Tải bản đầy đủ (.doc) (150 trang)

Đặc điểm truyện viết về loài vật trước 1945 của Tô Hoài

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (665.35 KB, 150 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ NGUYỄN NHƯ NGỌC

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN VIẾT VỀ LOÀI VẬT
TRƯỚC 1945 CỦA TÔ HOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2012


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ NGUYỄN NHƯ NGỌC

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN VIẾT VỀ LOÀI VẬT
TRƯỚC 1945 CỦA TÔ HOÀI

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:



TS. NGUYỄN LÂM ĐIỀN

NGHỆ AN - 2012

MỤC LỤC


3

Trang
MỞ ĐẦU........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.........................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề..........................................................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................10
4. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................10
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................11
6. Đóng góp của luận văn...............................................................................11
7. Kết cấu luận văn..........................................................................................12
NỘI DUNG.....................................................................................................13
Chương 1. Những nét cơ bản của truyện viết về loài vật ở Việt Nam
và truyện về loài vật trong sáng tác của Tô Hoài.......................................13
1.1. Những nét cơ bản của truyện viết về loài vật ở Việt Nam.......................13
1.1.1. Những thành tựu nổi bật của truyện viết về loài vật.............................13
1.1.2. Đặc điểm truyện viết về loài vật...........................................................21
1.2. Truyện loài vật trong sáng tác của Tô Hoài.............................................31
1.2.1. Vị trí truyện loài vật trong sáng tác của Tô Hoài..................................32
1.2.2. Sở trường của Tô Hoài về truyện loài vật.............................................35
Chương 2. Đặc điểm nội dung của truyện viết về loài vật trước 1945
của Tô Hoài....................................................................................................42

2.1. Sự phong phú của thế giới loài vật trong truyện của Tô Hoài.................42
2.1.1. Thế giới vật nuôi...................................................................................43
2.1.2. Thế giới loài vật hoang dã.....................................................................45
2.2. Truyện viết về loài vật – Vấn đề quan niệm sống
và những mối quan hệ trong đời sống.............................................................48
2.2.1. Vấn đề quan niệm sống.........................................................................48
2.2.2. Những mối quan hệ trong đời sống......................................................53
2.3. Truyện viết về loài vật – Vấn đề cái tốt và cái xấu..................................58
2.3.1. Vấn đề cái tốt........................................................................................59
2.3.2. Vấn đề cái xấu.......................................................................................63


4

2.4. Truyện viết về loài vật – Vấn đề cái đói và những cảnh đời khổ đau..... 68
2.4.1. Vấn đề cái đói.......................................................................................68
2.4.2. Những cảnh đời khổ đau.......................................................................76
Chương 3. Đặc điểm nghệ thuật của truyện
viết về loài vật trước 1945 của Tô Hoài.......................................................85
3.1. Không gian và thời gian nghệ thuật.........................................................85
3.1.1. Không gian nghệ thuật riêng biệt ở làng quê........................................85
3.1.2. Thời gian nghệ thuật gắn với đặc điểm của loài vật.............................93
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật.................................................................97
3.2.1. Xây dựng nhân vật qua những chi tiết nghệ thuật đặc sắc....................97
3.2.2. Xây dựng nhân vật qua những mâu thuẫn và xung đột113
3.3. Nghệ thuật mở truyện và kết truyện
121
3.3.1. Nghệ thuật mở truyện độc đáo118
3.3.2. Nghệ thuật kết truyện đa dạng125
3.4. Ngôn ngữ và giọng điệu129

3.4.1. Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị129
3.4.2. Giọng điệu hài hước và triết lí133
KẾT LUẬN139
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài


5

1.1. “Mỗi nhà văn đến với nghề nghiệp bằng một con đường riêng và sẽ tồn
tại trong nghề theo những phương cách riêng. Song ở các nhà văn tạm gọi là
thành đạt, những nhà văn có một cái tên mà đọc lên, nhớ ngay được, người ta
thường nhận ra một nét chung: ấy là, những độc đáo trong tính cách, trong
số phận khiến cho họ gần như nhất thiết phải làm nghề ấy, mà không thể làm
nghề khác. Tô Hoài là một ví dụ về cái gần như nhất thiết ấy”. [33, tr.189]
Đến với con đường nghệ thuật từ những năm ba mươi cho đến nay, Tô
Hoài đã sáng tác được một số lượng tác phẩm đồ sộ (hơn 150 đầu sách). Có
mặt trong suốt hai giai đoạn sáng tác: trước và sau Cách mạng tháng Tám, Tô
Hoài viết nhiều thể loại và thể loại nào cũng đạt được những thành công xuất
sắc. Nhà phê bình Vương Trí Nhàn đã nhận xét về Tô Hoài: “Đây là một
người có cách sống, cách làm việc phù hợp với nghề, do đó, đời cầm bút thật
bền mà cũng thật hiệu quả. Sau hơn 50 năm lao động chữ nghĩa, con người
đó vẫn sống làm việc đều đặn tưởng như có viết vài chục năm nữa
cũng không hết việc…”. [33, tr.185]
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Tô Hoài nổi tiếng với những tác
phẩm như: truyện dài Dế mèn phiêu lưu kí, Quê người; tập Truyện Tây Bắc;
hồi kí Cát bụi chân ai; tiểu thuyết Miền Tây, Quê nhà; Tự truyện… Đặc biệt,

ngay từ những ngày đầu cầm bút, Tô Hoài đã tạo được cho mình một phong
cách riêng với những tác phẩm viết về loài vật. Viết về loài vật, truyện của Tô
Hoài mang một sắc thái riêng so với các tác giả cùng viết về đề tài này.
1.2. Với sự giúp đỡ của Vũ Ngọc Phan cùng một số bạn văn, Tô Hoài “viết
thử” truyện Con dế mèn và có những thành công bước đầu. Tô Hoài tiếp tục
viết truyện Dế Mèn phiêu lưu kí, in lần đầu năm 1941, sau được tái bản đến
mấy chục lần. Từ đây, Tô Hoài có điều kiện viết đều và “mỗi tháng, Tô Hoài
viết một truyện vừa cho trẻ con chừng 50 trang viết tay cùng hai truyện ngắn;
và cứ vài ba tháng một truyện dài”. [45, tr.12]
Sau thành công của Dế mèn phiêu lưu kí, tập truyện ngắn O chuột ra đời
năm 1942, không chỉ chứng tỏ năng lực sáng tạo nghệ thuật của Tô Hoài mà
còn mở màn cho loạt truyện xuất sắc về loài vật của ông. Từ đây, làng văn
Việt Nam ghi nhận sự xuất hiện của một cây bút độc đáo với sự lao động


6

không mệt mỏi và một giọng điệu riêng không lẫn với bất cứ ai. Nếu không
có sự quan sát tinh tế và yêu mến, gần gũi với những loài vật, Tô Hoài khó có
thể sáng tạo nên một thế giới loài vật sinh động, hấp dẫn đến thế. “Rõ ràng
không chỉ một lớp bạn đọc nhỏ tuổi, ở tuổi học đường (vào bất cứ thời nào)
mới mê Dế Mèn” [45, tr.12-13]. Sau Dế Mèn phiêu lưu kí, Tô Hoài tiếp tục
khẳng định tài năng viết truyện về loài vật của mình khi miêu tả thế giới loài
vật. Những con vật trong truyện Tô Hoài ít nhiều là những loài sống gần con
người nên tập tục sinh hoạt của con người cũng phần nào ảnh hưởng đến
chúng. Thế giới loài vật của Tô Hoài cũng có những cảm xúc vui buồn giống
như con người, “qua cách nhìn của người để được nhân hóa”. [45, tr.12]
Như vậy, sự độc đáo khiến truyện viết về loài vật của Tô Hoài sở dĩ trở
nên hấp dẫn, khác biệt là bởi viết về loài vật, Tô Hoài có một quan niệm mới
mẻ, một thiện cảm đặc biệt. Chính những cố gắng tìm tòi và sự sáng tạo

không ngừng đã góp phần làm nên sức hấp dẫn, sức sống lâu bền ở những tác
phẩm viết về loài vật của Tô Hoài. Vì thế, người đọc trong nước và quốc tế
đều yêu thích những truyện về loài vật của ông; đặc biệt, những tác phẩm ấy
còn được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông và đại học.
1.3. Thế giới loài vật là một nội dung đặc sắc và độc đáo trong sáng tác của
Tô Hoài. “Có lẽ trước ông và sau ông chưa ai có sức viết và tài viết như thế”
[45, tr.16]. Truyện của Tô Hoài có sức hút rộng lớn đối tượng độc giả và nó
không chỉ là “truyện của trẻ con mà dành cho cả người lớn, chuyện của
người đời và cả đời người, chuyện không chút mòn mỏi, phôi pha
theo thời gian và thời cuộc”. [45, tr.13]
Trước 1945, một trong những thành công của Tô Hoài là mảng truyện
viết về loài vật. Tuy nhiên, ở mảng truyện này vẫn chưa có một công trình
nghiên cứu nào mang tính chuyên sâu, hệ thống và toàn diện. Đa số các bài
viết tập trung nghiên cứu, đánh giá về cuộc đời, sự nghiệp văn chương cùng
một số sáng tác nổi bật của Tô Hoài về đề tài miền núi, về Hà Nội cùng một
bộ phận sáng tác dành cho thiếu nhi. Ở mảng truyện viết về loài vật chỉ được
đề cập đến rất ít. Chính vì thế, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Đặc điểm truyện
viết về loài vật trước 1945 của Tô Hoài” để nghiên cứu và tìm hiểu. Với đề tài


7

trên, chúng tôi muốn có cái nhìn đầy đủ và trọn vẹn về những đóng góp của
Tô Hoài đối với quá trình vận động và phát triển của văn học Việt Nam hiện
đại nói chung và ở thể loại truyện viết về loài vật nói riêng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bước vào con đường văn chương khá sớm, Tô Hoài nổi danh từ trước
1945. Đến nay, ông vẫn là một trong những nhà văn viết nhiều, dẻo dai và
sung sức ở các thể loại. Truyện ngắn Tô Hoài đã được giới phê bình văn học
chú ý ngay từ những ngày đầu cầm bút.

Các truyện ngắn về loài vật của Tô Hoài trước năm 1945 được tập hợp
trong tập truyện ngắn O chuột (1942). Đến năm 2000, các truyện loài vật
được Vân Thanh tuyển chọn, giới thiệu và Nhà xuất bản Giáo dục in lại với
tựa đề Tô Hoài – Những tác phẩm tiêu biểu (trước 1945). Tập truyện có ba
phần: truyện ngắn, hồi ức, truyện vừa và truyện dài. Trong đó, có 8 truyện
viết về loài vật, bao gồm những truyện được tập hợp trong tập O chuột
và truyện dài Dế Mèn phiêu lưu kí.
Từ trước đến nay, những ý kiến đánh giá phê bình về truyện của Tô Hoài
còn được tập trung trong cuốn Tô Hoài – Về tác gia và tác phẩm, do Phong
Lê (giới thiệu) và Vân Thanh (tuyển chọn). Bên cạnh đó, một số bài viết của
các tác giả khác cũng đề cập khá nhiều đến mảng truyện loài vật của Tô Hoài.
Nhìn chung, những bài viết chủ yếu nghiên cứu, đánh giá truyện loài vật của
Tô Hoài trên hai phương diện: nội dung và nghệ thuật.
2.1. Về phương diện nội dung
Thế giới loài vật trong sáng tác của Tô Hoài được các nhà nghiên cứu
quan tâm và có những nhận xét đánh giá khá tập trung và thống nhất.
Trước hết, Phong Lê cho rằng: “Đặc sắc của Tô Hoài trước năm 1945 là
truyện ngắn, gồm truyện ngắn về loài vật và truyện ngắn về cảnh và người
một vùng quê ven đô – quê ngoại và cũng là quê sinh – nơi tác giả đã sinh
sống suốt đời cho đến hôm nay” [33, tr.30]. Ngòi bút của Tô Hoài đã miêu tả
một cách chân thực cuộc sống của con người và thế giới vật gần gũi, thân
quen ở quê hương mình, những năm trước năm 1945. Riêng tập truyện ngắn
O chuột của Tô Hoài, Phong Lê đã nhận xét: “Tô Hoài tỏ ra không giống một


8

nhà văn nào trước ông và cũng không giống một nhà văn nào mới nhập tịch
làng văn như ông. Truyện của ông có những tính chất nửa tâm lý, nửa triết lý,
mà các vai lại là loài vật (…). Nó là những truyện tả chân về loài vật, về cuộc

sống của loài vật, tuy bề ngoài ra vẻ lặng lẽ, nhưng phần trong có lắm
cái “ồn ào”, vui cũng có mà buồn cũng có”. [33, tr.59]
Theo Vũ Ngọc Phan, “Truyện về loài vật của Tô Hoài là những truyện
về tâm tình loài vật” [33, tr.59]. Đó là thế giới vật sống gần gũi với con người
nên ít nhiều ảnh hưởng từ con người. “Loài người hành động theo lí trí, nên
cuộc đời giản dị hơn nhiều (...). Có điều là ở loài vật, cái vui cũng nhẹ, mà
cái buồn cũng nhẹ, nó thoang thoảng như cơn gió buổi trưa hè”. [33, tr.60]
Đặc biệt, theo Vũ Ngọc Phan, những con vật mà Tô Hoài miêu tả đều có
ở làng Nghĩa Đô – quê hương của tác giả. Chúng là những kẻ đồng hương với
tác giả. Cuộc đời của chúng cũng giống với cuộc đời của người dân ở làng
Nghĩa Đô. “Đối với tất cả loài vật, từ con dế mèn đến con chó giữ nhà, cảm
tình của tác giả vốn đã khắng khít, nên đối riêng với những con vật cùng làng
hay cùng nhà với tác giả, tác giả lại càng nặng lòng thương yêu hơn nữa, và
nhiều khi tưởng chúng cũng như loài người vậy”. [33, tr.61]
Còn Hà Minh Đức cho rằng truyện viết về loài vật của Tô Hoài có một
sức hấp dẫn đặc biệt. Ông khẳng định: “Trong văn học Việt nam thời kì hiện
đại, Tô Hoài là nhà văn viết thành công nhất, hấp dẫn nhất về các loài vật
(...), chúng ta có thể bắt gặp một thế giới loài vật đông đúc, hấp dẫn, sinh
động từ gà ri, gà chọi, ri đá, chuột bạch, mèo, chó đến cá chép, cá trê, từ cò,
bồ nông, vành khuyên đến gấu, sơn dương và các loài bé nhỏ như dế mèn, dế
trũi, xén tóc, kiến chúa, bọ ngựa” [33, tr.465]. Đã trên nửa thế kỉ đi qua, ngòi
bút Tô Hoài vẫn không ngừng có những phát hiện và sáng tạo nên những câu
chuyện loài vật độc đáo.
Bên cạnh đó, Hà Minh Đức cũng nhận xét rằng những tác phẩm viết về
loài vật của Tô Hoài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. “Viết về loài vật, Tô
Hoài muốn nói đến cuộc sống con người (…). Ông chú ý đến những con vật
quanh quẩn và gần gũi với cuộc sống của con người như chú mèo, chú gà,
con chuột và cả những con vật bé nhỏ như bọ ngựa, dế mèn, dế trũi, xén tóc



9

(…). Thế giới của loài vật cũng có nhiều chia li, tan tác đau khổ, chết chóc
như chính cuộc sống của con người. Có điều gì khác chăng là ở chỗ trong xã
hội con người các quy luật phức tạp và cuộc sống điên đảo hơn. Còn ở thế
giới loài vật mọi sự có thể đơn giản nhưng cái kết thúc thì không kém phần
cay đắng” [33, tr.134]. Có thể xem Tô Hoài là người viết có nhiều sáng tạo và
thành công khi chuyển tải những vấn đề cuộc sống vào thế giới loài vật vốn
gần gũi, thân quen với loài người.
Khám phá nội dung độc đáo trong sáng tác của Tô Hoài, bao gồm mảng
truyện loài vật, Nguyễn Đăng Điệp nhận thấy: “Tô Hoài không thật quen với
tầng lớp trên, ông chỉ gần gũi với đám bình dân, vì thế, ông thông thuộc tâm
tính của họ, những người sinh ra trong nhếch nhác, khổ nghèo. Nói về họ, kể
về họ thực chất cũng là nói về mình, kể về mình. Tô Hoài là thế, chỉ viết về
những điều gì ông thật quen, những gì ông đã nhìn thấy. Trong Tự truyện, Tô
Hoài cho biết, thậm chí “cả những chuyện loài vật tưởng như xa lạ kia cũng
không ngoài cái rộn ràng hay thầm lặng của khu vườn trước cửa”. [8]
Nhìn chung, qua những bài đánh giá nội dung truyện loài vật của Tô
Hoài, các tác giả đều nhận thấy một tình cảm đặc biệt giữa nhà văn và thế giới
loài vật. Chúng không chỉ là những kẻ đồng hương với Tô Hoài mà còn là
những người bạn đã cùng gắn bó với nhà văn suốt quãng đời thơ ấu ở quê
ngoại – làng Nghĩa Đô. Viết về những con vật thân tình, Tô Hoài đã “thổi”
vào đó một ý nghĩa xã hội độc đáo. Truyện về loài vật nhưng cũng là truyện
về con người. Cuộc sống của những người dân quê được khúc xạ qua những
câu chuyện sinh động, ngộ nghĩnh của thế giới loài vật vốn rất gần gũi.
2.2. Về phương diện nghệ thuật
Nhiều ý kiến đánh giá chủ yếu tập trung khám phá tài năng nghệ thuật
độc đáo của nhà văn Tô Hoài ở những khía cạnh khác nhau, cụ thể là:
Vân Thanh đặc biệt chú ý đến bút pháp miêu tả của Tô Hoài. Tô Hoài dù
viết về đề tài nào, về con người, về loài vật thì vẫn luôn “sinh động, không

đơn giản, không lặp lại” [33, tr.449]. Lúc nào, ông cũng tạo được sự thú vị
độc đáo cho độc giả của mình mỗi khi giở từng trang truyện của ông. Viết về


10

loài vật, Tô Hoài có sự miêu tả thật độc đáo những đặc trưng từng loài vật
khiến người đọc có thể liên tưởng một cách cụ thể về loài vật ấy.
Ở thế giới loài vật của Tô Hoài, Nguyễn Đăng Mạnh nhìn thấy một sự
vui nhộn cùng với những hình ảnh loài vật độc đáo, ngộ nghĩnh rất riêng. “Vẽ
ra được những hình ảnh ấy, Tô Hoài chắc hẳn đã phải dày công quan sát và
quan sát rất tỉ mỉ (…) Công phu quan sát ấy là cơ sở của vô vàn liên tưởng so
sánh hết sức chính xác và tinh tế” [35, tr.278]. Như vậy, “nói Tô Hoài có biệt
tài tả cảnh thì cũng là nói ông có tài quan sát thế giới một cách sắc sảo”
[36]. Quan sát thế giới nghệ thuật của ông, Nguyễn Đăng Mạnh nhận thấy
“toàn những nhân vật quen thuộc sinh sống quanh ta. Người cũng vậy, con
vật cũng thế: con chó, con mèo, con gà, con vịt, con chuột, con kiến, con dế,
con cóc, con nhái… ai mà chẳng thấy trong nhà, trong sân, trong vườn. Vậy
mà con mắt tinh quái của Tô Hoài đã phát hiện ra bao nhiêu chuyện ngộ
nghĩnh lạ lùng” [36]. Chính vì thế, Tô Hoài được Nguyễn Đăng Mạnh gọi là
“nhà văn của chuyện lạ đời thường”.
Khi nhận xét về tập truyện Dế Mèn phiêu lưu kí – tập truyện mở đầu cho
mảng truyện về loài vật của Tô Hoài về sau, Trần Đăng Xuyền cho rằng: “Dế
Mèn phiêu lưu kí thể hiện rõ tài năng quan sát tinh tế, óc nhận xét sắc sảo,
hóm hỉnh và tình yêu sự sống của Tô Hoài. Ông đã thành công khi dựng lên
cả một thế giới loài vật trong trắng, ngây thơ, ngộ nghĩnh, khao khát và
say mê lý tưởng...”. [33, tr.460]
Còn đánh giá về Dế Mèn phiêu lưu kí, Phạm Thị Phương Liên đặc biệt
đánh giá cao năng lực quan sát, nắm bắt sự vật của Tô Hoài. Để sáng tạo nên
hình tượng loài vật độc đáo, sinh động, “Tô Hoài đã quan sát các con vật hết

sức kỹ lưỡng, từ hình dáng bên ngoài, đến từng chi tiết, từng hoạt động. Ông
khéo léo vận dụng các giác quan, chọn góc nhìn phù hợp, trình tự quan sát
hợp lý để khắc họa nhân vật đúng với đặc điểm giống loài, hợp với cái nhìn
trong trẻo, thơ ngây đầy khám phá của trẻ thơ. Tô Hoài có khả năng hóa thân
vào sự sống của loài vật đồng thời lại thổi vào thế giới loài vật sự sống của
con người. Sự chung sống, hòa trộn của hai thế giới ấy tạo nên sức hấp dẫn
mãnh liệt của tác phẩm. Mỗi nhân vật trong Dế mèn phiêu lưu ký vừa là con


11

vật ở đặc điểm sinh học, thói quen sinh hoạt lại vừa là những loại người khác
nhau trong xã hội. Nhân vật mang tính nhân hóa khi được khắc họa có hành
động, ngôn ngữ, có đời sống nội tâm và được đặt trong những mối quan hệ
mang tính xã hội”. [34]
Cùng với Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Thị Phương Liên, Trần Hữu Tá
nhận thấy ở Tô Hoài một phong cách nghệ thuật riêng biệt, độc đáo. Đó là
“khả năng quan sát tinh tế và nghệ thuật miêu tả linh động. Người, vật, thiên
nhiên, cảnh sinh hoạt… tất cả đều hiện lên lung linh, sống động, nổi rõ cái
“thần” của đối tượng và thường bàng bạc một chất thơ”. [33, tr.158]
Bên cạnh đó, về ngôn ngữ giọng điệu, Vân Thanh nhận định ngôn ngữ mà
Tô Hoài sử dụng thường ngắn gọn và rất gần với khẩu ngữ của nhân dân lao
động quê ông. Bùi Hiển cũng có trùng một quan điểm với Vân Thanh khi cho
rằng văn phong Tô Hoài dù viết về đề tài nào, con người hay loài vật thì văn Tô
Hoài “chủ yếu làm bằng những nét nhẹ, mảnh, nhuần nhị, tinh tế, đôi khi hơi
mờ ảo nữa”. [33, tr.102]
Võ Xuân Quế cũng nhận thấy rằng ngôn ngữ mà Tô Hoài sử dụng trong
các sáng tác đầu tay, trong đó có các truyện viết về loài vật của ông là “ngôn
ngữ của một vùng quê”. “Đến với nghề văn từ trong thực tế cuộc sống lao
động của nhân dân nên Tô Hoài luôn luôn có ý thức học tập lời ăn tiếng nói

hàng ngày của người lao động (...). Những từ có trong tiếng phổ thông nhưng
ở làng Nghĩa Đô được dùng với nghĩa khác và đã được Tô Hoài sử dụng đưa
vào tác phẩm...” [33, tr.429]. Cùng với Võ Xuân Quế, Phong Lê cũng có
nhận xét về nét riêng trong lối viết văn của Tô Hoài: “Tập O chuột là tập
truyện ngắn đầu tiên của Tô Hoài và cũng là một tác phẩm tiêu biểu cho lối
văn đặc biệt của ông, một lối văn dí dỏm, tinh quái, đầy những phong vị
và màu sắc của thôn quê”. [33, tr.59]
Không chỉ thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ miêu tả loài vật,
Nguyễn Đăng Điệp còn nhận thấy tài năng nghệ thuật của Tô Hoài ở một
phương diện khác, đó là nghệ thuật tạo không khí. “Đặc sắc của nhà văn (…)
phụ thuộc rất lớn vào cách tạo các lớp không khí của họ. Có nhiều lớp không
khí khác nhau: không khí của thời đại, không khí như một môi cảnh giao tiếp,


12

không khí để độc thoại và đối thoại, không khí để tái dựng các chân dung,
không khí để thực hiện các xen ngoại đề, bình luận... Viết về người hay vật,
viết về cổ hay kim, Tô Hoài đều biết cách đặt chúng trong không khí nào.
Màu sắc đời sống, không khí lịch sử trong truyện của Tô Hoài ám rất sâu vào
tâm trí người đọc vì đó là thứ không khí toát lên từ tình thế, từ các chi tiết
rất gần gũi đời thường”. [8]
Tuy nhiên, theo Nguyễn Đăng Điệp, hạt nhân nghệ thuật cơ bản làm nên
sự thống nhất, hoàn chỉnh trong sáng tác của Tô Hoài nói chung và truyện loài
vật nói riêng chính là “cách kể, giọng kể” của Tô Hoài, bởi “Tô Hoài biết nói
theo cách của ông. Ông không bao giờ nhẹ dạ đi tin vào những điều mà
không thấy, không nghe, không nếm trải. Cái chất giọng trong văn chương
của ông cho ta thấy rất rõ điều đó. Tôi cứ nghĩ, giá như một ai đó, chỉ cần
quan tâm đến cái cách kể, giọng kể trong hơn một trăm năm mươi tác phẩm
của Tô Hoài cũng thừa sức làm thành một chuyên luận khoa học sang trọng.

Nó không chỉ soi tỏ nét riêng của văn chương Tô Hoài mà còn soi tỏ nhiều
vấn đề của văn xuôi nước nhà thế kỷ XX. Đơn giản, Tô Hoài là một ngọn núi
trong văn chương Việt ngữ thời hiện đại”. [8]
Năm 2005, với đề tài Phong cách nghệ thuật Tô Hoài (luận án Tiến sĩ
Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), Mai Thị Nhung đã khái quát
được một hệ thống những đặc điểm của phong cách nghệ thuật Tô Hoài. Đặc
biệt, ở chương nói về hạt nhân cơ bản làm nên phong cách nghệ thuật Tô
Hoài, tác giả khẳng định rằng Tô Hoài “chỉ với cảm quan hiện thực đời
thường cùng một khả năng quan sát đặc biệt, mọi phương diện phong tục
trong cuộc sống sinh hoạt, bao gồm cuộc sống con người và thế giới loài vật
mới đi vào trang văn của Tô Hoài trong sự phong phú; sinh động như thế”
[39]. Đến với thế giới loài vật, Tô Hoài có một sự cảm nhận đặc biệt – “cảm
nhận như đời sống con người”. Mỗi con vật trong truyện của Tô Hoài hiện lên
thật sinh động, đa dạng nhưng rất gần gũi. Chúng cũng có tính cách, số phận,
suy nghĩ và hành động như con người. Mỗi loài mỗi vẻ làm nên những
sắc thái riêng biệt.


13

Có thể thấy, mọi phương diện nghệ thuật trong truyện loài vật của Tô
Hoài được đề cập tới trong nhiều bài viết. Xây dựng thành công thế giới loài
vật, không thể không kể đến tài năng ngôn ngữ và giọng văn miêu tả của Tô
Hoài. Tất cả xuất phát từ khả năng quan sát đặc biệt, miêu tả thật tỉ mỉ, cụ thể.
Một thế giới vật hiện lên với những nét sinh động, hấp dẫn qua bút pháp miêu
tả của Tô Hoài. Theo các nhà nghiên cứu, Tô Hoài đã sáng tạo được một thế
giới loài vật hết sức sinh động, có nhiều phát hiện, thể hiện một tâm hồn nhạy
cảm, đầm ấm của tác giả trước cuộc đời. Họ cũng đánh giá cao mảng truyện
loài vật trước 1945 của ông; đặc biệt, Dế Mèn phiêu lưu kí được đánh giá là
một thành công xuất sắc, xứng đáng là kiệt tác của văn học thiếu nhi Việt

Nam. Trải qua bao thăng trầm với thời gian, truyện loài vật của Tô Hoài vẫn
tồn tại và có một vị trí riêng trong lòng thế hệ độc giả bởi tài năng nghệ thuật
độc đáo, sáng tạo.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu ở trên, luận văn hướng đến những mục đích sau:
Thứ nhất, chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong truyện viết về loài vật của
Tô Hoài trước Cách mạng ở cả phương diện nội dung và nghệ thuật.
Thứ hai, trên cơ sở đó khẳng định đóng góp của Tô Hoài cho văn học
Việt Nam nói chung và truyện viết về loài vật nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, khảo sát truyện về loài vật trong toàn bộ sáng tác của Tô Hoài:
trước và sau 1945; từ đó chứng minh truyện viết về loài vật trước 1945 là một
trong những thành công đặc sắc của Tô Hoài.
Thứ hai, phân tích, lí giải những đặc điểm của truyện viết về loài vật của
Tô Hoài được biểu hiện trong từng tác phẩm cụ thể để làm rõ đặc sắc về nội
dung và nghệ thuật của mảng truyện này.
4. Phạm vi nghiên cứu
Vì không có điều kiện nghiên cứu tất cả truyện về loài vật của Tô Hoài
trước Cách mạng, người viết chỉ tập trung nghiên cứu, khảo sát những sáng
tác được in trong Tuyển tập truyện ngắn Tô Hoài trước năm 1945; truyện Dế


14

Mèn phiêu lưu kí, Đám cưới chuột, Chuột thành phố… cùng một số truyện
ở các tập truyện khác của Tô Hoài.
Ngoài ra, bên cạnh việc nghiên cứu truyện loài vật của nhà văn Tô Hoài,
người viết còn khảo sát thêm những sáng tác tiêu biểu của một số nhà văn đã
đạt được thành tựu đáng kể khi viết về đề tài loài vật như: Kim Lân, Vũ Tú

Nam, Võ Quảng, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Nhật Ánh, Lý Lan… để so sánh
sự khác biệt trong phương diện nội dung và nghệ thuật viết truyện về loài vật
giữa các tác giả.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, trong đó chủ
yếu các phương pháp sau:
Thứ nhất, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm tìm
hiểu truyện về loài vật của Tô Hoài cùng một số bài đánh giá, phê bình về
truyện loài vật của ông trên hai phương diện: nội dung và nghệ thuật. Từ đó,
luận văn khái quát nên những điểm chung về truyện viết về loài vật của Tô
Hoài trước 1945.
Thứ hai, luận văn sử dụng phương pháp so sánh để phát hiện những nét
riêng độc đáo ở mảng truyện về loài vật của Tô Hoài so với các tác giả cùng
viết về đề tài này.
Thứ ba, luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân loại để khảo sát
các truyện viết về loài vật của Tô Hoài trước 1945 , từ đó thấy được sự phong
phú về nội dung phản ánh và sự đa dạng của thế giới loài vật trong sáng tác
của Tô Hoài.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống truyện viết về loài vật của Tô
Hoài để chỉ ra được những đặc điểm của truyện về đề tài này trong sáng tác
của Tô Hoài trước 1945. Bên cạnh đó, cùng với những công trình nghiên cứu
về tài năng viết truyện loài vật của Tô Hoài, luận văn làm rõ hơn những đóng
góp của Tô Hoài cho mảng đề tài về loài vật trong văn học Việt Nam hiện đại
nói riêng và văn học thiếu nhi nói chung.


15

Trên cơ sở đó, luận văn góp phần chứng minh Tô Hoài thực sự là cây bút

hàng đầu, có vị trí và sức ảnh hưởng đặc biệt trong giới văn nghệ sĩ nhiều thế
hệ. Với quá trình lao động nghệ thuật miệt mài, Tô Hoài cùng thế giới nhân
vật của ông trở thành người bạn gần gũi, thân tình với đối tượng độc giả trong
và ngoài nước ở mọi thời đại.

7. Kết cấu luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được triển khai qua 3 chương:
Chương 1. Những nét cơ bản của truyện viết về loài vật ở Việt Nam và
truyện về loài vật trong sáng tác của Tô Hoài
Chương này trình bày những thành tựu nổi bật của truyện viết về loài
vật; đặc điểm truyện viết về loài vật ở phương diện nội dung và nghệ thuật; vị
trí truyện loài vật của Tô Hoài cùng sở trường của ông về đề tài loài vật.
Chương 2. Đặc điểm nội dung của truyện viết về loài vật trước 1945 của
Tô Hoài
Chương này tập trung triển khai đặc điểm của truyện viết về loài vật
trước 1945 của Tô Hoài ở khía cạnh nội dung, bao gồm thế giới loài vật
phong phú đa dạng cùng với những vấn đề triết lý trong cuộc sống: quan niệm
sống, mối quan hệ trong đời sống; vấn đề cái tốt – cái xấu; cái đói và những
cảnh đời khổ đau.
Chương 3. Đặc điểm nghệ thuật của truyện viết về loài vật trước 1945
của Tô Hoài
Chương này đi vào khảo sát những nét đặc sắc, riêng biệt ở khía cạnh
không gian và thời gian nghệ thuật; nghệ thuật xây dựng nhân vật; nghệ thuật
mở truyện và kết truyện; ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện loài vật trước
1945 của Tô Hoài.


16


Chương 1
NHỮNG NÉT CƠ BẢN CỦA TRUYỆN VIẾT VỀ LOÀI VẬT
Ở VIỆT NAM VÀ TRUYỆN VỀ LOÀI VẬT
TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI
1.1. Những nét cơ bản của truyện viết về loài vật ở Việt Nam
1.1.1. Những thành tựu nổi bật của truyện viết về loài vật
Trong kho tàng văn học dân gian của các dân tộc đều có sự tồn tại của
bộ phận truyện kể về loài vật, được gọi là “truyện cổ tích loài vật”. Đây “là
loại truyện cổ tích lấy các loài vật (phần lớn là động vật) làm đối tượng phản
ánh, tường thuật và lí giải chủ yếu. Loại chuyện này ở thời kì cổ xưa hầu hết
các dân tộc đều có. Ở đây, các loài vật được nhân cách hóa một cách hồn
nhiên trong trí tưởng tượng của nhân dân thời cổ…” [10, tr.312]. Như vậy,
xét về nguồn gốc, truyện về đề tài loài vật đã hình thành từ rất sớm. Trong
quá trình sống gần gũi với tự nhiên và chưa hoàn toàn tách mình ra khỏi tự
nhiên, người cổ đại đã từng quan sát, tìm hiểu các con vật (để dễ săn bắt và tự
vệ). Cũng do sự phân biệt giữa con người và tự nhiên chưa rõ ràng nên người
ta đã gán cho mọi vật tính cách của con người. Có thể nói, truyện loài vật
ra đời trên cơ sở đó.
Khi sáng tác những truyện về loài vật, các tác giả thường chú ý đến đối
tượng tiếp nhận là các em thiếu nhi. Lúc đầu, truyện dành chung cho mọi đối
tượng. Nhưng càng về sau, khi con người đã trải qua thời thơ ấu, mọi hiểu
biết của cuộc sống được nâng cao thì những câu chuyện về loài vật chỉ còn
thích hợp với trẻ em, được trẻ em yêu thích. Vì thế, khi xem xét những thành
tựu của truyện viết về loài vật, chúng ta không thể không đề cập đến những


17

thành tựu quan trọng của truyện viết cho thiếu nhi. Trong bước tiến của văn
học thiếu nhi, bóng dáng của truyện loài vật cũng dần dần được hình thành và

không ngừng phát triển. Sâu sắc và thấm đẫm tính nhân văn, những trang viết
về đề tài loài vật luôn phảng phất bóng dáng trẻ thơ với những suy nghĩ trong
trẻo và thánh thiện, với cái nhìn bao dung và nhân hậu trước cuộc đời. Xuất
phát từ những ý tưởng, nội dung, cốt truyện và những hình ảnh quen thuộc,
truyện viết về loài vật trong nền văn học mới còn có những bước phát triển
vượt bậc và đạt những thành tựu rực rỡ. Từ đây, bên cạnh truyện viết cho
người lớn, mảng truyện về loài vật cũng trở thành một bộ phận của nền văn
học, không chỉ có sức hút đối với trẻ thơ mà cả người lớn cũng rất yêu thích
bởi nhân vật của truyện có phần nào gần gũi, gắn bó với họ.
Trước Cách mạng tháng Tám, ngoài những sáng tác truyền miệng trong
văn học dân gian, văn học viết cho thiếu nhi nói chung rất ít được coi trọng.
Hơn nữa, một thời gian khá dài, văn học thiếu nhi chủ yếu chịu ảnh hưởng từ
những tác phẩm văn học nước ngoài. Những bài thơ ngụ ngôn của La
Phôngten, Pêrô, truyện cổ Grim… được dịch ra tiếng Việt, không chỉ hấp dẫn
các em nhỏ mà cả người lớn cũng ưa thích. Phần lớn người viết sách lúc bấy
giờ đều không có mục đích để phục vụ các em. Có người viết để làm bàn đạp
bước vào nghề văn, có người viết để kiếm sống, hoặc như một kiểu “thử bút”,
dò tìm hướng đi thực sự của mình… Tuy chưa đạt được những thành tựu đáng
kể, nhưng sự xuất hiện của một số nhà văn chân chính như Tú Mỡ, Nguyễn
Công Hoan, Nam Cao, Tô Hoài, Như Phong, Trần Mai Ninh…, với những tác
phẩm tương đối lành mạnh được xem là “tín hiệu” đáng mừng cho quá trình
phát triển của văn học thiếu nhi.
Nhìn chung, trước Cách mạng tháng Tám, chưa thể nói đến một nền
văn học viết cho thiếu nhi, với ý thức phục vụ thiếu nhi; cùng với thực trạng
ấy, mảng truyện về loài vật cũng ít ỏi và không có những thành tựu đáng kể.
Theo một số nhà nghiên cứu, bộ phận truyện cổ tích về loài vật tuy ra đời khá
sớm nhưng công việc sưu tầm lại khá muộn nên bị mất mát nhiều; những
truyện còn lại ít nhiều bị ngụ ngôn hóa hoặc bị pha trộn với truyện thần thoại.
Chính vì thế, trong nền văn học mới, “bóng dáng” của truyện về loài vật xuất



18

hiện khá nhạt nhòa và ít có những thành tựu rực rỡ như những thể loại văn
học khác. Trong những ngày đầu Cách mạng rồi kháng chiến chống Pháp, chỉ
có một số nhà văn chuyên nghiệp thi thoảng có sách viết cho thiếu nhi. Cách
mạng tháng Tám thành công, vai trò của văn học thiếu nhi bắt đầu được nhìn
nhận. Nó trở thành một bộ phận quan trọng trong bức tranh văn học toàn cảnh
dưới chế độ mới. Đối tượng phục vụ, phạm vi phản ánh, nội dung, đề tài của
nó cũng được mở rộng và có sự tiến bộ. Một số nhà văn có tên tuổi khác cũng
nhiệt tình tham gia đóng góp cho văn học thiếu nhi và đạt một số thành tựu
bước đầu như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nguyễn Xuân Sanh…
Nếu văn học thiếu nhi Việt Nam có độ dài khoảng hai phần ba thế kỷ,
thì lịch sử truyện loài vật cũng có độ dài tương ứng, nếu tính từ tác phẩm đầu
tiên làm rạng danh cho nó là Dế mèn phiêu lưu ký – một tác phẩm luôn luôn
có sự sống trong lòng các thế hệ độc giả nhỏ tuổi lẫn người lớn ở Việt Nam
và nhiều nơi trên thế giới. Cùng với Tô Hoài, hàng loạt tác phẩm có giá trị
của một số nhà văn khác, chủ yếu được tập hợp trong các tủ sách như: Sách
Hồng, sách Hoa mai, Hoa xuân, sách Truyền bá... góp phần làm nên sự độc
đáo, sức phản ánh rộng rãi cho dòng truyện viết về loài vật trước 1945. Như
vậy, trong buổi đầu của nền văn xuôi quốc ngữ, không ít người viết có tên
tuổi đã có ý thức gây dựng một dòng truyện viết về loài vật, đáp ứng nhu cầu
đông đảo, không chỉ riêng các em ở lứa tuổi thiếu niên, mà còn các bậc ông
bà, cha mẹ – những đối tượng vốn rất quan tâm đến việc giáo dục con cháu
nên người. Có thể lược kể những tên sách còn lưu lại được: Con mèo mắt
ngọc của Nam Cao ít nhiều đã đi sâu vào tâm hồn trẻ thơ, khiến các em phải
suy nghĩ; Vợ cóc, Con rắn, Cóc tía của Khái Hưng; Hang thuồng luồng, Con
rắn trắng của Ngọc Giao. Giữa những cây bút viết cho thiếu nhi thời đó, Khái
Hưng nổi lên trên tư cách một cây bút vừa viết nhiều, vừa viết hay. Các sáng
tác của ông, về mặt thể loại gồm: truyện cổ tích hiện đại, kịch đồng thoại và

truyện sinh hoạt. Ở mỗi một thể loại như vậy, ông đều tạo được những dấu ấn
riêng. Bên cạnh đó, Tô Hoài viết Dế Mèn phiêu lưu kí, Võ sĩ bọ ngựa, Đám
cưới chuột… dưới hình thức đồng thoại để phản ánh những vấn đề lớn của xã
hội.


19

Từ sau khi miền Bắc được giải phóng, hòa bình được lập lại, nền văn
học cho thiếu nhi có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Đây cũng là thời
kì nở rộ của các thể loại văn học, trong đó có văn xuôi. Bên cạnh đó, văn học
thiếu nhi nói chung và truyện về loài vật nói riêng cũng có những bước tiến
vượt bậc. Đánh giá thành tựu văn học thiếu nhi qua mấy năm đầu phát triển,
Vân Thanh cho rằng, các tác giả đã xây dựng được những câu chuyện vui
tươi, dí dỏm, có tác dụng làm phong phú thế giới tưởng tượng của các em.
Thời kỳ 1955–1975, tuy mảng truyện loài vật có những bước phát triển nhưng
cũng gặp không ít khó khăn, trắc trở. Bắt đầu từ Văn Ngan tướng công của Vũ
Tú Nam bị nghi ngờ là có dụng ý xấu. Tiếp đến, Cái Tết của mèo con của
Nguyễn Đình Thi và Cái mai của Võ Quảng cũng có những đoạn, những câu
bị giới tuyên truyền để ý. Không chỉ riêng mảng truyện dành cho thiếu nhi mà
ngay cả sáng tác của người lớn cũng có sự góp mặt của mấy con vật gây nên
tai tiếng cho tác giả như Con chó xấu xí của Kim Lân, Con nai đen của
Nguyễn Đình Thi, Con hùm con mồ côi của Nguyên Hồng. Nhưng nhìn
chung, đây cũng là thời kì phát tiển mạnh của truyện loài vật. Trước hết là về
đội ngũ sáng tác. Đội ngũ viết cho thiếu nhi càng phát triển nhanh và đến từ
nhiều nguồn. Bên cạnh Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Phạm Hổ, Đào Vũ,
Nguyễn Kiên, Hải Hồ cùng một số cây bút chuyên nghiệp khác, đã xuất hiện
một đội ngũ sáng tác mới với những cây bút đang sung sức như Võ Quảng,
Trần Thanh Địch, Phong Thu … Trong bài viết Chặng đầu của nền văn học
viết cho thiếu nhi, Vũ Ngọc Bình ghi nhận sự xuất hiện của các cây bút trẻ

như Văn Biển, Trần Hoài Dương, Văn Hồng... Những sáng tác của họ đã đem
lại cho truyện loài vật giai đoạn chống Mỹ nhiều nét mới mẻ. Không chỉ có
những người viết chuyên nghiệp, những người thuộc nhiều ngành nghề khác
nhau như các nhà giáo, nhà khoa học, nhà viết sử, nhà báo, bác sĩ, kĩ sư, nhà
sinh vật, nhà địa chất… cũng tham gia sáng tác và đóng góp thêm những tác
phẩm mới rất phong phú, đa dạng.
Số lượng các sáng tác viết về loài vật cũng tăng lên đáng kể và có nhiều
tác phẩm xuất sắc. Nếu như ở chặng đường đầu của quá trình sáng tác, chỉ có
một vài truyện ít ỏi đăng trên báo thì đến nay, khi đất nước được giải phóng,


20

đi lên con đường xã hội chủ nghĩa, số lượng tác phẩm tăng lên hàng nghìn
cuốn, gồm những tác phẩm tinh tuyển ở trong nước và ngoài nước. Thể loại,
đề tài trong truyện trở nên phong phú, đa dạng. Chất lượng truyện cũng tăng
lên đáng kể. Đội ngũ nhà văn bắt đầu chú trọng đến đề tài, nội dung phản ánh
trong truyện. Đặc biệt, nghệ thuật viết truyện cũng không ngừng được
cách tân, có khả năng tái hiện muôn mặt của hiện thực cuộc sống.
Một nét mới của văn học là đội ngũ sáng tác ngày càng chuyên môn
hóa. Vì thế, ở mỗi loại đề tài đều có những cây bút tiêu biểu. Những truyện về
loài vật ngày càng thu hút đông đảo những người sáng tác: từ những tác giả
gạo cội đến những cây bút trẻ. Bên cạnh một số đề tài, nội dung về cuộc sống
khổ sở, nghèo nàn của con người, ở giai đoạn này, đề tài và cả nội dung trở
nên phong phú, đa dạng, phản ánh cuộc sống mới trong bước đầu xây dựng xã
hội mới. Trong sự chăm lo của Đảng và Nhà nước, sau ba mươi năm Cách
mạng, nền văn học mới ngày càng phát triển; trong đó, mảng truyện viết về
loài vật chiếm số lượng tuy không đáng kể nhưng nó đã góp phần làm phong
phú cho nền văn học nước nhà. Không chỉ các em nhỏ mới tìm thấy sự thú vị
ở truyện về loài vật mà cả người lớn cũng say mê, cũng bị cuốn hút vào thế

giới loài vật ngộ nghĩnh, phong phú ấy.
Lúc đầu, đất nước vừa độc lập còn rất nhiều khó khăn. Nền văn học
cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ. Cuộc sống chật vật khiến lực lượng sáng tác
cũng gặp nhiều trở ngại trong việc tìm kiếm đề tài, nội dung; vì thế, số lượng
tác phẩm có giá trị về nội dung và nghệ thuật ra đời tương đối ít. Nhưng từ
1960 trở đi, đề tài truyện về loài vật trở nên phong phú. Ngay trong hoàn cảnh
chiến tranh khốc liệt, những tác phẩm lấy cảm hứng từ thế giới loài vật lại có
nền tảng và điều kiện để phát triển. Sự ra đời của Nhà xuất bản Kim Đồng
vào ngày 17 tháng 6 năm 1957 tại Hà Nội là một trong những nền tảng đánh
dấu sự hình thành và phát triển của nền văn học thiếu nhi Việt Nam nói chung
và truyện loài vật nói riêng. Bộ sách đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng
gồm tám cuốn, ra đời chỉ hai tháng sau khi nhà xuất bản thành lập. Tám cuốn
sách thuộc các mảng khác nhau nhưng vẫn có sự góp mặt của những truyện
loài vật, với những tên tuổi hàng đầu viết về đề tài loài vật như: Thy Thy


21

Tống Ngọc, Tô Hoài. Đồng thời, mảng truyện loài vật còn có sự hỗ trợ của bộ
phận văn học nước ngoài, chủ yếu là các tác phẩm nổi tiếng, được dịch sang
tiếng Việt như: Con chim sẻ nhỏ của M. Gorki; Ba con gấu của L. Tonxtôi;
Chuyện người đánh cá và con cá vàng của A. Puskin cùng với truyện của
Anđecxen và Grim… Một loạt đề tài trước kia ít được chú ý khai thác, thì giờ
đây lại phát triển và nở rộ. Giai đoạn đầu, truyện viết về loài vật dưới dạng
truyện đồng thoại chủ yếu diễn ra ở các thành thị như: Hà Nội, Huế, Sài Gòn.
Giai đoạn sau, đặc biệt trong nền văn học mới xuất hiện nhiều tác phẩm viết
về loài vật như: Lớp học của anh Bồ câu trắng của tác giả Thy Thy Tống
Ngọc. “Đặc biệt, hai cuốn sách thuộc thể loại khoa học dành cho thiếu nhi là
Cá giấy biết bơi do Phan Huỳnh Điểu soạn và Trên tinh cầu khác có sinh vật
sống không? do Phạm Sinh dịch từ tiếng Trung Quốc cho thấy, sách viết cho

thiếu nhi đã bao hàm cả những đề tài khác ngoài văn học”. [1]
Từ sau 1954 kéo dài đến 1986 những tiêu chuẩn về con người mới xã
hội chủ nghĩa là định hướng chiến lược cho những sáng tác văn học dành cho
thiếu nhi, trong đó có mảng truyện loài vật. Điều đó đã chứng minh truyện
loài vật không những đủ sức thể hiện cuộc sống mà còn phản ánh kịp thời
hiện thực đời sống đất nước thông qua những câu chuyện viết cho các em
nhỏ. Sau 1975, người viết lại trở về với thế giới hồn nhiên cây cỏ, đời thường,
mở rộng biên độ tưởng tượng vốn rất cần thiết với thể truyện này. Một thời
gian dài, nói đến văn học thiếu nhi trước 1945, người ta thường chỉ nghĩ đến
Tô Hoài. Điều này có lí do của nó. Song, trong thời kì văn học mới, chúng ta
được biết thêm nhiều tác giả, tác phẩm khác. Từ sau 1986, truyện loài vật có
bước phát triển đáng kể với sự thành công của những tên tuổi đáng kể như:
Ma Văn Kháng với Chó Bi đời lưu lạc; Lưu Trọng Văn với Cọp không có
răng; Nguyễn Đính Chính với Ngàn dặm xa; Nguyễn Nhật Ánh với Tôi là
Bêttô, Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ; Chim chích lạc rừng (Tô Hoài); Cô
Bê 20 (Văn Biển); Chuyện chú Trống choai (Hải Hồ); Bài học tốt (Võ
Quảng); Cổ tích Chuột, Nhạc sĩ Dế Lửa, Làm mèo (Trần Đức Tiến); Lũ bướm
đêm (Thế Vũ); Cô kiến trinh sát (Vũ Kim Dũng); Ngôi nhà trong cỏ (Lý Lan)
… đã góp phần tạo nên một nét riêng trong diện mạo thể loại truyện loài vật.


22

Có truyện mang đậm chất anh hùng; có truyện đầy chất thơ, gợi ước mơ, sự
thích thú cho người đọc khi nói về cuộc sống con người, về thế giới tự nhiên
huyền bí, về đất nước tươi đẹp... Không thể phủ nhận, đó đều là những
tác phẩm hay, giàu tính nghệ thuật và ý nghĩa giáo dục.
Viết nhiều đề tài, nhưng các nhà văn vẫn chú ý nhiều đến đề tài lao
động, học tập và sinh hoạt của con người thông qua hình thức miêu tả thế giới
loài vật. Cô bê 20 của Văn Biển là một ví dụ điển hình. Truyện viết về con

người nhưng lại được “thể hiện dưới hình thức đồng thoại với rất nhiều chất
thơ, nhưng không vì thế mà kém đi tính chân thực, giản dị” [45, tr.87]. Bên
cạnh đó, mảng truyện loài vật được thể hiện dưới hình thức truyện tranh cũng
khá phát triển cùng với những tên tuổi như Thy Ngọc với Chú lợn đất;
Văn Hồng, Mai Long với Cá rô ron không vâng loài mẹ…
Cùng với sự mở rộng và phong phú của đề tài, nghệ thuật viết truyện
loài vật cũng ngày một hấp dẫn và có những thành công đáng kể. Ở giai đoạn
đầu, truyện chỉ mới dừng lại ở việc mượn những cốt truyện đơn giản, ít tình
tiết để ghi lại những sự kiện, nội dung chính. Nay với những cốt truyện thú vị,
phong phú xuất phát từ thực tế cuộc sống con người cùng những chi tiết sinh
động, “truyện đã tìm được nhiều con đường khác nhau để đi vào thế giới tâm
hồn” [46, tr.43] của người đọc, tạo được nhiều hứng thú và tình cảm ở họ. Do
đặc trưng của truyện nên các nhà văn khi sáng tạo một tác phẩm, họ rất chú ý
đến việc nhân hóa loài vật, tạo cho truyện chất thơ, chất dí dỏm, vui tươi.
Không ít nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng loài vật. Thế giới loài
vật vừa mang những đặc điểm riêng biệt của giống loài vừa mang những nét
tính cách của thế giới loài người.
Giữa năm 2007, Nguyễn Nhật Ánh đã giới thiệu các bạn thiếu nhi cuốn
sách với tựa đề Tôi là Bêtô. Sự ra đời của Tôi là Bêtô đã gây sự chú ý đặc biệt
trong giới độc giả và một số nhà văn, nhà phê bình nghiên cứu. Nhận xét về
nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Nhật Ánh, Phong Lê, trên tờ nhật báo
Thanh Niên (ngày 27/5/2007), đã bày tỏ niềm xúc động vì trải qua một thời
gian khá dài, ông mới được đọc một tác phẩm viết về loài vật hay như thế.
Theo ông, cái hay của Tôi là Bêtô nằm ở “cách kể tự nhiên về những chuyện


23

đời thường mà không tẻ nhạt, có sức chứa những ý tưởng mới mẻ và
những triết lí hồn nhiên”[2].

Nguyễn Quang Thiều cũng dành cho cuốn sách những lời khen ngợi
qua việc ghi nhận thủ pháp nhân cách hóa và ngôn ngữ kể chuyện độc đáo,
được nhà văn sử dụng khi xây dựng nhân vật chính trong truyện: một chú chó
tên Bêtô. Không chỉ thế, ông còn hóa thân vào nhân vật, tự kể kể về cuộc đời
mình bằng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất. Với ngôn ngữ kể chuyện gần gũi,
giản dị, câu chuyện của chó chó Bêtô đem đến cho người đọc mối đồng cảm
và những lien tưởng thú vị. Mặt khác, màu sắc triết lí trong mỗi câu chuyện
nhỏ cũng gieo vào lòng những độc giả nhỏ tuổi và người lớn. “Cuộc đời của
con chó nhỏ Bêtô cũng chứa đựng tất cả hiện thực đời sống mà mỗi con
người đều đi qua: niềm vui, sở thích, tình bạn, nỗi sợ hãi, lòng dung cảm, kí
ức, thiện ác, ước mơ…” [2]. Sau nhiều lần tái bản, những ý kiến đánh giá của
Phong Lê, Nguyễn Quang Thiều, Phạm Xuân Nguyên được chọn in ngay bìa
sau cuốn Tôi là Bêtô, như những bài giới thiệu khái quát về giá trị nội dung và
nghệ thuật của cuốn sách. Nhà văn Lý Lan cũng thử sức với tác phẩm Ngôi
nhà trong cỏ, khai thác nhân vật là những loài côn trùng bé nhỏ cùng
những con vật gần gũi với con người.
Như vậy, chúng ta không thể phủ nhận vai trò to lớn của hoàn cảnh lịch
sử, sự tác động của xã hội đối với sự ra đời và những bước phát triển của
truyện về loài vật nói riêng, văn học thiếu nhi nói chung, khiến nền văn học
thiếu nhi ít nhiều đã gắn bó chặt chẽ với văn học người lớn. Sự phong phú về
đề tài, thể loại cùng với đội ngũ nhà văn chuyên nghiệp, số lượng tác phẩm có
chất lượng, sự đổi mới ở nội dung và nghệ thuật đã dần dần đưa truyện loài
vật đi vào quỹ đạo chung của sự nghiệp đổi mới diện mạo chung của
nền văn học nước nhà.
1.1.2. Đặc điểm truyện viết về loài vật
Trong nền văn học dân tộc, truyện viết về loài đã có những đóng góp to
lớn vào việc duy trì và phát triển những thể loại đã có hoặc bị bỏ quên trong
thời gian khá dài. Từ thực tiễn sáng tác và thành tựu của thể loại, chúng ta có



24

thể thấy được những đặc điểm nổi bật của truyện loài vật với tư cách là một
“sản phẩm” hiện đại trên hai phương diện: nội dung và nghệ thuật.
1.1.2.1. Về nghệ thuật
Truyện về loài vật được sáng tạo bằng cách viết lại hoặc viết mới.
Chẳng hạn, khi sáng tác truyện Con Cóc là cậu ông Giời, Nguyễn Huy Tưởng
đã viết lại truyện dựa vào cốt truyện dân gian Cóc kiện trời. Ngay cả truyện
Bài học tốt của Võ Quảng cũng có sự liên quan mật thiết với truyện Sự tích
vết rạn trên mai rùa… Nhiều truyện của Võ Quảng cũng được hình thành từ
những sự tích dân dã nhưng vẫn giàu chất triết lí hồn nhiên, có khả năng giáo
dục cho các em cả về trí tuệ, về thẩm mĩ và phép đối nhân xử thế trong cuộc
sống. Cùng với Võ Quảng, Khái Hưng cũng là một trong những cây bút đạt
thành công ở nhiều thể loại: từ truyện cổ tích hiện đại, kịch đồng thoại đến
truyện sinh hoạt.. Tất cả đã tạo nên dấu ấn riêng trong nghệ thuật viết truyện
của nhà văn. Tuy nhiên, đặc sắc hơn cả vẫn là những truyện cổ tích hiện đại.
Đó là những tác phẩm được nhà văn sáng tác trên cơ sở hoặc dựa vào cốt
truyện dân gian, hoặc dựa vào thi pháp thể loại. Chẳng hạn, ở truyện Vợ Cóc,
ông chủ động thay đổi trật tự các lớp truyện, không kể theo cách dân gian: sự
việc nào xảy ra trước – kể trước, sự việc nào xảy ra sau – kể sau. Ông cũng
chú ý đến tâm lí nhân vật, và lược bỏ đi những nội dung được cho là không
cần thiết. Tài năng của Khái Hưng thể hiện qua lối kể chuyện cổ tích mới mẻ,
kế thừa có phát triển thi pháp thể loại truyện cổ tích dân gian.
Khác với hình thức viết lại, với hình thức viết mới, nhà văn phải tự
mình sáng tạo nên cốt truyện và không chịu sự chi phối của một tác phẩm dân
gian cụ thể nào. Trường hợp này có thể nhận thấy rõ qua hàng loạt sáng tác về
loài vật của nhà văn Tô Hoài từ Dế Mèn phiêu lưu kí cho đến những con vật
gắn bó với con người như: mèo, chuột, chó, ngan, gà… Tất cả đều được Tô
Hoài sáng tạo nên một cách độc đáo. Xét trong thực tiễn sáng tác văn học,
truyện viết về loài vật chủ yếu được sáng tác theo hình thức sau, người viết có

điều kiện thể hiện tài năng sáng tạo, tạo bước ngoặt mới cho truyện đồng
thoại về loài vật, đáp ứng yêu cầu đổi mới của nền văn học mới.


25

Một đặc điểm nổi bật của truyện loài vật là nhà văn miêu tả thế giới
loài vật không chỉ là thế giới ảo do việc vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật
như: nhân hóa, so sánh, liên tưởng; qua đó, cuộc sống của con người cũng dần
được hé mở. Càng đi sâu vào nghệ thuật trong tác phẩm, chúng ta càng nhận
ra nhiều nét mới mẻ, hiện đại của thể loại truyện này. Sự mới lạ của truyện
thể hiện trước hết ở việc xây dựng hình tượng loài vật. Nhân vật trong truyện
loài vật được nhà văn gán cho những nét tính cách,những hành động và suy
nghĩ của con người. Không chỉ thế, chúng còn được đặt trong mối quan hệ với
cuộc sống của con người. Với hình tượng loài vật, nhà văn gửi gắm vào đó
những vấn đề của cuộc sống hiện đại: những bài học từ cuộc sống, hay đơn
giản là những tấm gương phản ánh cuộc sống hàng ngày của con người.
Truyện về loài vật nhưng thể hiện một cách sinh động, ý vị về đề tài
cuộc sống mới, con người mới.
Bên cạnh đó, sự kết hợp nhịp nhàng giữa ngoại hình, hành động, tâm
trạng làm cho truyện ngắn loài vật mất dần tính chất loại hình giản đơn và có
khả năng chuyển hoá thành nhân vật có cá tính. Đó cũng là thành công của
truyện loài vật khi tìm cho mình hướng đi mới thông qua việc giản nở cốt
truyện, biến các yếu tố ngoài cốt truyện trở thành cảm hứng thể hiện khiến
những truyện vốn dĩ quen thuộc bỗng trở nên “lạ hóa”. Những con vật không
chỉ hiện lên với những nét riêng của từng loài mà còn thể hiện tâm trạng, tính
cách, biết suy nghĩ, biết vui buồn giống như loài người. Chính sự kết hợp
nhuần nhuyễn khía cạnh tự nhiên và xã hội mà nhân vật truyện đồng thoại
mang một vẻ riêng, vừa phản ánh thế giới loài vật, vừa trở thành ẩn dụ
về cuộc sống con người.

Một khía cạnh khác, trong truyện loài vật, ngôn ngữ kể chuyện rất độc
đáo, linh hoạt, chứng tỏ người viết rất thuộc và rất yêu đối tượng khảo sát của
mình. Miêu tả thế giới loài vật, các nhà văn thường chọn cách kể tự nhiên, với
ngôn ngữ của nhân vật chính tự kể về cuộc đời mình bằng đại từ nhân xưng
ngôi thứ nhất. Với tài năng kể chuyện thông minh, thuyết phục, nhà văn tạo
cho câu chuyện loài vật tính logic nhưng vẫn hài hòa tự nhiên. Người đọc
không khỏi bật cười vì sự ngây ngô, hài hước khởi nguồn từ đặc tính thực của


×