Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: SINH – KTNN
**********
PHẠM THỊ KIM DUNG
ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA BỌ NHẢY
(INSECTA: COLLEMBOLA) Ở KHU VỰC
ĐẠI LẢI VÀ VÙNG PHỤ CẬN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
HÀ NỘI – 2008
Lun vn tt nghip
Phm Th Kim Dung
Lời cảm ơn
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được
nhiều sự giúp đỡ quý báu của các đơn vị và cá nhân. Nhân dịp này,
tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
PGS.TS Nguyễn Trí Tiến, GVC. Ths Vương Thị Hoà - những
người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo trong suốt quá trình
tôi thực hiện đề tài.
Các thầy cô trong khoa sinh _KTNN, trường ĐHSP Hà Nội 2
những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền thụ những kiến thức và
kinh nghiệm quý báu để tôi hoàn thành tốt khoá học.
Ban lãnh đạo Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật, Trạm
đa dạng sinh học Mê Linh và UBND xã Ngọc Thanh, Phúc Yên,
Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thu mẫu và
sưu tầm tài liệu.
Lãnh đạo và tập thể cán bộ khoa học phòng Sinh thái và Môi
trường đất đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành công việc.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân và bạn
bè đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ tôi.
Hà Nội, tháng 5 năm 2008
Sinh viên
Phạm Thị Kim Dung
Lun vn tt nghip
Phm Th Kim Dung
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và
chưa được ai công bố hay sử dụng để bảo vệ một học vị nào từ trước
đến nay.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều đã được
cảm ơn. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 5 năm 2008
Sinh viên
Phạm Thị Kim Dung
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
MỞ
ĐẦU…………………………………………………………………….…1
Chương
1:
TỔNG
QUAN
TÀI
LIỆU………………………………………….4
1.1.
Tình
hình
nghiên
cứu
bọ
nhảy
trên
thế
giới……………………………….4
1.2.
Tình
hình
nghiên
cứu
bọ
nhảy
ở
Việt
Nam………………………………..7
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN
CỨU………………………………………………………………..11
2.1.
Đối
tượng
nghiên
cứu……………………………………………………11
2.2.
Thời
gian
nghiên
cứu…………………………………………………….11
2.3.
Địa
điểm
nghiên
cứu……………………………………………………..11
2.4.
Phương
pháp
nghiên
cứu……………………………………….………...13
2.4.1.
Nghiên
cứu
ngoài
thực
địa……………………………………………..13
2.4.2.
Nghiên
cứu
tại
phòng
thí
nghiệm…………………….………………...14
2.4.3.
Xử
lý
số
liệu……………………………………………………………16
2.5. Vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên
cứu……….……16
2.5.1.
Vị
trí
địa
lí……………………………………………………………...16
2.5.2.
Địa
hình,
địa
mạo………………………………………………………17
2.5.3.
Khí
hậu…………………………………………………………….…...17
2.5.4.
Thuỷ
văn……………………………………………………………….18
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
2.5.3.
Đất
đai…………………………………………………………………18
2.5.6.
Dân
cư………………………………………………………………….18
Chương
3:
KẾT
QUẢ
NGHIÊN
CỨU………………………………………19
3.1.
Thành
phần
loài
ở
khu
vực
nghiên
cứu…………………………….…….19
3.1.1.
Danh
sách
thành
phần
loài……………………………………………..19
3.1.2.
Thành
phần
phân
loại
học……………………………………………...29
3.1.3.
Nhận
xét………………………………………………………………..29
3.2. Đặc điểm phân bố của bọ nhảy ở khu vực nghiên
cứu…………………..30
3.2.1.
Phân
bố
theo
sinh
cảnh………………………………………………...30
3.2.2.
Phân
bố
theo
mùa………………………………………………….…...32
3.2.3.
Phân
bố
theo
độ
sâu……………………………………………………33
3.2.4.
Nhận
xét………………………………………………………………..36
3.3. Một vài chỉ số định lượng của bọ nhảy ở khu vực nghiên
cứu…………..36
3.3.1. Một vài chỉ số định lượng của bọ nhảy và sự thay đổi các giá trị định
lượng
trong
các
sinh
cảnh
theo
mùa…………………………………………..36
3.3.2. Một vài chỉ số định lượng của bọ nhảy và sự thay đổi các giá trị định
lượng
trong
các
sinh
cảnh
theo
độ
sâu………………………………………..37
3.3.3.
Nhận
xét………………………………………………………………..38
KẾT
LUẬN……………………………………………………………….…..39
TÀI
LIỆU
THAM
KHẢO……………………………………………….……40
PHỤ LỤC ẢNH
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Thời gian, số lượng mẫu định lượng bọ nhảy ở khu vực Đại lải và
vùng phụ cận đã được thu thập và phân tích
Bảng 2: Thành phần loài và phân bố của bọ nhảy theo sinh cảnh, theo độ sâu
và theo mùa ở khu vực Đại Lải và vùng phụ cận
Bảng 3: Thành phần phân loại học bọ nhảy ở Đại Lải và vùng phụ cận
Bảng 4: Các bậc taxon của bọ nhảy phân bố theo sinh cảnh
Bảng 5: Phân bố theo mùa của bọ nhảy ở khu vực Đại Lải và vùng phụ cận
Bảng 6: Phân bố theo độ sâu của bọ nhảy ở khu vực Đại Lải và vùng phụ cận
Bảng 7: Một số chỉ số định lượng của bọ nhảy theo mùa ở khu vực Đại Lải và
vùng phụ cận
Bảng 8: Một số chỉ số định lượng của bọ nhảy theo độ sâu tầng đất ở khu vực
Đại Lải và vùng phụ cận
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Biểu đồ 1: Phân bố theo mùa của bọ nhảy ở khu vực Đại Lải và vùng phụ cận
Biểu đồ 2: Phân bố theo độ sâu của bọ nhảy ở khu vực Đại Lải và vùng phụ
cận
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
LẤY MẪU ĐỊNH TÍNH
PHÂN TÍCH MẪU TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
ẢNH BỌ NHẢY
Brachystomella pavula Schaffer, 1898
1776)
Isotomurus palustris (Muler,
Luận văn tốt nghiệp
Lepidocyrtus (Lepidocyrtus) cyaneus Tullberg, 1871
(Bourlet, 1842)
Phạm Thị Kim Dung
Sminthurides aquaticus
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
Calvatomina antena (Nguyen, 1995)
SINH CẢNH RỪNG TỰ NHIÊN
Seira sp.1
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
SINH CẢNH RỪNG TRỒNG
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
SINH CẢNH TRẢNG CỎ CÂY BỤI
SINH CẢNH VƯỜN QUANH NHÀ
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
SINH CẢNH ĐẤT CANH TÁC
ĐẶT
MẪU
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
MỞ ĐẦU
Hàng ngày khi đặt chân xuống đất bạn có biết mình đang dẫm lên hàng
ngàn, hàng vạn những sinh vật nhỏ bé? Thế giới sinh vật trong đất vô cùng
phong phú và đa dạng, ta có thể gặp đại diện của hầu hết các ngành động vật
không xương sống và động vật có xương sống. Động vật đất có khối lượng và
sinh khối lớn chiếm hơn 90% tổng sinh khối sinh vật ở cạn và 50% tổng số
loài động vật trên trái đất. Chúng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình
thành đất, phân hủy xác hữu cơ, làm gia tăng độ phì nhiêu, cải tạo và bảo vệ
môi trường đất. Nhiều nhóm động vật hiển vi (Microfauna) ở trong đất là đối
tượng thuận lợi cho những nghiên cứu về sinh thái, tiến hóa, nguồn gốc phát
sinh đặc biệt là chỉ thị về điều kiện sinh thái.
Ngay từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, các nhà động vật học, thổ
nhưỡng học, sinh thái học đã đặc biệt quan tâm đến các hoạt động tạo đất của
các nhóm sinh vật sống trong môi trường này. Tuy nhiên, chỉ đến những năm
40-50 của thế kỉ XX, nghiên cứu các nhóm sinh vật đất cùng các hoạt động
sống của chúng trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường đất mới thực sự
phát triển. Ngày nay, số lượng nghiên cứu về sinh vật đất ngày càng đông
đảo, công trình nghiên cứu cùng kết quả của các công trình này ngày càng đa
dạng và phong phú, cả trong lĩnh vực khoa học cơ bản cũng như trong lĩnh
vực ứng dụng.
Bọ nhảy (Collembola) – một trong những đại diện chủ yếu của nhóm
động vật chân khớp nhỏ (Microathropoda) hiện là đối tượng thu hút sự quan
tâm của nhiều nhà nghiên cứu sinh thái học, phân loại học không chỉ bởi
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
những tính chất ưu thế của mình: có số lượng cá thể đông, cư trú khắp mọi
nơi, ở mọi loại hình sinh cảnh, dễ thu lượm, là thành viên tích cực tham gia
vào các quá trình mùn hóa, khoáng hóa trong đất, góp phần vào sự cân bằng
của các chu trình vật chất và trao đổi năng lượng trong hệ sinh thái mà chúng
còn được coi là một trong những nhóm sinh vật chỉ thị nhạy cảm, có thể sử
dụng như một công cụ tin cậy và cập nhật phục vụ cho công tác điều tra, giám
sát chất lượng môi trường.
Trên thế giới cho đến nay, đã có hơn 7000 loài bọ nhảy được mô tả và hàng
năm lại có thêm hàng chục loài mới được công bố. Số lượng các công trình
khoa học, các chuyên khảo nghiên cứu chuyên sâu về nhóm này năm sau
nhiều hơn năm trước.
Ở Việt Nam, tài liệu và sự hiểu biết về bọ nhảy còn nhiều hạn chế, nhất là
những nghiên cứu về khu hệ, sinh thái bọ nhảy và những nghiên cứu chuyên
sâu nhằm mục đích sử dụng chúng như một chỉ thị sinh học, một công cụ hữu
hiệu trong đánh giá tính chất, chất lượng đất. Chính vì vậy, việc nghiên cứu
một cách hệ thống, tương đối toàn diện về một đối tượng như bọ nhảy là đòi
hỏi cấp thiết, nó không chỉ cung cấp những số liệu về thành phần loài, mật độ
quần thể theo từng sinh cảnh, từng khu vực mà còn cho ta những dẫn liệu về
tài nguyên sinh vật đất, là cơ sở cho những nghiên cứu sử dụng chúng như
một chỉ thị sinh học phục vụ cho công tác kiểm tra, dự báo diễn thế của môi
trường đất.
Xuất phát từ những lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi đã chọn đề tài
nghiên cứu:
Đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của Bọ nhảy
(Insecta: Collembola) ở khu vực Đại Lải và vùng phụ cận
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
Những hiểu biết về hệ động vật không xương sống ở đất cũng như về
khu hệ bọ nhảy ở khu vực Đại Lải và vùng phụ cận thuộc xã Ngọc Thanh,
Phúc Yên, Vĩnh Phúc còn ít được biết đến. Chúng tôi chọn đây là địa bàn
nghiên cứu của đề tài với mong muốn góp phần tìm hiểu và bổ sung thêm
những dẫn liệu mới về thành phần loài, đặc điểm phân bố của bọ nhảy trong
những kiểu sinh cảnh khác nhau ở những vùng miền khác nhau của đất nước.
Mục đích trên của đề tài được cụ thể hóa theo những nội dung sau:
- Lập một danh sách thành phần loài bọ nhảy ở khu vực Đại Lải và
vùng phụ cận thuộc xã Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc.
- Phân tích đặc điểm phân bố của bọ nhảy trong các sinh cảnh nghiên
cứu theo mùa, theo độ sâu tầng đất.
- Phân tích một vài chỉ số định lượng của bọ nhảy ở khu vực nghiên
cứu: số lượng loài, mật độ trung bình và sự thay đổi giá trị các chỉ số này theo
mùa, theo độ sâu tầng đất.
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu bọ nhảy trên thế giới
Trong cấu trúc hệ động vật đất, nhóm chân khớp bé (Microathropoda)
với kích thước cơ thể hiển vi (từ 0,1- 0,2 đến 2 - 3mm) thường chiếm ưu thế
về số lượng so với các nhóm khác. Hai đại diện quan trọng của chúng là
nhóm ve bét (Arachnida: Acarina) và bọ nhảy (Insecta: Collembola)
(Ghilarov, 1941; Delamare – Deboutteville, 1950; Vannier, Cancela da –
Fonseca, 1966 – theo Ghilarov, 1975) [8] đã được biết đến từ lâu cách đây
hàng trăm năm. Chúng là một trong những nhóm chân khớp nguyên thủy,
sống trong đất. Tính nguyên thủy của bọ nhảy được nhiều nhà khoa học nhấn
mạnh như: Tillyard, 1930; Ghilarov, 1958; Handschin, 1958;…vv [9,17].
Hóa thạch đầu tiên của chúng (Rhyniella paraecursor Hirst et Maulik,
1926) đã phát hiện ở vùng đầm lầy Thụy Điển cách đây khoảng 400 triệu năm
(Palacois – Vargas, 1983). Một số dạng hóa thạch khác như Protantomobrya
walkeri Folsom, 1937 được phát hiện ở vùng Ban tích đã hình thành vào kỉ
Paleozoi. Những hóa thạch này cho thấy chúng đều thuộc vào họ hiện đại
ngày nay (Greenslade, 1986) [17].
Trên thế giới, loài bọ nhảy đầu tiên được Linne mô tả vào năm 1758 tại
Thụy Điển là Podura viridis Linneus và sau đó là hàng loạt các công trình
nghiên cứu về khu hệ bọ nhảy ở các địa điểm khác nhau thuộc các châu lục
khác nhau của các tác giả như: Muller, 1776; Templeta, 1835; Boheman,
1865; Brauer, 1869; Labblock, 1870, Sheaffer, 1899; ….nhưng các công trình
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
nghiên cứu này mới dừng ở mức độ thống kê và mô tả loài mới (theo Nguyễn
Trí Tiến, 1995) [17].
Cho đến nay, đã có hơn 7000 loài bọ nhảy được mô tả và hàng năm lại
có thêm hàng chục loài mới được công bố. Greensland (1983) ước tính tổng
số loài bọ nhảy trên thế giới có khoảng 10.000 đến 20.000 loài [14]. Số lượng
các công trình khoa học, các chuyên khảo nghiên cứu về nhóm này năm sau
nhiều hơn năm trước, chỉ tính từ 1995 đến 2001 đã thống kê được hàng nghìn
bài báo nghiên cứu về khu hệ, sinh thái, sinh học bọ nhảy in trong nhiều tạp
chí chuyên ngành khác nhau.
Hai công trình nghiên cứu về khu hệ bọ nhảy được coi là cơ bản và đầy
đủ nhất là “Khu hệ bọ nhảy của Châu Âu” của Gisin, 1960 và “Bọ nhảy Ba
Lan trong mối liên hệ với khu hệ bọ nhảy thế giới” của Stach (1947 –
1963)[17].
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của động vật đất tới quá trình phân hủy
vụn hữu cơ, có nhiều tác giả đã cho thấy bọ nhảy không chỉ là nhân tố đầu
tiên phân huỷ lớp thảm thực vật, mà còn là nhân tố thứ hai phân hủy dựa trên
sự phân hủy các nhóm động vật khác nhau như: giun đất, nhiều chân….làm
tăng lượng chất mùn được tạo thành (N. Chernova, 1988; S. Stebaeva, 1988)
[7,14,36].
Nhóm nghiên cứu của Cadee và cộng sự (1984) khi nghiên cứu bọ nhảy
ở đất nhiễm mặn đã nhận định: thành phần loài, độ phong phú và sự phân bố
của bọ nhảy bị hạn chế bởi các yếu tố sinh thái đó là các yếu tố lí, hóa, sinh
như độ ẩm, thành phần hữu cơ, độ mặn, mật độ CO2, mật độ của lớp thực vật
che phủ …Do vậy chỉ một số loài có tính chuyên hóa cao, thích nghi với điều
kiện biệt hóa mới tồn tại được ở môi trường nhất định. Tuy nhiên, thực
nghiệm lại cho thấy hàng loạt loài cư trú trong phân động vật và phần thực vật
bị thối rữa rất bền vững với nồng độ cao của một số khí độc [7,17,18,19].
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
Đã có khá nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của bọ nhảy đến quá trình
tạo đất. Simonov (1984) đã chứng minh sự tham gia của bọ nhảy trong phân
hủy lá rụng ở điều kiện thí nghiệm đã làm tăng cao chất lượng mùn do chúng
rất ưu thế khi điều khiển thành phần và hoạt tính của vi sinh vật, ảnh hưởng
đến các giai đoạn phân hủy vụn hữu cơ theo hướng tăng mạnh sự mùn hóa
của nó và làm tăng chất lượng mùn được tạo thành. M. Sterzynska (2000) cho
rằng: Sự phân bố theo độ sâu của bọ nhảy liên quan chặt chẽ với mức độ phân
hủy chất hữu cơ trong đất. Đa số loài bọ nhảy sống tập trung ở lớp đất mặt (0
– 10cm) [7,10,12,17].
Sự hình thành cấu trúc các nhóm bọ nhảy cho thấy: điều kiện sinh cảnh
càng bất thường thì thành phần loài càng nghèo và số lượng cá thể của một
vài loài càng tăng [33]. Thành phần loài giảm đi ở giai đoạn đầu tiên của quá
trình hình thành đất khi sự diễn thế sinh thái bắt đầu từ đá mẹ, ở đáy các hồ
khô cạn. Đặc biệt hơn nữa, trong môi trường đất ô nhiễm do chất thải công
nghiệp có chứa kim loại nặng, chỉ có một số ít loài tồn tại. (Stebaevaetal,
1984; A. Babenko, 1988) [7,37].
Bọ nhảy rất nhạy cảm với sự thay đổi của các yếu tố môi trường như:
điều kiện thời tiết, nhiệt độ, độ ẩm….. và đặc biệt là đối với đất có sử dụng
các loại thuốc hóa học khác nhau. Chính vì vậy, có thể xem sự cư trú và
những phản ứng của chúng đối với hóa chất độc hại như chỉ thị cho điều kiện
của đất và là chỉ thị sinh học tốt cho trạng thái cơ chất đang phân hủy [12,13].
Trong vài chục năm gần đây, những kết quả nghiên cứu về bọ nhảy và
các nhóm động không xương sống ở đất, khai thác theo hướng sử dụng chúng
như những chỉ thị sinh học cập nhật trong vấn đề khôi phục và bảo vệ độ phì
nhiêu của đất, kiểm soát và bảo vệ môi trường đất, ngăn chặn sự phá hoại bởi
các hoạt động nhân tác dưới mọi hình thức khác nhau hoặc sử dụng chúng
như là một trong những tác nhân sinh học, cải tạo và nâng cao chất lượng môi
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
trường đất được công bố khá nhiều trong các tạp chí chuyên ngành, trong các
hội nghị khoa học Quốc gia hay Quốc tế: Hội nghị quốc tế về động vật đất
họp tại Askebu Budejovice, tháng 7 năm 1990; Hội nghị quốc tế về động vật
đất lần thứ 11 tại Jyvaskyla (Phần Lan) tháng 08 năm 1992;[17,31,32,36].
1.2. Tình hình nghiên cứu bọ nhảy ở Việt Nam.
Ở Việt Nam động vật chân khớp bé ở đất đã bắt đầu được nghiên cứu
từ những năm 30 của Thế kỉ XX. Bước đầu chỉ là những nghiên cứu lẻ tẻ của
một số tác giả nước ngoài khi kết hợp nghiên cứu với các nhóm sinh vật khác.
Những nghiên cứu đầu tiên về bọ nhảy ở Việt Nam được công bố năm
1948 của Delamare – Deboutteville. Cùng năm, Denis đã đưa ra danh sách 17
loài bọ nhảy ở Việt Nam do Dawidoff thu thập ở các địa phương như: Vĩnh
Phúc, Đắc Lắc, Đà Lạt, Đà Nẵng,…..Năm 1965, Jan Stach - nhà động vật học
người Ba Lan đã đưa ra danh sách gồm 30 loài bọ nhảy thuộc 9 họ, 22 giống,
trong đó có 20 loài mới cho khu hệ Việt Nam và 10 loài mới cho khoa học
[17, 39].
Từ năm 1980, nhiều công trình nghiên cứu về thành phần, phân bố, số
lượng và vai trò của các nhóm Microathropoda nói chung và bọ nhảy nói
riêng trong môi trường đất ở nhiều địa điểm thuộc các kiểu hệ sinh thái khác
nhau ở nước ta, từ phía Bắc, qua Tây Nguyên đến Năm Căn, Cà Mau, Bạc
Liêu, từ vùng núi cao Đông bắc đến miền duyên hải ven biển Quảng Ninh,
Hải Phòng, Thanh Hóa, tiếp tục được thực hiện bởi các nhà khoa học Việt
Nam [5,10].
Từ năm 1995 đến nay, các đề tài nghiên cứu về bọ nhảy vẫn được kế
tục và phát triển, tập trung vào các hướng: nghiên cứu đa dạng sinh học và
khu hệ; nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái và nghiên cứu về vai trò chỉ thị
sinh học của bọ nhảy trong môi trường đất [1,2,3,4,5,6,10,11,15…].
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
Đã tiến hành nghiên cứu khu hệ bọ nhảy ở một số vườn quốc gia, khu
bảo tồn thiên nhiên, ở một số hệ sinh thái (HST) điển hình (HST rừng nhiệt
đới, HST đô thị, HST nông nghiệp…) hoặc ở một số vùng, miền, khu vực
khác nhau, trải dài từ phía Bắc vào đến phía Nam Việt Nam như: Vườn quốc
gia (VQG) Tam Đảo (1992-2002), VQG Cát Tiên (2002-2004), VQG Cát Bà
(2005-2006), VQG Ba Bể (2002), khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Na Hang
- Tuyên Quang (2002-2003), KBTTN Đakrong - Quảng Trị (2002-2005),
KBTTN Thượng Tiến - Hòa Bình (2005), HST gò đồi Bắc Trung bộ (20032004), HST đô thị vùng đồng bằng sông Hồng (2002-2003), HST nông
nghiệp miền núi phía Bắc (2004-2005), vùng đồi núi Phú Thọ (2003-2005),
thành phố Hà Nội (1998-2001), thành phố Hải Dương (1999-2005), khu vực
phía tây Hương Sơn - Hà Tĩnh (2005), vùng ven biển Hải Phòng - Quảng
Ninh (2005), khu vực miền trung Nam Trung bộ và Nam bộ (20042006)…Trong thời gian từ 1995-2005, đã mô tả và công bố 27 loài bọ nhảy
mới cho khoa học và bổ sung thêm hơn 50 loài mới cho khu hệ Việt Nam
[1,2,3,4,6,11,16,21,22,24,25,26,27,28]
Từ tháng 2 năm 1992 đến tháng 4 năm 2001, Nguyễn Trí Tiến và
J. Pormorski tiến hành nghiên cứu khu hệ bọ nhảy vườn Quốc gia Tam Đảo
đã đưa ra kết luận: Ở đây có 82 loài bọ nhảy thuộc 38 giống, 15 họ của 3 phân
bộ. Bổ sung một họ mới: Oschesellidae Stach, 1965; một giống mới:
Serroderus Delamare – Dboutteville, 1948 và 5 loài mới cho khu hệ bọ nhảy
Việt Nam [22].
Sự phân bố của bọ nhảy Tam Đảo thay đổi ở các sinh cảnh khác nhau,
số lượng loài ở các sinh cảnh giảm dần theo thứ tự rừng tự nhiên (52 loài), đất
trồng (42 loài), trảng cỏ cây bụi (21 loài). Số lượng loài của mỗi dạng sống và
sự thay đổi tỷ lệ giữa các dạng sống trong 3 sinh cảnh là khác nhau phụ thuộc
vào sự có mặt và độ dày mỏng của lớp thảm thực vật, vào nhiệt độ, độ ẩm,
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
tính chất của đất và mức độ tác động của con người vào môi trường đất
[22,23].
Năm 1997 – 2002 Nguyễn Trí Tiến và c.s đã nghiên cứu về đa dạng
loài bọ nhảy trong hệ sinh thái đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng. Mẫu bọ
nhảy thu thập từ 10 thành phố, thị xã vùng ĐBSH: Hà Nội, Hải Phòng, Hải
Dương, Vĩnh Yên, Sơn Tây, Phủ Lý, Ninh Bình, Hưng Yên, Thái Bình, Nam
Định đã thống kê được 130 loài bọ nhảy thuộc 54 giống, 15 họ [4].
Các dẫn liệu mới về bọ nhảy ở vùng gò đồi 5 tỉnh phía Bắc Trung bộ
Việt Nam: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị đã thống kê được 65
loài bọ nhảy thuộc 31 giống, 11 họ phân bố trong các loại đất cát, đất nâu đỏ
và đất gò đồi.
Năm 2003- 2005, Nguyễn Trí Tiến và c.s đã tiến hành thực địa ở 7 địa
phương Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang,
Cà Mau thuộc khu vực miền Tây Nam Bộ đã thống kê được 43 loài thuộc 35
giống 11 họ phân bố tại 4 sinh cảnh rừng tự nhiên, rừng trồng, vườn quanh
nhà, trảng cỏ hoang [25].
Tại VQG Cát Bà, Hải Phòng đã thống kê được 78 loài bọ nhảy thuộc
48 giống, 14 họ phân bố trong 8 sinh cảnh. Trong số này, đã bổ sung thêm 46
loài cho VQG và 5 loài bọ nhảy cho khu hệ Việt Nam. Lần đầu tiên ghi nhận
có 4 loài bọ nhảy phân bố ở vùng bãi triều ven biển: Oudemansia sp.1,
Pseudanurida sp.1, Isotoma (Desoria) sp.1 và Axelsonia nitida (Folsom, 1899)
sensu Yosii, 1966. Đồng thời đã ghi nhận một tập hợp 16 loài bọ nhảy phổ
biến và 21 loài bọ nhảy ưu thế của VQG [28].
Tại VQG Xuân Sơn, Phú Thọ qua điều tra đã lập được một danh sách
gồm 89 loài thuộc 47 giống, 15 họ. Trong số đó có 2 loài mới cho khu hệ bọ
nhảy Việt Nam là: Ceratophysella sahbergi (Reuters, 1895) và Sminthurinus
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
igniceps (Reuters, 1881). Số loài tăng tập trung chủ yếu ở họ Entomobryidae
(chiếm 21,28% tổng số giống, 33,71% tổng số loài). Có 4 họ mới được phát
hiện 1 giống, 1 loài. Khu hệ bọ nhảy ở VQG Xuân Sơn có mức độ đa dạng
loài, giống, họ cao hơn so với một số địa điểm khác của Việt Nam như: VQG
Tam Đảo, VQG Cát Tiên, Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hang, Dackrông [26].
Tại khu vực phía Tây 3 tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị
đã ghi nhận được 116 loài bọ nhảy thuộc 50 giống, 15 họ. Đã bổ sung cho khu
hệ Việt Nam 4 loài: Friesea claviseta Axelson, 1900; Mesaphorura
krausbaueri Borner,1901; Aselson nitida Folsom, 1899 và Lepidocyrtus
(Acrocyetus) carosus Yosii, 1959. Có 23 loài bọ nhảy phân bố rộng và 4 loài
là phổ biến cho cả 3 tỉnh.
Cho đến nay khu hệ bọ nhảy Việt Nam đã ghi nhận được gần 200 loài
thuộc hơn 80 giống của 16 họ, trong đó có 150 loài đã xác định được tên khoa
học.
Tóm lại, trong thời gian từ 1995 đến nay, hệ động vật không xương
sống ở đất nói chung, bọ nhảy ở đất nói riêng đã được nghiên cứu tương đối
đồng bộ cả về khu hệ, đặc điểm sinh thái và vai trò chỉ thị sinh học ở một số
khu vực, địa phương, trong một số vườn quốc gia, khu bảo tồn tự nhiên thuộc
các hệ sinh thái tiêu biểu, phổ biến của nước ta. Những số liệu thu được qua
nghiên cứu đã mở rộng thêm sự hiểu biết và bổ sung những dẫn liệu mới về
nhóm động vật này. Đây cũng chỉ là những kết quả ít ỏi, mới triển khai
nghiên cứu trong phạm vi hạn chế ở một số địa điểm, một số vùng của đất
nước. Còn nhiều vấn đề về lực lượng chuyên gia, cơ sở khoa học cũng như
ứng dụng thực tiễn đòi hỏi cần phải nỗ lực tiếp tục nghiên cứu trong thời gian
sắp tới.
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bọ nhảy (Collembola) - Động vật chân khớp nguyên thủy thuộc lớp
côn trùng (Insecta) ngành chân khớp (Arthropoda).
2.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trong 2 năm (2006 – 2007) với 3 đợt điều tra thực
địa: tháng 12 năm 2006, tháng 3 năm 2007 và tháng 8 năm 2007.
Sau khi lấy mẫu tiến hành lọc, thu, bảo quản mẫu tại Phòng Sinh thái
Môi trường đất của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam.
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Khu vực Đại Lải và vùng phụ cận, thuộc xã Ngọc Thanh thị xã Phúc
Yên tỉnh Vĩnh Phúc.
Bảng 1: Thời gian, số lượng mẫu định lượng bọ nhảy ở khu vực Đại lải và
vùng phụ cận đã được thu thập và phân tích
Sinh cảnh
Thời gian
Tháng 12-2006
RTN
RT
TCCB
VQN
ĐCT
A1
A2 A1 A2 A1
A2
A1
A2 A1
A2
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
Tổng
50
Luận văn tốt nghiệp
Phạm Thị Kim Dung
Tháng 3–2006
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
50
Tháng 8- 2007
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
50
Tổng cộng
15
15 15 15 15
15
15
15 15
15 150
Chú thích: RTN - rừng tự nhiên; RT - rừng trồng; TCCB - trảng cỏ cây
bụi; VQN - vườn quanh nhà; ĐCT - đất canh tác
A1 - độ sâu 0 – 10cm; A2 - độ sâu 10 – 20cm