Tải bản đầy đủ (.pdf) (228 trang)

Nghiên cứu tiến hoá đới ven biển đồng bằng sông cửu long và thềm lục địa kế cận trong holocen

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (13.23 MB, 228 trang )

Ketnooi.com chia se

NHIỆM VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ VIỆT-ĐỨC
VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THEO NGHỊ ĐỊNH THƯ

BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA NHIỆM VỤ

NGHIÊN CỨU TIẾN HOÁ ĐỚI VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG VÀ VÙNG THỀM LỤC ĐỊA KẾ CẬN TRONG HOLOCEN - HIỆN
ĐẠI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (2008-2009)

Cơ quan chủ trì: Viện Địa chất và Địa vật lý biển
Chủ nhiệm nhiệm vụ:
TS Phùng Văn Phách

8040
HÀ NỘI, 3 – 2010


Ketnooi.com chia se
NHIỆM VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ VIỆT-ĐỨC
VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THEO NGHỊ ĐỊNH THƯ

BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA NHIỆM VỤ

NGHIÊN CỨU TIẾN HOÁ ĐỚI VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG VÀ VÙNG THỀM LỤC ĐỊA KẾ CẬN TRONG HOLOCEN - HIỆN
ĐẠI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (2008-2009)


Cơ quan chủ trì
Viện Địa chất và địa vật lý Biển
Viện trưởng

Chủ nhiệm

TS. Nguyễn Thế Tiệp

TS. Phùng Văn Phách
Thư ký khoa học

ThS. Nguyễn Trung Thành

HÀ NỘI, 3-2010


Ketnooi.com chia se
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tập thể tác giả đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình, hiệu quả, kịp thời của lãnh đạo Bộ KHCN, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ
Khoa học Xã hội và Tự nhiên, Vụ Kế hoạch Tài chính (Bộ KHCN), lãnh đạo
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST), Ban Kế hoạch-Tài chính, Ban
Hợp tác quốc tế , lãnh đạo Viện Địa chất và Địa vật lý Biển (IMGG), Viện Địa
chất (VĐC,) trường Đại học KH Tự nhiên TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học
Kiel (CAU), Viện Nghiên cứu biển (IFM-GEOMAR, Kiel). Chúng tôi cũng chân
thành cám ơn Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, các đồn biên phòng các tỉnh ven
biển Nam Bộ, đặc biệt Đồn Biên phòng Hòn Khoai, các sở KHCN và sở Nội vụ
các tỉnh ven biển Nam Bộ… đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong suốt
thời gian chúng tôi thực hiện đề tài. Chúng tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
nhất đối với các ông Đặng Vũ Minh (nguyên Chủ tịch Viện KHCN VN), ông

Nghiêm Xuân Minh (Vụ trưởng Vụ KHXHTN Bộ KHCN), ông Lưu Trường Đệ
(Phó vụ trưởng Vụ KHXHTN Bộ KHCN), ông Lê Quang Thành (Phó vụ trưởng
Vụ KHXHTN Bộ KHCN), ông Nguyễn Thế Tiệp Viện trưởng Viện Địa chất và
Địa vật lý biển, Ông Thái Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Trung tá Cao Sỹ
Mạnh đồn trưởng đồn biên phòng 700, và nhiều cá nhân khác đã nhiệt tình giúp
đỡ chúng tôi trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ.
Thay mặt tập thể tác giả
Chủ nhiệm

TS Phùng Văn Phách


TẬP THỂ TÁC GIẢ
Chủ nhiệm: TS Phùng Văn Phách
Thư ký khoa học: ThS. Nguyễn Trung Thành

Những người tham gia:
1) Viện Địa chất và Địa vật lý biển: TS Nguyễn Thế Tiệp, TS Nguyễn Tiến
Hải, TS Nguyễn Văn Lương, TS Nguyễn Hồng Lân, TS Hoàng Văn Vượng,
TS Trần Tuấn Dũng, TS Nguyễn Thị Thu Hương, TS Ngô Văn Quảng, TS Lê
Ngọc Anh, TS Dư Văn Toán, KSCC Nguyễn Tứ Dần, ThS Bùi Việt Dũng, ThS
Dương Quốc Hưng, ThS Bùi Nhị Thanh, ThS Ngô Bích Hường, ThS Trần
Văn Lập, CN Nguyễn Hữu Cường, KS Nguyễn Huy Phúc, CN Phạm Thị
Tươi, CN Trần Văn Khá, CN Đào Thị Hà, CN Nguyễn Kim Dũng, CN Bùi
Thị Xuân, CN Đinh Tiến Dũng, CN Trần Xuân Lợi, ThS Bùi Thị Bảo Anh, KS
Nguyễn Đức Thành, CN Nguyễn Thị Ngọc, CN Đinh Thị Hồng.
2) Viện Địa chất: PGS-TSKH Nguyễn Địch Dỹ, TS Doãn Đình Lâm, TS Vũ
Văn Chinh, ThS Vũ Văn Hà.
3) Đại học KHTN TP Hồ Chí Minh: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc Lan, TS Lê
Xuân Thuyên, Trần Thị Hoàng Hà, Ngô Trần Thiện Quí.

4) Viện Địa chất-ĐH TH Kiel, CHLB Đức: GS-TS

Statteger Karl, TS

Schimanski Alexander, TS Schwarzer Klaus, NCS Unverricht Daniel, TS
Tjalligii Rik, TS Ricklefs Klaus, TS Szczucinski Witold, TS Jagodzinski
Robert, TS Steen Eric.


NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU SỬ DỤNG TRONG BÁO CÁO

KHCN – Khoa học công nghệ

ĐNA – Đông Nam Á.

CHLB – Cộng hòa liên bang

TX - Thị xã.

DFG – Từ tiếng Đức The Deutsche
Forschungsgemeinschaft (Tiếng Anh là
German Research Foundation): Quĩ Nghiên
cứu Đức.

Kz – Kainozoi.

KHTN – Khoa học tự nhiên.
ĐBNB – Đồng bằng Nam Bộ.
TNB – Tây Nam Bộ.
ĐNB – Đông Nam Bộ.


HCM - Hồ Chí Minh.
LGM – Mực biển thấp nhất.
HST – Highstand System Tract: mực biển
đứng cao.
LST – Lowstand System Tract: Mực biển
đứng thấp.

BP – Trước thời điểm hiện tại.

TST – Trangressive System Tract: Mực biển
tiến.

KY- nghìn năm

SB – Sequennece boundary.

MIS-(marine isotope stage)- thời kỳ đồng

vị oxy biển.

MXFs – Maximum flooding Surface: bề mặt
ngập cực đại.

LK – Lỗ khoan.

TS – Trangressive surface : bề mặt biển tiến

SCL – Sông Cửu Long.


RS – Ravinerment surface.

ĐB SCL – Đông bằng Sông Cửu Long.

BTT – Bãi thuỷ triều.

ADCP – Thiết bị đo dòng chảy.

ĐM - đầm mặn.

CTD – Thiết bị đo các yếu tố nhiệt muối và
độ đục.

ĐSB - Đoạn sông bỏ.

LISST – Thiết bị đo kích thước vật liệu lơ
lửng trong môi trường nước.

LCS - Lượn cát sông.

DEM – Digital Elevation Model: mô hình số
địa hình.

ĐLK - Đồng lụt kín.

TOC – Hàm lượng cacbon hữu cơ.
TC - Tổng Cacbon.
KTVL - Kiến tạo vật lý.
GS – Giáo sư.
TSKH - Tiến sỹ khoa học.

ĐN – đông nam.
TB – Tây bắc.
ĐB – Đông bắc.
TN – Tây nam.

LS – Lòng sông..
CSC - Cồn sông cổ.
ĐLH - Đồng lụt hở.
ĐL - đồng lụt trung tâm.
BSĐ – Bưng sau đê.
Bl – Bưng lầy.
GBC – Giant box corer
GS – Grap sample: Mẫu cuốc đại dương.
BC – Boxcore: mẫu thùng
GC – gravity corer: ống phóng trọng lực.
GPS – Geographic Positioning system (hệ
thông tin địa lý).


DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ

STT
1

Số hình

Tên hình
7

9


Hình 0.1
Hình 1.1
Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 2.3
Hình 2.4
Hình 2.5
Hình 2.6
Hình 2.7

10

Hình 2.8

11

Hình 2.9

12

Hình 2.10

Các bộ phận nguồn âm boomer: Nguồn năng lượng
PULSAR (trái) và Tranducer (phải)

34

13


Hình 2.11

Sơ đồ chỉ ra nguyên lý hoạt động của thiết bị boomer để thu
được các số liệu địa chấn nông phân giải

34

14

Hình 2.12

35

15

Hình 2.13
Hình 3.1
Hình 3.2

Số liệu được thu thập từ các chuyến khảo sát dự án
hợp tác Việt-Đức : SO 140 (1999), VG5 (2004), VG9
(2005), SO187 (2006) and Mekong (2007, 2008)
Sơ đồ lưới tính khu vực nghiên cứu
Ranh giới châu thổ ngầm và một số tuyến đo địa chấn
Các dạng địa hình chính của phần châu thổ ngầm thuộc
châu thổ Cửu Long
Các sóng cát và hướng di chuyển ở trường C và D
Các sóng cát trường E và F
Sơ đồ vị trí các lòng sông cổ trên thềm trong và các
tuyến đo Parasound.

Một số mặt cắt lòng sông cổ trên phạm vi thềm trong
ngoài khơi Nam Bộ
Bản đồ địa mạo khu vực đồng bằng châu thổ Sông Cửu
Long và thềm lục địa kế cận
Đường bờ cổ qua giai đoạn của Holocen vùng đồng
bằng Sông Cửu Long

2
3
4
5
6
7
8

16
17

20

Hình 3.3
Hình 3.4
Hình 3.5

21

Hình 3.6

22


Hình 3.7

23

Hình 3.8

18
19

Khu vực nghiên cứu
Sơ đồ tài liệu thực tế
Máy phân tích độ hạt Mastersizer 2000
Nhiễu xạ lazer
Bơm thủy lực Hydro 2000G
Biểu đồ tam giác phân loại các trường trầm tích
biểu đồ khối hộp mẫu CM220308_05
Biểu đồ đường cong phân bố mẫu CM220308_05
Phép tam giác Delaunay với tất cả các đường tròn
ngoại tiếp và tâm
Mạng lưới đa giác Thiessen (màu đỏ) hay biểu đồ
Voronoi.
Một đa giác Theissen biến đổi sau khi chèn một điểm
mới Pn

Trang
15
32
33
33
33

33
33
34
34
34

35
43
44
45
46
46
47
48
49


34

Hình 4.1
Hình 4.2
Hình 4.3
Hình 4.4
Hình 4.5
Hình 4.6
Hình 4.7
Hình 4.8
Hình 4.9
Hình 4.10
Hình 4.11


35

Hình 4.12

36

Hình 4.13

37

Hình 4.14

38

Hình 4.15
Hình 4.16
Hình 4.17
Hình 4.18

24
25
26
27
28
29
30
31
32
33


39
40
41

43

Hình 4.19
Hình 4.20

44

Hình 4.21

45

Hình 4.22

46

Hình 4.23

47

Hình 4.24

48

Hình 4.25
Hình 4.26

Hình 4.27
Hình 4.28
Hình 5.1

42

49
50
51
52

Hoa sóng trạm Côn Đảo tháng 1 (1986-2005)
Hoa sóng trạm Côn Đảo tháng 7 (1986-2005)
Hoa gió trạm Côn Đảo tháng 1 (1986-2005)
Hoa gió trạm Côn Đảo tháng 7 (1986-2005)
Hoa sóng trạm Thổ Chu tháng 1
Hoa sóng trạm Thổ Chu tháng 7
Hoa sóng trạm Phú Quốc tháng 1
Hoa sóng trạm Phú Quốc tháng 7
Hoa gió trạm Phú Quốc tháng 1
Hoa gió trạm Phú Quốc tháng 7
Hướng và vận tốc dòng chảy khi dòng triều rút ứng với
gió TN
Hướng và vận tốc dòng chảy khi dòng triều lên ứng với
gió TN
Hướng và vận tốc dòng chảy khi dòng triều rút ứng với
gió ĐB
Hướng và vận tốc dòng chảy khi dòng triều lên ứng với
gió ĐB
Hướng và vận tốc dòng chảy thường kỳ mùa đông

Hướng và vận tốc dòng chảy thường kỳ mùa hè
Hướng và vận tốc dòng chảy đáy theo năm
Sơ đồ hướng di chuyển trầm tích đáy của khu vực ven
biển đồng bằng SCL…
Đo trạm cố định tại cửa sông Sài Gòn ngày 9/3/2007
Mặt cắt dòng chảy trong khoảng thời gian từ 9h đến 9h
18’ tại trạm đo cố định ngày 09/03/2007
Hướng dòng chảy trong khoảng thời gian từ 9h đến 9h
18’ ngày 09/03/2007
Mặt cắt tốc độ dòng chảy trong khoảng thời gian Từ
10h 14’ đến 10h 33’ ngày 09/03/2007
Hướng dòng chảy trong khoảng thời gian từ 10h 14’
đến 10h 33’
Mặt cắt dòng chảy trong khoảng thời gian từ 13h 40’
đến 14h ngày 09/03/2007
Hướng chảy trong khoảng thời gian 13h 40’ đến 14h
Phân bố nhiệt muối mùa hè
Phân bố nhiệt muối mùa đông
Biến thiên nhiệt muối và độ đục tại trạm đo cố định
Tuyến địa chấn biểu diễn nêm hình thành do mực nước

58
58
58
58
59
59
59
59
59

59
60
60
61
61
62
62
63
63
64
64
64
65
65
66
66
67
67
67
100


53

Hình 5.2

54

Hình 5.3


55

Hình 5.4

56

Hình 5.5

57
58

Hình 5.6
Hình 5.7

59

Hình 5.8

60

Hình 5.9
Hình 5.10
Hình 5.11
Hình 5.12

61
62
63

70


Hình 5.13
Hình 5.14
Hình 5.15
Hình 5.16
Hình 5.17
Hình 5.18
Hình 5.19

71

Hình 5.20

72

Hình 5.21
Hình 5.22
Hình 5.23
Hình 5.24

64
65
66
67
68
69

73
74
75

76
77
78
79
80

Hình 5.25
Hình 5.26
Hình 5.27
Hình 5.28
Hình 5.29

biển hạ thấp ở khu vực thềm phía ngoài
Tuyến địa chấn biểu diễn sự phát triển các lòng sông cổ
ở phía bắc khu vực nghiên cứu.
Tuyến địa chấn biểu diễn sự phát triển các lòng sông cổ
ở phía nam khu vực nghiên cứu
Tuyến địa chấn biểu diễn sự phát triển nêm hình thành
vào thời kỳ nước biển đứng cao (highstand).
Độ sâu bề mặt Pleistocen muộn tính từ mặt nước biển
(thời kỳ biển đứng thấp)
Bề dày trầm tích sau băng hà cuối cùng
Mô hình phân tập địa tầng thềm lục địa Đông Nam
Việt Nam
Sơ đồ các điểm lấy mẫu trên khu vực thềm Đông Nam
trong các năm 2004, 2005 và 2006
Sơ đồ phân bố kích thước hạt trung bình của trầm tích
Sơ đồ phân bố kích thước điểm giữa (d50)
Sơ đồ phân vùng chọn lọc trầm tích
Các điểm lấy mẫu, tuyến đo địa chấn và ranh giới châu

thổ
Tuyến địa chấn 21040801 gần tuyến lấy mẫu 01
Sự thay đổi thông số độ hạt trên tuyến đo 01
Hàm lượng cát, bột và sét trên tuyến 01
Tuyến địa chấn 15040801 và các vị trí lấy mẫu
Biến đổi thông số độ hạt trên tuyến đo 02
Biến đổi hàm lượng cát, bột và sét theo tuyến 02
Hàm lượng tổng cacbon hữu cơ (TOC) và hàm lượng
cacbonat
Các tuyến đo địa chấn 12040801, 11040804 và vị trí
lấy mẫu
Biến đổi thông số độ hạt trên tuyến đo 03
Biến đổi hàm lượng cát, bột và sét theo tuyến đo 03
Hàm lượng TOC và cacbonat theo tuyến 03
Mặt cắt địa chấn 11040803 và các vị trí lấy mẫu trên
tuyến 04
Sự thay đổi độ hạt theo tuyến 04 từ bờ ra phía biển
Sự biến đổi hàm lượng cát, bột và sét
Tuyến đo địa chấn 27030801, 27030802-4 và vị tri lấy
mẫu
Biến đổi thông số độ hạt trên tuyến mẫu 05
Biến đổi hàm lượng cát, bột và sét của tuyến 05

101
102
103
104
104
105
105

106
106
107
107
108
108
108
109
109
109
109
110
110
110
110
111
111
111
112
112
112


81

Hình 5.30

82

Hinh 5.31

Hình 5.32
Hình 5.33

83
84
85
86
87
88
89
90
91
92
93
94
95
96
97
98
99
100
101
102
103
104
105
106
107
108
109


Hình 5.34
Hình 5.35
Hình 5.36
Hình 5.37
Hình 5.38
Hình 5.39
Hình 5.40
Hình 5.41
Hình 5.42
Hình 5.43
Hình 5.44
Hình 5.45
Hình 5.46
Hình 5.47
Hình 5.48
Hình 5.49
Hình 5.50
Hình 5.51a
Hình 5.51b
Hình 5.52
Hình 5.53
Hình 5.54
Hình 5.55
Hình 5.56

113

Hình 5.57
Hình 5.58

Hình 5.59
Hình 5.60
Hình 5.61

114

Hình 5.62

110
111
112

Các tuyến địa chấn 28030803 và 28030802
và các vị trí lấy mẫu
Biến thiên độ hạt theo tuyến 06
Hàm lượng cát, bột và sét theo tuyến 06
Hàm lượng cacbonat và tổng cacbon hữu cơ (TOC)
theo tuyến 06
Tuyến đo địa chấn 24032007-02
Biến đổi thông số độ hạt trên tuyến 07
Biến đổi hàm lượng cát, bột và sét theo tuyến 07
Tuyến địa chấn 25032007_03
Biến đổi thông số độ hạt theo tuyến 08
Hàm lượng cát, bột và sét trên tuyến 08
Tuyến địa chấn 31030805
Biến đổi thông số đột hạt theo tuyến 09
Hàm lượng cát, bột và sét theo tuyến 09
Tuyến địa chấn 2703200702
Biến đổi các thông số độ hạt trên tuyến 10
Biến đổi hàm lượng cát, bột và sét theo tuyến 10

Tuyến địa chấn 040408-04
Biến đổi các thông số độ hạt theo tuyến 11
Hàm lượng cát, bột và sét theo tuyến 11
Hàm lượng TOC và cacbonat
Tuyến địa chấn 05040806
Biến đổi thông số độ hạt trên tuyến 12
Biến đổi hàm lượng cát, bột, sét trên tuyến 12
Sự phân bố kích thước hạt trung bình
Phân bố kích thước hạt điểm giữa d50
Phân bố hệ số chọn lọc trầm tích
Phân bố độ lệch
Phân bố số lượng mốt ven bờ đồng bằng Sông Cửu
Long
Phân bố của mốt 1
Phân bố hàm lượng cát
Phân bố hàm lượng bột
Phân bố sét trong khu vực
Sơ đồ phân bố trầm tích vùng ven bờ đồng bằng Sông
Cửu Long và thềm kế cận
Sự tích tụ trầm tích và xu hướng vận chuyển trầm tích

113
113
113
113
114
114
114
115
115

115
116
116
116
117
117
117
118
118
118
118
119
119
119
120
120
121
121
121
122
122
123
123
124
125


115
116
117

118

Hình 5.63
Hình 5.64
Hình 5.65
Hình 5.66

120

Hình 5.67
Hình 6.1

121

Hình 6.2

122

Hình 6.3

123

Hình 6.4

124

Hình 6.5

125


Hình 6.6

125

Hình 6.7

126

Hình 6.8

127

Hình 6.9

128

Hình 6.10

129

Hình 6.11

130
131

Hình 6.12
Hình 6.13

132


Hình 6.14a

119

dưới ảnh hưởng của gió mùa đông bắc
Ảnh chụp hai lõi mẫu SO187-3-92 và SO187-3-104
Sự suy giảm hàm lượng của chì dư tích cực 210Pb
của lõi mẫu SO187-3-92 và SO187-3-104
Biến thiên hàm lượng 137Cs theo độ sâu mẫu
Sơ đồ phẩn ánh tốc độ tích tụ trầm tích vùng biển ven
bờ châu thổ Cửu Long và thềm kế cận
Vị trí các lõi mẫu ven bờ biển bán đảo Cà Mau
Sơ đồ phân vùng các mảng vỏ thạch quyển khu vực
Đông Nam Á
Mô hình kiến tạo xô húc và vai trò của nó trong việc
hình thành tách giãn, tạo nên vỏ đại dương Biển Đông
trong Kainozoi
Bản đồ địa chất và các đứt gãy kiến tạo khu vực Đông
Dương và phụ cận, thể hiệu rõ hai trũng tách giãn đuôi
ngựa Vịnh Bắc Bộ và Cửu Long
Các mặt cắt cấu trúc đi qua các địa khối ngoài khơi
Ninh Thuận (A); Nâng Tư Chính (B) và khối
Luconia(C)
Bản đồ dị thường trọng lực vệ tinh khu vực đồng bằng
Nam Bộ và phụ cận
Hệ thống các đứt gãy chính đóng vai trò các đới trượt
bằng, làm cho quá trình trôi trượt về phía ĐN của địa
khối Sundaland trong giai đoạn Oligocen-Miocen được
dễ dàng
Các biểu hiện trượt bằng của đứt gãy phương TB-ĐN

Sông Hậu: (A, B, C). Nén TTB-ĐĐN tại Núi Sam
(Châu Đốc); D. Nén á kinh tuyến tại chùa Phước
Điền(phía tây Núi Sam)
Biểu hiện của đới đứt gãy Sông Hậu trong các thành
tạo granit Núi Sam (Châu Đốc, An Giang)
Biểu hiện các của đới đứt gãy Sông Hậu tại khối núi
granit Thoại Sơn, phía tây Long Xuyên (An Giang)
Sạt lở có hệ thống dọc đường quốc lộ từ Long Xuyên
đi Châu Đốc, trên đoạn dài An Châu-Bình Hoà-Bình
Thành.
Hệ thống phá hủy kiến tạo phương ĐB-TN Đảo Hòn
khoai
Trũng Cửu Long và khối nâng Côn Sơn
Bản đồ cấu trúc kiến tạo vùng đồng bằng Sông Cửu
Long và phụ cận
Mặt cắt địa chất Núi Sam –Tây Ninh, ngang qua đồng

125
126
126
127
127
140
141

142

143

143

144

144

145
146
146

147
148
149
149


133

Hình 6.14b

134

Hình 7.1

135

Hình 7.2

136

Hình 7.3


137

Hình 7.3a
Hình 7.3b

138

141

Hình 7.4
Hình 7.5
Hình 7.6

142

Hình 7.7

143

Hình 7.8

144

Hình 7.9

145

Hình 7.10

146


Hình 7.12
Hình 7.13

139
140

147
148
149
150
151

Hình 7.14
Hình 7.15a
Hình 7.15b
Hình 7.16

bằng sông Cửu Long
Mặt cắt địa chất Cà Mau - Cần Giờ, ngang qua đồng
bằng sông Cửu Long

Các thời kỳ băng hà trong mối tương quan với các
chuyển động của quỹ đạo trái đất, dao động và chuyển
động của trục quay trái đất theo chu kỳ dài
Dao động mực biển theo đồng vị oxy biển được xác
định trên các hóa thạch foraminifera trong năm lõi mẫu
khoan biển sâu
Đường cong mực biển cho thềm Sunda được thiết lập
từ các tướng trầm tích ven bờ

Đường cong dao động mực nước biển
Biến đổi đường cong mực biển trong Holocen ở vùng
cận, rìa băng hà, vùng chuyển tiếp và vùng xa
Quan hệ mực biển và cân bằng đẳng tĩnh
Sơ đồ đường cong mực nước biển trong Holocene
Đường cong mực biển xây dựng bằng các hàm đa thức
tương quan hồi quy bậc bẩy và bậc chín cho các số liệu
trong nằm trong vùng C
Đường cong mực nước biển trong Holocen cho khu
vực Nam Trung Bộ
Vết khắc chữ U ghi lại dấu ấn mực biển cổ cao 2.5m so
với mực nước biển hiện tại khu vực núi Bà Tài
Ngấn trên vách núi đá vôi ghi lại dấu ấn mực biển cổ
cao hơn mực nước biển hiện đại 2.5 m và 4.5 m khu
vực núi Bà Tài
Ngấn trên vách núi đá vôi ghi lại mực biển cổ cao hơn
mực nước biển hiện đại 2.5 m và 4.5 m khu vực núi
Hang Cá Sấu
Mô hình lý tưởng về hiệu ứng nhà kính tự nhiên
Xu hướng biến đổi nhiệt độ trái đất tại một số nơi trên
thế giới theo các tác giả khác nhau
Biến đổi mực nước biển theo thời gian
Xu hướng thay đổi mực nước biển tuyến tính theo chu
kỳ dài
Xu hướng biến đổi của mực mực biển theo chu kỳ ngắn
Bản đồ dự báo khả năng ngập lụt của đồng bằng SCL
trong tương lai (nguồn Internet).

150


163

163

164
164
165
165
166
166

167
167
168

168

169
169
170
171
171
171


MỤC LỤC
Mục lục
Mở đầu
Chương 1: Tình hình nghiên cứu về đồng bằng Sông Cửu Long và vùng thềm
lục địa kế cận trong Holocen - Hiện đại………………………………………….

1.1 Giai đoạn trước năm 1975……………………………………………….....
1.2. Giai đoạn sau 1975……………………………………………………….....
Chương 2: Phương Pháp Nghiên Cứu…………………………………………...
2.1.Nhóm phương pháp địa mạo-cổ địa lý, viễn thám……………………………
2.2. Nhóm phương pháp trầm tích ........................................................................
2.3 .Nhóm phương pháp phân tích cấu trúc, kiến tạo, địa động lực.......................
2.4.Nhóm phương pháp địa vật lý..........................................................................
2.5.Nhóm phương pháp thủy động lực...................................................................
Chương 3: Đặc điểm địa mạo đồng bằng sông Cửu Long và thềm lục địa kế
cận………………………………………………………………………………
3.1. Nhóm địa mạo châu thổ……………………………………………………
3.1.1. Phức hệ đồng lụt…………………………………………………………
3.1.2. Phức hệ lòng sông………………………………………………………..
3.1.3. Phức hệ ven biển…………………………………………………………..
3.2. Đơn vị địa mạo châu thổ ngầm………………………………………………
3.3. Thềm lục địa………………………………………………………………..
3.3.1. Đới bờ ngầm……………………………………………………………….
3.3.2. Vùng thềm trong (inner shelf) ……………………………………………
3.3.3. Vùng thềm giữa (middle shelf)……………………………………………
3.4. Sự biến đổi đường bờ cổ trong Holocen………………………………….....
Chương 4: Đặc điểm hình thái động lực khu vực ven biển đồng bằng Sông Cửu
Long và thềm lục địa kế cận……………………………………………… ……
4.1. Sóng………………………………………………………………………..
4.2. Thủy triều…………………………………………………………………..
4.2.1.Chế độ, biên độ thuỷ triều…………………………………………………
4.2.2. Dòng thủy triều……………………………………………………………
4.3. Dòng chảy bề mặt…………………………………………………………..
4.4. Dòng chảy đáy………………………………………………………………
4.5. Một số đặc trưng nhiệt muối và phân bố vật liệu lơ lửng………………......
4.6. Một số nhận định……………………………………………………………

Chương 5: Đặc điểm trầm tích, vận chuyển, lắng đọng và phân bố trầm tích
khu vực ven biển đồng bằng Sông Cửu Long và thềm lục địa kế cận trong giai
đoạn Pleistocen muộn - Holocen – Hiện đại…………………………………......
5.1. Đặc điểm địa chấn địa tầng và mô hình phân tập địa tầng giai đoạn
1

Trang
1
3
8
8
9
16
16
19
26
28
30
36
36
36
37
38
39
40
40
40
42
42
50

51
55
55
55
56
56
57
57

68


Pleistocen muộn-Holocene……………………………………………………….
5.1.1. Đặc điểm địa chấn địa tầng………………………………………………..
5.1.2. Mô hình địa tầng phân tập giai đoạn Pleistocen muộn-Holocen……….....
5.2. Đặc điểm trầm tích bề mặt vùng thềm kế cận đồng bằng Sông Cửu Long….
5.3. Đặc điểm trầm tích vùng ven biển đồng bằng Sông Cửu Long……………..
5.3.1. Biến đổi trầm tích theo tuyến vuông góc với bờ biển…………………......
5.3.2. Quy luật phân bố…………………………………………………………..
5.4. Xu thế vận chuyển tích tụ trầm tích vùng Ven Biển Đồng bằng sông Cửu
Long và thềm lục địa kế cận………………………………………………….....
5.5. Một số nét tiến hóa cổ địa lý Holocen muộn-hiện đại vùng ven biển bán
đảo Cà Mau………………………………………………………………………
Chương 6: Đặc điểm kiến tạo - địa động lực khu vực ven biển đồng bằng Sông
Cửu Long và thềm lục địa kế cận trong giai đoạn Holocen – Hiện đại………….
6.1. Kiến tạo khu vực………………………………………………….................
6.1.1. Nền móng Mesozoi………………………………………………………..
6.1.2. Kiến tạo Kainozoi………………………………………………………….
6.2. Vị trí của đồng bằng sông Cửu Long trong bình đồ kiến tạo-địa động lực
khu vực…………………………………………………………………………...

6.2.1. Đứt gãy Maeping-Sông Hậu……………………………………………….
6.2.2. Đứt gãy Vũng Tàu-Tông Le Sáp………………………………………......
6.2.3. Hệ thống đứt gãy phương ĐB-TN Thuận Hải-Minh Hải.............................
6.2.4. Trũng Cửu Long…………………………………………………...............
6.3. Đặc điểm hoạt động Tân kiến tạo - địa động lực hiện đại khu vực đồng
bằng Sông Cửu Long và thềm lục địa kế cận trong giai đoạn Holocen-Hiện đại.
6.4. Vai trò và ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo đến sự phát triển của đồng
bằng châu thổ sông Cửu Long trong giai đoạn hiện tại và tương lai…………….
Chương 7: Dao động của mực nước biển chu kỳ dài và ảnh hưởng của sự gia
tăng mực nước đại dương đến sự tồn tại và phát triển của đồng bằng châu thổ
Sông Cửu Long và kế cận………………………………………………………
7.1 Sơ lược về các thời kỳ băng hà và dao động mực nước biển trong Đệ tứ….
7.2 Dao động mực biển trong Holocen…………………………………………
7.3 Xu thế của mực nước biển hiện đại………………………………………...
7.4 Xu thế phát triển của đồng bằng châu thổ Sông Cửu Long trong tương lai.
Kết luận………………………………………………………………………...
Kiến nghị………………………………………………………………………...
Tài liệu tham khảo………………………………………………………….....

2

68
68
69
70
74
75
82
84
89

128
128
128
129
131
132
134
135
135
136
138

151
151
155
159
161
172
174
175


MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh mực nước đại dương Thế giới không ngừng thay đổi các đồng
bằng châu thổ là những khu vực đặc biệt nhạy cảm và có những biến đổi sâu sắc. Việt
Nam được đánh giá là một trong 5 nước trên Thế giới bị thiệt hại nặng nề nhất từ quá
trình này. Những vùng thấp của các đồng bằng châu thổ ven biển là những khu vực có
nguy cơ bị nước biển xâm lấn. Đồng bằng Sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của cả
nước, sản lượng lúa hàng năm từ 19-21 triệu tấn (riêng năm đạt 2009 đạt 20,7 triệu
tấn) trong tổng sản lượng lúa 33-34 triệu tấn/năm của Việt Nam (Website Chính phủ,

28/07/2009). Tuy nhiên nếu mực nước gia tăng, thì một bộ phận lớn đồng bằng sông
Cửu Long, sẽ bị nhấn chìm trong làn nước biển.
Mực nước biển hiện nay gia tăng khá nhanh. Nếu như trong khoảng 2000 năm
trở lại đến đầu thế kỷ XX mực nước đại dương trên Thế giới hầu như không thay đổi,
thì trong thế kỷ XX mực nước biển lúc đầu có dấu hiệu tăng, càng về cuối mực nước
càng tăng nhanh, với gia tốc đáng lo ngại. Có dự báo cho rằng với đà này, cuối thế kỷ
XXI mực nước đại dương trên Thế giới sẽ dâng lên khoảng 1 mét. Đó thực sự là một
thảm họa đối với Việt Nam.
Điều thực sự đáng lo ngại là sự gia tăng mực nước đại dương kết hợp với các tai
biến khác do sự biến đổi khí hậu toàn cầu gây nên, sẽ gia tăng mạnh mẽ các hiệu ứng
tương tác lục địa-đại dương, nhiều khi ngoài mọi sự tính toán của con người.
Vì vậy các nghiên cứu để tìm hiểu về lịch sử dao động mực nước biển, lịch sử
phát triển của các đồng bằng châu thổ và thềm lục địa kế cận trong quan hệ với dao
động mực nước biển thời kỳ Holocen và xu thế biến đổi trong tương lai là một việc
làm hết sức cần thiết, mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao.
Trong khuôn khổ Nghị định ký kết giữa Bộ KHCN Việt Nam và quỹ nghiên
cứu khoa học DFG của CHLB Đức, một trong những vấn đề hợp tác đầu tiên được đặt
ra là nghiên cứu “Tiến hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ
vật liệu lục nguyên (phù sa) trong Holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ
Mêkông và Nha Trang, Đông Nam – Việt Nam” (“Holocene Coastal Evolution, SeaLevel Fluctuations, Terrigenous Sedimentation and Sediment Dynamics on the
Continental Shelf between the Mekong Delta and Nha Trang, SE-Vietnam”). Phía Đức
do Viện Địa chất-ĐH TH Kiel chủ trì, phía Việt Nam do Viện Địa chất và Địa vật lý
Biển đảm nhiệm.
Các nhà khoa học của Viện Địa chất, trường ĐH TH Kiel, đi tiên phong trong
nhiều lĩnh vực nghiên cứu biển nói chung và đới ven bờ nói riêng. Dưới sự chỉ đạo của
GS Karl Stattegger, vấn đề nghiên cứu về tiến hoá thềm lục địa, sự phát triển của châu
thổ, dao động mực nước biển, các quá trình tương tác lục địa đại dương đã và đang
được triển khai mạnh mẽ. Các kết quả nghiên cứu của Viện Địa chất, trường ĐH TH
Kiel được đánh giá cao và được ứng dụng trong thực tiễn.


3


Từ những năm 1990 các chuyến khảo sát của tàu SONNE trên vùng Biển Đông
Việt Nam đã được thực hiện với sự chỉ đạo khoa học của GS Karl Stattegger. Một
trong những mục tiêu cơ bản của các chuyến khảo sát là nghiên cứu vùng thềm rộng
lớn Sundaland, từng là nơi cư trú của các cư dân của nền văn minh thời kì băng hà,
nhằm làm sáng tỏ đặc điểm tiến hoá của vùng lục địa bị ngập chìm này, trên cơ sở đó
đưa ra những dự báo khoa học cho xu hướng phát triển của nó trong tương lai. Nhiều
kết quả nghiên cứu đã được công bố dưới dạng các luận án thạc sĩ, tiến sĩ, các báo cáo
khảo sát, các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành.
Giai đoạn 2006-2009 Viện Địa chất-ĐH TH Kiel và Viện Địa chất và Địa vật lý
Biển (Viện KHCN VN) tiếp tục triển khai nghiên cứu, lấy đồng bằng Sông Cửu Long
và thềm lục địa kế cận làm trọng tâm nghiên cứu. Đặc biệt giai đoạn này các nhà khoa
học cả hai phía xác định cho mình nhiệm vụ chính là nghiên cứu sự tiến hóa của châu
thổ Cửu Long trong giai đoạn Holocen muộn và Hiện đại.
Hai bên đã tổ chức được nhiều đợt khảo sát hỗn hợp dài ngày trên biển. Mở đầu
là chuyến khảo sát bằng tàu SONNE năm 2006, trong đó pha 3 (SONNE 187-3)
chuyên về khảo sát địa chất phục vụ cho tiểu dự án của hai viện. Liên tiếp các năm sau
đó 2007, 2008, 2009 các chuyến khảo sát hỗn hợp được thực hiện, với sự tham gia
đông đảo của các nhà khoa học từ hai phía Việt Nam và Đức. Thông qua các chuyến
khảo sát đó chúng ta đã đo được hàng ngàn km tuyến đo địa vật lý, môi trường, địa
hình. Đồng thời cũng đã thu thập được hàng trăm mẫu địa chất các loại. Các tài liệu
thu thập được có chất lượng rất cao, phục vụ tốt mục đích nghiên cứu của đề tài.
Trong quá trình thực hiện đề tài hai bên luôn trao đổi kết quả, tổ chức hội thảo để
kịp thời thông báo cho nhau những kết quả đạt được và những tồn tại cần giải quyết.
Thông qua Hội thảo khoa học tổng kết tháng 11-2009 tại Nha Trang chúng tôi tự đánh
giá tiểu đề án của chúng tôi (dự án số 4) là một trong các đề án có kết quả tốt nhất.
Báo cáo dưới đây phản ánh những kết quả đã đạt được trong khuôn khổ Nhiệm
vụ viện Địa chất và Địa vật lý Biển ký với Bộ KHCN, hợp đồng số: 41/2008/HĐNĐT, có hiệu lực từ ngày 10/3/2008, dưới tiêu đề “ Nghiên cứu tiến hoá đới ven biển

đồng bằng Sông Cửu Long và vùng thềm lục địa kế cận trong Holocen-Hiện đại phục
vụ phát triển bền vững” ( giai đoạn 2008-2009).
Khu vực nghiên cứu của nhiệm vụ nằm trong khoảng tọa độ: 8.00 – 11.00 độ vĩ
bắc và 104.00 – 108.50 độ kinh đông.
Mục tiêu của nhiệm vụ là:
1. Làm sáng tỏ lịch sử tiến hoá đới ven biển vùng đồng bắng Sông Cửu Long.
2. Làm sáng tỏ các quá trình tương tác lục địa-đại dương, quá trình vận chuyển,
lắng đọng phù sa và sự phát triển của châu thổ Sông Cửu Long về phía biển,
đặc biệt khu vực bán đảo Cà Mau.

4


3. Đánh giá vai trò và ảnh hưởng của sự gia tăng mực nước đại dương thế giới
đến sự tồn tại và phát triển của đồng bằng châu thổ Sông Cửu Long và thềm
kế cận.
4. Nâng cao tiềm lực khoa học cơ quan, năng lực cán bộ và tiếp cận các phương
pháp nghiên cứu biển tiên tiến trên thế giới thông qua hợp tác quốc tế, nhằm
giúp công tác nghiên cứu biển của Việt Nam sớm vươn lên ngang tầm khu
vực và Thế giới.
Các sản phẩm chính của đề tài gồm:
1. Bộ cơ sở dữ liệu về địa chất, địa mạo, trầm tích, kiến tạo, động lực, môi
trường khu vực nghiên cứu
2. Bản đồ địa mạo đới ven biển và thềm lục địa kế cận vùng đồng bằng châu thổ
Sông Cửu Long. Tỷ lệ 1: 500 000.
3. Bản đồ tiến hoá đường bờ trong Holocen đới ven biển và thềm lục địa kế cận
vùng đồng bằng châu thổ Sông Cửu Long. Tỷ lệ 1: 500 000.
4. Bản đồ phân bố trầm tích khu vực cửa sông ven biển châu thổ Sông Cửu Long
và thềm lục địa kế cận. Tỷ lệ 1: 500 000.
5. Bản đồ Kiến tạo-địa động lực giai đoạn Holocen – Hiện đại khu vực ven biển

đồng bằng Sông Cửu Long và thềm lục địa kế cận.Tỷ lệ 1: 500 000.
6. Bản đồ hình thái động lực khu vực ven biển đồng bằng Sông Cửu Long và
thềm lục địa kế cận. Tỷ lệ 1: 1 000 000.
7. Sơ đồ hướng di chuyển trầm tích đáy của khu vực ven biển đồng bằng Sông
Cửu Long và thềm lục địa kế cận giai đoạn Hiện đại. Tỷ lệ 1: 1 000 000.
8. Các kết quả khoa học khác :
- Các báo cáo chuyên đề .
- 4 bài báo khoa học.
- Các báo cáo Hội nghị khoa học.
- Đào tạo 01 thạc sĩ và 01 tiến sĩ.
9. Báo cáo tổng hợp
Đề tài đã huy động được một lực lượng đông đảo cán bộ trong và ngoài viện
tham gia thực hiện. Đã thực hiện 30 nghiên cứu chuyên đề.
Đã tiến hành được hai đợt khảo sát dài ngày trên biển, với sự phối hợp của các
nhà khoa học từ các trường đại học của Đức, Ba Lan.
Riêng trong giai đoạn 2008-2010 đã đào tạo được 01 thạc sỹ (Nguyễn Trung
Thành) và luận án TS của Bùi Việt Dũng sẽ được bảo vệ trong tháng 6-2010.
Các kết quả của đề tài đã được trình bày trong 10 bài báo, đăng tải ở các tạp chí
trong và ngoài nước, các tuyển tập Hội nghị khoa học, như sau:

5


1.

Bùi Việt Dũng, Kart Stattegger, Phùng Văn Phách. Late pleistocene – Holocene
seimic stratigraphy on the South East Vietnam shelf. Trong “ Địa chất biển Việt
Nam và phát triển bền vững”. TT BC KH Hội nghị KH Địa chất biển toàn quốc
lần thứ nhất. Hạ Long 9-10/10/2008. Tr. 172-180.
2. Nguyễn Tiến Hải, Nguyễn Huy Phúc. Đặc điểm và phân bố các tướng trầm tích

cuối Pleistocen muộn – Holocen ở thềm lục địa Vũng Tàu – Bình Thuận. Trong “
Địa chất biển Việt Nam và phát triển bền vững”. TT BC KH Hội nghị KH Địa
chất biển toàn quốc lần thứ nhất. Hạ Long 9-10/10/2008. Tr. 222-229.
3. Nguyễn Tiến Hải, Phùng Văn Phách, K. Stattegger. Xác định cấu trúc hình thái
của châu thổ Sông Cửu Long trên thềm lục địa ven bờ Cà Mau trên cơ sở tài liệu
địa chấn nông phân giải cao. 2009, tạp chí Các Khoa học về Trái đất. Số 4
(T31)/2009. Tr.356-362.
4. Nguyễn Trung Thành, Bùi Việt Dũng, Phùng Văn Phách., 2009. Một số đặc điểm
độ hạt và xu thế tích tụ trầm tích trên phần châu thổ ngầm của châu thổ sông
Mekong. Các công trình nghiên cứu Địa chất và Địa vật lý biển, tập X, 129-141.
5. Nguyễn Trung Thành. 2009. Surface sediment characteristics and sediment
transport from Bassac River mouths to Ca Mau Peninsula (Mekong Delta). M.Sc.
Thesis. Supervisor(s) Prof. Dr. K. Stattegger.Coastal Research Laboratory,
Institute of Geosciences Christian Albrechts University, Kiel, Germany.
6. Phùng Văn Phách, Nguyễn Thế Tiệp, Đỗ Chiến Thắng, Ngô Văn Quảng, Nguyễn
Hữu Cường và Đinh Tiến Dũng, 2009. Bàn về cấu trúc kiến tạo khu vực biển
Nam Trung Bộ. Tuyển tập các công trình địa chất và địa vật lý biển, tập X. Tr.2233. NXB KHTN Và CN.
7. Rik Tjallingii, Karl Stattegger, Andreas Wetzel, and Phung Van Phach, 2010.
Infilling and flooding of the Mekong River incised-valley system during
deglacial sea-level rise. Quaternary Science reviews ( in press, có trên mạng).
8. Stattegger K. Holocene evolution and actual geologic proccess in the Coastal
Zone of South Viêt Nam. Trong “ Địa chất biển Việt Nam và phát triển bền
vững”. TT BC KH Hội nghị KH Địa chất biển toàn quốc lần thứ nhất. Hạ Long
9-10/10/2008. Tr. 42-54.
9. Stattegger K., Tjallingii R., Phùng Văn Phách, A. Wetzel, K. Schwarzer.
Mekong Delta and adjacent areas Holocene sea-level history of SE Asia and its
global implications. Special Issue of Global and Planetary Change: “LandOcean-Atmosphere interaction in the coastal zone of South Vietnam” (Số đặc biệt
xuất bản trong năm 2010).
10. Viet Dung Bui, Schimanski Alex, Stattegger Karl, Van Phach Phung, The Tiep
Nguyen, Tien Hai Nguyen, Trung Thanh Nguyen, Truong Thanh Phi (2008) (in

press). Sandwaves on the Southeast Vietnam shelf recorded by high resolution
seismic profiles: formation and mechanism. Frontier of Earth Sciences in China.
Đề tài đã giải quyết được một loạt các vấn đề đặt ra trong đề cương và hợp đồng
với Bộ KHCN, về các lĩnh vực trầm tích, kiến tạo, địa mạo, môi trường, hình thái động
lực, sự gia tăng mực nước biển…Trên cơ sở các tài liệu phong phú về kết quả phân
tích mẫu trầm tích, tài liệu đo địa chấn nông phân giải cao, các đo đạc địa chất, môi
trường chi tiết, với các phương pháp, phần mềm xử lý hiện đại, đã giúp tổng hợp được
nhiều sản phẩm mới có chất lượng cao ngang tầm quốc tế. Điều đó cho phép chúng ta
6


có được một sự hiệu biết toàn diện và sâu sắc hơn về sự phát triển của đồng bằng châu
thổ Sông Cửu Long và thềm lục địa kế cận trong giai đoạn Pleistocen muộn-Holocen.
Từ đó có được những dự báo khoa học về tương lai của nó trong bối cảnh thay đổi khí
hậu toàn cầu.
Dưới đây là báo cáo tóm tắt những nét chính về kết quả đã đạt được của nhiệm
vụ.

Hình 0.1: Khu vực nghiên cứu của Nhiệm vụ

7


CHƯƠNG 1
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ VÙNG
THỀM LỤC ĐỊA KẾ CẬN TRONG HOLOCEN – HIỆN ĐẠI
Đồng bằng châu thổ là một đơn vị địa lý đặc biệt, được hình thành ở các cửa
sông lớn ven biển, với đường bờ cong lồi và phát triển ra phía biển, nhờ lượng phù sa
lớn của sông bồi đắp nên. Các con sông của Châu Á và châu Đại Dương cung cấp tới
70-80% lượng phù sa của Trái Đất (Saito Y., 2005) [86].

Mặc dù xét về lưu lượng nước và lượng phù sa hàng năm sông Mê Công chỉ xếp
thứ 10 trong các con sông lớn trên Thế Giới (tương đương 14 x103 m3/s và 160 (120)
x 106 tấn/năm ), còn về lưu vực chỉ đứng thứ 24 (160 x x103 km2), song diện tích của
đồng bằng châu thổ sông Mê Công thì xếp vào hàng thứ 3 trên Thế Giới (93 781 km2)
, chỉ kém đồng bằng sông Amazon (467 078 km2) và đồng bằng Sông Hằng–
Brahmaputra (105 641 km2) (Liu Paul , 2005) [51].
Lịch sử nghiên cứu đồng bằng châu thổ SCL đã được bắt đầu từ những năm Pháp
thuộc và có thể chia thành các giai đoạn sau:
1.1. Giai đoạn trước năm 1975
Giai đoạn này một số nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài,
như Saurin (1935, 1962, 1967) ; Donbrush W.K., May JR, Kowey WP về đặc điểm
trầm tích (1969); Fontaine H. và Delibrias về mực nước trong Đệ Tứ (1974), Hồ Mạnh
Trung về cấu trúc-kiến tạo của đồng bằng SCL(1969), Trần Kim Thạch (1973).
Đáng lưu ý nhất là công trình của Saurin E. (1935). Ông là người đưa ra khái
niệm “phù sa (aluvi) cổ” và “phù sa trẻ” để phân biệt các trầm tích Kainozoi lộ ra ở
phần đông nam Đông Dương. Saurin cho rằng chúng thuộc hai phân vị địa tầng
Pleistocene ( QI-III ) và Holocene ( QIV ). Đồng thời ông cũng cho rằng chúng tương
ứng với hai mức địa hình 50-70 m và 10-25 m. Trong phù sa cổ có nhiều loại laterite
và thường gặp tectit trên mức địa hình 50-70 m. Vào năm 1957 Saurin E. công bố
thêm kết quả nghiên cứu các thành tạo trẻ dọc ven biển, với sự phân chia thêm ra các
bậc thềm: 4 m, 10-15 m. Ông còn cho rằng phù sa trẻ phần lớn thành tạo sau phun trào
bazan.
Năm 1962 trong bài “móng (stratum) của Sài Gòn và thành hệ châu thổ SCL”
Saurin E. đã phác họa lịch sử và cơ chế kiến tạo đồng bằng Nam Bộ. Các nhận xét
ngắn gọn về chế độ kiến tạo của ông chứa đựng một nội dung khá quan trọng: châu thổ
SCL được cấu thành trên một bồn Mesozoi bị sụt lún vào Đệ Tam, trong kỷ Đệ tứ bồn
trũng này chịu tác động của những dao động mực nước biển.
Năm 1972 trong công trình nghiên cứu về địa chất Đệ tứ Cambodia, Carbonnel,
J.P. đã đề cập các bậc thềm của sông Mê Công cao 100m (bị bazan phủ), 40m và
20m. Thềm cao 100m được so sánh với bề mặt laterit bị bazan phủ ở Túc Trưng- Đồng

8


Nai và bậc thềm 40m ở Nha Bích- Sông Bé. Ông giải thích sự chênh cao của bậc thềm
này là do vận động tân kiến tạo. Tầng cuội kết cấu tạo thềm 100m được xác định tuổi
cổ hơn 650 000 năm trên cơ sở đối sánh bazan ở Cambodia với bazan chứa ziarcon ở
vùng Xuân Lộc - Đồng Nai.
Về kiến tạo Carbonnel J.P. ghi nhận đứt gãy sông Vàm Cỏ Đông (hướng Tây Bắc
- Đông Nam) là ranh giới phân chia delta Mê Công và delta Đồng Nai. Các nghiên cứu
của Saurin (1962-1969) cũng đã chỉ ra rằng dòng chảy Sông Hậu (Bassac) có dạng
tuyến và khá ổn định trong ít nhất là 2000 năm nay. Điều đó cho thấy nó trùng với một
đứt gãy trẻ đang hoạt động. Dựa trên bản đồ từ hàng không do hải quân Mỹ thực hiện
(1967) Busum W., Kind E.G. và Hồ Mạnh Trung đã xây dựng sơ đồ kiến tạo và cấu
trúc móng (1969). Trên đó có thể hiện các bồn trũng Cần Thơ, Cà Mau. Các đới nâng
Sóc Trăng, Hòn Khoai-Hòn Tre, Rạch Giá-Long Xuyên.
Trong giai đoạn này còn có một số công trình của các nhà địa chất Việt Nam như
các nghiên cứu về trầm tích ở lưu vực sông Đồng Nai của Trần Kim Thạch (1970), về
kiến tạo của Trần Kim Thạch, Đinh Thị Kim Phụng (1972). Liên quan đến việc đo vẽ
bản đồ địa chất ĐBNB có công trình “Bản đồ địa chất 1:25 000 các tờ Phú Cường,
Biên Hoà, Thủ Đức, Sài Gòn và Nhà Bè …” của Fontaine, H. và Hoàng Thị Thân
(1971), trong các công trình này các tác giả có đề cập đến hai thành tạo phù sa cổ và
trẻ tương tự như cách phân chia của Saurin E. Phù sa cổ chia làm nhiều lớp, phần trên
bao gồm các lớp từ trên xuống như sau:
- Lớp đất phủ
- Vỏ cứng laterit Biên Hoà
- Lớp lót dưới laterit và ranh giới laterit không rõ ràng.
- Những lớp khác nữa sâu hơn không quan sát được.
Nhìn chung đây là bản đồ thể hiện các quan hệ địa tầng một cách sơ lược. Cũng
có thể nhận xét đây là một bản đồ địa chất về nội dung cũng như phương pháp trình
bày mang tính kế thừa khá rõ các nghiên cứu của Saurin, E.

1.2. Giai đoạn sau 1975
Sau ngày thống nhất một loạt các nghiên cứu về địa chất nói chung và địa chất Đệ
Tứ nói riêng đã được thực hiện tại ĐB SCL. Các cơ quan chính tiến hành nghiên cứu
là Liên đoàn địa chất Miền Nam , Khoa địa chất Trường Đại học KHTN Tp HCM,
Trung tâm địa học-Viện KHVN, Phân viện địa lý Tp HCM… Các nghiên cứu về động
lực cửa sông, môi trường trầm tích được Viện hải dương học-Viện KHCNVN thực
hiện. Một số luận án Thạc sỹ, Tiến sỹ về các mảng nhiệm vụ địa học khác nhau cũng
được thực hiện. Nguyễn Thị Ngọc Lan (LA Tiến sỹ 1995), Hà Quang Hải (LA Tiến sỹ,
1996) , Đinh Văn Thuận (LA Tiến sỹ, 2004).

9


Trong giai đoạn này, có nhiều công trình đo vẽ lập bản đồ địa chất và tìm kiếm
khoáng sản ở các tỷ lệ khác nhau. Tiêu biểu là bản đồ địa chất - khoáng sản, tỷ lệ
1/500.000 Miền Nam do Nguyễn Xuân Bao, Trần Đức Lương chủ biên (1981); bản đồ
địa chất - khoáng sản nhóm tờ ĐBNB tỷ lệ 1/200.000 do Nguyễn Ngọc Hoa chủ biên
(1990-1991), loạt bản đồ địa chất - khoáng sản tỷ lệ 1/200.000 (hiệu đính) trong đó có
diện tích vùng ĐBNB do Nguyễn Xuân Bao chủ biên (1994).
Các bản đồ địa chất - khoáng sản tỷ lệ lớn (1/50.000) gồm: Bản đồ địa chất khoáng sản thành phố Hồ Chí Minh do Hà Quang Hải và Ma Công Cọ chủ biên
(1988), nhóm tờ đông thành phố Hồ Chí Minh do Ma Công Cọ chủ biên (1994), nhóm
tờ Hà Tiên - Phú Quốc do Trương Công Đượng chủ biên (1998). Đặc biệt, phần TNB
(từ sông Tiền về phía tây và các đảo) có đề tài nghiên cứu “Địa tầng Phanerozoi Tây
Nam Bộ” do Trịnh Dánh chủ biên (1998), trong đó có khối lượng đáng kể nghiên cứu
các trầm tích Kainozoi. Các đề tài nghiên cứu về trầm tích Đệ tứ trên phạm vi cả nước
đã đề cập đến một số vấn đề địa tầng các trầm tích Đệ tứ trên diện tích ĐBNB. Tiêu
biểu là các công trình “ Cổ địa lý các đồng bằng ven biển Việt Nam trong kỷ Đệ tứ ”
đề tài cấp Bộ Nguyễn Địch Dỹ và Nguyễn Trọng Yêm làm chủ nhiệm, 1986. “ Bản đồ
địa chất Đệ tứ Việt Nam ”, tỷ lệ 1/500.000 ( Nguyễn Đức Tâm và Đỗ Tuyết đồng chủ
biên, 1994 ), “ Địa chất Đệ tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan ” (đề tài KT

01-07, Nguyễn Địch Dỹ chủ nhiệm, 1996), “Bản đồ vỏ phong hóa và trầm tích Đệ tứ
Việt Nam”, tỷ lệ 1/1.000.000 (Ngô Quang Toàn chủ biên, 2000)….
Trong các công trình kể trên, về địa tầng Đệ tứ các tác giả chủ yếu đã sử dụng
nguyên tắc tuổi và nguồn gốc để phân chia các phân vị. Các nhà địa chất đã thành lập
các hệ tầng có tuổi với các nguồn gốc khác nhau hoặc cùng tuổi cho một kiểu nguồn
gốc. Đối với vùng nghiên cứu có diện tích lớn và đặc biệt trong trầm tích Holocen
cách phân chia thứ nhất chi tiết hơn và hợp lý hơn vì trong cùng một hệ tầng có thể có
các nguồn gốc khác nhau.
Việc phân chia chi tiết các phân vị địa tầng làm cơ sở để liên kết các mặt cắt dọc
theo các tuyến khoan sâu. Hàng loạt các hệ tầng được thành lập như Hệ tầng Bà Miêu,
Cần Thơ, Bình Minh, Cà Mau, Đất Quốc, Long Toàn, Thủ Đức, Củ Chi, Hậu Giang,
Cần Giờ.... Gần đây nhất, trong Đề án “Phân chia địa tầng N-Q và nghiên cứu cấu trúc
địa chất đồng bằng Nam Bộ” Nguyễn Huy Dũng và các đồng nghiệp (2004) đã xây
dựng một thang địa tầng Đệ tứ sử dụng phân vị “bậc khu vực”, theo đó địa tầng Đệ tứ
được các tác giả chia thành 5 bậc sau:
- Bậc Cà Mau tuổi Pleistocen sớm.
- Bậc Long Toàn tuổi Pleistocen giữa- muộn.
- Bậc Mộc Hoá tuổi Pleistocen muộn.
- Bậc Hậu Giang tuổi Holocen sớm - giữa.
- Bậc Cần Giờ tuổi Holocen giữa - muộn.
10


Đồng thời việc nghiên cứu cấu trúc của ĐBNB đã được chú ý đúng mức, trong
các đề án đo vẽ, lập bản đồ địa chất-khoáng sản, có bản đồ kiến tạo, sơ đồ khối, sơ đồ
cổ địa lý... được thành lập ở các tỷ lệ khác nhau. Nhìn chung, trong giai đoạn này,
công tác nghiên cứu, phân chia, liên kết địa tầng và nghiên cứu cấu trúc trầm tích N-Q
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Bước đầu đã xác lập được trật tự địa tầng trầm
tích N-Q và có sự nhìn nhận sơ bộ cấu trúc của ĐBNB. Đến nay, vùng ĐBNB đã được
đo vẽ lập bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản trên toàn diện tích (53.400 km2) ở tỷ

lệ 1/500.000 và 1/200.000 (1980-1991). Trong đó, có 12.047 km2 diện tích đã được đo
vẽ ở tỷ lệ 1/50.000 (thành phố Hồ Chí Minh, nhóm tờ đông thành phố Hồ Chí Minh,
nhóm tờ Hà Tiên-Phú Quốc, nhóm tờ Lộc Ninh và Đồng Xoài). Các diện tích đã
thành lập bản đồ địa chất đô thị (gồm 17 đô thị) với tổng diện tích là 1.628 km2 , tỷ lệ
1/25.000. Phần còn lại chưa đo vẽ ở tỷ lệ lớn (từ 1/50.000 đến 1/25.000) tập trung chủ
yếu ở phần trung tâm của đồng bằng, thuộc phạm vi các tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền
Giang, Cần Thơ,... với tổng diện tích ≈ 40.000 km2.
Về ranh giới giữa Neogen và Đệ tứ ở ĐBNB, từ trước đến nay các nhà địa chất
đã thành lập nhiều phân vị địa tầng có tuổi Pleistocen sớm. Tại vùng ĐNB, Nguyễn
Ngọc Hoa (1990) đã thành lập hệ tầng Đất Cuốc tuổi Pleistocen sớm phần muộn
(aQ11đc). Trầm tích của hệ tầng được nghiên cứu chi tiết tại mỏ kaolin Đất Cuốc (Tân
Uyên - Bình Dương) với thành phần chủ yếu là hạt thô (cuội, sỏi, cát lẫn kaolin) tạo
thềm cao 50-80m. Phần đáy của hệ tầng nằm phủ không chỉnh hợp trên tập sét bột kết
bị phong hoá của hệ tầng Bà Miêu, tuổi Pliocen muộn (N22 bm). Hà Quang Hải và
nnk... (1994) khi nghiên cứu trầm tích ở vùng Suối Đá -Trảng Bom (Đồng Nai) đã xác
lập hệ tầng Trảng Bom tuổi Pleistocen sớm, phần muộn
(aQ113tb) với thành phần gồm cuội, sỏi, cát lẫn bột nguồn gốc sông, tạo bề mặt
thềm cao 55- 66m. Để định tuổi cho hệ tầng trên, tác giả đã căn cứ vào quan hệ phía
trên của trầm tích bị đá bazan Xuân Lộc (có tuổi tuyệt đối 0,6-0,7 triệu năm) nằm phủ
lên và ở phía dưới, trầm tích nằm ngay trên bề mặt phong hoá của đá sét bột kết của hệ
tầng Bà Miêu (N22 bm) hoặc đá bột kết của hệ tầng DrâyLinh (J1-2 dl) (qua xem xét các
lỗ khoan qua đá bazan ở Xuân Lộc và lân cận).
Tại lỗ khoan 216 ở thị trấn Ngọc Hiển- Cà Mau ở độ sâu từ 160 đến 162m chứa
phong phú hoá thạch Nannoplanton Carbonat, trong đó có loài Discoaster brouweri
(theo xác định của Đặng Đức Nga). Ở nhiều nơi trên thế giới cũng như ở Châu Á, nó
tạo thành các đới cuối cùng của giống Discoaster và cả loài D. brouweri bị tiệt chủng ở
ranh giới giữa Pliocen và Pleistocen. Chính vì vậy độ sâu 162m ở LK.216 được sử
dụng làm ranh giới giữa Neogen và Đệ tứ cho vùng ĐBNB.
Như vậy, ranh giới Neogen - Đệ tứ ở Việt Nam được vạch vào phần đáy của hệ
tầng Đất Cuốc, Mỹ Tho, Cà Mau, Trảng Bom ở ĐBNB đều có tuổi Pleistocen sớm

nằm phủ trực tiếp trên đất đá có tuổi Pliocen hoặc cổ hơn.

11


Ranh giới Pleistocen và Holocen ở Việt Nam lâu nay cũng đã được nhiều tác giả
đề cập tới trong các cuộc hội thảo được tổ chức giữa các nhà địa chất Đệ tứ với các
nhà khảo cổ học và các nhà sinh học với nhau. Các nhà địa chất Đệ tứ Việt Nam gần
như thống nhất với nhau vạch ranh giới dưới của Holocen theo đáy của hệ tầng Bình
Chánh (Q21-2bc) hay hệ tầng Hậu Giang (Q21-2hg) ở ĐBNB với mốc 10.000 năm, theo
thang địa tầng quốc tế (2008) ghi nhận vào 11.700 năm BP.
Về cổ sinh, trước 1975 chủ yếu có một vài công bố về thành phần động vật thân
mềm (Mollusca) trong trầm tích Holocen của Saurin, E.(1968), Fontaine,H.
(1971)…Thời kỳ này các nhóm cổ sinh khác hầu như chưa được quan tâm đến. Giai
đoạn sau 1975 một số nhóm cổ sinh Đệ tứ được chú ý đến như Foraminifera, tảo
Diatomeae, BTPH, động vật thân mềm. Hầu hết các kết qủa nghiên cứu mới chỉ dừng
ở việc phục vụ cho đo vẽ bản đồ địa chất hoặc có một vài bài báo công bố kết quả
phân tích của một hay một vài nhóm cổ sinh trong một số LK như LK8 Cần Thơ
(Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Ngọc, Đào Thị Miên,
Đỗ Long, Nguyễn Thị Á…-1980 -1985). Trong đề tài “Cổ Địa lý các đồng bằng ven
biển Việt Nam trong kỷ Đệ Tứ - 1986), và trong đề tài KT01-07 -1996) các nhóm cổ
sinh trong kỷ Đệ tứ đã ít nhiều được tổng hợp đánh giá dưới các góc độ như: Thành
phần giống loài, đặc điểm sinh thái, phân vùng cổ sinh. Tuy nhiên kết quả này mới chỉ là
những nét chấm phá ban đầu về thế giới sinh vật trong kỷ Đệ tứ của ĐBNB nói riêng
cũng như trên phạm vi các đồng bằng ven biển ở Việt Nam.
Trong những năm 1980, 1990 Phân viện địa lý Tp HCM đã có những nghiên cứu
khác chi tiết về quá trình trầm tích và tiến hoá đới ven bờ của đồng bằng SCL. TS
Nguyễn Văn Lập (1998) và Tạ Thị Kim Oanh (2001), trên cơ sở nghiên cứu bằng các
phương pháp phân tích ảnh viễn thám, phân tích mẫu khoan, xác định tuổi tuyệt đối và
phân tích cổ môi trường bằng phương pháp vi cổ sinh, đã có những kết quả đáng kể

trong nghiên cứu đồng bằng SCL. Tác giả cho rằng quá trình biển tiến Holocen đạt cực
đại vào khoảng 6000-5000 năm trước. Các kết quả nghiên cứu của họ cho thấy sự tồn
tại 2 ngấn nước biển 2,5 và 4,5 m trên các đá vôi Tây Nam Bộ. Từ khi bắt đầu thời kỳ
biển thoái (từ 4550 năm BP) đồng bằng châu thổ được mở rộng nhanh chóng, với tốc
độ rất cao, đạt 62 520 km2. Sau quá trình biển tiến cực đại trong Holocen cách ngày
nay khoảng 6000-5000 năm sự bắt đầu xâm lấn mạnh và nhanh của châu thổ đã bắt đầu
liên tục cho đến ngày nay chủ yếu bởi những bồi tụ trầm tích ngang với tốc độ dịch
chuyển mặt trước của châu thổ ra biển trung bình là 15m/năm trong suốt bốn nghìn
năm qua. Sở dĩ được như vậy là nhờ 3 yếu tố sau : (a) sự dư thừa nguồn phù sa, lắng
đọng trên một vùng gần như bằng phẳng ; (b) chuyển động kiến tạo và dao động mực
nước biển ; (c) sự phát triển mạnh mẽ của hệ sinh thái rừng ngập mặn (Nguyen Van
Lap, Ta Thi Kim Oanh, Masaaki Tateishi, 2000) [73].
Các vị trí của các phụ lưu phía đông của hệ thống Sông Cửu Long được cho là đã
từng ổn định tương đối trong suốt 2000 đến 3000 năm qua từ sự phân bố của các gờ
12


sống bãi biển đã được hình thành trong thời gian đó (Ta Thi Kim Oanh et al., 2001)
[96]. Những sự thay đổi lớn cuối cùng xảy ra cách đây khoảng 3000 năm, khi mà môi
trường châu thổ chuyển sang từ môi trường chiếm ưu thế của thuỷ triều thành môi
trường chiếm ưu thế bởi sóng thuỷ triều hỗn hợp (Ta at al., 2002; Tanabe et al., 2001)
[97, 98, 101]. Các thung lũng lấp đầy đã được tìm thấy (Zaitlin et al., 1994) [113] trên
thềm lục địa.
Nguyễn Thị Ngọc Lan (1994) (Trường ĐH KHTN TP HCM) [67] dựa trên sự
phân tích thuỷ văn, địa mạo, thổ nhưỡng, phân tích ảnh, tuổi tuyệt đối đã nêu một cách
khái quát về lịch sử phát triển của đồng bằng SCL trong Holocen, trong đó chỉ rõ đặc
điểm của giai đoạn biển tiến-biển thoái trong Holocen. Đặc biệt tác giả đã khẳng định
rằng đặc điểm địa hình địa mạo và sự tiến hoá của đồng bằng SCL, chỉ ra rằng có sự
tham gia tích cực của chuyển động kiến tạo. Tác giả cũng cho thấy trong bối cảnh hiện
nay, khi mà một số dấu hiệu toàn cầu cho thấy có thể đã bắt đầu một đợt dâng cao mới

của mực nước đại dương Thế giới, thì bộ ba các yếu tố: cố kết trầm tích + sụt lún kiến
tạo+sự dâng cao mực nước biển sẽ là những nguyên nhân gây nên sự xâm lấn nhanh
chóng của biển vào đồng bằng.
Công nghệ viễn thám cũng đã được ứng dụng rất hiệu quả trong việc nghiên cứu
địa chất, địa mạo, môi trường vùng đồng bằng SCL và thềm lục địa kế cận. Các nhà
khoa học thuộc Trung tâm ứng dụng công nghệ Vũ trụ-Viện Vật lý và Điện tử (Viện
KHCNVN) đã sử dụng dữ liệu ảnh của Nhật (MOS-MESSR and JERS-OPS) và công
nghệ GIS để xác định sự biến đổi trong sử dụng lãnh thổ dải ven biển đồng bằng SCL.
Vùng Duyên Hải-Cần Giờ được chọn làm vùng trọng điểm nghiên cứu. Loạt bản đồ về
hiện trạng sử dụng đất đã được thành lập cho các năm 1990-1994-1997-2001.
Matsubayashi O. (2004) đã sử dụng ảnh ASTER VNIR và SWIR để vẽ bản đồ về rừng
ngập mặn (mongrove) của đồng bằng SCL… Ảnh viễn thám cũng rất hữu hiệu trong
việc xác định đặc điểm phân toả phù sa của hệ thống Sông Cửu Long trên phạm vi đới
ven bờ. Trên các ảnh vệ tinh rất dễ dàng nhận thấy rằng phù sa SCL có xu hướng di
chuyển mạnh về phía nam, dọc theo bờ, đến tận mũi Cà Mau và xa hơn nữa.
Trong khuôn khổ hợp tác Nghị định thư Việt-Đức Phân viện Hải dương học tại
Hà Nội, nay là Viện Địa chất và Địa vật lý biển đã triển khai đề tài : Tiến hoá đới ven
biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong
Holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ Mê Công và Nha Trang , Đông Nam
Việt Nam (Nhiệm vụ hợp tác theo nghị định thư Việt Nam- CHLB Đức, 2003-2005).
Trong giai đoạn 2003-2005 đề tài chủ yếu tập trung vào vùng thềm lục địa Nha
Trang-Vũng Tàu và đã thu được một số kết quả quan trọng: như thiết lập biểu đồ dao
động mực biển cho vùng biển ĐN Việt Nam trong Holocen thông qua việc nghiên cứu
các đá bãi biển; Bước đầu đã xác định được xu thế vận chuyển trầm tích khu vực thông
qua tài liệu siêu âm quét suờn và phân tích mẫu trầm tích bề mặt. Đã xác định sơ bộ
lịch sử dao động mực nước biển, theo đó sau thời kỳ băng hà cuối cùng mực nước
13


dâng cao và đạt cực đại là + 1.5m (tính theo mực biển trung bình) vào khoảng 65005000 năm trước (Stattegger K., Maximiliano. M, 2008) [57, 92].

Bằng sự phân tích các mặt cắt địa chấn nông phân giải cao, bước đầu đã sơ bộ
xác định được vị trí các lòng sông cổ của hệ thống sông Cửu Long (trong khoảng thềm
có độ sâu cột nước là 40 m).
Tài liệu nghiên cứu cho thấy vùng thềm Nam Bộ và Đông Nam Bộ chủ yếu có xu
hướng hạ lún trong Holocen, trong khi đó vùng Ninh Thuận-Nha Trang lại có sự nâng
nhẹ. Sự chênh lệch về các kết quả nghiên cứu ở hai vùng có thể đạt tới 5 m.
Cần phải nói rằng, các nghiên cứu về đồng bằng châu thổ SCL quan tâm nhiều
đến việc lập bản đồ, sơ đồ…Tuy nhiên chưa thực sự đi sâu vào việc phân loại môi
trường trầm tích khác nhau một cách cụ thể, chi tiết, như đâu là tiền châu thổ (delta
front), chân châu thổ (delta slope) và các môi trường trầm tích cận kề châu thổ như
thềm trong (inner shelf)…
Với sự hỗ trợ của các chuyên gia Đức và các phương tiện hiện đại như đo địa
chấn nông phân giải cao, đo quét sườn (side scan sonar), việc xác định các biến đổi
tướng theo chiều ngang được chính xác hoá cao, giúp phân biệt được những thay đổi từ
trong ra ngoài của cấu trúc châu thổ, như prodelta, front delta, inner shelf…
Hơn nữa chúng tôi đã tiếp cận được với những công nghệ xác định sự phân bố
của các lòng sông cổ bằng các phần mềm chuyên dụng, với việc sử dụng tối đa các đo
đạc bằng địa chấn nông phân giải cao (như phần mềm chuyên dụng 3D-stratigraphic
model SimClast). Các bản đồ, sơ đồ về địa hình cổ ở ngoài vùng thềm lục địa được
xác định một cách định lượng, có độ chính xác cao, thể hiện rõ vị trí các lòng sông cổ.
Tài liệu đo sâu quét sườn còn có thể dùng để phân tích tính toán địa hình sóng cát
ở đáy biển, từ đó xác định hướng dòng chảy đáy, môi trường thủy động lực… rất hiệu
quả.

14


×