TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
-----
-----
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011 – 2014)
Tên đề tài:
PHÁP LUẬT VỀ THỊ TRƯỜNG MỞ
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH
NGUYỄN CHÍ KHANG
MSSV: 5115715
Lớp: Luật Thương mại 1
CẦN THƠ, tháng 12 năm 2014
-------------
-------------
Tác giả xin chân thành cảm ơn thầy Dương Văn Học đã truyền đạt những kỹ
năng và những kiến thức hữu ích liên quan quyền đảm bảo an sinh xã hội trong pháp
luật Việt Nam cũng như tạo điều kiện để tác giả hoàn thành tốt Luận văn.
Mặc dù rất cố gắng trong quá trình hoàn thiện luận văn, nhưng sẽ không tranh
khỏi thiếu sót. Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các Thầy, Cô,
các bạn sinh viên và người đọc để tác giả có thể hoàn thành tốt hơn nữa đề tài nghiên
cứu của mình.
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................
...............................................
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
....................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................
....................................................................................................................................................
...........................................
................................................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Danh mục văn bản quy phạm pháp luật
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, sửa đổi năm 2013
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006
Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn
một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc
Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 04 năm 2007 của Chính phủ về Chính
sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội
Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2010 sửa đổi, bổ sung một số điều
nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 04 năm 2007 của Chính phủ về Chính
sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội
Thông tư 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 01 năm 2007 của Bộ Lao động
Thương Binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều
của Luật Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thông tư 19/2008/TT-BLĐTBXH ngày 23 tháng 09 năm 2008 của Bộ Lao động
Thương Binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư 03/2007/TTBLĐTBXH ngày 30 tháng 01 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị
định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một
số điều của Luật Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc hướng dẫn thực hiện
một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính
phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thông tư 41/2009/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 12 năm 2009 của Bộ Lao động
Thương Binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung Thông tư 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30
tháng 01 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐCP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo
hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thông tư 23/2012/TT-BLĐTBXH ngày 18 tháng 10 năm 2012 của Bộ Lao động
Thương Binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư 19/2008/TTBLĐTBXH ngày 23 tháng 09 năm 2008 của Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội sửa
đổi, bổ sung một số điều Thông tư 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 01 năm
2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22
tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội và
bảo hiểm xã hội bắt buộc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều
của Luật Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thông tư 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 01 năm 2007 hướng dẫn thực hiện
một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính
phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc
Danh mục sách báo, tạp chí
Nguyễn Văn Định, Giáo trình Luật an sinh xã hội, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà
Nội, 2008
Nguyễn Thị Kim Phụng, Giáo trình Luật an sinh xã hội, NXB Công an nhân dân, Hà
Nội, 2008
Ths. Diệp Thành Nguyên, Giáo trình Luật an sinh xã hội, Khoa Luật, Đại học Cần
Thơ, 2012
Nguyễn Văn Dung – Lã Khánh Tùng – Vũ Công Giao, Giáo trình lý luận và pháp luật
về quyền con người, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội
Bùi Hồng Lĩnh, Kết quả thực hiện pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng
những năm vừa qua và nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới.
ThS. Nguyễn Văn Chiều, An sinh xã hội và định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao vai
trò của khoa học xã hội vào quá trình hoạch định chính sách an sinh xã hội ở Việt
nam, Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Danh mục trang thông tin điện tử
Bảo đảm an sinh xã hội - một quyền mới của công dân, />Đối tượng được hưởng ưu đãi xã hội, />
Giáo trình Lý luận và Pháp luật về Quyền Con Người, />Luật an sinh xã hội, />Luật
Bảo
hiểm
xã
hội
-
Nhiều
bất
cập
cần
sửa
đổi,
/>emID=1155
Nhân quyền, />Trao đổi ý kiến: Bất cập về chính sách bảo hiểm xã hội: Văn bản có khác luật,
/>Vũ Ngọc Bình, Liên hợp quốc và pháp luật quốc tế về quyền con người (The United
Nations
and
International
Human
Rights
Law),
/>Xác định rõ "Quyền con người và quyền cơ bản của công dân",
/>emID=828
Ưu đãi xã hội ở Việt Nam, />
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quyền con người và quyền được đảm bảo về an sinh xã hội là những yếu tố cơ
bản, nền tảng của một xã hội dân chủ, văn minh. Tư tưởng về quyền con người (nhân
quyền) đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại; nhưng không phải trong bất cứ
hình thái kinh tế - xã hội nào, trong bất cứ kiểu Nhà nước nào nó cũng tồn tại và được
thừa nhận một cách đầy đủ. Vì thế, quyền con người là một phạm trù lịch sử và là kết
quả của cuộc đấu tranh không ngừng của toàn nhân loại vươn tới những lý tưởng, giải
phóng hoàn toàn con người nhằm xây dựng một xã hội thật sự công bằng, dân chủ,
nhân đạo. Giai cấp tư sản khi thực hiện cách mạng tư sản, đã coi nhân quyền như một
vũ khí của mình để tranh giành quyền lực với giai cấp phong kiến và để tập hợp lực
lượng trong xã hội; do đó từ thế kỷ XVIII vấn đề nhân quyền đã được giai cấp tư sản
đề cập đến như Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1789, Tuyên
ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị đập tan năm
1945, vấn đề nhân quyền đã trở thành mối quan tâm của cả Nhà nước xã hội chủ nghĩa
và tư bản chủ nghĩa, nên khi tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời thì vấn đề cơ bản, đầu tiên
của tổ chức này là vấn đề nhân quyền. Nhân quyền đã trở thành vấn đề quan trọng,
thường xuyên được đề cập đến trong quan hệ quốc tế. Liên Hợp Quốc đã ban hành
hàng loạt các văn kiện khẳng định các quyền và tự do của tất cả mọi người, đặc biệt là
Hiến chương Liên Hợp Quốc 1945 và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948
thì vấn đề nhân quyền đã chuyển sang một bước ngoặt mới trong lịch sử nhân loại, trở
thành một quan hệ cơ bản được điều chỉnh bằng pháp luật quốc tế. Đến nay quyền con
người đã được ghi nhận, khẳng định trong Hiến pháp của nhiều quốc gia trên thế giới.
Tại Việt Nam, kể từ khi giành được độc lập (năm 1945), Đảng và Nhà nước ta
luôn tôn trọng quyền con người. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2/9/1945
được coi là một văn kiện có tính lịch sử trên phương diện quốc tế về quyền con người.
Trên cơ sở đó, quyền con người đã được ghi nhận trong Hiến pháp nước ta: Hiến pháp
năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Điều
50 Hiến pháp năm 1992 của nước ta khẳng định: "ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được
tôn trọng và bảo đảm thực hiện". Điều 4 Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung nguyên tắc
hạn chế quyền phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt nam là
thành viên. Đó là "Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy
định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự
an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng". Việc hạn chế quyền con người,
quyền công dân không thể tùy tiện mà phải "theo quy định của luật".
Song song đó đảm bảo an sinh xã hội là yêu cầu và điều kiện cần thiết của sự ổn
định, phát triển đất nước, góp phần hiện thực hóa các quyền xã hội của mọi người dân.
Vượt qua khó khăn, thách thức, kể cả sự xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch
và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước
Việt Nam, hoạt động bảo đảm an sinh xã hội ngày càng được triển khai có hiệu quả, trở
thành một điểm sáng trong thực hiện nhân quyền ở Việt Nam...Xây dựng và hoàn thiện
hệ thống an sinh xã hội được Đảng và Nhag nước ta xác định là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm, là chủ trương, chính sách lớn phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ
xã hội chủ nghĩa và ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định chính trị và phát triển bền
vững của đất nước.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, việc nghiên cứu cơ sở lý luận,
đánh giá những thành tựu, kết quả đã đạt được và những tồn tại, hạn chế của vấn đề
đảm bảo quyền an sinh xã hội là cần thiết. Đồng thời, qua đó xác định phương hướng,
nội dung, phương pháp thực hiện việc đảm bảo an sinh xã hội trong điều kiện xây dựng
Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Chính vì vậy, nhu cầu hoàn thiện và nâng
cao hiệu quả để phát huy quyền được đảm bảo an sinh xã hội trong pháp luật là cần
thiết. Nhận thức được điều đó, nên tác giả đã chọn vấn đề “Pháp luật Việt nam về
đảm bảo quyền an sinh xã hội” để làm đề tài nghiên cứu của Luận văn.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu những quy định pháp luật về
quyền đảm bảo an sinh xã hội, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của vấn đề
quyền con người, quyền đảm bảo an sinh xã hội của công dân để tìm hiểu tổng quan về
quyền con người và khái quát về quyền an sinh xã hội, để thấy được những tồn tại và
hạn chế trong quá trình thực hiện quyền bảo đảm an sinh xã hội. Từ đó, đưa ra những
giải pháp, định hướng thúc đẩy quá trình phát triển của vấn đề đảm bảo an sinh xã hội.
3. Phạm vi nghiên cứu
Tổng quan về quyền con người, khái quát về quyền an sinh xã hội, sự ghi nhận
của quyền đảm bảo an sinh xã hội trong pháp luật Việt Nam và quốc tế là những vấn đề
lý luận chung được tác giả tập trung nghiên cứu. Trên cơ sở những kiến thức chung, tác
giả đã phân tích làm rõ các vấn đề liên quan đến các quan hệ trong an sinh xã hội như:
bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội. Từ những lý luận vừa phân tích, tác giả
đánh giá những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế, bất cập trong quá
trình thực thi những quy định pháp luật liên quan đến quyền đảm bảo an sinh xã hội, từ
đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp phân tích luật viết
kết hợp với các biện pháp so sánh, đối chiếu và tổng hợp từ các văn bản quy phạm
pháp luật liên quan đến thị trường mở. Bên cạnh đó, những phương pháp như thống kê,
suy luận logic cũng được tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu.
5. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn bao gồm các phần:
+ Mục lục;
+ Lời nói đầu;
+ Nội dung chính của luận văn, được chia thành 2 chương:
Chương I: Quyền đảm bảo an sinh xã hội trong pháp luật Việt Nam .
Chương II: Thực tiễn và hướng hoàn thiện quyền đảm bảo an sinh xã hội trong
pháp luật Việt Nam.
+ Kết luận;
+ Danh mục tài liệu tham khảo.
KẾT LUẬN
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, quyền đảm bảo an sinh xã hội
ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đảm bảo quyền an sinh xã hội đã góp phần ổn định đời sống của con người.
Trong trường hợp con người bị đau ốm, bệnh tật, mất khả năng lao động, mất việc
làm,… hệ thống an sinh xã hội sẽ có vai trò thay thế hoặc bù đấp một phần thu nhập.
Nhờ vậy, mà con người có thể nhanh chống khắc phục được những tổn thất về vật chất,
nhanh chống phục hồi về sức khỏe, thể lực, ổn định cuộc sống thường nhật. Bên cạnh
đó, an sinh xã hội còn góp phần đảm bảo an toàn, ổn định nền kinh tế xã hội. Có thể
khẳng định rằng, hệ thống an sinh xã hội là hệ thống chính sách từ trước đến nay đã
được quan tâm và mở rộng, từ đó có được sự chủ động, mau chống cân bằng cuộc sống
của con người trong những trường hợp cần thiết. Chính vì lẻ đó, phát triển và đảm bảo
quyền an sinh xã hội là một yêu cầu bức thiết của quá trình phát triển và bền vững đất
nước. Ngày nay, Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển, đồng thời đang phải đối mặt
với nhiều thách thức bởi những rủi ro bất ngờ do thiên tai gây ra. Vì vậy, việc xây dựng
và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội là một yêu cầu bức thiết nhằm đảm bảo ổn định
chính trị, xã hội và phát triển đất nước. Với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà
nước và quyết tâm của toàn xã hội, an sinh xã hội ngày càng được đảm bảo, góp phần
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng
trong quá trình điều hành các hoạt động của nền kinh tế. Tuy nhiên, để chính sách tiền
tệ thực sự có ý nghĩa và thể hiện đúng vai trò, vị trí của mình phải phụ thuộc rất nhiều
vào quá trình sử dụng các công cụ để thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà
nước. Hiện tại, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 ghi nhận các công cụ
điều hành chính sách tiền tệ gồm công cụ tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ
bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở.
Trải qua một khoản thời gian lâu dài chuẩn bị về hệ thống pháp luật, nguồn
nhân lực và trang thiết bị phục vụ cho quá trình hoạt động, thị trường mở của Ngân
hàng trung ương chính thức đi vào hoạt động vào tháng 7 năm 2000. Kể từ khi ra đời,
thị trường mở đã được thực hiện an toàn và hiệu quả trong việc điều hành chính sách
tiền tệ, góp phần quan trọng vào việc điều tiết và kiểm soát lượng tiền cung ứng của
Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động thị trường mở còn bộc lộ
những hạn chế nhất định. Chủ thể tham gia còn ít, hàng hóa giao dịch chưa được nhiều,
quy trình xử lý thông tin chưa hoàn thiện là những lý do làm cho nghiệp vụ thị trường
mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa thật sự phát triển.
Chính vì vậy, nhu cầu hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị
trường mở là cần thiết. Nhận thức được điều đó, nên tác giả đã chọn vấn đề “Pháp luật
về thị trường mở” để làm đề tài nghiên cứu của Luận văn.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu những quy định pháp luật về
thị trường mở để thấy được những tồn tại và hạn chế trong quá trình điều hành chính
sách tiền tệ thông qua công cụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước. Từ đó, đưa ra
những giải pháp, định hướng thúc đẩy quá trình phát triển của hoạt động thị trường mở.
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 1
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
3. Phạm vi nghiên cứu
Lịch sử hình thành, cơ chế tác động, vai trò và nhân tố ảnh hưởng đến sự vận
hành của thị trường mở là những vấn đề lý luận chung về thị trường mở được tác giả
tập trung nghiên cứu. Trên cơ sở những kiến thức chung, tác giả đã phân tích làm rõ tư
cách pháp lý cũng như mục đích của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khi
tham gia thị trường mở. Đồng thời, những hàng hóa tham gia thị trường mở như tín
phiếu kho bạc, tín phiếu ngân hàng nhà nước và chứng chỉ tiền gửi cũng được tác giả
giới thiệu trong chương này. Những hàng hóa tham gia giao dịch trên thị trường mở có
thể được mua bán dưới hình thức mua bán hẳn hoặc mua bán có kỳ hạn, thông qua
phương thức đấu thầu lãi suất hoặc đấu thầu khối lượng theo những trình tự và thủ tục
của Luật định.
Từ những lý luận vừa phân tích, tác giả đánh giá những kết quả đạt được cũng
như những tồn tại, hạn chế trong quá trình vận hành của thị trường mở, từ đó đề xuất
những giải pháp hoàn thiện.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp phân tích luật
viết kết hợp với các biện pháp so sánh, đối chiếu và tổng hợp từ các văn bản quy phạm
pháp luật liên quan đến thị trường mở. Bên cạnh đó, những phương pháp như thống kê,
suy luận logic cũng được tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu.
5. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn bao gồm các phần:
+ Mục lục;
+ Lời nói đầu;
+ Nội dung chính của luận văn, được chia thành 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về thị trường mở.
Chương II: Quy định pháp luật điều chỉnh về thị trường mở.
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 2
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
Chương III: Nhận xét việc thực hiện quy định pháp luật về thị trường mở - Một
số định hướng hoàn thiện.
+ Kết luận;
+ Danh mục tài liệu tham khảo.
-------------
-------------
Tác giả xin chân thành cảm ơn cô Lê Huỳnh Phương Chinh đã truyền đạt
những kỹ năng và những kiến thức hữu ích liên quan đến nghiệp vụ thị trường mở của
Ngân hàng trung ương cũng như tạo điều kiện để tác giả hoàn thành tốt luận văn.
Mặc dù rất cố gắng trong quá trình hoàn thiện luận văn, nhưng sẽ không tranh
khỏi thiếu sót. Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các Thầy, Cô,
các bạn sinh viên và người đọc để tác giả có thể hoàn thành tốt hơn nữa đề tài nghiên
cứu của mình.
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 3
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG MỞ
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường mở
Trên thế giới, thị trường mở (OMO – open Market Operations) được hình
thành đầu tiên vào năm 1920 tại Mỹ, khi Hệ thống dự trữ Liên bang (Federal Reserve
System – FED), tức Ngân hàng Trung ương của Mỹ tiến hành mua bán chứng khoán
Chính phủ với các Ngân hàng thương mại để hỗ trợ thêm cho các nghiệp vụ của Ngân
hàng Trung ương. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945), Ngân hàng trung
ương của các nước Châu Âu cũng đã sử dụng nghiệp vụ mua bán chứng khoán Chính
phủ để hỗ trợ chính sách tái chiết khấu. Kể từ đó khái niệm thị trường mở được sử
dụng rộng rãi tại các quốc gia theo nền kinh tế thị trường và tại các ngân hàng phát
triển1.
Ở Việt Nam, thị trường mở ra đời muộn hơn so với các nước trên thế giới.
Một thời gian dài 15 năm sau đổi mới (1986 – 1998), Việt Nam vẫn chưa đảm bảo
được những điều kiện cần thiết để đưa thị trường mở đi vào hoạt động. Bởi, trên thực
tế Việt Nam vẫn chưa có một thị trường chứng khoán nào được hình thành.
Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở, lần đầu tiên đề cập tại Luật Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam năm 1997. Theo đó “Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua,
bán các giấy tờ có giá ngắn hạn do Ngân hàng Nhà nước thực hiện trên thị trường
tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia”2. Sau đó, khái niệm nghiệp vụ thị
trường mở được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 1 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2003)3. Ngày 11 tháng 7 năm 1998 Chính phủ
ban hành Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Cũng trong ngày 11 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số
127/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng
1
Dương Hữu Hạnh, Ngân hàng trung ương các vai trò và các nghiệp vụ (Central Bank: Roles and Operations),
Nhà xuất bản Lao động, trang 662
2
Khoản 4, Điều 9, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997
3
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán ngắn hạn các giấy tờ có giá do Ngân hàng Nhà nước thực hiện
trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 4
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
khoán Thành phố Hồ Chí Minh4. Như vậy, thị trường chứng khoán đầu tiên của Việt
Nam đã được hình thành vào năm 1998 với tên gọi là Trung tâm Giao dịch Chứng
khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau đó, Quyết định số 85/2000/QĐ-NHNN ngày 09/3/2000 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành kèm theo Quy chế nghiệp vụ thị trường mở
ra đời. Quyết định số 85/2000/QĐ-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam ban hành kèm theo Quy chế nghiệp vụ thị trường mở đã đưa ra những quy định
pháp luật liên quan nhằm cụ thể hóa khái niệm thị trường mở tại Luật Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2003). Những quy định pháp luật liên
quan đến thị trường mở như: công nhận thành viên tham gia thị trường mở, các loại
giấy tờ có giá được tham gia giao dịch thông qua thị trường mở, phương thức mua bán
và phương thức đấu thầu giấy tờ có giá…Nhìn chung, quy chế nghiệp vụ thị trường
mở được ban hành kèm theo quyết định số 85/2000/QĐ-NHNN đã đưa ra những quy
định làm nền móng cho sự hình thành và phát triển quy định pháp luật về thị trường
mở sau này.
Tuy nhiên, mãi đến năm 2000 thị trường mở mới được Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam chính thức triển khai áp dụng5. Thị trường mở đi vào hoạt động đã thể hiện
được vai trò quan trọng trong việc điều tiết – tăng hoặc giảm – mức dự trữ của các tổ
chức tín dụng, góp phần nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc
mua hoặc bán giấy tờ có giá. Với sự thành công của phiên giao dịch đầu tiên của thị
trường mở ở Việt Nam vào tháng 7 năm 2000, đánh dấu bước phát triển mới trong cơ
chế điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam6. Đây được xem là kết quả bước đầu của
cả một quá trình nỗ lực chuẩn bị, góp phần đổi mới trong việc điều hành chính sách
tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước chuyển dần từ việc áp dụng các công cụ trực tiếp sang
các công cụ gián tiếp.
4
Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh hình thành và phát triển,
[Truy cập ngày 28/7/2014]
5
Trần Trọng Độ, Thị trường mở từ lý luận đến thực tiễn, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2004, Hà Nội, trang 5
6
Nguyễn Văn Dờn, Nghiệp vụ ngân hàng trung ương, Nhà xuất bản Phương Đông, trang 111
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 5
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
Hiện nay, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định về thị
trường mở như sau: “Ngân hàng Nhà nước thực hiện thị trường mở thông qua việc
mua, bán giấy tờ có giá đối với tổ chức tín dụng”7. Điều đó cho thấy, quy định pháp
luật về thị trường mở ngày một hoàn thiện góp phần thúc đẩy hoạt động thị trường mở
ngày càng hiệu quả.
Thị trường mở ra đời có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết trong việc điều
hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
+ Thứ nhất, do hạn chế của những công cụ trực tiếp trong việc điều hành chính
sách tiền tệ quốc gia. Những công cụ trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ quốc
gia được ngân hàng trung ương sử dụng dưới các hình thức: quy định hạn mức tín
dụng, khống chế trực tiếp lãi suất tiền gửi – lãi suất tiền vay, khống chế trực tiếp tỷ giá
mua – bán ngoại tệ của các ngân hàng8. Trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ
quốc gia, những công cụ trực tiếp thể hiện nhiều bất cập: thiếu chủ động, không có sự
liên kết chặt chẽ, chưa thật sự phản ánh được tín hiệu của thị trường. Đặc biệt, công cụ
trực tiếp dưới hình thức hạn mức tín dụng hiệu quả điều tiết chính sách tiền tệ không
cao, bởi nó thiếu linh hoạt và đôi khi ngược lại chiều hướng biến động của thị trường
tín dụng do đó đẩy lãi suất lên cao hoặc làm suy giảm khả năng cạnh tranh của ngân
hàng thương mại. Chính những bất cập của công cụ trực tiếp trong điều hành chính
sách tiền tệ đã làm cho hoạt động của ngân hàng trung ương đạt hiệu quả không cao.
Để khắc phục những bất cập đó, nghiệp vụ thị trường mở - một công cụ gián tiếp điều
hành chính sách tiền tệ ra đời.
+ Thứ hai, so với các công cụ gián tiếp khác trong điều hành chính sách tiền
tệ, nghiệp vụ thị trường mở thể hiện phần vượt trội hơn. Bởi vì, tự bản thân nghiệp vụ
thị trường mở có thể kiểm soát được toàn bộ khối lượng và thực hiện, trong khi đó
hành vi kiểm soát này không thể có được ở các công cụ khác9. Chẳng hạn như công cụ
7
Khoản 1, Điều 15, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010
Giáo trình Tiền tệ - Ngân hàng, Học viện ngân hàng, Nhà xuất bản Dân Trí, 2012, trang 340
9
Trần Trọng Độ, Thị trường mở từ lý luận đến thực tiễn, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội, 2004, trang
266
8
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 6
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
dự trữ bắt buộc, tự bản thân nó không phản ánh được toàn bộ dự trữ thực của hệ thống
ngân hàng và do đó nó khó có thể kiểm soát được lượng tiền cung ứng. Hay nghiệp vụ
tái chiết khấu, Ngân hàng trung ương có thể sử dụng lãi suất chiết khấu để điều tiết
hay khuyến khích các ngân hàng vay vốn. Nhưng trên thực tế, nó không thể kiểm soát
trực tiếp khối lượng chiết khấu.
+ Thứ ba, sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế,
đòi hỏi Việt Nam phải có thị trường tài chính lớn mạnh đủ để tham gia cạnh tranh
trong thị trường quốc tế. Thị trường mở sẽ góp phần hoàn thiện và phát triển thị trường
tài chính của Việt Nam.
+ Thứ tư, thị trường mở đã giúp cho chính phủ thực thi chính sách tiền tệ quốc
gia một cách hiệu quả. So với công cụ tái chiết khấu hay dự trữ bắt buộc, công cụ
nghiệp vụ thị trường mở thể hiện tính linh hoạt và tính chính xác cao hơn. Với nghiệp
vụ thị trường mở, Ngân hàng trung ương có thể điều hành cơ chế tiền tệ tùy theo mức
độ mong muốn thông qua việc mua hoặc bán một khối lượng chứng khoán lớn hoặc
nhỏ. Đặc biệt, hiện nay máy móc được trang bị hiện đại, chương trình đấu thầu hợp lý
điều đó giúp cho việc đấu thầu được diễn ra nhanh gọn đảm bảo bí mật số liệu mà
không bị trở ngại bởi các thủ tục hành chính.
+ Bên cạnh đó, thị trường mở còn có vai trò quan trọng đối với các tổ chức tín
dụng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng, thực hiện mục tiêu các chính sách tiền
tệ theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước.
Tóm lại, thị trường mở của Việt Nam ra đời có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Cùng với các công cụ khác của chính sách tiền tệ, thị trường mở đã giúp Ngân hàng
trung ương kiểm soát được sự thay đổi của mức cung ứng tiền tệ, phục vụ cho việc
thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định tiền tệ và ổn định hoạt động
của hệ thống ngân hàng, cũng như thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô – các công cụ
gián tiếp của chính sách tiền tệ được tăng cường.
Tuy vậy, tính đến thời điểm hiện tại những quy định về thị trường mở còn nằm
rải rác, chưa có sự thống nhất trong cùng một văn bản. Do đó, đòi hỏi phải có một
khung pháp lý hoàn chỉnh ra đời để điều chỉnh thị trường mở, nhằm đáp ứng được xu
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 7
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
thế phát triển của thị trường và hỗ trợ kịp thời nguồn vốn khả dụng cho các tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài10.
1.2. Khái niệm thị trường mở
Khái niệm thị trường mở được hiểu trên hai quan điểm cơ bản. Thứ nhất, xét
theo nghĩa rộng, thị trường mở (Open market) là một khái niệm của sự kết hợp giữa
phạm trù thị trường tiền tệ, thị trường tài chính. Thứ hai, xét theo nghĩa hẹp, thị trường
mở là thị trường tiền tệ mà ở đó người ta thực hiện việc mua hoặc bán các công cụ tài
chính. Trong nội dung này, người viết nghiên cứu theo quan điểm thứ hai, tức thị
trường mở là thị trường tiền tệ mà ở đó người ta thực hiện việc mua bán các giấy tờ có
giá ngắn hạn.
Thị trường mở là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ. Để hiểu như thế
nào là thị trường mở, trước tiên chúng ta phải hiểu rõ chính sách tiền tệ là gì? Một
cách tổng quát chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô của
Ngân hàng Nhà nước, do Ngân hàng trung ương chịu trách nhiệm khởi thảo và thực
thi. Thông qua các công cụ điều hành chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương thực
hiện việc kiểm soát khối lượng tiền cung ứng nhằm đạt các mục tiêu về giá cả, sản
lượng và công ăn việc làm. Như vậy, bản chất của chính sách tiền tệ chính là sự chủ
động của ngân hàng trung ương trong việc tạo ra các điều kiện về tiền tệ (mức cung
cầu hoặc lãi suất) với mục đích xác định. Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ là
ổn định giá trị đồng tiền và hướng đến một mục tiêu đã đặt ra trong nền kinh tế.Chính
sách tiền tệ của quốc gia được hiểu là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền
biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực
hiện mục tiêu đề ra11. Như vậy, chính sách tiền tệ quốc gia là chính sách kinh tế vĩ mô.
Thông qua các công cụ điều hành chính sách tiền tệ như dự trữ bắt buộc, chính sách tái
10
Bản giải trình về dự thảo Thông tư thay thế Quyết định 01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007 về việc ban hành
Quy chế nghiệp vụ thị trường mở và Quyết định số 27/2008/QĐ-NHNN ngày 30/9/2008 về việc sửa đổi, bổ sung
một số điều của Quy chế nghiệp vụ thị trường mở
11
Khoản 1, Điều 3, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 8
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
chiết khấu, hạn mức tín dụng và nghiệp vụ thị trường mở,.. Ngân hàng Nhà nước thực
hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm ổn định giá trị đồng
tiền và đạt được các mục tiêu kinh tế – xã hội đã đề ra.
Theo cách hiểu chung nhất, thị trường mở là nơi diễn hoạt động mua bán giấy
tờ có giá của Ngân hàng trung ương với các thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường
mở. Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá, ngân hàng trung ương tác động trực
tiếp đến dự trữ của hệ thống các tổ chức tín dụng và tác động gián tiếp đến lãi suất của
thị trường12. Xét về mặt lý thuyết, đối tượng của nghiệp vụ thị trường mở là các chứng
khoán ngắn hạn hoặc dài hạn. Các chứng khoán này có thể do Chính phủ phát hành
hoặc do các doanh nghiệp, các ngân hàng phát hành. Và các chủ thể tham gia với tư
cách là thành viên của nghiệp vụ thị trường mở có thể là các ngân hàng, các doanh
nghiệp hoặc các tổ chức phi tài chính. Xét về mặt thực tế, nghiệp vụ thị trường mở là
hành vi giao dịch các chứng khoán của ngân hàng trung ương với các thành viên tham
gia nghiệp vụ thị trường mở. Hàng hóa được giao dịch thực chất là các chứng khoán
nợ ngắn hạn hoặc dài hạn. Một khi đến hạn, bên phát hành chứng khoán nợ phải có
nghĩa vụ trả nợ và lãi suất cho bên sở hữu chứng khoán nợ đó.
Hiện nay, trên thế giớicó nhiềuquan điểm khác nhau về thị trường mở và các
loại chứng khoán được tham gia giao dịch trên thị trường mở.
Theo quan điểm của Anh: “Thị trường mở là việc Ngân hàng trung ương mua
bán trái phiếu dài hạn của Chính phủ trên thị trường trái phiếu có bảo đảm để làm tăng
hoặc giảm mức cho vay của ngân hàng. Khi mua trên thị trường mở, ngân hàng trung
ương sẽ thanh toán cho các cá nhân và tổ chức đã bán trái phiếu cho nó. Thị trường mở
về chứng khoán ngắn hạn cũng được thực hiện trên thị trường tín phiếu. Nơi mà ngân
hàng trung ương bán và mua trái phiếu chính phủ và kỳ phiếu thương mại để tác động
đến lãi suất và duy trì sự ổn định của thị trường”13.
12
Trần Trọng Độ,Thị trường mở từ lý luận đến thực tiễn, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Ha Nội, 2004, trang
74
13
Khái niệm chung về nghiệp vụ thị trường mở, truy cập: 24/7/2014]
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 9
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
Theo quan điểm của Mỹ: “Thị trường mở là nơi mua và bán các loại chứng
khoán trên thị trường tài chính được thực hiện bởi FED”14. FED là tên viết tắt của
Ngân hàng dự trữ liên ban Mỹ. Ngân hàng do Quốc hội Mỹ thành lập từ năm 1993 để
tạo cho quốc gia này có một hệ thống tài chính tiền tệ an toàn, linh hoạt và ổn định
hơn. Trong những năm qua, vai trò của FED đối với hệ thống ngân hàng và trong nền
kinh tế ngày càng được gia tăng15.
Tuy có sự khác nhau trong cách định nghĩa về thị trường mở, nhưng cả hai đều
cho rằng thị trường mở là nghiệp vụ của thị trường giao dịch các loại chứng khoán
ngắn hạn và dài hạn. Và tùy theo điều kiện của từng quốc gia mà các loại giấy tờ có
giá, cũng như những chủ thể tham gia giao dịch thị trường mở được quy định khác
nhau. Một số nước quy định hàng hóa tham gia giao dịch trên thị trường mở chỉ là giấy
tờ có giá dài hạn như Anh. Một số nước lại cho phép mua hoặc bán cả giấy tờ có giá
ngắn hạn và dài hạn điển hình như: Thái Lan, Mỹ16…Trong khi đó pháp luật Việt Nam
chỉ cho phép mua hoặc bán ngắn hạn giấy tờ có giá chứ không phải tất cả các loại giấy
tờ có giá như quan điểm của một số nước.
Ở Việt Nam, khái niệm thị trường mở được hiểu: “Thị trường mở là nơi Ngân
hàng Nhà nước thực hiện mua, bán ngắn hạn các loại giấy tờ có giá với các tổ chức tín
dụng”17. Như vậy, thị trường mở là nơi diễn ra giao dịch mua hoặc bán ngắn hạn các
giấy tờ có giá. Với một bên là Ngân hàng trung ương và một bên là các tổ chức tín
dụng. Hàng hóa là các loại giấy tờ có giá ngắn hạn.
Theo khoản 8, Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 quy
định: “ Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành
giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện
14
Khái niệm chung về nghiệp vụ thị trường mở, truy cập: 24/7/2014]
15
Trần Trọng Độ: Thị trường mở từ lý luận đến thực tiễn, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Ha Nội, 2004, trang
91
16
Trần Trọng Độ, Thị trường mở từ lý luận đến thực tiễn, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội, 2004, trang
190
17
Khoản 1, Điều 2, Quyết định số 26/VBHN-NHNN ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Ngân hàng Nhà nước về Ban
hành Quy chế nghiệp vụ thị trường mở
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 10
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
trả lãi và các điều kiện khác”. Hay nói cách khác, giấy tờ có giá là chứng chỉ hoặc bút
toán ghi sổ, (1) xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét trong một quan hệ
pháp lý với một chủ thể khác. Một trong những thuộc tín cơ bản của giấy tờ có giá là:
(2) có thể chuyển giao được, nghĩa là chủ sở hữu giấy tờ có giá có thể chuyển giao giấy
tờ có giá thuộc sở hữu của mình cho một chủ thể khác trong quan hệ dân sự. Ngoài ra,
(3) giấy tờ có giá phải trị giá được bằng tiền, tức là giấy tờ có giá phải được xác định
bởi một lượng tiền nhất định.
Suy cho cùng, giấy tờ có giá chẳng qua là một phiếu nợ, mà khi đến hạn “con
nợ” (người phát hành giấy tờ có giá) phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng một số tiền
nhất định cho “chủ nợ” (người sở hữu giấy tờ có giá do “con nợ” phát hành).
Giấy tờ có giá theo quy định pháp luật hiện nay bao gồm: tín phiếu ngân hàng
nhà nước, trái phiếu chính phủ (tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công
trình trung ương, công trái xây dựng tổ quốc,…), trái phiếu được chính phủ bảo lãnh,
trái phiếu chính quyền địa phương18. Các loại giấy tờ có giá vừa nêu muốn được sử
dụng trong các giao dịch của ngân hàng nhà nước phải thỏa mãn những điều kiện luật
định19. Thứ nhất, giấy tờ có giá phải được lưu ký tại ngân hàng nhà nước. Thứ hai,
thuộc quyền sở hữu hợp pháp của tổ chức tín dụng. Thứ ba, tổ chức phát hành không
được phép sử dụng các loại giấy tờ có giá do tổ chức đó phát hành để tham gia giao
dịch với ngân hàng nhà nước. Tuy nhiên, trong hoạt động thị trường mở của ngân hàng
trung ương, không phải lúc nào cũng mua bán tất cả các loại giấy tờ có giá trên. Ngân
hàng trung ương chỉ mua hoặc bán ngắn hạn giấy tờ có giá với tổ chức tín dụng.
Nói tóm tại, nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ được thực hiện bởi Ngân
hàng trung ương mà nội dung cụ thể của nó là việc mua vào hoặc bán ra các loại giấy
tờ có giá ngắn hạn, không vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận mà vì mục đích ổn định nền
kinh tế quốc gia. Các hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở chính là phương tiện
18
Khoản 1, Điều 1, Quyết đinh số 11/QĐ-NHNN ngày 06 tháng 01 năm 2010 của Ngân hàng Nhà nước về danh
mục giấy tờ có giá được sử dụng trong giao dịch của Ngân hàng Nhà nước
19
Khoản 2, Điều 1, Quyết đinh số 11/QĐ-NHNN ngày 06 tháng 01 năm 2010 của Ngân hàng Nhà nước về danh
mục giấy tờ có giá được sử dụng trong giao dịch của Ngân hàng Nhà nước
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 11
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
quan trọng để triển khai và thực hiện chính sách tiền tệ. Thông qua nghiệp vụ thị
trường mở, ngân hàng trung ương của mỗi quốc gia có thể điều tiết được lượng cung
ứng tiềntệ của quốc gia.
1.3. Cơ chế tác động đến thị trường mở
Thông qua hoạt động mua hoặc bán giấy tờ có giá, ngân hàng trung ương đã
tác động trực tiếp đến dự trữ của các tổ chức tín dụng và gián tiếp đến các mức lãi suất
trên thị trường20.
1.3.1. Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng
Khi ngân hàng trung ương thực hiện việc mua, bán giấy tờ có giá trên thị
trường mở sẽ tác động ngay lập tức đến dự trữ của hệ thống ngân hàng. Bởi vì, việc
mua bán giấy tờ có giá trên thị trường mở của ngân hàng trung ương đã làm thay đổi
trực tiếp đến cơ số tiền tệ. Cơ số tiền tệ là lượng tiền trong lưu thông cộng với lượng
tiền dự trữ trong hệ thống các ngân hàng. Lượng tiền dự trữ trong hệ thống các ngân
hàng chính là khoản tiền dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại gửi tại ngân
hàng trung ương.
Ngoài ra, hành vi mua hoặc bán giấy tờ có giá của ngân hàng trung ương có
khả năng tác động trực tiếp đến dự trữ ngân hàng thương mại thông qua việc ảnh
hưởng của lượng tiền gửi của các ngân hàng tại ngân hàng trung ương và ảnh hưởng
đến lượng tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng.
Khi ngân hàng trung ương mua giấy tờ có giá trên thị trường mở, thì cơ số tiền
tệ sẽ tăng. Tức là lượng tiền trong lưu thông và lượng tiền dự trữ của các ngân hàng
thương mại tại ngân hàng trung ương sẽ tăng. Một khi dự trữ của các ngân hàng
thương mại tăng đồng nghĩa với việc tăng khả năng cho vay của các tổ chức tín dụng
và khối lượng tín dụng tăng lên theo, từ đó lượng tiền cung ứng sẽ tăng theo. Lượng
tiền cung ứng là tổng số tiền có khả năng thanh toán, nó bao gồm tiền mặt đang lưu
hành và các khoản tiền gửi không kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại.
20
Mai Văn Bạn, Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương, Trường Đại học Kinh Doanh và Công Nghệ Hà
Nội, NXB Thống Kê, 2008, trang 61
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 12
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
Ngược lại, khi ngân hàng trung ương bán giấy tờ có giá trên thị trường mở, thì
cơ số tiền tệ sẽ giảm. Điều đó cho thấy, lượng tiền trong lưu thông và lượng tiền dự trữ
của các ngân hàng thương mại tại ngân hàng trung ương sẽ giãm. Một khi dự trữ của
các ngân hàng thương mại giảm đồng nghĩa với việc giảm khả năng cho vay của các tổ
chức tín dụng và khối lượng tín dụng giảm xuống theo, từ đó lượng tiền cung ứng sẽ
giảm theo.
Như vậy, thông qua nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá, ngân hàng trung ương
đã bơm vào hoặc hút ra một lượng tiền trong lưu thông. Chính điều đó làm tác động
trực tiếp vào dự trữ của các tổ chức tín dụng, ảnh hưởng đến khả năng cho vay của các
tổ chức tín dụng và làm thay đổi cơ số tiền tệ của các ngân hàng.
1.3.2. Tác động đến lãi suất thị trường
Hoạt động mua hoặc bán chứng khoán trên thị trường mở của ngân hàng trung
ương ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua hai cách thức sau:
Thứ nhất, khi thực hiện việc mua hoặc bán giấy tờ có giá trên thị trường mở
ngân hàng trung ương đã làm thay đổi dự trữ của hệ thống ngân hàng. Nếu dự trữ của
hệ thống ngân hàng thay đổi, sẽ dẫn đến thay đổi cung cầu vốn ngân hàng trung ương
trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng và làm thay đổi lãi suất thị trường tiền tệ. Từ đó
làm thay đổi lãi suất thị trường liên ngân hàng. Mức lãi suất ngắn hạn của thị trường
liên ngân hàng, thông qua dự đoán của thị trường sẽ ảnh hưởng đến các mức lãi suất
trung và dài hạn của thị trường tài chính.
Ví dụ1: Khi ngân hàng trung ương bán Tín phiếu kho bạc trên thị trường mở,
dẫn đến dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ giảm, kéo theo cung vốn ngân hàng trung
ương và lãi suất ngắn hạn giảm. Một khi, lãi suất ngắn hạn giảm đồng nghĩa với việc
lãi suất thị trường tăng lên, làm cho lượng đầu tư giảm.
Thứ hai, việc mua hoặc bán chứng khoán sẽ làm thay đổi quan hệ cung cầu về
chứng khoán, từ đó làm thay đổi giá cả của chứng khoán. Khi giá chứng khoán thay
đổi, tỷ lệ sinh lời của nó thay đổi. Nếu khối lượng chứng khoán chiếm tỷ trọng lớn
trong giao dịch thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại đến lãi suất của
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 13
Đề tài: Pháp luật về thị trường mở
thị trường. Từ đó tác động đến nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Làm
thay đổi sản lượng, giá cả và công ăn việc làm.
Ví dụ2: Khi Ngân hàng trung ương bán Tín phiếu kho bạc trên thị trường mở,
dẫn đến cung ứng tín phiếu kho bạc tăng, điều đó đồng nghĩa với việc giá của tín phiếu
kho bạc sẽ giảm. Khi đó, lãi suất thị trường tăng và đầu tư sẽ giảm.
Tóm lại, thông qua hoạt động mua hoặc bán giấy tờ có giá trên thị trường mở,
ngân hàng trung ương đã tác động trực tiếp đến các dự trữ của hệ thống ngân hàng,
qua đó tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường. Khi nền kinh tế đang rơi vào tình
trạng lạm phát, ngân hàng trung ương tiến hành bán các giấy tờ có giá để hỗ trợ cho
nền kinh tế thoát khỏi tình trạng lạm phát. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng
giảm phát, ngân hàng trung ương sẽ mua các giấy tờ có giá vào. Khi đó lượng tiền
cung ứng sẽ trở nên dồi dào, kích thích tiêu dùng. Từ đó tạo công ăn việc làm, giảm
thất nghiệp, và tăng thu nhập quốc dân góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.
1.4. Vai trò của nghiệp vụ thị trường mở
1.4.1. Đối với chính sách tiền tệ quốc gia
Thị trường mở giúp ngân hàng trung ương chủ động trong việc điều hành
chính sách tiền tệ thông qua việc kiểm soát mức cung ứng, và tăng khả năng điều tiết
lãi suất thị trường. Trong các công cụ của chính sách tiền tệ, thị trường mở được xem
là công cụ điều hành chính sách tiền tệ quan trọng nhất.
+ Thứ nhất, thị trường mở là một công cụ chính sách tiền tệ có tính chủ động
cao. Thông qua hoạt động của thị trường mở, ngân hàng trung ương có thể tạo ra
những biến động mang tính chất cung cấp tín hiệu cho thị trường theo mục tiêu chính
sách tiền tệ quốc gia và theo xu hướng của thị trường. Bên cạnh đó, xuất phát từ bản
chất của thị trường mở là do ngân hàng trung ương khởi xướng, tức ngân hàng trung
ương sẽ chủ động hơn so với các công cụ khác của chính sách tiền tệ. Ví dụ, như các
nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của ngân hàng trung ương chủ yếu do các ngân
hàng chủ động yêu cầu, khi nào cần vay vốn các ngân hàng mới chủ động khởi xướng
yêu cầu vay vốn. Như vậy, cho thấy trong hoạt động của thị trường mở ngân hàng
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
SVTH: Nguyễn Chí Khang
Trang 14