BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-------*****-------
ĐẬU TIẾN DŨNG
ĐẶC ĐIỂM TẠP VĂN LÝ LAN
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
2
NGHỆ AN - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-------*****-------
ĐẬU TIẾN DŨNG
ĐẶC ĐIỂM TẠP VĂN LÝ LAN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Trí Dũng
4
NGHỆ AN - 2013
MỤC LỤC
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Không phải ngẫu nhiên khi Trần Hoàng Nhân (Thời của tản văn,
tạp bút, nld.com.vn) gọi thời đại này là “thời của tản văn, tạp bút”. Do sức ép
của khối lượng công việc bận rộn nên độc giả ít có thời gian cho những cuốn
tiểu thuyết dài hơi. Người đọc hôm nay thường tìm đến những thể loại có khả
năng đáp ứng những nhu cầu đọc nhanh như truyện ngắn, truyện cực ngắn
(truyện mi ni), tạp văn, bút ký,... Những thể loại này có dung lượng ngắn, dễ
đọc, thường hướng tới phản ánh những vấn đề mang tính thời sự, nóng rẫy
hơi thở cuộc sống bằng thứ ngôn ngữ đời thường, quen thuộc.
1.2. Gần đây, tạp văn là thể loại được sử dụng khá phổ biến trong văn
học Việt Nam đương đại. So với các thể ký khác, tạp văn đang trở thành mối
quan tâm hàng đầu đối với độc giả. Với sự phát triển mạnh mẽ của thời đại
thông tin và nhịp sống hiện đại, tạp văn trở thành thể loại có ưu thế bởi tính
chất ngắn gọn, có thể chớp được một suy nghĩ, một khoảnh khắc suy tư, một
thoáng liên tưởng mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả. Nhờ vậy, nó dễ dàng
tiếp cận người đọc trên phương diện cảm xúc, cũng như nhu cầu thông tin.
Đặc biệt, các tờ báo thường dành riêng một mục để đăng tạp văn thường kì
như: Người Lao Động, Phụ Nữ Thành phố Hồ Chí Minh, Tuổi Trẻ, Thanh
Niên, Văn nghệ... Nhiều bài báo không chuyên về văn chương cũng in tạp
văn. Đây thật sự là mảnh đất màu mỡ cho nhiều nhà văn – cũ có, mới có – thể
hiện. Tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Tạ Duy Anh, Mạc
Can, Đỗ Trung Quân, Lê Giang, Huỳnh Như Phương được in báo trước khi
xuất bản thành sách. Không chỉ xuất hiện dày đặc trên các báo và các trang
mạng cá nhân, những năm gần đây, tạp văn được xuất bản khá ồ ạt, có chất
lượng và được người đọc đón nhận nồng nhiệt. Song dường như, những ý
kiến, nhận xét, đánh giá, nghiên cứu về thể loại này còn rất ít.
1.3. Lý Lan là nhà văn nữ tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đương đại.
Hoạt động văn chương của Lý Lan trải rộng trên nhiều lĩnh vực: thơ, truyện
7
ngắn, tiểu thuyết, phê bình, biên kịch, dịch thuật... Tính đến năm 2013, sau
gần 35 năm viết văn, Lý Lan đã có trên 30 tác phẩm đã xuất bản ở tất cả các
thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, tuỳ bút, thơ và còn có rất nhiều tác phẩm văn
học dịch nổi tiếng. Chất lượng sáng tác của Lý Lan được ghi nhận bằng giải
thưởng văn học có giá trị như giải thưởng truyện ngắn của báo Tuổi trẻ, giải
thưởng văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam, giải thưởng thơ của Hội
Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh (cho tập thơ Là mình), giải thưởng của Hội
Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh 2009 (cho Tiểu thuyết đàn bà)… Bên cạnh
sự phong phú về thể tài, nội dung, Lý Lan còn chứng tỏ mình là một cây bút
văn xuôi tự sự khá tỉnh táo, am hiểu kĩ thuật văn chương và có những cách tân
nghệ thuật táo bạo, đặc biệt trên phương diện giọng điệu và ngôn ngữ. Lý Lan
được xem là gương mặt nhà văn nhiều ấn tượng và có những đóng góp đáng
kể cho văn xuôi Việt Nam đương đại.
Bên cạnh truyện ngắn, thơ, tiểu thuyết, công trình dịch thuật,… Lý Lan
còn có những sáng tác thuộc thể loại bút ký, tạp văn gây được sự chú ý trong
những năm gần đây. Tuy vậy, những ý kiến nhận xét, đánh giá cho các tác
phẩm của Lý Lan ở thể loại này vẫn chưa nhiều, nhất là loại tạp văn.
Với đề tài Đặc điểm tạp văn Lý Lan, chúng tôi mong muốn góp phần
làm rõ đặc điểm tạp văn của Lý Lan trên phương diện nội dung và hình thức
nghệ thuật. Qua đó, thấy được nét riêng đặc sắc của tạp văn Lý Lan và vị trí
của tạp văn Lý Lan trong bức tranh toàn cảnh của tạp văn đương đại.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Lịch sử nghiên cứu tác phẩm của Lý Lan
Lý Lan là nhà văn sáng tác trên nhiều thể loại, tiếp cận với nhiều đề tài.
Tuy nhiên, vẫn còn rất ít những công trình nghiên cứu, những bài báo tìm
hiểu về thế giới nghệ thuật của chị.
Trên báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, số 24, ngày 15 – 6 - 1985,
Nguyễn Thị Thanh Xuân có bài viết: “Về những cây bút nữ Thành phố Hồ
Chí Minh”. Đặt Lý Lan bên cạnh những cây bút nữ trẻ của thành phố, tác giả
8
nhận định: “Lý Lan là cây bút sớm được dư luận chú ý. Với cách viết giản dị
mà linh hoạt, đậm đà chất Nam Bộ, Lý Lan thể hiện phong cách của mình
ngay từ những tác phẩm đầu tay”[92; 203].
Năm 1994, cũng trên báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, ra ngày 18 –
8 – 1994, Nguyễn Thị Thanh Xuân có bài: “Hai cây bút nữ một tập truyện”,
giới thiệu tập truyện ngắn Cỏ hát của Lý Lan in chung với Trần Thùy Mai.
Bên cạnh việc giới thiệu cây bút nữ trẻ Lý Lan đầy tiềm năng, bài viết còn ghi
nhận ba phương diện trong truyện ngắn Lý Lan, đó là: cảm hứng nghệ thuật,
kiểu nhân vật và phong cách: “Trong những trang viết của cây bút mới vào
nghề như Lý Lan, chúng ta bắt gặp đây đó hình ảnh tác giả: Lý Lan đang
trong giai đoạn tự ngắm mình”[92; 197 - 198].
Năm 1991, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh in tập truyện ngắn Chiêm
bao thấy núi của Lý Lan với Lời giới thiệu của nhà văn Sơn Nam. Ông ghi
nhận là ở Lý Lan “Cái tươi trẻ, cái bình dân và sự ranh mãnh của những cô
gái trẻ Sài Gòn xưa và nay. Nhất là có phẩm cách” [69; 4].
Năm 2000, Nxb Hội Nhà văn cho ra mắt độc giả quyển Một góc phố Tàu
của Lý Lan do Vương Trí Nhàn tuyển chọn và giới thiệu. Vương Trí Nhàn đã
có một bài viết công phu, mang những nhận định tổng quát về văn xuôi Lý
Lan với những điểm đáng chú ý. Tác giả đã khẳng định phong cách văn xuôi
Lý Lan “chính là nằm trong cái mạch của văn xuôi Nam Bộ. Cây bút này đã
tiếp nhận một cách hồn nhiên kinh nghiệm của người đi trước để rồi trong
hoàn cảnh của mình, thêm vào đó những sắc thái mới, làm nên một giọng điệu
mới…là một tiếng nói điềm đạm, không làm điệu, làm ồn, tự tin ở sự tồn tại
của mình, do đó là một tiếng nói dễ gần, dễ thông cảm. Chị đã viết được đều,
viết nhanh, viết khỏe, có thể tin là trước mắt chúng ta một phong cách đã hình
thành, một mạch văn đã khơi nguồn và đang chảy xiết chứ không phải là một
sự “viết cho vui” hoặc ghé qua nghề nghiệp chốc lát rồi lại bỏ” [76; 12].
Vương Trí Nhàn nhận định rất đúng về mảng đề tài nổi bật trong văn
xuôi Lý Lan chính là cuộc sống của người Hoa: “Riêng với Lý Lan, do hoàn
9
cảnh riêng là lớn lên ở một miền đất mà người Hoa sinh sống tập trung, chị lại
có dịp nói kỹ về sinh hoạt của cộng đồng này, từ chuyện làm ăn, một tiệm
chạp pô, tiệm nước tới việc viết chữ ghi lại bút tích ngày xuân… với những
con người bảo ban nhau làm ăn, những con người nghèo nghèo, tội tội, đang
vật lộn kiếm sống và kiếm cách thích nghi với mảnh đất mới”[ 76; 15].
Năm 2002, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh ra mắt bạn đọc công trình Thơ
văn nữ Nam Bộ thế kỷ XX. Người biên soạn công trình này đã nhận xét về tạp
văn Lý Lan: “viết nhiều về người Hoa, về con cháu của một dân tộc đã sinh
sống, gắn bó, hòa nhập với mảnh đất này từ bao đời nay…nhưng không thấy
hiển hiện nỗi niềm xa xứ, nỗi sầu xứ mênh mang của một người xa lạ, “thiếu
quê hương” (chữ dùng của Nguyễn Tuân) hay u trầm, huyền bí” mà chỉ thấy
vẻ hiền lành, đơn sơ, mộc mạc của một cộng đồng người giàu đức tính chia sẻ
và cảm thông” [1; 686].
Tháng 2 năm 2007 trên website: , tác giả Anh
Vân viết bài “Lý Lan - người đàn bà hồn nhiên với chữ”. Trong bài viết này,
Anh Vân gọi Lý Lan là “người bạn ham chơi, chân thành của chữ nghĩa” và
với chữ nghĩa, Lý Lan có “mối quan hệ quấn quýt như tình nhân”. Tác giả bài
viết cũng nhận ra nét hồn nhiên không chỉ toát ra từ con người mà còn thể
hiện rõ trong giọng văn, ngôn ngữ của Lý Lan” và khẳng định sự trong sáng,
dễ thương đã trở thành một trong những nét riêng hấp dẫn ở giọng điệu của
Lý Lan.
Bài viết “Lý Lan: Tình yêu vẫn còn nguyên vẹn” của Tường Vy đăng
trên báo Saigongiaiphongonline là bài viết ghi lại những hoạt động và đóng
góp của Lý Lan tại buổi Tổ chức Hội sách Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 5,
nhân dịp đón tết Mậu Tý, 2008. Qua bài viết này tác giả cũng hé mở một số
chi tiết về cuộc đời của nhà văn thông qua câu trả lời của nhà văn với bạn
đọc.
Vương Trí Nhàn đã dành riêng một bài viết về Lý Lan trên trang blog
. Trong bài viết của mình, ông đã đặt văn
10
xuôi của Lý Lan trong mạch văn xuôi Nam bộ cùng với Hồ Biểu Chánh, Lý
Văn Sâm, Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Trang Thế Hy v.v...để thấy được “lối
kể chuyện mộc mạc”; lối hành văn “tự nhiên mà không bao giờ mang tiếng
trau chuốt, đẽo gọt...”[74]. Về mặt nội dung của văn xuôi Lý Lan, Vương Trí
Nhàn cũng đưa ra những nhận định khái quát và xác đáng: “Qua những trang
sách của chị, người ta thấy hiện lên một phần hình ảnh xã hội sau chiến tranh
với những xáo trộn nghiệt ngã, và những đổi thay mà trước đây không ai ngờ
tới. Song cái chính là qua những trang sách ấy, người ta cảm thấy như được
gặp gỡ với một tâm hồn nhạy cảm, biết nhìn đời một cách nhân hậu để tìm ra
những vẻ đẹp và bất chấp mọi sự oái oăm rắc rối, vẫn có được một thái độ
phải chăng, hợp lý, giữ lấy niềm tin cho riêng mình”[74]. Đặc biệt, khi đặt Lý
Lan bên cạnh một nhà văn gốc Hoa là Hồ Dzếnh, Vương Trí Nhàn nhận ra nét
đặc biệt trong tâm lý sáng tạo của cả hai nhà văn, đó là “cái cảm giác về một
"thân phận kép" đã trở thành ám ảnh” [74] và hành động viết như một sự giãi
bày những tình cảm sâu nặng trong lòng. Nhìn chung, bài viết của Vương Trí
Nhàn đã thể hiện sự am hiểu sâu sắc về các sáng tác của Lý Lan.
Các tác giả Ngô Thị Kim Cúc (“Những người đàn bà bị thất lạc”, báo
Thanh niên, 3/2008), Trần Thuỳ Mai (“Lý Lan, người đi xuyên tường”, báo
Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh Chủ nhật, tháng 6/2008), Hà Tùng Sơn (giới
thiệu Tiểu thuyết đàn bà, sachhay.com) có những cách nhìn khác nhau về
Tiểu thuyết đàn bà.
Dạng bài phỏng vấn, theo khảo sát của chúng tôi, hiện có khoảng hơn 10
bài, trong đó có bài phỏng vấn đề cập đến cuộc đời, tiểu sử của Lý Lan như
bài: “Người phụ nữ luôn mơ ước làm chủ cuộc sống”, (Báo Người lao động,
website nld.com.vn); cũng có bài phỏng vấn đề cập trực tiếp tới thế giới nghệ
thuật trong tác phẩm như bài “Lý Lan: với văn chương tôi không có tuổi”
(phongdiep.net), bài phỏng vấn”trên “gác xép” của Lý Lan” của Ngô Thị Kim
Cúc (thanhnien.com.vn) nói về hoạt động sáng tác văn học thiếu nhi của Lý
Lan; cũng có bài phỏng vấn chỉ đề cập đến một tác phẩm như “Lý Lan, 16
11
năm cho Tiểu thuyết đàn bà” (tại buổi giao lưu với bạn đọc ngày 13/3/2008,
đăng tải trên website: />Tác phẩm của Lý Lan trở thành đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ:
“Cảm hứng nữ quyền trong văn xuôi tự sự của Lý Lan” của Nguyễn Thị Hà.
Trong công trình nghiên cứu của mình, sau khi tìm hiểu về nhân vật nữ như là
biểu hiện tập trung, mạnh mẽ nhất cảm hứng nữ quyền và phương thức nghệ
thuật thể hiện cảm hứng nữ quyền trong văn xuôi Lý Lan, tác giả khẳng định:
“Sự xuất hiện của những người như Lý Lan đã tác động tích cực tới những
cây bút trẻ, tạo động lực cho họ mạnh dạn trong việc khai thác đề tài nữ
quyền” và “những nét đằm thắm, chân thành, nhân hậu như trong sáng tác Lý
Lan luôn là một đặc điểm đáng quý”[25].
2.2. Lịch sử nghiên cứu tạp văn của Lý Lan
Tạp văn là một thể loại được Lý Lan sáng tác nhiều. Song dường như thể
loại này của chị chưa thu hút được sự quan tâm cần thiết, đúng mức của giới
nghiên cứu. Những đánh giá chủ yếu dành cho truyện ngắn và đặc biệt cho
cuốn tiểu thuyết mới xuất bản gần đây của bà: Tiểu thuyết đàn bà, còn tạp văn
thì thảng hoặc có một vài bài viết lẻ tẻ in trên các báo, chủ yếu đưa ra những
cảm nhận cá nhân khi đọc cuốn Miên man tùy bút như:
Tác giả Việt Bằng trong bài “Đọc Miên man tuỳ bút của Lý Lan” đăng
trên vietbang.com đề cập đến hai nội dung: “Miên man tùy bút là tập hợp của
11 đoản văn (personal essays, nonfiction) không có đề tài mà chỉ được đánh
số từ 1 đến 11. Tất cả đều liên quan tới tác giả từ thủa ấu thời mẹ mất sớm,
theo cha về Chợ Lớn cho đến khi thành công trong sự nghiệp và thành danh
trong cuộc đời” và: “Trong Miên man tùy bút, nhiều đoạn được diễn tả bằng
những mẩu đối thoại thay vì miêu tả hay thuật truyện. Viết đối thoại cũng là
một sở trường của Lý Lan”[10].
Trên đài Châu Á tự do, tác giả Mặc Lâm cho phát bài: “Nhà văn nữ Lý
Lan, một cây viết có sức sáng tác đa dạng” trong đó chủ yếu tập trung phân
tích, làm rõ cách viết, nghệ thuật kể chuyện của Lý Lan. Với cái nhìn có tính
12
hiện thực, Mặc Lâm đã khái quát: “Qua nhiều tác phẩm, Lý Lan có khuynh
hướng miêu tả đời thường dưới cái nhìn của một nhà báo hơn là một nhà văn.
Chị ghi nhận sự kiện và sắp xếp chúng bằng những trình tự mà sự kiện liên
tục xảy ra và không hoa mỹ, hư cấu”[63]. Điều đáng chú ý của Lý Lan là tác
giả luôn đưa hình ảnh cuộc sống sống động vào văn chương, làm cho văn
chương giàu hơi thở. Mặc Lâm phát biểu: “Bằng trực giác của một người nữ,
chị lặng lẽ quan sát những gánh hàng rong đang ngày ngày sinh hoạt mà chị
gọi chung là những cái chợ hàng rong”[63].
Tháng 4 năm 2008, báo Thể thao & Văn hoá, số 111 cho đăng bài “Lý
Lan: Mẹ đưa con đến trường mãi là biểu tượng đẹp nhất” của tác giả Yên
Khương. Đây là bài viết về tác phẩm được chọn giảng trong nhà trường
(chương trình văn học lớp 7): Cổng trường mở ra của Lý Lan. Yên Khương
đã giành những ưu ái cho nhà văn khi ngợi ca “những tâm sự rất dung dị
nhưng lại vô cùng cảm động như chính giọng văn của bà”[38]. Tác giả viết:
“Tuỳ bút Cổng trường mở ra chất chứa biết bao xúc cảm. Những câu văn
chân thành xúc động như để tâm sự với đứa con bé bỏng, lại như đang nói với
chính mình. Nhưng cao hơn nữa, nhà văn muốn khẳng định giá trị của giáo
giục đối với một con người và với cả xã hội”[38].
Nguyễn Long Khánh trong bài giới thiệu cuốn Miên man tùy bút trong
tonvinhvanhoadoc.vn đã có những nhận xét sơ bộ về hình thức của cuốn tùy
bút: “Một cuốn sách giản dị, mộc mạc chân thành: người viết nhớ đến đâu,
viết đến đó, không sắp đặt cũng không chú ý lắm đến hình thức, nghệ thuật
thể hiện”[37]… Về mặt nội dung, Nguyễn Long Khánh khẳng định Miên man
tùy bút là cuốn sách “thật ấm áp tình đời, tình người, có sức quyến rũ dịu
dàng lay động mỗi trái tim người đọc. Nó như một dòng suối mát trong róc
rách giữa ngày nắng hạ mang đến niềm vui, hy vọng và sức mạnh tiềm ẩn để
chúng ta ngẩng cao đầu đi trong cuộc sống”[37].
Nhìn chung, các bài báo nghiên cứu về tác giả, tác phẩm nói chung và
tạp văn nói riêng của Lý Lan vẫn chưa thực sự phong phú, đa dạng, chưa đi
13
sâu vào thế giới nghệ thuật của chị. Các ý kiến đánh giá hầu hết đều khai thác
phương diện con người tiểu sử của tác giả, hoặc mới chỉ đề cập đến một khía
cạnh nội dung hoặc nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể (Tiểu thuyết đàn bà
hoặc Hồi xuân). Đặc biệt về tạp văn của Lý Lan, hiện tại, chưa có một công
trình nghiên cứu toàn diện trên cả chiều sâu và bề rộng. Chính vì vậy, tạp văn
của Lý Lan vẫn chưa thực sự trở nên thân quen với bạn đọc Việt Nam. Chúng
tôi hi vọng rằng luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm giá trị của tạp văn Lý
Lan trên cả hai phương diện nội dung và hình thức.
3. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm tạp văn Lý Lan trên hai phương diện: nội dung và hình thức
nghệ thuật.
3.2. Giới hạn của đề tài
Giới hạn nghiên cứu của đề tài là bảy tập tạp văn được xuất bản của Lý
Lan: Chân dung người Hoa (1994), Sài Gòn, Chợ Lớn rong chơi (1998), Khi
nhà văn khóc (1999), Dặm đường lang thang (1999), Miên man tùy bút
(2007), Bày tỏ tình yêu (2009), Ở ngưỡng cửa cuộc đời (2010).
Ngoài ra, chúng tôi còn bổ sung tìm hiểu thêm một số bài tạp văn trên
blog Lý Lan ( Đó là:
Ăn cháo
Tiều, Bông chùm bao, Chuyện làm ăn, Chùa Minh Hương, Du xuân, Đêm Sài
Gòn nghe ếch nhái kêu, Múa lân, Người trong hẻm, Sài Gòn về sáng, Sỏi và
đá, Thư viết ở Sài Gòn.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra 3 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đưa ra một cái nhìn khái quát về tạp văn trong sự nghiệp sáng tác của
Lý Lan.
- Khảo sát, chỉ ra đặc điểm của tạp văn Lý Lan trên phương diện nội dung.
- Khảo sát, chỉ ra đặc điểm tạp văn Lý Lan trên một số phương diện
hình thức.
14
5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phương pháp,
trong đó chủ yếu là:
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu.
- Phương pháp thống kê - phân loại.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình khảo sát một cách tập trung về đặc điểm tạp văn
Lý Lan, bổ sung thêm tư liệu để đánh giá toàn diện hơn về toàn bộ sáng tác của
nhà văn.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1. Tạp văn trong hành trình sáng tạo của Lý Lan
Chương 2. Những vấn đề đời sống được quan tâm trong tạp văn Lý Lan
Chương 3. Một số phương diện hình thức nghệ thuật của tạp văn Lý Lan
15
Chương 1
TẠP VĂN TRONG HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA LÝ LAN
1.1. Sự lên ngôi của thể loại tạp văn trong văn học Việt Nam đương đại
1.1.1. Về khái niệm tạp văn
Xét về phương diện sáng tác và tiếp nhận, đến nay, cả người sáng tác và
bạn đọc đều không xa lạ với thể loại tạp văn nữa. Chúng ta có thể tìm đọc tạp
văn ở trên bất cứ tờ báo nào, của nhiều tác giả, thậm chí đã có không ít những
tuyển tập tác phẩm xác định hẳn tên thể loại là “tạp văn”. Tuy nhiên, với tư
cách là một thuật ngữ khoa học, cho đến nay, đây vẫn là khái niệm chưa được
minh định rõ ràng.
Việc không minh định rõ ràng ấy có lẽ bắt nguồn từ chính lên gọi của
thể loại. Bắt nguồn từ chữ “tạp” trong tiếng Hán có nghĩa là “vặt vãnh”, “lẫn
lộn” nên “tạp văn” thường dễ gợi cho người tiếp nhận liên tưởng đến một thể
loại “hỗn hợp”, chứa đựng nhiều thể văn nhỏ khác nhau, không đồng nhất. Và
trên thực tế đã có không ít nhà nghiên cứu và cả người sáng tác xác định nội
hàm khái niệm theo nghĩa này. Trần Xuân Đề trong cuốn Tác gia tác phẩm
văn học phương Đông cho rằng: “Thể văn không bị hình thức gò bó, nội dung
không có gì là không đề cập đến, cho nên gọi là “tạp” [19, 444]; Lỗ Tấn: “bất
cứ là thể văn gì, mọi thứ gộp lại với nhau, thế thành ra “tạp” [19, 444] hay
Mạc Ngôn: “Tuy nhiên, tôi rất muốn nói rằng, đây là một đĩa lòng dê đã xắt
miếng. Bởi tôi cũng không dám chắc rằng, những bài văn được sưu tập lại ở
đây, rốt cuộc nên coi nó là tản văn, hay xem là tạp văn, hay gọi là “tuỳ bút”,
hay nên coi là một thể loại khác. Thật lòng không thể ngờ rằng, trong hơn
chục năm qua, ngoài việc viết tiểu thuyết và kịch bản ra, tôi còn viết được
nhiều thứ ba lăng nhăng đến thế.” [71, 5]. Với những ý kiến này, bất cứ tác
phẩm nào mang đặc điểm “không có gì là không đề cập đến”, “bất cứ là thể
văn gì, gộp lại với nhau”, “nhiều thứ ba lăng nhăng” đều được xem là tạp văn.
Cá biệt, Dương Tấn Hào còn quan niệm, bất cứ cái gì không phải truyện
16
ngắn, tiểu thuyết, kịch đều có thể được xem là tạp văn. Đây cũng là cách hiểu
thông thường của đông đảo bạn đọc hiện nay. Chúng ta thường xác định tạp
văn trong mối tương quan với các thể loại tự sự đã phổ biến, quen thuộc như:
truyện ngắn, tiểu thuyết, ký…nên dường như, bất cứ tác phẩm nào không viết
theo các thể loại này đều có thể xếp vào “tạp văn”.
Tuy nhiên, cách hiểu ấy mang nhiều tính “nôm na”, “truyền miệng” chứ
chưa có tính chất khoa học và thực tế, nó chưa đưa ra những căn cứ để minh
định thể loại một cách thuyết phục. Xem đây là một thuật ngữ khoa học, Từ
điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Tạp văn là những áng văn tiểu phẩm có nội
dung chính trị, có tác dụng chiến đấu mạnh mẽ. Đó là một thứ văn vừa có tính
chính luận sắc bén vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp
thời các hiện tượng xã hội” [26, 247].
Từ điển tiếng Việt của Bùi Quang Tịnh (Nxb Văn hóa Thông tin) định
nghĩa đơn giản như sau: “Tạp văn: nhiều loại văn lẫn lộn” [88; 842]. Đại từ
điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý, Nxb Văn hóa Thông tin) giải thích: “Tạp văn
gồm nhiều thể tài linh hoạt như đoản thiên, tiểu phẩm, tùy bút” [33; 1495]. Từ
điển tiếng Việt (Hoàng Phê, Nxb Đà Nẵng) viết: “Tạp văn là loại văn có nội
dung rộng, hình thức không gò bó, bao gồm những bài bình luận ngắn, tiểu
phẩm, tùy bút...” [78; 982].
Có một số tác giả xếp tạp văn là một dạng nhỏ của tản văn như Đỗ Hải
Ninh (trong bài viết Ký trên hành trình đổi mới) hay Hoàng Phê (trong cuốn
Đại từ điển Tiếng Việt ) hay Trương Chính trong lời giới thiệu về tạp văn của
Lỗ Tấn trong Lỗ Tấn tuyển tập, Nxb Văn học năm 1963 : “Xét nguồn gốc và
phong cách của nó thì tạp văn chính là kế thừa và phát triển hình thức tản văn
trong văn học cổ điển Trung Quốc.”[16, 6]. Có tác giả như Hoàng Ngọc Hiến
xem tạp văn là một tiểu loại của thể loại ký, trong cuốn sách Năm bài giảng
về thể loại, ông viết: “Trong nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại, ký là
một thuật ngữ được dùng để gọi tên một thể loại văn học bao gồm nhiều “thể”
17
hoặc “tiểu loại”: bút ký, hồi ký, du ký, ký chính luận, phóng sự, tuỳ bút, tản
văn, tạp văn, tiểu phẩm (ét-xe)…”[26, 5].
Dù rất nhiều định nghĩa được đưa ra nhưng thực tế là các nhà nghiên
cứu và cả đội ngũ sáng tác đều chưa thể “khoanh vùng” chính xác cho thể loại
này. Điều đó có lẽ bắt nguồn từ phạm vi khá rộng và sự phong phú, đa dạng
trong nội dung và hình thức phản ánh của thể loại này. Chúng tôi cho rằng,
khởi nguồn, tạp văn chỉ là một thể văn nhỏ, không được xem trọng trong văn
học Trung Quốc. Nhưng dần dần, do nhu cầu phản ánh đời sống, nhu cầu bộc
lộ của người sáng tác và nhu cầu đọc của độc giả, tạp văn trở thành thể loại
thịnh hành, phổ biến với rất nhiều hình thức biểu hiện khác nhau. Và cùng với
quá trình mở rộng phạm vi một cách rất “tự nhiên” ấy, nội hàm khái niệm
ngày càng khó xác định thống nhất. Tâm thế người sáng tác và người tiếp
nhận trước tạp văn hoàn toàn khác với tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ hoặc kịch.
Dường như rất ít người tự nhủ: Mình phải/đang/sẽ viết (đọc) một tạp văn. Tạp
văn đến với người sáng tác và người tiếp nhận giống như một nhu cầu
viết/đọc rất tự nhiên. Ở điểm này, chúng tôi có cùng quan niệm với Trần
Xuân Đề, Lỗ Tấn và Mạc Ngôn ở chỗ xem tạp văn là thể loại hỗn hợp, không
gò bó về nội dung và hình thức, bao gồm bất cứ thể văn gì. Tuy nhiên, nói
như thế không có nghĩa là tạp văn là thể loại “tạp nham”, không thể xác định.
Trên thực tế tạp văn cũng có một hệ thống đặc trưng dễ nhận diện so với các
thể loại khác. Điều này sẽ được chúng tôi trình bày kỹ hơn ở phần 1.1.2.
1.1.2. Nhận diện đặc trưng cơ bản của tạp văn
Đặc trưng cơ bản của tạp văn trước hết được xác định trong mối liên hệ
so sánh giữa nó với các thể loại tự sự gần gũi như: truyện ngắn, tiểu thuyết,
ký… Ở điểm này, ta thấy tạp văn có một số đặc trưng cơ bản như:
Về hình thức, tạp văn có dung lượng ngắn gọn, hàm súc. Cho đến hôm
nay, ngắn gọn vẫn là đặc điểm cơ bản và là ưu thế của tạp văn, đưa tạp văn
“lên ngôi” do nhu cầu cần đọc nhanh, đọc nhiều thông tin của người đọc hiện
18
nay. Hình thức tạp văn tự do. phóng khoáng, không câu nệ các quy tắc về câu
chữ, kết cấu.
Về nội dung: tạp văn có phạm vi thể hiện khá phong phú, đa dạng, từ
những vấn đề chính trị, xã hội mang tính thời sự, nóng hổi đến những cảm
xúc đời thường rất giản dị, gần gũi. Những vấn đề phản ánh trong tạp văn
thường được thể hiện dưới dạng một suy nghĩ, khoảnh khắc riêng tư, một
thoáng liên tưởng bất ngờ, độc đáo mang đậm dấu ấn cá nhân tác giả.
Tạp văn có mối quan hệ gần gũi với một số thể loại khác như: ký,
phóng sự, tùy bút, tiểu phẩm. Tạp văn có sự thâu nạp nhiều thủ pháp biểu hiện
của nhiều thể loại văn học khác nhau. Có nhiều trường hợp, sự giao thoa thể
loại khiến cho cả người sáng tác lẫn người tiếp nhận không xác định được thể
loại chính xác của tác phẩm.
Bên cạnh những dấu hiệu ban đầu rất dễ nhận diện như vậy, tạp văn
còn một số những đặc trưng nội dung như sau:
- Với một khả năng riêng trong quá trình giúp nhà văn nhận thức và phản
ánh hiện thực cuộc sống, tạp văn thường là những bài viết mang tính vấn đề.
Vì vậy, nhà văn thường sử dụng giọng điệu nghị luận khi đề cập đến những
đối tượng này. Tuy nhiên, tác phẩm văn học nói chung và tạp văn nói riêng,
khi nêu và biện luận về vấn đề đã được đặt ra trong tác phẩm, nếu sử dụng
giọng nghị luận quá nhiều sẽ tạo cảm giác căng thẳng, nhàm chán, khô khan.
Cho nên có thể nhận thấy rằng, đặc trưng thứ hai của tạp văn là có sự kết hợp
giữa tính vấn đề và tính cảm xúc. Nếu như tính vấn đề được thể hiện thành
công qua chất giọng nghị luận, triết lí sắc sảo thì tính cảm xúc lại được thể
hiện qua giọng điệu trữ tình đằm thắm, nhẹ nhàng, thấm sâu vào lòng người,
lan tỏa những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến. Mặc dù tính trữ tình không
phải là đặc tính nổi trội nhất của tạp văn nhưng trên một ý nghĩa nào đó, cùng
với việc đánh giá, nghị luận về một vấn đề nào đó của cuộc sống, nhà văn
luôn bộc lộ xúc cảm và giãi bày mình. Điều này làm cho tạp văn tất yếu sẽ
phải dựa vào tình cảm chân thành, thể nghiệm độc đáo, yêu cầu một sự lịch
19
duyệt trong cuộc sống và kinh nghiệm nghệ thuật tương đương, không được
cóp nhặt chắp vá.
Đặc trưng thứ ba có thể kể đến của tạp văn là tính đa dạng về dạng thức
và đề tài. Đề tài của tạp văn đặc biệt rộng lớn, cơ hồ như không gì nó không
nói đến, như: lịch sử, hiện tại, tương lai, tự nhiên, xã hội, nhân sinh, sự kiện,
cảnh vật, tình cảm, tinh thần, ngôn luận, thiên văn, địa lí, tôn giáo, văn hóa,
nghệ thuật, triết học; rộng như biển, nhỏ như cây cỏ, không có gì là không thể
đưa vào ngòi bút của người viết tạp văn. Dạng thức của tạp văn rất phồn tạp,
hình thức phong phú, không bó buộc vào một khuôn phép. Đặc biệt có những
điểm giao thoa không thể phân định với tùy bút, văn tiểu phẩm, tốc kí, đặc tả,
du kí, phóng sự (thường được xếp vào tản văn nói chung).
Đặc trưng thứ tư của tạp văn là kết cấu rất tự do. Kết cấu của tạp văn
không chú ý vào “khai, thừa, chuyển, hợp” như thơ ca, không phân cảnh phân
hồi như kịch, mà có lúc gần lúc xa, lúc trước lúc sau, hiện thực và lịch sử, tự
nhiên và xã hội có sự giao thoa; triết lí sâu sắc có thể biểu hiện ngay trong cuộc
sống hằng ngày; tình cảm nồng nàn được thể hiện thông qua tưởng tượng của
cá nhân. Đặc điểm tự do trong kết cấu này của tạp văn khiến người đọc có cảm
giác tản mạn, đôi khi là lộn xộn không có trật tự. Xét ở phương diện bề mặt,
những điều mà tạp văn viết dường như vô cùng “hỗn tạp” nhưng lại rất thống
nhất về chủ đề, tình cảm, tư tưởng (mặc dù hỗn tạp về tài liệu, hình thức, thủ
pháp…). Đó mới là cái căn bản trong kết cấu rất tự do của tạp văn.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm tạp văn, cần thiết phải đặt thể loại này trong
sự phát triển của văn học đương đại. Nguyễn Việt Hà trên trang dep.com.vn
đã có bài viết tổng kết về đặc trưng của tạp văn hiện nay: “Hiện nay hầu hết
các báo, dù lá cải hay không, thường dành một mục nuôi văn ngắn tản mạn.
Hoặc bình dị “dọc đường”, hoặc lãng mạn “một thoáng”, hoặc gồ ghề “góc
nhìn”. Rồi “cà phê sáng” rồi “chén trà chiều”, tạp văn được đất tha hồ cuồn
cuộn chảy. Tạp văn hiện nay thường được viết với dung lượng chừng 800 chữ
hoặc dài hơn khoảng 1.200 chữ. Mỗi bài tạp văn vừa vặn một trang hoặc một
20
cột báo nhưng lại trình bày cái nhìn của mỗi cá nhân về tất cả các khía cạnh
xã hội. Có thể thời sự hoặc không, nhưng mỗi tạp văn đều ít nhiều dung chứa,
trình bày tâm trạng sống của người đương thời”. Quả đúng vậy, đọc Trên tay
có đá của Nguyễn Ngọc Tư, Thầy cũ bán quán của Nguyễn Việt Hà... đều
thấy “cái sự đời” ẩn hiện qua lăng kính của từng người. Chỉ với những tạp
văn riêng lẻ, cách thể hiện của người viết đã thể hiện khá rõ, có khi tạo dấu ấn
mạnh mẽ còn hơn một tác phẩm văn chương. Cho nên có thể coi tạp văn là
“ngôn hữu tận nhi ý vô cùng” (lời hết nhưng ý chưa dứt). “Bên cạnh những
hoài niệm kiểu “chăn trâu, đốt lửa”, xu thế của tạp văn hôm nay là chuyển tải
những vấn đề xã hội đương thời, trong đó lồng chứa cái nhìn, thái độ sống của
mỗi người cầm bút”(Đàn ông viết tạp văn của Nguyễn Việt Hà).
1.1.3. Tạp văn trong văn học Việt Nam hiện đại
Đã từng có quan niệm cho rằng: tạp văn là một hình thức văn học mới
nảy mầm từ phong trào cách mạng Ngũ Tứ bên Trung Quốc do Lỗ Tấn sáng
tạo ra. Tạp văn xuất hiện từ rất sớm và có sức sống mạnh mẽ trong lịch sử văn
học Trung Quốc. Cho nên, nền văn học nước này có rất nhiều các sáng tác
thuộc thể loại tạp văn và đã đạt được những thành tựu nhất định như các tác
phẩm của Lỗ Tấn, Mạc Ngôn...
Ở Việt Nam cũng vậy. Trước năm 1986, tạp văn đã xuất hiện ở nước ta
nhưng chưa phổ biến. Công chúng chỉ biết đến một số tạp văn của các nhà
văn như: Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang, Nguyễn
Huy Tưởng, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc….
Chỉ sau 1986, tạp văn mới xuất hiện phổ biến hơn và đến thời điểm hiện
nay, tạp văn “lên ngôi”, trở thành một trong những thể loại chủ đạo trong đời
sống văn học. Tuy chưa được đề cao như truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ nhưng
vì là thể loại “luôn sẵn sàng “bén rễ” những hạt giống ưu tư của bất kỳ ai”
nên tạp văn đã thu hút đông đảo đội ngũ sáng tác và công chúng yêu văn học.
Năm 2005, khi quyển Tản mạn trước đèn của nhà văn Đỗ Chu nhận giải
thưởng văn học của Hội Nhà văn Việt Nam, văn học Việt Nam bắt đầu mở ra
21
thời kỳ tạp văn xuất bản ồ ạt. Những tác phẩm như: Nghiêng tai dưới gió của
nữ sĩ Lê Giang; Tạp bút của Mạc Can, Mùi của ngày xưa (nhiều tác giả), Đỗ
Chu với Tản mạn trước đèn, Thảo Hảo với Nhân trường hợp chị thỏ bông, Tạ
Duy Anh với Ngẫu hứng sáng trưa chiều tối, Nguyễn Ngọc Tư với Ngày mai
của những ngày mai, Dạ Ngân với Phố của làng, Gánh đàn bà, Nguyên Ngọc
có Bằng đôi chân trần... Ngoài ra còn có tạp văn Dương Ngọc Dũng, Hoàng
Thoại Châu, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Linh, Lê Thiết Cương, Trần Nhã
Thụy, Nguyễn Việt Hà... Nguyễn Việt Hà với tuyển tập: Đàn bà uống rượu,
Nhà văn thì chơi với ai ,Mặt của đàn ông, Con giai phố cổ ...với số lượng bài
viết khá lớn cung cấp cho người đọc cái nhìn mới đa thanh, đa diện trong cuộc
sống. Đáng nói là các tác giả “ngoại đạo” cũng bị thu hút bởi thể loại này.
Chúng ta có Ngôi nhà và con người của nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương;
t.a.p.b.u.t.đỗ của nhà thơ Đỗ Trung Quân. Có thể thấy rằng, so với các thể loại
khác, tạp văn là thể loại khá “dễ tính”, thu hút đội ngũ sáng tác tương đối
phong phú, đa dạng.
Trong số ấy, cũng có không ít những gương mặt tác giả đã để lại dấu ấn
của riêng mình với thể loại này.
Trong lời tựa Nghiêng tai dưới gió (Lê Giang), nhà văn Nguyễn Nhật
Ánh nhận xét: “Tôi đọc, lại nghĩ mình đang đọc tự truyện”. Người đọc sẽ
cùng chung nhận xét với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh khi bắt gặp nhiều mẩu
chuyện như là hồi ký, nhật ký về những sinh hoạt đời thường của mái ấm nhà
thơ Lê Giang.
Tạp văn Nguyễn Khải đề cập nhiều đến các vấn đề đạo đức, lối sống,
những tự truyện, những mẩu chuyện liên quan đến nhiều khía cạnh của đời
sống hiện thực, song nhìn chung là xoay quanh những suy nghĩ về cuộc đời và
nghề văn. Ông khai thác những đề tài có phần hẹp nhưng tác phẩm của ông
vẫn đạt đến mức độ khái quát cao, đó là những câu chuyện nhỏ nhặt hàng
ngày nhưng lại có sức chuyển tải những câu chuyện lớn hơn…
22
Nguyên Ngọc có “đặc sản” là những tạp văn mang đậm không khí Tây
Nguyên. Qua sáng tác của ông, Tây Nguyên hiện lên đầy đặn ở nhiều khía
cạnh, nhiều góc độ khác nhau. Ngoài ra, tạp văn của Nguyên Ngọc còn cho ta
thấy bức tranh toàn cảnh của nền giáo dục và văn học Việt Nam. Tác giả đã
thẳng thắn chỉ ra những sai lầm cũng như những yếu kém của nền giáo dục,
văn học nước nhà và phương hướng khắc phục hiện trạng đó.
Còn tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư thì lại mang những nét rất riêng của
một người con Nam Bộ: “Thủng thẳng, nhỏ nhẹ như người con gái quê đang
vừa hái rau muống vừa kể chuyện, những câu chuyện lúc thì da diết lúc lại
hóm hỉnh, tưng tửng, vui vui, tạp văn Nguyễn Ngọc Tư có sự kết hợp rõ nét
giữa văn và báo. Nếu như ở truyện ngắn, Nguyễn Ngọc Tư chưa chạm nhiều
đến "kinh tế, chính trị" thì trong tạp văn, chị bộc lộ cái nhìn của mình về
chuyện lúa chết non, tôm chết lãng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn,
chuyện giữ đất hay bán đất, chuyện quan lại nhũng nhiễu, hạch sách người
dân” [90, 5].
Cũng như Nguyễn Ngọc Tư, tạp văn cũng là thể loại “rẽ ngang” của
Phan Thị Vàng Anh. Sau gần 3 năm liên tục xuất hiện trên mục Tôi xem nghe
đọc thấy - Báo Thể thao và Văn hóa, Phan Thị Vàng Anh tập hợp lại thành
một tập sách nhỏ Nhân trường hợp chị thỏ bông. Bạn đọc như vừa gặp lại một
Vàng Anh quen thuộc của truyện ngắn, lại vừa ngạc nhiên phát hiện ra một
Vàng Anh khác, nhiều màu hơn. Trong 34 tản văn in trong tập này, có những
cái thể hiện một Vàng Anh đầy tinh thần công dân, xây dựng, thẳng thắn và
dân chủ. Duyên dáng nhất, hóm hỉnh nhất, đàn bà nhất phải nhắc tới Nhân
trường hợp chị thỏ bông, lấy làm tiêu đề cho cả tập.
Trong tạp văn Tạ Duy Anh, có những trang viết ngọt ngào về ký ức tuổi
thơ, những suy ngẫm trầm tư trước thế sự, và những lo lắng băn khoăn trăn trở
về nghề viết. Khác với một Tạ Duy Anh đầy hiện thực, gai góc trong các tiểu
thuyết và truyện ngắn. Đọc tạp văn Tạ Duy Anh để đến với những gam màu
trầm lắng trong tâm hồn nhà văn. Qua đó, cũng có thể thấy được những đóng
23
góp quan trọng của Tạ Duy Anh cho thể loại tạp văn, và khẳng định vị trí của
tạp văn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn.
Tạp văn của Nguyễn Trương Quý để lại dấu ấn bằng giọng giễu nhại.
Nguyễn Quang Lập có lối hành văn riết róng, hài hước. Lê Giang viết về
những chuyện đời thường, quanh mình nhưng đọc vẫn thấy đầy mới lạ.
Nguyễn Nhật Ánh viết tạp văn Người Quảng đi ăn mì Quảng, Sương khói quê
nhà như người đi bộ, gặp gì viết nấy, nhớ gì kể nấy nhưng cái duyên chữ thì
khó phai. Cùng với tiểu thuyết, tạp văn Nguyễn Việt Hà đã thực sự có những
dấu ấn, những đóng góp quan trong cho nền văn học Việt Nam đương đại.
Tạp văn Nguyễn Việt Hà cung cấp cho ta cái nhìn đa thanh, đa diện của cuộc
sống. Một lần nữa cho ta thấy sự phức tạp ngổn ngang của hiện thực đời sống,
con người phải đối diện bao khó khăn, được đi vào văn học như những thước
phim tỉ mỉ.
Tuy nhiên, một sự thực là tuy rất nhiều người viết tạp văn nhưng không
phải ai cũng có thể ghi dấu ấn cá nhân trên thể loại bởi viết những chuyện nhỏ
bé kiểu “trà dư tửu hậu” – tưởng như dễ nhưng thực chất lại rất khó. Cái khó
chính là phải làm sao để tạo một dư vị đằm sâu trong lòng độc giả. Nói
chuyện nhỏ mà vấn đề thực chất lại lớn, nói chuyện thời thế mà chạm đến đáy
những tấm lòng trong thiên hạ là việc chẳng dễ dàng gì . Chính vì vậy, hiện
nay, tạp văn chưa xây dựng được đội ngũ sáng tác đặc thù của mình như ở các
thể loại thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn. Hầu như những tác giả tạp văn tiêu biểu
đều là những nhà văn, nhà thơ có tên tuổi như: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn
Quang Lập, Đỗ Trung Quân, Dạ Ngân, Lý Lan, Trần Tiến Dũng, Nam Đan,
Phan Cẩm Thượng, Nguyễn Nhật Ánh, Lê Giang...
Như vậy, có thể thấy, trong bức tranh chung của văn học Việt Nam
đương đại, tạp văn đã dần khẳng định vị trí của mình so với các thể loại khác.
Tuy nhiên, tạp văn hiện nay chưa phát triển tương ứng với nhu cầu đọc của
công chúng. Để tạp văn có thể là một trong những thể loại chủ đạo của văn
24
học, vẫn cần hơn nữa sự nỗ lực sáng tạo cũng như bản lĩnh dám cách tân, làm
mới thể loại của nhà văn.
Tạp văn hiện nay đang là một nhu cầu ở cả người đọc lẫn người viết.
Các cây bút tạp văn có “văn chất” hiện nay có thể kể đến các tên tuổi: Nguyễn
Quang Thiều, Nguyễn Quang Lập, Đỗ Trung Quân, Dạ Ngân, Lý Lan, Trần
Tiến Dũng, Nam Đan, Phan Cẩm Thượng, Nguyễn Nhật Ánh, Lê Giang...
Trong bản hợp xướng nhiều giọng điệu đó, có thể thấy sức hút ở tạp văn của
Lý Lan chính là ở thái độ sống, thể hiện qua ngòi bút cận nhân tình, với một
giọng văn mộc mạc đầy cảm xúc, rất mặn mà, nữ tính.
1.2. Lý Lan – con người và sự nghiệp sáng tác
1.2.1. Vài nét về con người Lý Lan
Lý Lan chào đời ngày 16 tháng 7 năm 1957 tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương. Bà là kết quả của một cuộc hôn nhân Hoa – Việt không biên giới, tự
nguyện gắn bó sâu nặng và vượt qua những dị biệt về văn hóa. Tám năm đầu
đời, Lý Lan sống cùng gia đình tại làng Bình Nhâm ở vìng Lái Thiêu. Vùng
đất quê mẹ với những vườn cây ăn trái sum suê, những làng nghề truyền
thống lâu đời của vùng Đông Nam Bộ để lại những ấn tượng sâu đậm trong
lòng bà. Mảnh đất xứ vườn đã góp phần nuôi dưỡng con người, tâm hồn nhà
văn và trở thành nguồn cảm hứng xuyên suốt trong các sáng tác của bà: “Quê
mẹ và tuổi thơ ở quê là mạch nước ngầm của đời tôi. Khi nào khát tình cảm,
khát đề tài, khát cảm hứng thì tôi lại tìm về cái mạch nước ấy” [48;10].
Đối với quê nội Triều Dương, Quảng Đông, Trung Quốc xa xôi, Lý Lan
nói đến không phải là một vùng đất cụ thể, một kỉ niệm rõ ràng mà là nỗi nhớ,
là ý thức về nền văn hóa Trung Hoa luôn chảy trong tiềm thức do ảnh hưởng
sâu sắc từ cha mình: “Xa xăm trong mắt của ba có khóm trúc xanh mà cậu bé
nào ngàn năm trước đã bẻ một nhành làm ngựa cỡi quanh giường đùa với cô
bạn gái của tuổi ấu thơ. Lối mòn nào Lỗ Tấn đã đi qua thành đường. Và vầng
trăng nào Lý Bạch đã ngẩng đầu nhìn rồi cúi đầu nhớ cố hương”[43; 102].
Chính vì vậy, bên cạnh một Nam Bộ miệt vườn, góc phố người Hoa với
25
những nếp sinh hoạt truyền thống đã trở thành đề tài, thành chất liệu phổ biến
trong tạp văn Lý Lan.
Thưở nhỏ, Lý Lan học tại trường làng. Sau khi mẹ qua đời, bà theo cha
về sống ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Từ đó cho đến hết bậc Đại học, bà gắn bó
sâu sắc với thành phố năng động này. Bà nhận thấy Sài Gòn là “một thành
phố hào phóng và bình dân, năm bảy triệu con người của thành phố đã quyến
rũ tôi bằng bí ẩn của sức sống và sự hồi sinh kỳ lạ” [45; 112]. Nhà văn cũng
cho rằng, không nơi nào thực sự níu giữ tâm hồn mình bằng vùng Chợ Lớn:
“Kỳ lạ, quê cha ở Quảng Đông, quê mẹ ở Bình Dương mà nỗi niềm hoài cố
hương ấy trong tôi mang toàn màu sắc, âm thanh hương vị Chợ Lớn” [43;
242]. Bà đã đặt tựa cho một tạp văn của mình là Sài Gòn, Chợ Lớn rong chơi.
Sài Gòn, Chợ Lớn là nguồn đề tài độc đáo giúp nhà văn viết rất hay về chân
dung người Hoa, về đời sống sinh hoạt đặc thù của cộng đồng này, về con
người đô thị Sài Gòn và rất nhiều dự định còn ấp ủ: “Tôi còn có cả tỷ chuyện
về Sài Gòn, Chợ Lớn mà tôi tin là đủ để viết suốt đời” [45; 112].
Như Lý Lan từng bộc bạch, may mắn lớn nhất trong đời là sau khi mẹ
mất, được sống trong sự chăm sóc của một người cha hết mực thương con và
coi trọng việc học hành. Bởi vậy, dù hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn,
nhưng Lý Lan vẫn được tạo điều kiện để có một nền học vấn căn bản. Lý Lan
học khoảng một năm ở trường làng, nửa năm ở trường Trung Chánh, và học
hết Tiểu học ở trường Chợ Quán. Để cô con gái cả tài năng và hiếu học trở
thành một nữ sinh Gia Long, mặc áo dài trắng tha thướt vào ra ngôi trường
đẹp nhất thành phố, người cha ấy gồng mình làm lụng với gánh hàng rong,
vừa chạy ăn từng bữa ngoài đường, vừa lo việc cơm nước, giặt giũ và chăm
sóc con cái. Sau này, trong những trang viết của Lý Lan, hình ảnh người cha
vẫn thường xuất hiện với niềm yêu kính và biết ơn vô hạn.
Với niềm say mê học tập, năm 1976, Lý Lan thi đỗ vào trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong kì thi tuyển sinh vào Đại học đầu tiên
sau ngày đất nước thống nhất. Do sự cố nhầm lẫn trong quá trình tuyển sinh