra có thể gieo cấy vào vụ
mùa sớm để tăng vụ trên chân đất vàn cao và vàn.
- Lượng phân bón cho 1ha : phân chuồng 8 tấn + đạm Urê 160 - 180 kg +
lân Supe 300 - 350 kg + kali sun phat hoặc clorua từ 100 -120 kg
- Cấy 45 - 50 khóm/ m2, 3 - 4 dảnh/ khóm [3].

16


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

2. Phương pháp nghiên cứu.
2.1. Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng.
Mạ của mỗi dòng được gieo thành từng ô (mỗi dòng 1 ô) khi mạ được 34 lá thật (18 - 20 ngày tuổi) thì đem cấy vào từng luống đã được làm đất kỹ
san phẳng. Luống có chiều rộng 1,5 m dài theo chiều dài của cả ruộng. Các
luống đều được cấy 1 dảnh trên khóm. Mật độ cấy 50 khóm trên 1m2.
Chăm sóc theo 1 quy trình chung, khi gặt cũng theo từng luống quy định
2.2. Phương pháp thu thập số liệu.
Nghiên cứu các chỉ tiêu nông sinh học và các đặc tính chọn giống: chiều
cao cây, chiều dài bông, chiều dài cổ bông, số bông trên khóm, số hạt trên
bông... Các chỉ tiêu này được xác định theo ''Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá cây

lúa''- 1996 của IRRI và được so sánh với giống đối chứng.
Các tính trạng của các dòng được đánh giá và đo theo tiêu chuẩn của
IRRI (theo bảng 1).
TT

Chỉ tiêu quan sát

6
7
8

Thang xác định tính toán

Đo từ gốc sát mặt đất đến đầu mút bông
cao nhất trong khóm (đo 30 khóm)
Chiều dài lá đòng
6 Đo từ cổ lá đến đầu mút lá
Chiều rộng lá đòng
6 Đo chỗ rộng nhất của lá đòng
Chiều dài bông
8 - 9 Đo từ cổ bông đến đỉnh bông (đo 30 bông)
Chiều dài cổ bông
9 Đo từ gốc lá đòng đến bông
Đếm số bông trong tất cả 30 khóm sau đó
Số bông/khóm
9
chia trung bình
Số hạt trên bông
9 Đếm số hạt trên 30 bông
Số hạt chắc trên bông 9 Số hạt/bông - số hạt lép/bông


1 Chiều cao cây
2
3
4
5

Giai
đoạn

9 Trọng lượng 1000 hạt
10 Năng suất lý thuyết
11 Chiều dài hạt
12 Chiều rộng hạt
13 Thời gian sinh trưởng

9

9

Cân 500 hạt x 2 = P1000hạt

NSLT = số khóm/m2 x số bông/khóm x hạt
chắc/bông x P1000 hạt x 10-5
9 Đo từ gốc vỏ mày tới mỏ hạt (đỉnh vỏ trấu)
9 Đo chỗ rộng nhất giữa 2 nửa vỏ trấu
1-9 Tính từ khi nảy mầm đến khi chín

Cách Đơn vị
xác định tính

Đo

Cm

Đo
Đo
Đo
Đo

Cm
Cm
Cm
Cm
Bông
/khóm
Hạt
Hạt

Đếm
Đếm
Đếm
Cân điện
tử

9

17

Gr
Tấn/ha


Đo
Đo
đếm

Mm

Mm
Ngày


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

2.3. Phương pháp xử lý số liệu.
Sau khi thu thập được các số liệu, ta xử lý theo phương pháp thống kê
toán học, xác định các tham số.
2.3.1. Trung bình mẫu.
n

Xi
X

i 1

(n 30 ).

n


2.3.2. Độ lệch chuẩn.
n

(X i X ) 2


i 1

(n 30 )

n
n

(X i X ) 2


i 1

(n < 30)

n 1

2.3.3. Hệ số biến dị:
CV% =


.100%
X

2.3.4. Sai số trung bình:

m=


n

Trong đó: n: số cá thể trong mẫu
Xi là giá trị các biến số.
Trong các chỉ tiêu trên thì thang chuẩn của hệ số biến dị được đánh giá
theo các bước sau:
CV% < 10%

: sự biến dị không đáng kể.

CV% < 10 - 20% : sự biến dị trung bình
CV% < 20%

: sự biến dị cao

2.3.5. Năng suất lý thuyết (NSLT).
NSLT = P1000 hạt x số khóm/m2 x số bông/khóm x số hạt chắc/bông x 10-5
18


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

3. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và giá trị chọn giống
của 10 dòng lúa : H4, KDĐB, C10, T37, T10, B2, CL10, T37B, C9B, LC1.

Thông qua việc khảo sát 18 chỉ tiêu.
1. Chiều cao cây.

10. Số hạt / bông.

2. Chiều dài lá đòng.

11. Số hạt chắc / bông.

3. Chiều rộng lá đòng.

12. Tỷ lệ hạt chắc.

4. Chiều dài bông.

13. Trọng lượng 1000 hạt.

5. Chiều dài cổ bông.

14. Năng suất lý thuyết (NSLT).

6. Độ tàn lá.

15. Chiều dài hạt.

7. Độ cứng cây.

16. Chiều rộng hạt.

8. Độ thoát cổ bông.


17. Tỷ lệ dài trên rộng (D/R).

9. Số bông trên khóm.

18. Thời gian sinh trưởng (TGST).

4. Địa điểm và thời gian.
- Địa điểm gieo cấy tại Xuân Hoà - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
- Thời gian: Vụ mùa năm 2006 từ 15/6 đến tháng 10/2006.

19


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

Chương 3
Kết quả nghiên cứu
1. Đặc điểm nông sinh học.
1.1. Chiều cao cây. (Bảng 2 và biểu đồ 1).
Chiều cao cây là tính trạng phản ánh độ dài thân và chiều dài bông mặc
dù mối tương quan đó không chặt chẽ. Tính trạng chiều cao cây có liên quan
đến tính kháng đổ. Nếu cây quá cao thân lúa sẽ dễ bị đổ vào giai đoạn 8 (vào
chắc), vì giai đoạn này trọng lượng của bông lúa ngày càng nặng, thân lúa mà
quá cao thì sẽ dẫn đến hậu quả là khả năng chống đỡ kém, dễ gây đổ, làm
giảm năng suất một cách rõ rệt [7].
Tuy nhiên ở những khu vực trũng dễ bị ngập úng thì cây lúa cao lại có
tác dụng tốt.

Do những ưu, nhược điểm trên mà trong công tác chọn giống các nhà
nghiên cứu hết sức chú ý và quan tâm đến tính trạng này.
Có nhiều cách phân loại chiều cao cây lúa
- Trong nghiên cứu di truyền một số tác giả chia ở các mức độ sau:
Cây cao

140 cm

Cây trung bình : 110 - 140 cm
Cây thấp

< 110 cm

- Theo tác giả: Trần Duy Quý sắp xếp như sau.
Rất cao > 125 cm
Cao

: 101 - 125 cm

Nửa lùn : 71 - 100 cm
Lùn

: 51 - 70 cm

Siêu lùn < 50 cm
- Theo Jenning (1968), Swamirao, Coud (1969): Tính trạng chiều cao cây
bình thường là trội so với tính trạng lùn cây. Tính trạng lùn cây do một gen lặn
điều khiển.
- Các nhà khoa học khác cũng cho rằng: Trong mỗi trường hợp cụ thể
tính lùn do một gen điều khiển, song sự biểu hiện của nó tuỳ thuộc vào sự tác

động qua lại với một phức hệ gen gây biến đổi mạnh, yếu khác nhau.
20


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

Bảng 2: Chiều cao cây
TT

Dòng

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
ĐC

H4
T37
T37B
CL10
C9B

T10
C10
KDĐB
LC1
B2
KD

Chiều cao cây (cm)
_
X m
CV%
107,8 0,98
4,9%
110,2 0,94
4,6%
104,4 1,64
8,63%
112,5 0,81
3,95%
116,4 1,25
5,9%
108,8 0,53
2,69%
114,8 1,01
4,82%
117,5 0,82
3,85%
117,13 1,19
5,6%
100,1 0,65

3,6%
116,9 1,16
6,01%

cm
120
117,5 117,13

116,4

116,9

114,8

115
112,5
110,2
110

108,8

107,8
104,4

105

100,1

100


95

90

H4

T37

T37B

CL10

C9B

T10

C10

KDĐB

LC1

B2

ĐC

Biểu đồ 1: Chiều cao cây.
Qua dẫn liệu bảng 2 và biểu đồ 1 cho thấy trong 10 dòng nghiên cứu thì
có 4 dòng H4, T37B, T10, B2 có chiều cao cây ở mức thấp đạt từ 100,1 108,8cm (ĐC là 116,9 1,16cm), đây là ưu điểm tốt giúp cây chống lốp đổ.
Còn lại 6 dòng T37, CL10, C9B, C10, KDĐB, LC1 có chiều cao cây ở mức

trung bình, cao hơn với 4 dòng trên đạt từ 110,2cm (T37) - 117,5cm (KDĐB).
21


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

- Thứ tự chiều cao cây của các dòng có thể sắp xếp như sau:
B2 < T37B < H4 < T10 < T37 < CL10 < C10 < C9B < ĐC < LC < KDĐB
Chiều cao cây lớn nhất là 117,5 0,82 cm thuộc về dòng KDĐB, còn
chiều cao cây thấp nhất là 100,1 0,65 cm thuộc dòng B2. Mặc dù chiều cao
cây của các dòng có sự khác nhau song qua khảo sát thấy khả năng chống lốp
đổ của các dòng là tương đối đồng đều.
Về hệ số biến dị: CV% từ 3,6% - 8,63% chứng tỏ hệ số biến dị của các
dòng đều ở mức thấp( < 10%) trong đó B2 là dòng có CV% thấp nhất đạt
3,6%, còn DT37B là dòng có CV% cao nhất đạt 8,63%.
Nhìn chung sự chênh lệch về chiều cao cây ở mỗi dòng là không đáng
kể. Từ đó ta có thể khẳng định tính trạng chiều cao cây là tương đối ổn định.
Tuy nhiên các dòng H4, T37B, T10, B2 vẫn chưa đạt đến độ thấp cây điển
hình. Vì vậy cần được tiếp tục theo dõi, chọn lọc để thu được dạng cây thấp
hơn phù hợp với công tác chọn giống.
1.2. Chiều dài và chiều rộng lá đòng. (Bảng 3 và biểu đồ 2,3).
Lá là trung tâm hoạt động của cây xanh nói chung và cây lúa nói riêng.
Lá đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển,
quyết định tới năng suất cây trồng sau này. Bởi lẽ tại đây diễn ra các hoạt
động quang hợp, hô hấp, tích luỹ chất hữu cơ.
Với cây lúa, lá đòng là loại lá được các nhà chọn giống hết sức quan tâm,
là một trong những chỉ tiêu đánh giá hình thái của cây lúa.Trong từng giai
đoạn sinh trưởng khác nhau thì các lá có hoạt động sinh lý khác nhau có

những đóng góp khác nhau trong quá trình phát triển của cây lúa.
Theo Tanaka (1901): các lá sát đòng (lá công năng) và lá đòng là trung
tâm hoạt động sinh lý khi cây lúa đang ở giai đoạn sinh trưởng và phát triển
bông hạt. Nó chuyển các chất đồng hoá (chất hữu cơ) tạo ra trong quá trình
quang hợp cho bông lúa, còn các lá dưới thấp thì chuyển các chất hữu cơ
xuống rễ. Do vậy có thể nói lá công năng và lá đòng là yếu tố gián tiếp song
lại đóng vai trò vô cùng lớn tới năng suất cuối cùng.

22


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

Bảng 3: Chiều dài lá đòng và chiều rộng lá đòng.
TT

Chiều dài lá đòng
Xm
CV%

Dòng

Chiều rộng lá đòng
Xm
Cv%

1


H4

22,5 0,33

8,09%

0,82 0,02

12,8%

2

T37

29,5 0,68

12,5%

0,97 0,016

9,2%

3
4

T37B
CL10

22,5 0,48
25,5 0,19


11,9%
4,1%

1,01 0,02
0,93 0,09

11,8%
5,6%

5

C9B

27,9 0,5

9,8%

1,07 0,019

10,09%

6
7
8

T10
C10
KDĐB


28,5 0,6
27,1 0,36
33,6 0,73

11,6%
7,19%
12,08%

0,95 0,012
0,87 0,04
0,95 0,018

7,05%
2,5%
10,5%

9
10
ĐC

LC1
B2
KD

30,5 0,3
30,5 0,4
29,2 0,21

5,2%
7,05%

4,25%

0,95 0,01
1,01 0,015
0,97 0,04

6,1%
8,4%
2,05%

cm
35

33,6
30,5

29,5

30

27,9

30,5
29,2

28,5
27,1

25,5
25

22,5

22,5

20

Biểu đồ 2: Chiều dài lá đòng.
15

10

5

0

H4

T37

T37B

CL10

C9B

T10

C10

KDĐB


Biểu đồ 2: Chiều dài lá đòng.

23

LC1

B2

ĐC


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

cm
1,2
1,07
0,97

1

1,01

1,01
0,95

0,93


0,95

0,95

0,97

0,87

0,82
0,8

0,6

0,4

0,2

0
H4

T37

T37B

CL10

C9B

T10


C10

KDĐB

LC1

B2

ĐC

Biểu đồ 3: Chiều rộng lá đòng.

1.2.1. Chiều dài lá đòng
Dẫn liệu bảng 3 và biểu đồ 2 cho thấy: chiều dài lá đòng của các dòng
đạt từ 22,2 đến 33,6 cm trong đó ĐC đạt 29,2 0,21 cm, KDĐB là dòng có lá
đòng dài nhất (33,6 0,73 cm), 2 dòng H4 (22,5 0,33 cm) và T37B ( 22,5
0,48 cm) có chiều dài lá đòng ngắn nhất.
- Về thứ tự chiều dài lá đòng có thể sắp xếp như sau:
H4 =T37B < CL10 < C10 < C9B Hệ số biến dị: CV% của chiều dài lá đòng ở mức thấp (4,1%-9,8%) gồm
các dòng H4,CL10, C9B, C10, LC1, B2, ĐC. Còn ở mức trung bình (11,6 12,5%) là các dòng T37B, T37, T10, KDĐB.
Nhìn chung hệ số biến dị của chiều dài lá đòng đều ở mức thấp và trung
bình, từ đó có thể thấy tính trạng chiều dài lá đòng là tương đối ổn định.
1.2.2. Chiều rộng lá đòng
Dẫn liệu bảng 3 và biểu đồ 3 cho thấy: chiều rộng lá đòng đạt từ 0,82 cm
đến 1,07 cm trong đó ĐC đạt 0,97 0,04 cm, H4 là dòng có chiều rộng lá
đòng bé nhất đạt 0,82 0,02 cm < ĐC còn C9B là dòng có chiều rộng lá
đòng là lớn nhất đạt 1,07 0,019 cm > ĐC.
24



Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

- Về thứ tự chiều rộng lá đòng có thể sắp xếp như sau :
H4 < C10 < CL10 < T10 = KDĐB = LC1 < T37 = ĐC < T37B = B2 < CL9B.
Về hệ số biến dị: CV% ở mức thấp và trung bình (2,5% - 12,8%) trong
đó dòng H4 (12,8%), T37B (11,8%), C9B (10,09%), KDĐB (10,5%) là ở mức
trung bình còn lại các dòng T37, CL10, LC1, B2, T10, C10 ở mức thấp
(<10%). Có thể nói đây là những dòng mà các gen quy định tính trạng này
mang tính kiên định cao.
Tóm lại với bản lá và chiều dài lá trung bình như trên là tương đối phù
hợp để cho năng suất cao. Bởi nếu bản lá quá lớn thì khi gieo cấy vụ mùa mà
bón phân không cân đối thì sẽ nhiễm bạc lá nếu gặp thời tiết không thuận lợi
(mưa to, gió lớn...).
1.3. Chiều dài bông và chiều dài cổ bông. (Bảng 4 và biểu đồ 4,5).
Chiều dài bông là chiều dài được tính từ khi có chẽ tới ngọn bông, tức là
không kể chiều dài cổ bông. Chiều dài cổ bông tuy không quyết định số hạt
thu được nhưng nó cũng đóng vai trò gián tiếp quyết định năng suất lúa vì cổ
bông là bộ phận nâng đỡ cho bông lúa. Vì thế nếu cổ bông dài, mảnh sức chịu
đựng kém dẫn đến lúa bị gẫy cổ bông, đổ nhiều ảnh hưởng tới năng suất chất
lượng. Bông lúa càng to, dài thì càng cần cổ bông ngắn và khoẻ [7].
Đặc điểm chiều dài bông và chiều dài cổ bông là những yếu tố quan
trọng chi phối năng suất lúa. Tuy nhiên không phải cứ giống lúa nào có bông
dài là cho năng suất cao vì năng suất lúa còn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố
khác.

25



Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

Bảng 4: Chiều dài bông và chiều dài cổ bông.
TT

Chiều dài bông

Dòng

Chiều dài cổ bông

Xm

CV%

Xm

Cv%

1

H4

21,55 0,22

5,83%


3,98 0,035

49,05%

2

T37

22,95 0,27

6,69%

2,17 0,027

6,82%

3

T37B

22,66 0,34

6,24%

2,34 0,069

16,26%

4


CL10

23,76 0,34

8,4%

3,13 0,103

17,9%

5

C9B

24,5 0,16

4,17%

3,1 0,20

36,5%

6

T10

23,34 0,28

7,41%


4,5 0,15

19,25%

7

C10

21,05 0,2

5,32%

4,13 0,13

17,96%

8

KDĐB

23,5 0,31

8,09%

5,12 0,27

29,51%

9


LC1

25,82 0,39

9,02%

4,25 0,05

7,52%

10

B2

20,28 0,2

6,29%

4,24 0,14

17,9%

ĐC

KD

22,74 0,19

5,47%


3,28 0,14

24,33%

cm
30
25,82
25

22,95

23,76

24,5

23,5

23,34

22,66

21,55

22,74

21,05

20,28

20


15

10

5

0
H4

T37

T37B

CL10

C9B

T10

C10

KDĐB

Biểu đồ 4: Chiều dài bông.

26

LC1


B2

ĐC


Khoá luận tốt nghiệp

Đoàn Thị Phương Thùy K29 A- Sinh

cm
6
5,12
5
4,5
4

4,25

4,13

3,98

3,13

3,1

CL10

C9B


4,24

3,28

3
2,17

2,34

2

1

0
H4

T37

T37B

T10

C10

KDĐB

LC1

B2


ĐC

Biểu đồ 5: Chiều dài cổ bông.
1.3.1. Chiều dài bông.
Dẫn liệu bảng 4 và biểu đồ 4 cho thấy : chiều dài bông của các dòng đạt
từ 20,28 - 25,82 cm trong đó
- ĐC đạt 22,74 0,19 cm.
- B2 có chiều dài bông ngắn nhất đạt 20,28 0,2 cm ngắn hơn ĐC.
- LC1 có chiều dài bông dài nhất đạt 25,82 0,39 cm dài hơn ĐC
Về thứ tự chiều dài bông có thể sắp xếp như sau:
B2 < C10 < H4< T37B < ĐC < T37 < T10 < KDĐB < CL10 < C9B < LC1
Về hệ số biến dị CV% từ 4,17% - 9,02% trong đó C9B có CV% nhỏ
nhất đạt 4,17% , còn lớn nhất là dòng LC đạt 9,02%.
Nhìn chung tất cả các dòng đều có CV% thấp (< 10%) điều này chứng tỏ
tính trạng chiều dài bông ít phụ thuộc vào môi trường.
1.3.2. Chiều dài cổ bông.
Theo dẫn liệu bảng 4 và biểu đồ 5 cho thấy chiều dài cổ bông đạt từ 2,17
đến 5,12 cm trong đó:
- ĐC đạt 4,28 0,72 cm.
- T37 có chiều dài cổ bông ngắn nhất đạt 2,17 0,05 cm.
- KDĐB có chiều dài cổ bông lớn nhất đạt 5,12 0,42 cm.
27


×