Tải bản đầy đủ (.doc) (37 trang)

Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (289.93 KB, 37 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương I . Cơ sở lí luận chung về hoạt động xuất khẩu
I/ Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng hoá
1/ Khái niệm xuất khẩu hàng hoá
Xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng
tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Trong đó hàng hóa hay dịch vụ có thể di chuyển
qua biên giới hoặc không.
Xuất khẩu hàng hóa, theo Luật Thương Mại 2005, là việc hàng hóa được
đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ việt
nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động buôn bán hàng hoá, dịch vụ cho người
hoặc tổ chức nước ngoài nhằm thu ngoại tệ, có thể là ngoại tệ của một hoặc cả hai
quốc gia. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương . Nó
đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội và ngày càng phát triển
mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt
động trao đổi hàng hoá nhưng cho đến nay nó đã phát triển rất mạnh và đước biểu
hiện dưới nhiều hình thức.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng hoá
2.1. Đối với nền kinh tế thế giới
Hoạt động xuất khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là
hoạt động đầu tiên của thương mại quốc tế. Xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như trên toàn thế giới.
Trước hết, xuất khẩu bắt nguồn từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiện của sản
xuất giữa các nước, nên chuyên môn hoá một số mặt hàng có lợi thế và nhập khẩu
các mặt hàng khác từ nước ngoài mà sản xuất trong nước kém lợi thế hơn thì chắc
chắn sẽ đem lại lợi nhuần lớn hơn. Điều này được thể hiện bằng lý thuyết sau.
Theo quan điểm về lợi thế tuyệt đối của nhà kinh tế học Adam Smith, một
quốc gia chỉ sản xuất các loại hàng hoá, mà việc sản xuất này sử dụng tốt nhất, hiệu
quả nhất các tài nguyên sẵn có của quốc gia đó. Đây là một trong những giải thích
đơn giản về lợi ích của thương mại quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng. Nhưng


trên thực tế việc tiến hành trao đổi phải dưa trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi.
Nếu trong trường hợp một quốc gia có lợi và một quốc gia khác bị thiết thì họ sẽ từ
chối tham gia vào hợp đồng trao đổi này.
2.2. Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
Xuất khẩu là một trong những tố tạo đà, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia.
Theo như hầu hết các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đều khẳng định và chỉ rõ
để tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia cần có bốn điều kiện là nguồn nhân lực, tài
nguyên, vốn, kỹ thuật công nghệ. Nhưng hầu hết các quốc gia đang phát triển (như Việt Nam ) đều
thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ. Do vậy câu hỏi đặt ra làm thế nào để có vốn và công nghệ.
a.Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là phải công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước để khắc phục tình trạng nghèo làn lạc hậu chận phát triển. Tuy nhiên quá trình
công nghiệp hoá phải có một lượng vốn lớn để nhập khẩu công nghệ thiết bị tiên tiến.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài thì không ai có thể phủ nhận
được, song việc huy động chúng không phải rễ dàng. Sử dụng nguồn vốn này, các
nước đi vay phải chịu thiệt thòi, phải chịu một số điều kiện bất lợi và sẽ phải trả sau
này.
Bởi vì vậy xuất khẩu là một hoạt động tạo một nguồn vốn rất quan trọng nhất.
Xuất khẩu tạo tiền đề cho nhập khẩu, nó quyết định đến qui mô tốc độ tăng trưởng
của hoạt động nhập khẩu. Ở một số nước một trong những nguyên nhân chủ yếu của
tình trạng kém phát triển là do thiếu tiềm năng về vốn do đó họ cho nguồn vốn ở bên
ngoài là chủ yếu, song mọi cơ hội đầu tư vay nợ và viện trợ của nước ngoài chỉ
thuận lợi khi chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng sản xuất và xuất khẩu
–nguồn vốn duy nhất để trả nợ thành hiện thực .
b. Xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển
Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã và

đang thay đổi mạnh mẽ. Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia
từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thứ nhất, chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội
địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất về cơ bản
chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự dư thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu
chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm, do đó các ngành sản xuất không
có cơ hội phát triển.
Thứ hai, coi thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Quan điểm
này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy xuất khẩu. Nó thể
hiện:
+ Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành cùng có cơ hội phát triển. Điều này có
thể thông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu, các ngành khác như
bông, kéo sợi, nhuộm, tẩy…sẽ có điều kiện phát triển.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phầnổn định sản
xuất, tạo lợi thế nhờ quy mô.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất,
mở rộng thị trường tiêu dùng của một quốc gia. Nó cho phép một quốc gia có rthể
tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lương lớn hơn nhiều lần giới hạn khả năng sản
xuất của quốc gia đó thậm chí cả những mặt hàng mà họ không có khả năng sản
xuất được.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Xuất khẩu góp phần thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản
xuất của từng quốc gia. Nó cho phép chuyên môn hoá sản xuất phát triển cả về chiều
rộng và chiều sâu. Trong nền kinh tế hiện đại mang tính toàn cầu hoá như ngày nay,
mỗi loại sản phẩm người ta nghiên cứu thử nghiệm ở nước thứ nhất, chế tạo ở nước
thứ hai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu thụ ở nước thứ tư và thanh toán thực hiện ở nước
thứ năm. Như vậy, hàng hoá sản xuất ra ở mỗi quốc gia và tiêu thụ ở một quốc gia

cho thấy sự tác động ngược trở lại của chuyên môn hoá tới xuất khẩu.
Với đặc điểm quan trọng là tiền tệ sản xuất sử dụng làm phương tiện thanh
toán, xuất khẩu góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia. Đặc biệt với các
nước đang phát triển đồng tiền không có khả năng chuyển đổi thì ngoại tệ có được
nhờ xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà về cung cấp ngoại tệ, ổn
định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trưởng và phát triển kinh tế.
c. Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải
thiện đời sống nhân dân.
Đối với công ăn việc làm, xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động thông qua
việc sản xuất hàng xuất khẩu. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu
hàng tiêu dùng đáp ứng yêu cầu ngay càng đa dạng và phong phú của nhân dân.
d. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ
kinh tế đối ngoại.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, ngoại giao có tác động qua
lại, phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là cơ sở tiền đề vững chắc để xây dựng
các mối quan hề kinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo theo các mối quan hệ khác phát
triển như du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế… ngược lại sự phát
triển của các ngành này lại tác động trở lại hoạt động xuất khẩu làm cơ sở hạ tầng
cho hoạt động xuất khẩu phát triển.

2.3. Đối với các doanh nghiệp
Cùng với sự bùng nổi của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra thị trường quốc
tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Xuất khẩu là
một trong những con đường quen thuộc để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch
bành trướng, phát triển, mở rộng thị trường của mình.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của doanh nghiệp không
chỉ được các khách hàng trong nước biết đến mà còn có mặt ở thị trường nước
ngoài.

Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó nâng cao
khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị, nguyên vật
liệu… phục vụ cho quá trình phát triển.
Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của cán bộ XNK cũng như các
đơn vị tham gia như: tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong khả năng xuất khẩu
các thị trường mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác
quản trị kinh doanh. Đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi thọ của chu kỳ
sống của một sản phẩm.
Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lần nhau giữa các đơn vị tham gia
xuất khẩu trong và ngoài nước. Đây là một trong những nguyên nhân buộc các
doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu, các
doanh nghiệp phải chú ý hơn nữa trong việc hạ giá thành của sản phẩm, từ đó tiết
kiệm các yếu tố đầu vào, hay nói cách khác tiết kiệm các nguồn lực.
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được thu hút được nhiều lao
động bán ra thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân viên và tăng thêm
thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân viên và tăng thêm lợi nhuận.
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán
kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài dựa trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
II .Các hình thức xuất khẩu chủ yếu.
1. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu trong đó người bán (người sản
xuất, người cung cấp) và người mua quan hệ trực tiếp với nhau (bằng cách gặp mặt,
qua thư từ, điện tín) để bàn bạc thỏa thuận về hàng hóa, giá cả và các điều kiện giao
dịch khác.
2. Xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp hay xuất khẩu qua trung gian là hình thức mua bán quốc
tế được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của trung gian thứ ba. Người thứ ba này được
Website: Email : Tel : 0918.775.368

hưởng một khoản tiền nhất định. Người trung gian phổ biến trong xuất khẩu gián
tiếp là đại lý và môi giới.
3. Gia công quốc tế
Đây là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên
nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi
là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và
nhận thù lao (gọi là phí gia công). Trong gia công quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu
gắn liền với hoạt động sản xuất .
4. Xuất khẩu gia công uỷ thác
Đây là một hình thức xuất khẩu mà doanh nghiệp xuất khẩu đóng vai trò trung
gian, đại diện cho nhà sản xuất, ký kết hợp đồng xuất khẩu và làm thủ tục xuất khẩu,
sau đó doanh nghiệp được hưởng phần trăm theo lợi nhuận hoặc một số tiền nhất
định, theo thương vụ hay theo kì hạn. Hình thức này có thể phát triển mạnh khi
doanh nghiệp đại diện cho người sản xuất có uy tín và trình độ nghiệp vụ cao trên
thị trường quốc tế.
5. Phương thức buôn bán đối lưu.
Buôn bán đối lưu hay còn gọi là hình thức xuất khẩu liên kết là một phương
thức giao dịch trao đổi hàng hoá mà xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu,
người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương xứng với
lượng hàng nhận về. Ở đây mục đích của xuất khẩu không phải nhằm thu ngoại tệ
mà thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương.
6. Xuất khẩu tại chỗ
Đây là một hình thức xuất khẩu mà hàng hoá không di chuyển ra khỏi biên
giới quốc gia mà được sử dụng ở các khu chế xuất hoặc doanh nghiệp bán sản phẩm
cho các tổ chức nước ngoài ở trong nước. Hình thức này càng phổ biến rộng rãi hơn
nhưng nhược điểm là các doanh nghiệp bán hàng sẽ thu được lợi nhuận ít hơn bên
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cạnh đó có nhiều thuận lợi là các thủ tục bán hàng, quản lí được rủi ro, thực hiện
hợp đồng nhanh hơn, tốc độ quay vòng sản phẩm nhanh hơn.
7. Giao dịch tái xuất khẩu

Tái xuất là lại xuất khẩu ra nước ngoài những hàng hoá trước đây đó nhập
khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất .Giao dich tái xuất bao gồm nhập khẩu và
xuất khẩu với mục đích thu về một số ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu. Giao dịch
này luôn thu hút ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu.
Giao dịch tái xuất khẩu gồm hai hình thức: Hình thức kinh doanh chuyển
khẩu và hình thức kinh doanh tạm nhập tái xuất.
Theo luật Thương mại Việt nam 2005, hình thức kinh doanh chuyển khẩu là
mua hàng của một nước (nước xuất khẩu) để bán cho một nước khác (nước nhập
khẩu) mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất
khẩu từ Việt Nam.
Theo điều 29 Luật Thương mại và điều 12 Nghị định 12/2006/NĐ-CP thì
hình thức tạm nhập tái xuất là việc hàng hóa được đưa từ nước ngoài hoặc từ khác
khu vực đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam, được coi là khu vực hải quan riêng theo
quy định của pháp luật, vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và
xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam.
8.Giao dịch tại sở giao dịch hàng hóa
Sở giao dịch hàng hoá là một thị trường đặc biệt, tại đó thông qua những người
môi giới do sở giao dịch chỉ định, người ta mua bán hàng hoá với khối lượng lớn, có
tính chất đồng loại và có phẩm chất có thể thay đổi được với nhau.
III.Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu
1.Các nhân tố quốc tế
Đây là các nhân tố nằm ngoài phạm vi điều khiển của quốc gia. Có ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1 Môi trường kinh tế
Tình hình phát triển kinh tế của thị trường xuất khẩu có ảnh hưởng tới nhu cầu
và khả năng thanh toán của khách hàng, do đó có ảnh hưởng đến hoạt đông xuất
khẩu của doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của thị
trường xuất khẩu là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thu nhập của dân cư, tình hình
lạm phát ,tình hình lãi xuất…

1.2 Môi trường cạnh tranh
Mức độ cạnh tranh quốc tế biểu hiện ở sức ép từ phía các doanh nghiệp, các
công ty quốc tế đối với doanh nghiệp, khi cùng tham gia vào một thị trường xuất
khẩu nhất định. Sức ép ngày càng lớn thì ngày càng khó khăn cho doanh nghiệp
muốn thâm nhập, duy trì, mở rộng thị trường xuất khẩu cho mình
1.3 Môi trường luật pháp
Tình hình chính trị hợp tác quốc tế được biểu hiện ở xu thế hợp tác giữa các
quốc gia. Điều này sẽ dẫn đến sự hình thành các khối kinh tế, chính trị của một
nhóm các quốc gia do đó sẽ ảnh hưởng đến tình hình thị trường xuất khẩu của doanh
nghiệp.
1.4 Môi trường văn hoá xã hội
Đặc điểm và sự thay đổi của văn hoá - xã hội của thị trường xuất khẩu có ảnh
hưởng lớn đến nhu cầu của khách hàng, do đó ảnh hưởng đến các quyết định mua
hàng của khách hàng và ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghệp.
2.Các nhân tố quốc gia
2.1.Nguồn lực trong nước
Một nước có nguồn lực dồi dào là điều kện thuận lợi để doanh nghiệp trong
nước có điều kiện phát triển xúc tiến các mặt hàng có sử dụng sức lao động. Về mặt
ngắn hạn, nguồn lực đuợc xem là không biến đổi vì vậy chúng ít tác động đến sự
biến động của xuất khẩu. Nước ta nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ là điều
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kiện thuận lợi để xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động như hàng thủ công
mỹ nghệ, may mặc giầy dép...
2.2.Hệ thống chính trị pháp luật của nhà nước
Nhân tố này không chỉ tác động đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp ở
hiện tại mà cón ảnh hưởng trong tương lai. Vì vậy doanh nghiệp phải tuân theo và
hưởng ứng nó ở hiện tại, mặt khác doanh nghệp phải có kế hoạch trong tương lai
cho phù hợp.
2.3.Cơ sở hạ tầng
Đây là yếu tố không thể thiếu nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Cơ sở hạ

tầng gồm:đường xá, bến bãi hệ thống vận tải,hệ thống thông tin,hệ thống ngân
hàng..có ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu nó thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt
động xuất khẩu.
2.4.Nhân tố công nghệ
Yếu tố công nghệ cũng tác động đến quá trình sản xuất, gia công chế biến hàng
hoá xuất khẩu. Khoa học công nghệ còn tác động tới lĩnh vực vận tải hàng hoá xuất
khẩu, kỹ thuật nghiệp vụ trong ngân hàng...Nhờ sự phát triển của bưu chính viễn
thông, các doanh nghiệp ngoại thương có thể đàm phán với các bạn hàng qua điện
thoại , fax.. giảm bớt chi phí, rút ngắn thời gian. Giúp các nhà kinh doanh nắm bắt
các thông tin chính xác,kịp thời .
2.5.Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa giá đồng nội tệ và đồng ngoại tệ.Tỷ gía
hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện chiến lược
hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu trong hoạt động xuất khẩu. Do vậy doanh nghiệp
cần quan tâm đến yếu tố tỷ giá vì nó liên quan đến việc thu đổi ngoại tệ sang nội tệ,
từ đó ảnh hướng đến hiệu quả xuất của doanh nghiệp.Để biết được tỷ giá hối đoái,
doanh nghiệp phải hiểu được cơ chế điều hành tỷ giá hiện hành của nhà nước,theo
dõi biến động của nó từng ngày.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.6.Mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước
Cạnh tranh một mặt có tác động thúc đẩy sự vươn lên của các doanh nghiệp,
mặt khác nó cũng dìm chết các doanh nghiệp yếu kém. Mức độ cạnh tranh ở đây
biểu hiện ở số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cùng ngành hoặc các mặt
hàng khác có thể thay thế được. Hiện nay, nhà nước Việt Nam có chủ trương
khuyến khích mọi doanh nghiệp mới tham gia xuất khẩu đã dẫn đến sự bùng nổ số
lượng các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu do đó đôi khi có sự cạnh tranh không
lành mạnh.
3.Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Là các nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể tác
động làm thay đổi nó để phục vụ cho hoạt động xuất khẩu của mình. Bao gồm các

nhân tố sau:
3.1.Bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính của doanh nghiệp
Là sự tác đông trực tiếp của các cấp lãnh đạo xuống các cán bộ, công nhân viên
đến hoạt động tổ chức sản xuất và xuất khẩu hàng hoá. Một doanh nghiệp có cơ cấu
tổ chức hợp lý cách điều hành hoạt động kinh doanh sẽ quyết định tới hiệu quả kinh
doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
3.2.Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Một trong những yếu tố quan trọng tác động tới hoạt động xuất của doanh
nghiệp là vốn . Bên cạnh yếu tố về con người, tổ chức quản lý thì doanh nghiệp phải
có vốn để thực hiên các mục tiêu về xuất khẩu mà doanh nghiệp đã đề ra. Năng lực
tài chính có thể làm hạn chế hoặc mở rộng các khả năng của doanh nghiệp vì vốn là
tiền đề cho mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
3.3.Yếu tố lao động
Con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động. Hoạt động xuất
khẩu hàng hoá đặc biệt phải nhấn mạnh đến yếu tố con người bởi vì nó là chủ thể
sáng tạo và trực tiếp điều hành các hoạt động. Trình độ và năng lực trong hoạt động
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xuất khẩu của các bên kinh doanh sẽ quyết định tới tới hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
3.4.Tiềm lực vô hình (tài sản vô hình)
Tiềm lực vô hình tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp trong hoạt động thương
mại. Tiềm lực vô hình không phải tự nhiên mà có. Tuy có thể được hình thành một
cách tự nhiên, nhưng nhìn chung tiềm lực vô hình cần được tạo dựng một cách có ý
thức thông qua các mục tiêu và chiến lược xây dựng tiềm lực vô hình cho doanh
nghiệp và cần chú ý đến khía cạnh này trong tất cả các hoạt động của doanh nghiệp.
Tiềm lực của doanh nghiệp có thể là:
- Hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường
- Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hóa
- Uy tín và mối quan hệ xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp :đối với mỗi doanh
nghiệp tài sản quý giá nhất của họ chính là uy tín của doanh nghiệp và nó góp phần

tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp vì nếu một doanh nghiệp có uy tín thấp
trên thương trường thì hoạt động xuất khẩu và việc mở rộng thị trường xuất khẩu
không thể thực hiện tốt được. Do đó vấn đề nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên
thị trường cần phải được các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu.
3.5.Trình độ tiên tiến của trang thiết bị, công nghệ, bí quyết công nghệ của
doanh nghiệp.
Ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chi phí, giá thành và chất lượng hàng hóa
được đưa ra đáp ứng khách hàng trong và ngoài nước.
3.6.Khả năng kiểm soát, chi phối, độ tin cậy của nguồn cung cấp hàng hóa và
dự trữ hợp lý hàng hóa của doanh nghiệp.
Yếu tố này ảnh hưởng tới “đầu vào” của doanh nghiệp và tác động mạnh mẽ
đến kết quả thực hiện các chiến lược kinh doanh cũng như ở khâu tiêu thụ sản phẩm.
Không kiểm soát hoặc không đảm bảo được sự ổn định, chủ động về nguồn cung
cấp hàng hóa cho doanh nghiệp thì việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩu không thể

×