Tải bản đầy đủ (.pdf) (23 trang)

ảnh hưởng của ánh sáng đến tỷ lệ nở và sinh trưởng của ốc bươu đồng (pila polita)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.21 MB, 23 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN NHA TRANG

ẢNH HƯỞNG CỦA ÁNH SÁNG ĐẾN TỶ LỆ NỞ
VÀ SINH TRƯỞNG CỦA ỐC BƯƠU ĐỒNG (Pila polita)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

2014


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN NHA TRANG
MSSV: 3112925

ẢNH HƯỞNG CỦA ÁNH SÁNG ĐẾN TỶ LỆ NỞ
VÀ SINH TRƯỞNG CỦA ỐC BƯƠU ĐỒNG (Pila polita)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGS.TS. NGÔ THỊ THU THẢO

2014



ẢNH HƯỞNG CỦA ÁNH SÁNG ĐẾN TỶ LỆ NỞ VÀ SINH
TRƯỞNG CỦA ỐC BƯƠU ĐỒNG (Pila polita)

ABSTRACT
This study was conducted to determine the effects of light intensity on hatching rate, growth
and survival rate of black apple snail Pila polita. There were two separated experiments. The first
experiment evaluatethe influence of light intensity on hatching rate with 3 treatments and 8
replicates in each treatment as follow: without cover, 1 layer net cover, 2 layers net cover. In
second experiment, new hatched snails were culturedin different light conditions, snails with initial
weight and shell height (0.03 g and 4.8mm) were reared in the plastic tanks with a density of 300
ind/m2. There were 3 treatments and 3 replicates in each treatment as follow: without cover, 1
layer net cover and 2 layers net cover. Results indicatedthat black apple snail egg reached highest
hatching rate at light intensity from 577-14355 lux (83,8%)and hatching time (9,25±0,5 days) and
the resultswere higher than those from other treatments (P<0,05). In experiment 2, affer 35 days
of culture period, the highest survival rate of black appe snail presented in 2 layers net cover
(98,5%) and it was similar to those from wihout cover and 1 layer net cover treatment (98.1%). In
2 layers net cover, snails also reached highest body weight and shell height (1.56g and 20.0mm)
compared to without cover (1.21g and 18.23mm) or 1 layernet cover(1.22g and 18.57mm). The
results showed that light intensity from 200 -9080 lux could be suitable for rearing juvenile snails.
Keywords: Pila polita, light, hatching rate, growth, survival
Title: Effects of different light conditions on the hatching rate, growth and survival of black
apple snail (Pila polita)

TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của ánh sáng đến tỷ lệ nở và sinh
trưởng của ốc bươu đồng gồm: Thí nghiệm 1 đánh giá ảnh hưởng của ánh sáng đến tỷ lệ nở được
tiến hành với 3 nghiệm thức: Không che, che 1 lớp lưới lan và che 2 lớp lưới lan, mỗi nghiệm thức
lặp lại 8 lần. Thí nghiệm 2 ương ốc bươu đồng giống ở các ánh sáng khác nhau ốc giống có khối
lượng và chiều cao ban đầu (0,03g và 4,80mm) được ương trong bể nhựa với mật độ 300 con/m2

với 3 nghiệm thức: Không che, che 1 lớp lưới và che 2 lớp lưới, nghiệm thức lặp lại 3 lần. Kết quả
thí nghiệm cho thấy, điều kiện ấp nở trứng ốc bươu đồng tốt nhất ở cường độ ánh sáng từ 577 đến
14355 lux có tỷ lệ nở 83,8% cao hơn đáng kể so với các nghiệm thức còn lại (P<0,05) và thời gian
nở thấp nhất 9,25 ngày (P<0,05). Ở thí nghiệm ương sau 35 ngày ương, tỷ lệ sống khi che 2 lớp
lưới (98,5%) so với không che và che 1 lớp lưới (98,1%), tuy nhiên không khác biệt (P>0,05). Khi
che 2 lớplưới khối lượng và chiều dài trung bình của ốc (1,56g và 20mm) cao hơn so với nghiệm
thức không che (1,21g và 18,23 mm) và che 1 lớp lưới (1,22g và 18,57mm). Kết quả cho thấy ương
nuôi ốc bươu đồng tốt nhất ở cường độ ánh sáng từ 200 -9080 lux.
Từ khóa: Ốc bươu đồng, ánh sáng, tỷ lệ nở, sinh trưởng

1. GIỚI THIỆU
Ốc bươu đồng (Pila polita Deshayes; 1830) là đối tượng nuôi khá mới mẻ, nhưng là
một đối tượng khá triển vọng do đây là loài có giá trị kinh tế cao thịt thơm ngon, giàu chất
dinh dưỡng (chứa 11,9% protid; 0,7% lipit; các vitamin B1,B2,PP; các muối Ca, P; cung
1


cấp 86 calo/100g thịt). Tuy nhiên nguồn lợi ốc bươu đồng trong tự nhiên ngày một giảm
sút do sự xâm nhập của ốc bươu vàng, khai thác quá mức và môi trường ngày càng ô
nhiễm. Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu về sự phân bố (Thaewnon-ngiw et
al., 2003).Gần đây có một số nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất giống (Nguyễn Thị Bình.
2011) và ương nuôi ốc bươu đồng (Nguyễn Thị Bình, 2011; Nguyễn Thị Diệu Linh, 2011).
Tuy nhiên trên thế giới và ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nhiều về ảnh hưởng của các
điều kiện môi trường nhất là ảnh hưởng ánh sáng đến tỷ lệ nở và sinh trưởng của ốc bươu
đồng. Nghiên cứu sử dụng ánh sáng phù hợp với đặc điểm sinh học đồng thời phù hợp với
điều kiện thực tế để ấp và ương nuôi ốc bươu đồng là vấn đề cần được quan tâm để nâng
cao hiệu quả sản xuất giống.Kết quả của nghiên cứu sẽ góp cơ sở để có thể khuyến cáo
cường độánh sáng thích hợp trong quá trình ấp trứng và ương giống ốc bươu đồng. Vì lý
do đó đề tài “Ảnh hưởng của ánh sáng đến tỷ lệ nở và sinh trưởng ốc bươu đồng (Pila
polita)” được thực hiện.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu và phương pháp
Trứng ốc bươu đồng được thu ở các thủy vực tự nhiên ở Đồng Tháp vận chuyển về
Trại Thực Nghiệm Động vật Thân Mềm - Bộ môn kỹ thuật nuôi Hải Sản - Khoa Thủy Sản
- Trường Đại Học Cần Thơ.Trứng ốc bươu đồng và ốccon sau khi nở5 ngày được thu để bố
trí thí nghiệm.
2.1.1 Ảnh hưởng của ánh sáng đến quá trình nở của trứng bươu đồng (Pila polita)
Thí nghiệm được bố trí ngoài trời trong bể nhựa (1 m3), mực nước trong bể ấp
khoảng 40 lít. Mật độ ấp 8 bọc trứng/bể, bọc trứng được để trên giá thể lục bình và đặt
trong rổ nhựa hình chữ nhật, trong bể có bố trí hệ thống sục khí cung cấp oxy cho trứng ốc
bươu đồng và giảm thiểu hàm lượng khí thải trong nước. Thí nghiệm được bố trí ở các điều
kiện: không sử dụng lưới che, che bằng 1 lớp lưới lan và chebằng 2 lớp lưới lan.Thí
nghiệm gồm 3 nghiệm thức mỗi nghiệm thức có 8 lần lặp lại (8 bọc trứng).

Hình 1: Hình ảnh ấp trứng và ương ốc bươu đồng (Pila polita)

2.1.2 Ảnh hưởng của các chế độ ánh sáng khác nhau đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của
ốc bươu đồng

2


Thí nghiệm được bố trí trong bể composite có thể tích 200 lít. Nước trong bể ương
được duytrì ở mức khoảng 45 lít vàđặt ngoài trời và có gắn hệ thống sục khí trong suốt quá
trình ương, mật độ ương là 300con/m2( 0,03gam/con; 4,80mm/con). Trong suốt quá trình
ương có thay nước và giá thể rể cây lục bình 7 ngày/lần, thay 100% lượng nước và giá thể rể
lục bình trong bể ương.Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức có 3
lần lặp lại là: Không sử dụng lưới che, che bằng 1 lớp lưới lan và che bằng 2 lớp lưới
lan.Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm là thức ăn công nghiệp (18% đạm), ốc được cho ăn
3% khối lượng thân và lượng thức ăn thay đổi theo khối lượng cơ thể ốc ương.Cho ăn 2

lần/ngày, vào lúc 7 giờ sáng và 17 giờ chiều. Thức ăn được pha với nước sau đó dùng ống
nhỏ giọt cho ăn đều khắp bể. Thí nghiệm được thực hiện trong thời gian 35 ngày.
Các yếu tố môi trường: Cường độ ánh sáng được kiểm tra 4 lần/ngày bằng máy đo cường
độ ánh sáng (Foot Candle Lux Light Meter). Các yếu tố môi trường được thu thập như sau:
nhiệt độ đo hằng ngày lúc 8 giờ sáng và 14 giờ chiều bằng nhiệt kế thủy ngân; pH,
NH3/NH4+, NO2- và kiềm được xác định 7 ngày/lần bằng bộ Test SERA sản xuất tại Đức.
2.2 Các chỉ tiêu theo dõi
2.2.1Các chỉ tiêu theo dõi trong thí nghiệm ấp trứng
Số ốc con (con)
× 100
Số trứng (hạt)
Chiều cao ốc mới nở (mm): Được đo từ đỉnh vỏ đến mép miệng
Khối lượng ốc mới nở (g): Cân khối lượng cả vỏ của ốc mới nở
Tỷ lệ nở (%) =

2.2.2Các chỉ tiêu theo dõi trong thí nghiệm ương
Tốc độ tăng trưởng khối lượng tương đối SGRW
SGRw (%/ngày) = 100 × (LnW2 – LnW1)/t
Tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối DWGW
DGRw (mg/ngày) = (W2 – W1)/t
Tốc độ tăng trưởng chiều cao tương đối SGRL
SGRL (%/ngày) = 100 × (Ln(L2) – Ln(L1))/t
Tốc độ tăng trưởng chiều cao tuyệt đối DWGL
DWGL (mm/ngày) = (L2 – L1)/t
Trong đó:

W1, L1: Khối lượng và chiều cao tại thời điểm bố trí thí nghiệm
W2, L2: Khối lượng và chiều cao tại thời điểm thu mẫu
t: Thời gian ương (ngày)


Tỷ lệ sống (SR) của ốc theo công thức:
SR (%) = (N2×100)/N1
Trong đó : SR là tỷ lệ sống (%)
N1: Số cá thể thả ban đầu thí nghiệm (con)
3


N2: Số cá thể tại thời điểm thu mẫu (con)
Tỷ lệ tăng sinh khối (%) =x

Lượng sinh khối tăng (g/bể)
Sinh khối ốc trong bể (g/bể)

100

2.3 Xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để tính các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và SPSS 16.0 để so
sánh thống kê các giá trị trung bình giữa các nghiệm thức ở mức P<0,05 bằng phép so sánh
Duncan.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hưởng của ánh sáng đến quá trình nở của trứng bươu đồng Pila polita
3.1.1 Biến động các yếu tố môi trường
Biến động nhiệt độ (oC)
Trong quá trình thí nghiệm nhiệt độ tăng dần từ lúc 8 giờ sáng và bắt đầu giảm vào buổi
chiều tối (26–33,3oC). Nhìn chung biên độ dao động nhiệt độ trong ngày lớn (2-6oC) có thể
ảnh hưởng đến sự phát triển của trứng ốc bươu đồng. Theo Nguyễn Thị Bình (2011) trứng ốc
bươu đồng được ấp trong điều kiện nhiệt độ 22,5-29,5oC thì sau 13-16 ngày ốc con sẽ thoát
ra khỏi bọc trứng và bám vào giá thể trong môi trường nước.Việc che sáng bằng lưới lan
cũng đã ảnh hưởng nhiệt độ giữa các nghiệm thức (Bảng 1). Trong đó nhiệt độ không khí và
các bể không che luôn duy trì nhiệt độ cao hơn rất rõ so với các nghiệm thức được che bằng

một lớp lưới hoặc hai lớp lưới (P<0,05).
Bảng 1: Biến động nhiệt độ giữa các nghiệm thức thí nghiệm (oC)

Chỉ tiêuNghiệm thức
o

Nhiệt độ sáng( C)
Nhiệt độ chiều (oC)

Không che
26,2±0,3a
33,3±2,3bc

1 lớp lưới
26,1±0,4a
31,3±1,5ab

2 lớp lưới
26,0±0,3a
28,1±1,8a

Các giá trị trong cùng hàng có chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Hình 2: Biến động nhiệt độ buổi sáng và buổi chiều trong các nghiệm thức

4


Biến động các yếu tố thủy lý hóa
Trung bình giá trị pH của nghiệm thức không che (8,60) cao hơn so với nghiệm thức che

một lớp lưới (8,50) và che hai lớp lưới (8,40), tuy nhiên không khác biệt nhau (P>0,05).
Nhìn chung, pH trong quá trình thí nghiệm không biến động lớn và nằm trong khoảng thích
hợp cho sinh trưởng của ốc.
Bảng 2:Biến động các yếu tố môi trường trong các nghiệm thức

Chỉ tiêu
pH
TAN (mg/L)
NO2- (mg/L)
Độ kiềm (mg/L)

Không che
8,6±0,3a
0,10±0,0a
0,17±0,08a
75,5±9a

Nghiệm thức
1 lớp lưới
2 lớp lưới
a
8,5±0,3
8,4±0,3a
a
0,12±0,05
0,12±0,05a
0,20±0,1a
0,19±0,1a
a
80,0±10

80,0±10a

Các giá trị trong cùng hàng có chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Hàm lượng TAN trong các nghiệm thức ở mức thấp và ít biến động (từ 0,10 đến 0,12mg/L).
Kết quả cho thấy biến động hàm lượng TAN trong các bể thí nghiệm không khác biệt nhau
và nằm trong khoảng giới hạn cho phép. Trung bình hàm lượng NO2- ở các nghiệm thức
tương đương nhau: không che (0,17mg/L), che 1 lớp lưới lan (0,20mg/L) và che 2 lớp lưới
lan (0,19mg/L) và khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).
Độ kiềm trung bình giữa các nghiệm thức dao động trong khoảng 75,5 – 80mg CaCO3/L và
không khác biệt giữa các nghiệm thức (P>0,05).
Biến động cường độ ánh sáng giữa các nghiệm thức
Cường độ ánh sáng cao nhất khi bể nuôi không che sáng (3165 –35400lux) và thấp nhất ở
các nghiệm thức che 2 lớp lưới (375 - 5700 lux) khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các
nghiệm thức (P<0,05). Cường độ ánh sáng có xu hướng tăng vào buổi trưa và giảm khi bắt
đầu vào buổi chiều.
Bảng 3: Biến động cường độ ánh sáng buổi sáng ở các nghiệm thức (Lux)
Ngày
5
10
15
20

Không che
4150±1626
5835±2496
3165±2128
6133±4685

8h

1 lớp lưới
1185±219
1930±735
1005±856
2270±1689

2 lớp lưới
725±445
675±403
435±247
683±483

10h
1 lớp lưới
3030±2843
13385±1458
14355±1364
2790±1357

Không che
12050±6152
20350±5020
35400±3068
7930±4080

2 lớp lưới

2620±1640
1926±202
5700±5586

990±537

Bảng 4: Biến động cường độ ánh sáng buổi chiều ở các nghiệm thức (Lux)
Ngày
5
10
15
20

Không che
8380±6675
16085±4405
33950±778
8930±4058

14h
1 lớp lưới
1870±693
5865±2199
13900±989
3190±1477

2 lớp lưới
770±354
3590±364
1545±502
1100±502

5


Không che
6950±770
3610±84
4350±975
3043±1490

16h
1 lớp lưới
1445±133
577±473
1610±325
1037±461

2 lớp lưới

710±577
375±21
570±70
443±81


3.1.2 Tỷ lệ nở, thời gian nở và quá trình nở ốc bươu đồng
Kết quả thí nghiệm và phân tích thống kê ở giai đoạn nở cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa
giữa các nghiệm thức (P<0,05), tỷ lệ nở của trứng đạt giá trị cao nhất ở nghiệm thức che 1
lớp lưới (83,8%), thấp nhất ở nghiệm thức không che (61,3%) và che 1 lớp lưới (62,4%).
Như vậy ánh sáng thích hợp cho quá trình ấp trứng ốc bươu từ 577 đến 14355 lux và nhiệt
độ thích hợp cho sự sinh trưởng của ốc bươu đồng 20 - 32oC. Theo Nguyễn Thị Bình (2011)
ốc bươu đồng con sống tốt khi nhiệt độ 27 oC vào buổi sáng và 30oC vào buổi chiều. Như
vậy, nhiệt độ và cường độ ánh sáng trong quá trình thí nghiệm là thích hợp cho sự phát triển
ốc bươu đồng.

Bảng 5: Tỷ lệ nở, thời gian nở và quá trình nở của trứng ốc bươu đồng

Nghiệm thức
Tỷ lệ nở (%)
Thời gian nở (ngày)
Quá trình nở (ngày)

Không che
61,3±17,64a
10,25 ± 1,25a
9,25 ±0,96a

1 lớp lưới
83,8±3,20b
9,25±0,5a
7,25±1,50a

2 lớp lưới
62,4±13,5a
9,50± 1,0a
8,25± 3,30a

Các giá trị trong cùng hàng có chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Trong thí nghiệm, nghiệm thức che 1 lớp lưới lan có thời gian nở sớm nhất (9,25 ngày) và
đạt quá trình nở ngắn nhất (7,25 ngày) so với nghiệm thức không che (9,25 ngày) và che 2
lớp lưới (8,25 ngày). Điều này cho thấy ánh sáng ảnh hưởng đến tốc độ nở của ốc bươu
đồng, tuy nhiên giữa các nghiệm thức không có sự khác biệt (P>0,05).

Hình 3: Tỷ lệ nở (%) của ốc trong các nghiệm thức theo thời gian


3.1.3 Khối lượng và chiều cao ốc bươu đồng mới nở
Khối lượng và chiều cao ốc bươu đồng giữa các nghiệm thức không có khác biệt (P>0,05),
tuy nhiên ở nghiệm thức không che khối lượng thấp hơn (0,04g) so với 2 nghiệm thức còn
lại là che 1 lớp lưới và che 2 lớp lưới (0,05g). Kết quả thống kê (Bảng 6) cho thấy chiều cao
ở nghiệm thức che 2 lớp lưới chiều cao đạt cao nhất (3,96mm) và khác biệt có ý nghĩa
thống kê so với 2 nghiệm thức không che (3,59mm) và che 1 lớp lưới (3,86mm).Điều này
cho thấy cường độ ánh sáng và nhiệt độ ở nghiệm thức không che biến động có thể làm cho
quá trình phân cắt phôi của ốc bị rối loạn ảnh hưởng đến tỷ lệ nở và tốc độ nở của trứng ốc
bươu đồng.
6


Bảng 6: Khối lượng và chiều dài ốc mới nở

Khối lượng (g)
Chiều cao (mm)

Không che
0,04±0,01a
3,59 ±0,32a

Nghiệm thức
1 lớp lưới
0,05±0,01a
3,86±0,25ab

2 lớp lưới
0,05±0,15a
3,93±0,19b


Các giá trị trong cùng hàng có chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

3.2 Biến động ánh sáng đến quá trình ương ốc bươu đồng (Pila polita)
3.2.1 Biến động các yếu tố môi trường
Trong quá trình thí nghiệm, nhiệt độ giữa buổi sáng và buổi chiều dao động từ 29,7-32,9oC
(Bảng 7). Theo Nguyễn Thị Bình (2011) ốc bươu đồng con sống tốt khi nhiệt độ 27oC vào
buổi sáng và 30oC buổi chiều. Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của ốc bươu đồng 2032oC Khi nhiệt độ xuống dưới 15oC hay trên 40oC thì ốc chuyển sang trú đông (Lum Kong
et al., 1989). Khi nhiệt độ tăng 10oC thì tốc độ các quá trình sinh hóa trong cơ thể thủy sinh
vật tăng khoảng 2 lần trong giới hạn cho phép (Lê Văn Cát và ctv, 2006). Việc che sáng
bằng lưới lan và không được che sáng (ánh sáng tự nhiên) cũng đã ảnh hưởng đến nhiệt độ
của các nghiệm thức. Trong đó các bể được che bằng 2 lớp lưới luôn duy trì nhiệt độ ổn
định hơn rất rõ so với các nghiệm thức không che hoặc che bằng 1 lớp lưới (P<0,05).
Bảng 7: Biến động môi trường bể ương

Chỉ tiêu
Nhiệt độ sáng (oC)
Nhiệt độ chiều (oC)
pH
TAN (mg/L)
NO2- (mg/L)
Kiềm (mg CaCO3/L)

Không che
23,0±0,4a
32,6±0,8b
8,0±0,2a
0,25±0,1a
0,32±0,2a
83±30a


Nghiệm thức
1 lớp lưới
2 lớp lưới
ab
23,1±0,2
23,9±0,2b
31,7±0,9b
29,7±0,5a
a
8,0±0,2
8,0±0,2a
0,33±0,1ab
0,55±0,3b
ab
0,47±0,3
0,60±0,4b
83±29a
86±29a

Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Hình 4: Biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm

Trong quá trình thí nghiệm pH khá ổn định (từ 7,7- 8,4) và không khác biệt giữa các
nghiệm thức (P>0,05).Theo Trương Quốc Phú (2006), pH là một trong những yếu tố môi
7


trường ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới đời sống của thủy sinh vật và pH thích hợp nằm

trong khoảng 6,5 - 9. Như vậy, pH ở các bể thí nghiệm đều nằm trong khoảng cho phép.
Hàm lượng TAN ở các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Hàm lượng
TAN trong các nghiệm thức che 2 lớp lưới (0,43mg/L) cao hơn so với nghiệm thức không
che (0,24mg/L) và che 1 lớp lưới (0,33mg/L), tuy nhiên nằm trong khoảng giới hạn cho
phép đối với các loài chân bụng. Theo Boyd (1998) và Trương Quốc Phú (2006) hàm lượng
NH4+ thích hợp cho thủy sản là 0,2-2,0 mg/L. Kết quả cho thấy hàm lượng TAN trong bể
ương nằm khoảng an toàn. Hàm lượng NO2- có xu hướng tăng cùng với thời gian thí
nghiệm. Hàm lượng NO2- trong nghiệm thức che 2 lớp lưới đạt cao nhất (0,7 mg/L) và khác
biệt (P<0,05) so với các nghiệm thức không che hoặc che 1 lớp lưới. Vào những ngày cuối
của chu kỳ thay nước, ốc bươu đồng trong các nghiệm thức thường có biểu hiện mở rộng
chân và treo mình lơ lửng trên bề mặt nước. Đây có thể là những biểu hiện phản ứng của ốc
đối với những biến động bất lợi của điều kiện môi trường đặc biệt là hàm lượng NO2- cao
dần trong quá trình ương.
Độ kiềm trung bình ở các nghiệm thức tương đương nhau, dao động trong khoảng 35,6124,6 mgCaCO3/L và không khác biệt giữa các nghiệm thức (P>0,05). Theo Trương Quốc
Phú và ctv. (2006) thì độ kiềm thích hợp cho các đối tượng thủy sản 50-200 mg/L.

Hình 5: Biến động các yếu tố môi trường giữa các nghiệm thức

Bảng 8 cho thấy cường độ ánh sáng có xu hướng tăng vào buổi trưa và giảm dần vào buổi
chiều. Cường độ ánh sáng cao nhất ở nghiệm thức không che lưới (63,910 lux) và thấp nhất
ở nghiệm thức che 2 lớp lưới (227 lux) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Bảng 8:Biến động cường độ ánh sáng buổi sáng ở từng nghiệm thức (Lux)
Ngày
8h
Không che
1 lớp lưới
2 lớp lưới
Không che
7
4240±403

1337±136
473±45
52633±2663
14
4752±1761
1412±422
451±154
60433±2640
21
5138±78
1756±41
690±124
42193±19982
28
7367±2132
2574±187
867±41
59403±490
35
6170±3785
1753±382
834±181
62263±7789

8

10h
1 lớp lưới
16600±3465
28697±1508

16360±575
17100±490
21338±3114

2 lớp lưới
5970±1021
5586±6094
8018±2161
9080±316
7956±2058


Bảng 9: Biến động cường độ ánh sáng buổi sáng ở từng nghiệm thức (Lux)
Ngày
14h
Không che
1 lớp lưới
2 lớp lưới
Không che
7
57967±252
11990±970
3673±801
5061±469
14
52750±1600
15723±8546 2900±1680
3964±1253
21
62950±24

16080±2060 4538±394
3778±1869
28
61687±3087
18740±4700 4573±471
5468±1237
35
63910±8748
16415±2566 4909±678
5227±1574

16h
1 lớp lưới
1185±129
869±247
888±596
781±214
1248±406

2 lớp lưới
330±123
200±99
227±125
456±14
410±224

3.2.1 Tăng trưởng của ốc bươu đồng
Tốc độ tăng trưởng về chiều cao
Ốc bươu đồng khi bố trí thí nghiệm có chiều cao từ 4,77-4,81mm, sau 35 ngày nuôi đạt kích
cỡ cao nhất ở nghiệm thức che 2 lớp lưới (20mm) và thấp nhất ở nghiệm thức không che

(18,23mm). Kết quả phân tích thống kê cho thấy trung bình tốc độ tăng trưởng chiều cao
tuyệt đối của ốc bươu đồng đạt cao nhất khi che 2 lớp lưới (0,42 mm/ngày) khác biệt có ý
nghĩa thống kê (P<0,05) so với nghiệm thức không che (0,37 mm/ngày) hoặc che 1 lớp lưới
(0,38mm/ngày).
Bảng 10: Tăng trưởng chiều cao tuyệt đối của ốc bươu đồng

Ngày
Ương
1-7
8-14
15-21
22-28
29-35
1-35

Tăng trưởng tuyệt đối (mm/ngày)
Không che
1 lớp lưới
a
0,32±0,03
0,35±0,03ab
0,38±0,03a
0,38±0,04a
0,39±0,02a
0,37±0,02a
a
0,37±0,01
0,40±0,02a
0,38±0,01a
0,39±0,01a

0,37±0,02a
0,38±0,02a

2 lớp lưới
0,38±0,01b
0,40±0,01a
0,44±0,01b
0,44±0,02b
0,43±0,01b
0,42±0,01b

Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Bảng 11 cho thấy chiều cao ốc bươu đồng tăng theo quá trình nuôitrung bình tốc độ tăng
trưởng về chiều cao tương đối của ốc bươu đồng đạt cao nhất(5,10%/ngày) khi che 2 lớp
lưới và khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với nghiệm thức không che (4,68%/ngày)
hoặc che 1 lớp lưới (4,81%/ngày). Việc sử dụng lưới che trong bể ương góp phần duy trì
nhiệt độ môi trường nuôi ổn định hơn so với không che. Mặt khác việc che lưới có thể tạo
môi trường gần giống với môi trường tự nhiên phù hợp cho ốc sinh trưởng do đó đã làm
tăng kích thích sinh trưởng của ốc bươu đồng.
Bảng 11: Tăng trưởng chiều cao tương đối của ốc bươu đồng

Ngày
ương
1-7
8-14
15-21
22-28
29-35


Tăng trưởng tương đối (%/ngày)
Không che
1 lớp lưới
2 lớp lưới
a
ab
5,43±0,34
5,87±0,36
6,27±0,22b
5,28±0,38a
5,33±0,37a
5,53±0,07a
4,75±0,19a
4,64±0,14a
5,10±0,17b
a
ab
4,13±0,09
4,31±0,13
4,51±0,09b
3,81±0,09a
3,88±0,05ab
4,07±0,02b

9


4,68±0,22a

1-35


4,81±0,21a

5,10±0,11a

Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Tốc độ tăng trưởng về khối lượng
Tốc độ tăng trưởng về khối lượng tuyệt đối của ốc bươu đồng ổn định hơn tăng trưởng
tương đối và tăng trưởng liên tục trong suốt quá trình ương ở 3 nghiệm thức (Bảng 12). Tốc
độ tăng trưởng tuyệt đối ở nghiệm thức che 2 lớp lưới đạt cao nhất (27,2 mg/ngày), khác
biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với nghiệm thức không che (21,4mg/ngày) hoặc che 1
lớp lưới (22,1mg/ngày). Tốc độ tăng trưởng tương đối trong các nghiệm thức không che
(12,5%/ngày) bằng với nghiệm thức che 1 lớp lưới (12,6%/ngày) và khác biệt rất rõ
(P<0,05) so vớiche 2 lớp lưới (13,6%/ngày). Khối lượng ốc giống khi bố trí thí nghiệm
trung bình 0,03g/con, sau 35 ngày thí nghiệm đạt 0,47-0,62g/con. Điều này cho thấy ánh
sáng và nhiệt độ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của ốc ở nghiệm thức không che lưới và
che 1 lớp lưới làm cho môi trường sống của ốc bị biến động đột ngột ảnh hưởng đến khả
năng bắt mồi và làm giảm tăng trưởng so với nghiệm thức che 2 lớp lưới.Ảnh hưởng của
chu kỳ chiếu sáng đã được nghiên cứu trên các đối tượng động vật thân mềm. Ngô Thị Thu
Thảo (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của dòng chảy và cường độ chiếu sáng đến tăng trưởng
và tỷ lệ sống của Tu hài (Lutraria rhynchaena) cho thấy khi cường độ ánh sáng từ 2000 –
25000 lux kết hợp với điều kiện nước chảy (160L/giờ) hoặc nước tĩnh thì Tu hài đạt tốc độ
tăng trưởng khối lượng tương ứng là 4,14%/ngày và 4,27%/ngàycao nhất so với bể nuôi
được che bạt và nước tĩnh (4,01%/ngày và 3,90%/ngày).
Bảng 12: Tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng ốc bươu đồng ở các nghiệm thức

Ngày
Ương
1-7

8-14
15-21
22-28
29-35
1-35

Không che
5,99±1,03a
15,4±0,66a
22,2±1,11a
29,7±1,08a
35,4±2,12a
21,4±0,68a

Tăng trưởng tuyệt đối (mg/ngày)
1 lớp lưới
2 lớp lưới
a
6,38±0,59
9,43±0,00b
a
15,6±0,65
18,5±0,71b
23,2±1,25a
28,7±1,53b
a
38,3±0,41b
31,7±1,90
40,8±1,87b
35,9±3,09a

22,1±1,14a
27,2±0,52b

Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
Bảng 13: Tăng trưởng tương đối về khối lượng ốc bươu đồng ở các nghiệm thức

Ngày
ương
1-7
8-14
15-21
22-28
29-35
1-35

Không che
12,1±1,85a
14,7±0,19a
13,2±0,21a
11,8±0,26a
10,4±0,07a
12,5±0,46a

Tăng trưởng tương đối (%/ngày)
1 lớp lưới
2 lớp lưới
12,5±0,54a
15,4±0,00b
14,7±0,38a
15,6±0,24b

13,3±0,34a
13,9±0,24b
a
12,0±0,10
12,7±0,04b
10,5±0,08a
10,8±0,13b
a
12,6±0,20
13,6±0,06b

Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

10


Hình 6: Khối lượng (g) và chiều cao (mm) của ốc bươu đồng trong các nghiệm thức

Kết quả Bảng 14 cho thấy chiều cao và khối lượng ốc bươu đồng ban đầu giữa các nghiệm
thức không có khác biệt (P>0,05). Tuy nhiên sau 35 ngày ương, chiều cao và khối lượng
trung bình của ốc ở nghiệm thức che 2 lớp lưới (20mm và 1,46 g) cao hơn so với không che
(18,2mm và 1,21 g) hoặc che 1 lớp lưới (18,6mm và 1,22 g) và khác biệt có ý nghĩa thống
kê (P<0,05).
Bảng14: Trung bình chiều cao và khối lượng của ốc bươu đồng trong các nghiệm thức

Chiều cao ngày 1 (mm)
Chiều cao ngày 35 (mm)
Khối lượng ngày 1 (g)
Khối lượng ngày 35(g)


Nghiệm thức
1 lớp lưới
4,80±0,51a
18,6±0,15a
0,03±0,00a
1,22±0,11a

Không che
4,77±0,74a
18,2±0,38a
0,03±0,00a
1,21±0,08a

2 lớp lưới
4,81±0,98a
20,0±0,30b
0,03±0,00a
1,46±0,14b

Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Tỷ lệ sống, tỷ lệ tăng sinh khối và hệ số thức ăn của ốc bươu đồng
Sau 35 ngày ương, tỷ lệ sống của ốc bươu đồng ở nghiệm thức che 2 lớp lưới (98,5%) cao
hơn so với không che và che 1 lớp lưới (98,1%), tuy nhiên không có sự khác biệt giữa các
nghiệm thức (P>0,05). Tỷ lệ tăng sinh khối cao nhất khi che 2 lớp lưới (1975%) và không
có khác biệt (P>0,05) so với không che (1685%) và che 1 lớp lưới (1703%).
Bảng 15: Tỷ lệ sống, tỷ lệ tăng sinh khối và hệ số thức ăn của ốc bươu đồng trong các nghiệm thức

Chỉ tiêu theo dõi
Tỷ lệ sống (%)

Tỷ lệ tăng sinh khối

Không che
98,1±2a
1685±89a

Nghiệm thức
1 lớp lưới
2 lớp lưới
98,1±1,6a
98,5±1,1a
a
1703±161
1975±30a

Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

11


Hình 7: Tỷ lệ sống và tăng sinh khối của ốc bươu đồng giữa các nghiệm thức

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Kết luận
Tỷ lệ nở của trứng đạt giá trị cao nhất ở nghiệm thức che 1 lớp lưới (83,8%).
Cường độ ánh sáng thích hợp cho quá trình ấp trứng ốc bươu từ 577 đến 14355 lux.
Chiều cao ốc con mới nở ở nghiệm thức không che (3,59 mm) thấp so với 2 nghiệm thức
còn lại.
Tăng trưởng khối lượng trung bình của ốc cao nhất ở nghiệm thức che 2 lớp lưới
(1,46g/con)và tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình (27,2 mg/ngày).

Chiều cao trung bình của ốc ở nghiệm thức che 2 lớp lưới (20mm) cao hơn so với nghiệm
thức không che (18,23 mm) và che 1 lớp lưới (18,57mm).
Tỷ lệ tăng sinh khối cao nhất khi che 2 lớp lưới (1975%) so với không che (1685%) và che
1 lớp lưới (1703%).
4.2 Đề xuất
Ứng dụng việc ấp trứng và ương ốc bươu đồng giống trong điều kiện che mát (cường
độ ánh sáng từ 500 đến 14000 lux) nhằm đạt tỷ lệ nở, tỷ lệ sống và sinh trưởng cao nhất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lê Văn Bình, Trần Hữu Tánh và Ngô Thị Thu Thảo. 2013. Ảnh hưởng của các loại thức ăn
khác nhau đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng Pila polita. Tạp chí Nông
nghiệp và Phát triển Nông thônsố 6/2013: trang 202-209.
Lê Văn Bình. 2014. Nghiên cứu ấp và ương trứng ốc bươu đồng Pila polita. Luận văn thạc
sĩ. Trường Đại học Cần thơ. 86 trang.
Ngô Thị Thu Thảo, Đào Phước Đại và Trần An Xuyên. 2012. Ảnh hưởng của dòng chảy và
cường độ chiếu sáng đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của Tu hài Lutraria rhynchaena.
Tạp chí Khoa học. Trường Đại học Cần Thơ. Số 24a: trang 144-152.
Ngô Thị Thu Thảo, Lê Ngọc Việt và Lê Văn Bình. 2013. Ảnh hưởng của rau xanh và thức
12


ăn công nghiệp đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng giống Pila polita giai
đoạn giống. Tạp chí Khoa học. Trường Đại học Cần Thơ. Số 28b 151-156.
Nguyễn Thị Bình. 2011. Tìm hiểu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ốc bươu đồng Pila
polita và thử nghiệm kỹ thuật sản xuất giống. Luận văn thạc sĩ. Trường Đại học
Vinh. 105 trang.
Nguyễn Thị Đạt. 2010. Ảnh hưởng của mật độ và một số loài thức ăn lên tốc độ tăng trưởng
và tỷ lệ sống của ốc bươu đồng Pila polita trong nuôi thương phẩm. Luận văn thạc sĩ
nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. 77 trang.
Nguyễn Thị Diệu Linh. 2011. Ảnh hưởng của thức ăn, mật độ đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng
trưởng của ốc bươu đồng Pila polita nuôi trong giai ở nước ngọt thành phố Vinh.

Luận văn thạc sĩ. Trường Đại học Vinh. 107 trang.
Thaewnon-ngiw B., Lauhachinda N., Sri-aroon P. and Lohachit C. 2003. Distribution of
Pila polita in a southerm province Thailand. Proceedings of the Joint International
Tropical Medicine Meeting 2002. Southeast Asian. J. Trop. Med. Public Health:
34(2): 128-130.

13


14


15


16


17


18


19


20



21



×