Đặc điểm nguồn nhân lực
1.Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực:
a.Khái niệm:
Nguồn nhân lực của một Quốc gia là tổng thể năng lực và tiềm lực lao động biểu
hiện bằng số lượng và chất lượng lao động của Quốc gia đó. Nó bao gồm cả lực
lượng lao động giản đơn và lực lượng lao động phức tạp.
Thể hiện ở số lượng lao động( những người trong độ tuổi lao động và có khả năng
lao động) và ở chất lượng lao động( chủ yếu ở trình độ giáo dục, trình độ chuyên
môn, kỹ thuật lao động, sức khỏe của con người). Chất lượng nguồn nhân lực là yếu
tố có ý nghĩa quyết định đối với các nguồn lực của một Quốc gia.
b.Vai trò:
Tầm quan trọng của nguồn nhân lực con người không chỉ dừng lại ở nhận thức lý
luận, ở tư duy của các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách mà các luôn
được khẳng định trong cuộc sống sinh động. Nguồn lực con người, đặc biệt là
nguồn nhân lực chất lượng cao, luôn là nguồn lực to lớn của sự phát triển kinh tế-
xã hội, là yếu tố vật chất quan trọng nhất, quyết định nhất của lực lượng sản xuất,
của nền kinh tế, của xã hội cũng như của việc sử dụng các tiến bộ khoa học, công
nghệ mới vào quy trình sản xuất. Vì vậy, nó là một trong những yếu tố quyết định
nhất của tăng trưởng kinh tế.
2.ĐẶC ĐIỂM NGUỒN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
2.1 Qui mô dân số
Có thể thấy, trong những năm đổi mới, Việt Nam không chỉ đạt được những
thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, mà trong lĩnh vực dân số cũng
đạt được những kết quả đáng khích lệ. Những kết quả của công tác dân số kế
hoạch hoá gia đình như giảm đáng kể tỷ lệ tăng dân số, tăng cường nhận thức về
chăm sóc và nâng cao chất lượng dân số, chăm lo phát triển nguồn lực con
người đã có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Nhìn khái quát, dân số nước ta hiện nay có một số đặc điểm
cơ bản sau:
Quy mô dân số lớn, phát triển nhanh. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2002,
Việt Nam có 80 triệu dân, là nước đông dân thứ 13 trên thế giới; mật độ dân số là
242 người/km
2
. Năm 2007 tổng dân số Việt Nam là 85,3 triệu người. Dự báo đến
năm 2020 quy mô dân số sẽ đạt khoảng 100 triệu và đến năm 2050 sẽ lên đến
khoảng 123,7 triệu người. Chính vì thế mà Việt Nam đứng thứ 62 về diện tích,
nhưng đứng thứ 11 về dân số và đứng thứ 40 về mật độ dân số trên thế giới. Cũng
chính vì thế mà nhiều chỉ tiêu bình quân đầu người của Việt Nam còn đứng ở thứ
hạng thấp trên thế giới, thấp xa so với thứ hạng về dân số (đứng thứ 146/185 về
GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái, thứ 122/177 về
GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương).
Bảng 3: Nhịp độ tăng dân số trung bình và dân số trong độ tuổi lao động của Việt
Nam giai đoạn 1976-2007
Năm
Dân số
Dân số trong độ tuổi
lao động
Cơ cấu dân số(%)
Tổng số
(ngàn
người)
Nhịp
độ
tăng
Tổng số
(ngàn
người)
Tỷ trọng
trong tổng
dân số(%)
Nam Nữ Thành
thị
Nông
thôn
1976 49.160,1 3,20 22.122,0 45,0 47,92 52,08 20,61 79,39
1980 53.772,2 2,47 25.141,9 46,8 48,50 51,50 19,20 80,80
1985 59.872,1 2,15 29.600,1 49,4 48,91 51,09 19,01 80,99
1990 66.016,7 1,92 37.695,5 57,1 48,78 51,22 19,51 80,49
1991 67.242,4 1,86 38.866,1 57,8 48,80 51,20 19,67 80,33
1992 68.450,1 1,80 39.695,5 58,1 48,83 51,17 19,85 80,15
1993 69.644,5 1,74 40.811,6 58,6 48,86 51,14 20,05 79,95
1994 70.824,5 1,69 41.573,9 58,7 48,90 51,10 20,37 79,63
1995 71.995,5 1,65 42.189,4 58,6 48,94 51,06 20,75 79,25
1996 73.156,7 1,61 42.869,8 58,6 49,01 50,99 21,08 78,92
1997 74.306,9 1,57 43.469,5 58,5 49,08 50,92 22,66 77,34
1998 75.456,3 1,55 44.141,9 58,5 49,15 50,85 23,15 76,85
1999 76.596,7 1,51 44.962,2 58,7 49,17 50,83 23,61 76,39
2000 77.635,4 1,36 46.193,1 59,5 49,16 50,84 24,18 75,82
2001 78.685,8 1,35 47.132,7 59,9 49,16 50,84 24,74 75,26
2002 79.727,4 1,32 48.362,6 60,6 49,16 50,84 25,11 74,89
2003 80.902,4 1,47 49.083,5 60,7 49,14 50,86 25,80 74,20
2004 82.031,7 1,40 50.695,1 61,8 49,14 50,86 26,50 73,50
2005 83.106,3 1,31 52.439,8 63,1 49,15 50,85 26,88 73,12
Nguồn: Tổng hợp từ Niêm giám thống kê 2003. Số liệu Dân số - lao động, Tổng cục
Thống Kê 2007 và số liệu thống kê lao động – việc làm ở việt Nam năm 2004, 2007
của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã hội.
Dân số Việt Nam tương đối trẻ với tốc độ tăng tự nhiên hằng năm cao( thời kỳ 1960
– 1986 là 2,2%; 2000 – 2002 là 1,35; 2003 – 2004 là 1,35%; năm 2007 là 1,23%).
Nói một cách hình tượng là mỗi năm nước ta tăng thêm dân số của một tỉnh trung
bình. Năm 2007 tỷ lệ thanh niên trong nhóm 15-29 tuổi chiếm 47,5% tổng số người
trong tuổi lao động. Dân số trẻ về lâu dài là một thế mạnh, song trước mắt sẽ bất lợi
về kinh tế , do số người phải nuôi dưỡng (trẻ em) trên một lao động cao hơn các
nước khác, kéo theo đó là những khó khăn về việc làm, giáo dục, y tế và các dịch
vụ xã hội khác.
Cơ cấu dân số theo giới tính: mặc dù về tổng số thì tỷ trọng nữ nhiều hơn nam
(50,85% so với 49,15%), nhưng chủ yếu là lứa tuổi từ 35 - 40 trở lên, còn lứa tuổi
thấp hơn, đặc biệt là giới tính của trẻ em mới sinh thì nam giới đang nhiều hơn so
với nữ giới. Năm 2007 so với 1995, trong khi nam giới tăng 18,8% thì nữ giới chỉ
tăng 17,8%, trong đó có nhiều năm tốc độ tăng của nam giới cao hơn so với nữ giới.
Tình hình trên có nguyên nhân từ tư tưởng trọng nam khinh nữ còn tồn tại khá nặng
nề trong một bộ phận dân cư. Đây là điều cảnh báo về tình trạng mất cân bằng về
giới tính trong tương lai không xa. Đây cũng là khía cạnh cần quan tâm trong việc
đào tạo đáp ứng nguồn nhân lực cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.
2.2 Phân bổ dân số theo vùng miền.
Dân số Việt Nam phân bố không đều và có sự khác biệt rất lớn theo vùng địa lý-
kinh tế.
Dân số và mật độ dân số Việt Nam 2007 phân theo vùng
Dân số trung bình Diện tích Mật độ dân số
( Nghìn người) (Km2) (Người/km2)
Cả nước 85154.9 331211.6 257
Đồng bằng Sông
Hồng
18400.6 148462.5
1238
Đông Bắc 9543.9 64025.5 149
Tây Bắc
2650.1 37533.8
71
Bắc Trung Bộ
1100722.7 51551.9
208
Duyên Hải Nam
Trung Bộ
7185.2 33166.1
217
Tây Nguyên
4935.2 54659.6
90
Đông Nam Bộ
14193.2 34807.8
408
Đồng Bằng sông Cửu
Long
17524 40604.7 432
Nguồn: Số liệu thống kê dân số _ lao động Việt Nam 2007. Tổng cục thống kê.
Dân số sống tập trung ở hai vùng châu thổ Sông Hồng và Sông Cửu Long nơi
có 43% dân số của cả nước sinh sống, nhưng chỉ chiếm gần 17% đất đai của cả
nước. Ngược lại, hai vùng Tây Bắc và Tây Nguyên, chỉ có dưới một phần mười
(8,8%) dân số của cả nước, nhưng chiếm tới hơn một phần tư (27%) diện tích đất
của toàn quốc. Mật độ cao nhất là đồng bằng sông Hồng (1.238 người/km
2
), trong
đó có 8/11 địa phương có mật độ trên 1.000 người/km2; đồng bằng sông Cửu Long
432 người/km
2
, Đông Nam Bộ 408 người/km
2
, duyên hải Nam Trung Bộ 217
người/km
2
, Đông Bắc 149 người/km
2
, Tây Nguyên 90 người/km
2
, Tây Bắc 71
người/km
2
.
Cơ cấu dân số theo thành thị/nông thôn cũng có một số vấn đề đáng lưu ý. Một
mặt, tỷ lệ dân số thành thị tuy đã tăng lên trong thời gian qua (năm 1995 là 20,75%,
năm 2000 là 24,18%, năm 2005 là 26,88%, năm 2007 là 27,44%), nhưng vẫn thuộc
loại thấp so với mức bình quân của thế giới (49%), của châu Mỹ (79%), châu Âu
(72%), châu Đại Dương (72%), châu Á (41%), châu Phi (37%); thấp hơn cả của
Đông Nam Á (39%); đứng thứ 8/11 nước ở Đông Nam Á, thứ 42/50 nước và vùng
lãnh thổ ở châu Á, thứ 177/208 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Mặt khác, đô
thị hóa về mặt dân số tăng lên nhưng sự chuẩn bị về các mặt quy hoạch, nhà ở, việc
làm, giao thông công chính, vệ sinh môi trường, chưa tương xứng.
Cơ cấu dân số Việt Nam phân theo thành thị và nông thôn
Thành Thị Nông Thôn
Người % Người %
2000 18771.9 24.18 58863.5 75.82
2001 19469.3 24.74 59216.5 75.26
2002 20022.1 25.11 59705.3 74.89
2003 20869.5 25.80 60032.9 74.20
2004 21737.2 26.50 60294.5 73.50
2005 22336.8 26.88 60769.5 73.12
2006 22792.6 27.09 61344.2 72.91
Sơ bộ 2007 23370.0 27.44 61784.9 72.56
Nguồn: Số liệu thống kê dân số _ lao động Việt Nam 2007. Tổng cục thống kê.
Ngoài ra, sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền đặc biệt là giữa
nông thôn và thành thị, các khu công nghiệp tập trung như Hà Nội, Thành phố Hồ
Chí Minh , Vũng Tàu, Đồng Nai… dẫn đến dòng người di dân tự phát từ nông thôn
vào các thành phố lớn với quy mô và tốc độ ngày càng tăng. Số này vào thành phố
chủ yếu là tìm kiếm việc làm có thu nhập cao hơn ở nông thôn, nên họ chấp nhận
những việc làm nặng nhọc, vất vả, từ đó tạo ra nhiều phức tạp cho việc quản lý đô
thị, làm quá tải các dịch vụ hạ tầng xã hội như: giao thông, y tế, trường học, điện
nước…
2.3 Đặc điểm định lượng của nguồn lao động
Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lực khá dồi dào so với nhiều nước trong
khu vực và trên thế giới. Đến hết năm 2007, cả nước có trên 44 triệu lao động trên
tổng số 85,3 triệu dân. Sức trẻ là đặc điểm nổi trội của tiềm năng nguồn nhân lực
Việt Nam. Nước ta là một trong số ít quốc gia trong khu vực có tỷ lệ về cơ cấu độ
tuổi của dân số và lao động khá lý tưởng : nhóm trẻ, từ 15 – 34 tuổi chiếm hơn
50%; nhóm người ở độ tuổi trung niên từ 35 – 54 tuổi chiếm hơn 42%; số nhân lực
cao tuổi chiếm khoảng 7%. Mỗi năm Việt Nam có hơn 1,2 triệu người đến tuổi lao
động và được bổ sung vào lực lượng lao động của đất nước. Nguồn nhân lực trẻ gắn
với những điểm mạnh như sức khỏe tốt, năng động, dễ tiếp thu cái mới, nắm bắt
công nghệ nhanh, di chuyển dễ dàng. Nếu được học văn hóa, đào tạo nghề, họ sẽ
phát huy tác dụng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là yếu tố rất thuận
lợi để phát triển kinh tế - xã hội.
Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2005, tổng số công nhân, lao động
làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp và cơ sở kinh tế thuộc mọi thành phần
kinh tế ở nước ta là 11,30 triệu người, chiếm 13,5% dân số, 26,46% lao động xã
hội. Trong đó 1,84 triệu công nhân làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, 2,95
triệu công nhân trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, 1,21 triệu công nhân trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; 5,29 triệu lao động làm việc trong các
cơ sở kinh tế cá thể.
Dân số và lực lượng lao động trong doanh nghiệp 1995 – 2005(triệu người)
Tiêu chí 1995 2002 2003 2004 2005
Dân số cả nước 71,996 78,686 79,727 80,900 83,110
Tổng số lao động xã hội 33,030 39,507 40,573 41,586 42,709
Tổng số lao động trong
DN
2,806 4,658 5,175 5,770 6,006
a) LĐ DN nhà nước 1,778 2,261 2,264 2,249 1,844
b) LĐ DN ngoài nhà nước 0,430 1,706 2,049 2,476 2,950
c) LĐ DN có vốn ĐTNN 0,098 0,691 0,862 1,045 1,211
Tiêu chí 1995 2002 2003 2004 2005
Lao động trong các cơ sở
kinh tế cá thể
3,241 4,436 4,842 4,988 5,297
Nguồn:- Tổng cục Thống kê,Niên giám thống kê 2005,NX B Thống kê, Hà Nội,
2006.
So với năm 1995 Số lượng công nhân làm việc trong các doanh nghiệp đã tăng
2,14 lần. Trong đó, công nhân trong doanh nghiệp nhà nước tăng 1,03 lần, trong
doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 6,86 lần, trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài tăng 12,3 lần, lao động thuộc các cơ sở kinh tế cá thể tăng 1,63 lần .
Công nhân các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 70,9%, ngành dịch vụ và
thương mại chiếm 24,3%, các ngành khác chiếm 4,8%.
Trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể công nhân chủ yếu làm việc trong
các lĩnh vực dịch vụ và thương mại, ước tính chiếm 66,67%; còn lại 33,33% hoạt
động trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
2.4 Đặc điểm định tính của nguồn lao động
2.4.1 Thể trạng sức khoẻ nguồn nhân lực Việt Nam
Thể lực của người Việt Nam nhìn chung còn thấp kém, phần lớn chưa đáp ứng
yêu cầu cường độ làm việc của xã hội công nghiệp hiện đại và các chuẩn quốc tế.
Theo đánh giá của Viện Khoa học Thể dục-Thể thao (Uỷ ban Thể dục-thể thao), so
với thể lực của thanh thiếu niên các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan,
Singapore, Inđônêsia thì thể chất người Việt Nam từ 6-20 tuổi còn kém hơn về
chiều cao, cân nặng, sức mạnh, sức bền và chỉ tương đương về sức nhanh, sự khéo
léo và mềm dẻo. Theo kết quả điều tra năm 2000 số người lao động không đủ tiêu
chuẩn về cân nặng là 48,7%, số người suy dinh dưỡng là 28%, số phụ nữ thiếu máu
là 40%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi theo chiều cao (tỷ lệ thấp còi)
còn cao (năm 2005 là 26%), cao hơn nhiều so với các nước Trung Quốc (17%),
Philippin (11%) và Thái Lan (16%); và điều này sẽ còn tiếp tục tác động tiêu cực
đến thể trạng và thể lực của người lao động trong tương lai.
Bảng7: Kết quả điều tra chiều cao, cân nặng học sinh nam 15 tuổi (1999)
Tên nước Chiều cao(cm) Cân nặng(kg)
Việt Nam 147 34,4
Thái Lan 149 40,5
Philippin 153 45,5
Ấn Độ 155 49,5
Nhật Bản 164 53,3
Nguồn: Viện Dinh Dưỡng bộ Y Tế, Dinh dưỡng con người Việt Nam,1999
Như vậy tình trạng sức khoẻ người Việt Nam ở mức trung bình kém, điều này
làm giảm chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
hoá của đất nước và giảm sức cạnh tranh của lao động Việt Nam trên thị trường lao
động thế giới.
2.4.2 Trình độ giáo dục của nguồn lao động Việt Nam
Trình độ giáo dục của nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng
nguồn nhân lực, nó phản ánh khả năng tiếp thu và vận dụng các thành tựu khoa
học kỹ thuật vào sản xuất. Tuy nhiên, trình độ giáo dục nguồn lao động của Việt
Nam chưa đáp ứng được những đòi hỏi phát triển trong giai đoạn hiện nay thông
qua nhiều thông số.
Tính trong cả nước, vào năm 2004 dân số hoạt động kinh tế có tới 32,8% mới
tốt nghiệp tiểu học; 19,7% tốt nghiệp trung học phổ thông; tỷ lệ mù chữ là 5,01%;
các tỷ lệ tương ứng của nữ là 30,6; 18,1 và 6,2%
Trình độ học vấn của lao động nước ta trong những năm gần đây đã được nâng
lên đáng kể. Nếu như năm 1985, tỷ lệ lao động có học vấn phổ thông trung học là
42,5% thì năm 2003, lao động có trình độ trung học phổ thông chiếm 62,2%. Năm
2005, số lao động có trình độ phổ thông trung học tăng lên đến 69,3%. Tuy nhiên,
so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, so với trình
độ của lao động các nước trong khu vực và quốc tế thì trình độ học vấn của lao
động nước ta còn thấp.
Trình độ giáo dục dân số hoạt động kinh tế của các nước Châu Á 1996 (%).
Trình độ
Việt
Nam
Singapore Malaixia
Hàn
Quốc
Đài
loan
Hồng
Kông
Giáo dục đại học 5,1 23 5 50 40 40
Giáo dục trung
học
9,8 30 48 20 20 23
Giáo dục tiểu
học
85,1 47 47 30 40 37
Nguồn: Báo cáo của Bộ Lao Động, Thương bing và Xã hội Việt Nam 1996
Theo chỉ số phát triển giáo dục, Việt Nam xếp thứ 64/127 trong khi Hàn Quốc
xếp thứ 4, Trung Quốc xếp thứ 54, Thái Lan thứ 60.
So sánh quốc tế về các chỉ tiêu giáo dục
Tên nước Chỉ số phát triển giáo
dục ( EDIT)
Điểm số Xếp
thứ/127
Việt Nam 0,914 64 94 90,3 92,5 89
Trung Quốc 0,93 54 94,6 91 88,5 98
Philipine 0,904 70 93 93 96,7 79,3
Inđônêxia 0,912 65 92,1 88 95,7 89,2
Malaixia 89
Thái Lan 0,921 60 86,3 93 95,5 94,1
Hàn Quốc 0,99 4 99,9 98 99,2 99
Singapore 93
Thế giới 81,7
Nguồn: Báo cáo của Bộ lao động, Thương binh, Xã hội Việt Nam, 2002
Mặt khác, lực lượng lao động có trình độ học vấn cao phân bố không đồng đều,
thường tập trung ở một số thành phố lớn và một số ngành kinh tế mũi nhọn.
Cơ cấu trình độ dân số hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo vùng 2003(%)
Khu vực
Chưa
biết
chữ
Chưa tốt
nghiệp
tiểu học
Tốt
nghiệp
tiểu học
Tốt
nghiệp
trung học
cơ sở
Tốt
nghiệp
trung học
phổ thông
Cả nước 4,23 15,48 31,51 30,40 18,37
Chia ra theo giới tính
Nam 2,89 16,41 32,01 30,99 19,51
Nữ 4,61 17,35 31,64 29,10 17,30
Chia theo vùng lãnh thổ
Đồng bằng sông Hồng 0,53 4,59 19,16 49,69 26,03
Đông Bắc 6,57 12,78 26,81 35,52 18,32
Tây Bắc 20,00 22,16 27,79 19,66 10,39
Bắc Trung Bộ 1,74 10,13 29,90 39,16 19,07
Duyên hải Nam Trung
Bộ
3,02 17,30 38,48 24,19 17,02
Tây Nguyên 11,38 16,64 32,30 24,91 14,77
Đông Nam Bộ 2,74 25,67 36,34 22,16 23,09
Đồng Bằng sông Cửu
Long
5,64 29,11 42,07 13,80 9,38
Nguồn: Số liệu thống kê lao động – việc làm ở Việt Nam 2003, NXB Lao Động –
Xã hội, 2004, Hà Nội, tr 21 - 23
Số liệu theo bảng cho thấy cơ cấu trình độ học vấn cả nước năm 2003 như sau:
Số lao động chưa biết chữ chiếm 4,23%; chưa tốt nghiệp tiểu học 15,48%; đã tốt
nghiệp THCS 30,4%; đã tốt nghiệp THPT 18,37%. Đây là tỷ lệ trung bình của cả
nước. Phân tích cơ cấu theo từng vùng, ta thấy, có sự khác biệt rất lớn. Có bốn vùng
lực lượng lao động có trình độ học vấn trung bình cao hơn mức trung bình của cả
nước là: Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ và Đông
Nam Bộ; Trong đó Đồng bằng sông Hồng đạt tỷ lệ cao nhất. Bốn vùng còn lại gồm
Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long có trình độ học vấn
thấp hơn mức trung bình cả nước, trong đó thấp nhất là Tây Bắc (với lao động chưa
biết chữ chiếm 20% lực lượng lao động trong vùng)
Tỷ lệ này cũng có sự cách biệt giữa nam và nữ. Số lao động nữ chưa biết chữ cao
gần gấp đôi nam, trong khi đó số lao động tốt nghiệp THPT ở nam là 19,51còn ở nữ
là 17,30.
2.4.3 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nguồn lao động Việt Nam.
Chất lượng về mặt trí lực của nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ở trình độ học
vấn, quan trọng hơn là trình độ chuyên môn kỹ thuật, thông qua số lượng và chất
lượng của lao động đã qua đào tạo.
Trong những năm vừa qua, tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật có xu hướng tăng lên. Năm 2001, có 17,05% tổng lực lượng lao động cả nước
có chuyên môn kỹ thuật; năm 2002 là 19,62%; năm 2003 là 21,22% và đến năm
2005, tỷ lệ lao động cả nước có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng lên 24,79%.
Bảng 11: Chuyển dịch cơ cấu lao động theo trình độ CMKT (%)
Các chỉ tiêu
1979 1989 1999
2003
2005
1. Không có trình độ
CMKT
95,03 92,7 91,9
78,78
75,21
2. Công nhân kỹ thuật và
nhân viên nghiệp vụ có
bằng
3,39 2,2 2,4 12,65 15,22
3. Trung học chuyên
nghiệp
1,06 3,2 3,0
4,01
4,3
4. Cao đẳng trở lên
0,52 1,9 2,7
4,77
5,27
Tổng
100 100 100
100
100
Nguồn: Tổng điều tra dân số Việt Nam 1-10-1997, Hà Nội – 1983; Tổng điều tra
dân số toàn diện 1-4-1989, Hà Nội – 1992; Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam
1999. Kết quả điều tra mẫu H.2000.; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Số
liệu thống kê lao động việc ở ở Việt Nam năm 2005, Hà Nội 11-2005.
Tuy nhiên, con số này còn thấp so với yêu cầu. Tính đến 2005, lao động qua
đào tạo ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ rất thấp (24,79%), lao động chưa qua đào tạo
còn chiếm một tỷ lệ rất cao (75,21%).
Đối với công nhân kỹ thuật (CNKT), tỷ lệ tăng dần từ 1989 trở đi. Giai đoạn
1999 đến 2005 có sự tăng đột biến (một phần do số liệu năm 2005 có tính cả số
người có chứng chỉ nghề và sơ cấp). Trong thời gian đó, tỷ lệ số lao động có trình
độ trung học chuyên nghiệp cũng tăng, nhưng tăng chậm hơn (+1,3%/6 năm).
Đối với lao động có trình độ từ cao đẳng trở lên, tỷ lệ này so với tổng số lao
động (năm 2005: 44,4 triệu người) tăng nhanh hơn cả. Giai đoạn 1999 – 2005 tăng
bình quân 0,43%. Như vậy, trong 5 năm gần đây có sự tăng nhanh về quy mô đào
tạo cao đẳng, đại học trở lên đến 5,4 lần, so với tốc độ tăng trung bình thời kỳ 1989
– 1999 (0,08%).
Tình hình đó đưa đến sự chuyển dịch theo xu hướng từ “hình thang thuận sang
hình thang ngược”. Cấu trúc giữa công nhân kỹ thuật, trung cấp và cao đẳng, đại
học trở lên trong thời gian 1979 đến 2005 được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 12: Cơ cấu đào tạo nghề nghiệp hợp lý và thực tế ở Việt Nam
Đại học
Trung học chuyên
nghiệp
Công nhân kỹ
thuật
Cơ cấu đào tạo hợp
lý của thế giới
1 4 10-15
Cơ cấu đào tạo của Việt Nam
Năm 1979 1 2.25 7.10
Năm 1995 1 1.60 3.60
Năm 2002 1 0.98 2.66
Năm 2005 1 1.13 0.92
Nguồn: Báo cáo của Bộ Lao dộng, Thương binh và Xã hội tại hội thảo “Phát
triển thị trường lao động ở Việt Nam, HN 2002. Văn kiện đại hội Đảng X, Nxb
CTQG, H. 2006, tr.146.
Ở Việt Nam cứ 1 cán bộ tốt nghiệp đại học có 1,13 cán bộ tốt nghiệp trung cấp
và 0,92 công nhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này của thế giới là 1, 4 và 10. Các
con số này chỉ ra một hiện tượng “thầy” nhiều hơn “thợ”, nói lên sự mất cân đối
nghiêm trọng trong cơ cấu trình độ lao động trong nền kinh tế giai đoạn công
nghiệp hóa hiện nay. Hiện nay cũng có quan điểm cho rằng, để bắt kịp nền kinh tế
tri thức cần phải phát triển số lượng cán bộ có trình độ Đại học. Nhưng cần phải
thấy rằng, nước ta có cơ sở hạ tầng và dịch vụ còn thấp kém. Vì vậy, dù muốn “đi
tắt”, “đón đầu” trong quá trình công nghiệp hóa để tiến tới nền kinh tế tri thức thì
trước hết nước ta phải thực hiện tuần tự những bước đi cơ bản, vững chắc, tạo nền
tảng ban đầu, từ đó mới có thực lực cho những “bước nhảy” tiếp sau quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Ngoài ra, tình trạng khác biệt giữa nông thôn và thành thị về tỷ lệ lao động đã
qua đào tạo, đặc biệt là tỷ lệ công nhân kỹ thuật có bằng cấp trở lên, không những
chưa được cải thiện mà còn có xu hướng gia tăng. Năm 2002 cứ 100 người thuộc
lực lượng lao động thì ở nông thôn có 8 người và thành thị có 41 người được đào
tạo từ trình độ công nhân kỹ thuật có bằng cấp trở lên; trong khi năm 2001, con số
tương ứng là 6 và 30. Khu vực nông thôn đang ngày càng gặp nhiều khó khăn trong
việc khai thác nguồn nhân lực để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
Bảng 13: Cơ cấu lao động chuyên môn kỹ thuật theo từng vùng năm 2003
Đơn vị: %
Khu vực
Không có trình độ
chuyên môn kỹ
thuật
Sơ cấp, học nghề
trở lên
Công nhân kỹ
thuật
có bằng trở lên
Cả nước 78,78 21,22 11,84
Đồng bằng sông
Hồng
71,59 28,41 15,49
Đông Bắc 82,24 17,76 12,37
Tây Bắc 89,35 10,65 8,12
Bắc Trung Bộ 84,21 15,79 10,03
Duyên hải Nam
Trung Bộ
78,88 21,12 10,77
Tây Nguyên 85,12 14,88 9,36
Đông Nam Bộ 66,62 33,38 18,03
Đồng Bằng sông Cửu
Long
86,57 13,43 6,03
Nguồn: Số liệu thống kê lao động – việc làm ở Việt Nam 2003, Nxb. Lao động – Xã
hội, 2004, Hà Nội, tr. 39-41.
Trong số tám vùng của cả nước, vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất cả nước 33,38%; tiếp đến là Đồng bằng sông
Hồng 28,41%; Duyên hải Nam Trung Bộ 21,12%; thấp nhất là Tây Bắc 10,65%.
Trình độ giáo dục và đào tạo chuyên nghiệp nguồn lao động của Việt Nam còn
chứa đựng nhiều mâu thuẫn: Một mặt, thiếu hẳn đội ngũ lao động có chuyên môn
cao; mặt khác, việc đào tạo sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng với yêu cầu của xã
hội phát triển trong giai đoạn hiện nay. Điều tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm
2006 cho thấy cả nước có tới 63% số sinh viên ra trường không có việc làm, 37% số
còn lại có việc làm thì hầu hết phải đào tạo lại và có nhiều người không làm đúng
nghề mình đã học, trong khi đó nhiều doanh nghiệp, kể cả những doanh nghiệp có
FDI và nhiều dự án kinh tế quan trọng khác rất thiếu nguồn lực chuyên nghiệp. Việt
Nam thiếu trầm trọng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có tay nghề cao trong các
lĩnh vực như quản lý, thương mại và công nghệ cao. Đặc biệt trong những năm qua
nhiều sinh viên, chuyên gia được nhà nước cho đi đào tạo ở nước ngoài, sau khi tốt
nghiệp không quay trở về để làm việc. Trong khi đó ờ các doanh nghiệp và công sở
nhà nước những lao động dư thừa bởi không có chuyên môn, kỹ thuật chiếm tỷ lệ
khá cao. Nước ta hiện cần có khoảng 250 – 300 ngàn người lao động có tay nghề
cao như kỹ sư, các nhà quản lý cho các khu công nghiệp, khu chế xuất ở trong các
vùng kinh tế trọng điểm bắt đầu hoạt động từ năm 2000, nhưng chúng ta chỉ mới
đáp ứng được khoảng 30 – 40%.
Thêm vào đó, những công nhân qua đào tạo ở các trường trung học chuyên
nghiệp, các trường dạy nghề, về cơ bản, không thoả mãn các nhu cầu của các doanh
nghiệp trong các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Về cơ cấu cán bộ khoa học công nghệ trình độ cao: tính tới tháng 12-2000, Việt
Nam đã có trên 1,3 triệu người có trình độ đại học – cao đẳng; trên 10.000 thạc sĩ;
13.500 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học (trong đó 610 tiến sĩ khoa học). Bình quân 190
cán bộ khoa học công nghệ/10.000 dân (năm 1989 là 105). Theo đó, cơ cấu tỷ lệ
cán bộ (theo trình độ chuyên môn): 98% đại học, cao đẳng; 0,75% thạc sĩ; 0,97%
tiến sĩ và tiến sĩ khoa học (tiến sĩ khoa học: 0,05%). Tỷ lệ đó thể hiện mối tương
quan giữa các loại trình độ là: 1 tiến sĩ: 0,8 thạc sĩ: 105 đại học, cao đẳng.
Đến 2006, Việt Nam đã đào tạo ra được trên 1,8 triệu cán bộ đại học, cao đẳng
trở lên, trong đó có trên 14 nghìn tiến sĩ và 16 nghìn thạc sĩ. Số lượng cán bộ khoa
học công nghệ trên đại học đã tăng từ 23,500 nghìn (2000) lên trên 20 nghìn (2006).
Theo thống kê của Bộ Nội vụ, tính đến 11-2004, cả nước có khoảng 5.479 giáo sư,
phó giáo sư được công nhận, trong đó số lượng giáo sư, phó giáo sư đang làm việc
là 3.075, chiếm 56,1%. Mối tương quan giữa các loại trình độ ở thời điểm năm
2006 là: 1 tiến sĩ : 1,14 thạc sĩ : 128 đại học, cao đẳng trên cho thấy số lượng tiến sĩ
và tiến sĩ khoa học có tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, khoảng 2/3 số người có học vị
tiến sĩ trong cả nước không làm khoa học mà đang làm công tác quản lý; số bài báo
khoa học được công bố hằng năm chỉ bằng khoảng 1/4 của Thái Lan và bằng
0,00043% của thế giới, mặc dù số người nhận bằng tiến sĩ hằng năm của ta thường
nhiều hơn của Thái Lan, có năm cao gần gấp đôi.
Hơn nữa, đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ trẻ kế cận có trình độ cao, chuyên
gia giỏi, cán bộ đầu đàn giỏi ngày càng thiếu, đặc biệt là chuyên gia về công nghệ.
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tỷ lệ số người có trình độ trên đại học trên tổng
số cán bộ giảng dạy hiện mới đạt 12,7% (cần đạt 30%).
Thêm vào đó, có một số khá đông cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn cao,
đạt “độ chín” về mặt trí tuệ thì lại ở độ tuổi về hưu, dễ dẫn đến nguy cơ hụt hẫng
cán bộ trình độ cao và là sự lãng phí chất xám lớn. Điều này đặt ra vấn đề cấp bách
phải tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ trẻ, kế cận, đồng thời phải
có chính sách sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ có trình độ cao đã đến
tuổi nghỉ hưu, nhằm phát huy được trí tuệ của toàn bộ đội ngũ.
2.5 Thói quen, nếp nghĩ, tác phong của người lao động
Người lao động còn mang nặng sức ỳ từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung nên
chậm phản ứng đối với những biến động trên thị trường lao động. Có thể xem xét
các khía cạnh này thông qua các chỉ số về mức độ thay đổi chỗ làm việc với tiếp
nhận công việc mới và mức độ di chuyển sức lao động. Hàng năm ở Việt Nam có
khoảng hơn một triệu người có việc làm mới và khoảng 1,3 triệu lượt người thay
đổi chỗ làm việc, như vậy tính chung là khoảng 2,5 triệu người có chỗ làm việc mới
hoặc thay đổi chỗ làm việc, tức là chiếm khoảng 6% dân số đang hoạt động kinh tế.
Trong khi đó ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển cao như Mỹ, Anh,
Nhật con số này thường chiếm 50%.
Nếp nghĩ và tác phong của người lao động vẫn còn mang nặng thói quen của
nền sản xuất nhỏ, một bộ phận lớn lao động làm việc ở nông thôn, nên tính tổ chức,
kỷ luật còn yếu, tác phong công nghiệp chưa cao, tùy tiện về giờ giấc và hành vi,
trình độ văn hóa công nghiệp còn thấp. Việc có tỷ lệ khá cao người lao động Việt
Nam làm việc ở nước ngoài tự ý bỏ hợp đồng để tìm kiếm công việc khác đã và
đang làm đau đầu các nhà quản lý, tác động không tốt đến hình ảnh người lao động
Việt Nam ở nước ngoài. Sự kiện rất nhiều người lao động làm việc tại các khu công
nghiệp, khu chế xuất ở các khu công nghiệp trong vùng Đông Nam Bộ về quê ăn
Tết rồi bỏ việc diễn ra thường xuyên hàng năm trong mấy năm gần đây là một minh
chứng, làm cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về lao động, ảnh hưởng đến việc
thực hiện các hợp đồng giao hàng. Đó là điều rất bất lợi trong cạnh tranh trên thị
trường lao động, nhất là thị trường lao động khu vực và quốc tế.
Kỹ năng làm việc của lao động Việt Nam thiếu chuyên nghiệp, đặc biệt các lao
động mới ra trường . Nguyên nhân chính của thực trạng này nảy sinh ngay từ trong
giảng đường, sinh viên chỉ được học kiến thức mà chưa được rèn luyện kỹ năng,
thiên về lý thuyết hơn thực hành. Nhiều doanh nghiệp đã phải đào tạo lại sinh viên
khi ra trường và vừa đào tạo vừa phải lo lắng vì nhân viên luôn có ý định nhảy việc,
tìm công việc mới để có thêm "kinh nghiệm".
Tinh thần hợp tác, kỹ năng làm việc theo nhóm còn thấp (vốn là đặc trưng của
người làm nông.)
Một bộ phận không nhỏ nguồn nhân lực bị nghèo đói, thất nghiệp đang là thách
thức rất lớn hiện nay ở nước ta. Bên cạnh đó, một bộ phận khác lại sa vào tệ nạn xã
hội, nhất là nghiện hút, mãi dâm và tội phạm.
Mặc dù còn những điểm hạn chế, yếu kém như trên, song nhìn chung, nguồn
nhân lực Việt Nam vẫn được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao vì có những
phẩm chất vượt trội như: hiếu học, thông minh, cần cù, chịu khó, khéo tay, khả
năng nắm bắt các kỹ năng lao động, đặc biệt là kỹ năng sử dụng các công nghệ hiện
đại tương đối nhanh. Đây là lợi thế cạnh tranh quan trọng của nguồn nhân lực nước
nhà trong quá trình hội nhập và tham gia thị trường lao động quốc tế.
2.6 Giá cả sức lao động
Chi phí lao động ở Việt Nam thấp hơn so với các nước khác trong khu vực.
Theo kết quả điều tra của Tổ chức xúc tiến Thương mại Nhật Bản năm 2005, lương
bình quân của lao động ở Việt Nam là 135 USD/tháng/người, còn ở Trung Quốc là
184 USD và Thái Lan là 146 USD. Với mức thu nhập eo hẹp này người lao động
Việt Nam chỉ có thể đáp ứng các nhu cầu tối thiểu là ăn, mặc, ở… hầu như chẳng ai
dám nghĩ đến nhu cầu giải trí, càng khó tích lũy hoặc đầu tư học tập nâng cao trình
độ.
Chính sách phân phối tiền lương và tiền công còn nhiều bất hợp lý không đủ
sống và mất dần động lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, làm hạn chế khả
năng lao động sáng tạo, năng suất lao động, hiệu quả lao động rất thấp và phát sinh
tiêu cực, tham nhũng nhất là ở bộ phận có chức, có quyền. Đồng thời lại có xu
hướng ngày càng tăng hiện tượng chảy máu chất xám từ khu vực nhà nước sang
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực tư nhân, là nơi có thu nhập cao hơn.
Bảng 14: Cơ cấu công nhân, lao động phân theo loại hình doanh nghiệp
Loại hình DN Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
DN nhà nước 53,8 % 48,5% 43,8% 39,0% 30,7%
DN ngoài nhà nước 33,8% 36,6% 39,6% 42,9% 49,1%
DN có vốn đầu tư NN 12,4% 14,9% 16,6% 18,1% 20,2%
Nguồn:- Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2005,NXB Thống kê, Hà
Nội, 2006 _Vụ thống kê công nghiệp và xây dựng- Tổng cục Thống kê- 2006
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy chỉ trong một thời gian ngắn từ năm 2001 đến
năm 2005 đã có sự chuyển biến rõ rệt. Cụ thể, tỷ lệ người lao động trong khu vực
nhà nước giảm từ 53.8% xuống còn 30.7% .Trong khi đó khu vực ngoài nhà nước
tăng từ 33.8% lên đến 49.1% và khu vực nhà nước có vốn đầu tư nước ngoài tăng
từ 12.4% đến 20.2% .
Hiện nay, lạm phát tăng cao, giá cả điều chỉnh theo thị trường, nhưng tiền
lương vẫn vận hành theo cơ chế cũ. Nếu không sớm cải cách chính sách tiền lương
tận gốc, lao động Việt Nam sẽ khó có điều kiện cải thiện cuộc sống, sức khoẻ và
trình độ để có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới
3: CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY.
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng cho sự nghiệp CNH – HĐH
và hội nhập kinh tế quốc tế, Chính Phủ phải tác động cả trên các phương diện: dân
số, thể lực, trí lực, phẩm chất tâm lý xã hội và sử dụng nguồn nhân lực.
3.1 Về vấn đề dân số và phân bổ nguồn nhân lực
Để giải quyết tốt vấn đề dân số và phân bổ nguồn nhân lực cho sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần quan tâm một số vấn đề sau:
Xã hội hoá công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình. Đưa giáo dục dân số và
chất lượng cuộc sống thành môn học trong các loại hình nhà trường. Từng bước
thống nhất việc đăng ký và quản lý dân cư làm cơ sở cho việc lập kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội, xây dựng chính sách, góp phần kiểm soát biến động dân cư,
giải quyết tốt mối quan hệ giữa phân bố dân cư hợp lý với quản lý dân số và phát
triển nguồn nhân lực, đặc biệt quan tâm đến các vùng có mức sinh cao như Tây
Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên.
Phân bố lại dân cư và nguồn lao động giữa các vùng để vừa tạo thêm việc làm vừa
khai thác tốt tiềm năng mỗi vùng bằng các biện pháp như xây dựng các vùng kinh
tế mới, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, vùng cao, vùng sâu; có chính sách tín
dụng ưu đãi cho các vùng này.
Đa dạng hoá các hoạt động kinh tế ở nông thôn : chuyển nông nghiệp tự túc
thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá; phát triển kinh tế hộ gia đình; khôi phục
và phát triển các nghề thủ công truyền thống và các hoạt động dịch vụ ở nông thôn
Phát triển công nghiệp vừa và nhỏ để thu hút lao động; di chuyển các cơ sở sản
xuất cần nhiều lao động về các vùng nông thôn, vùng cao như Tây Bắc, Đông Bắc
và Tây Nguyên.
3.2 Về phương diện thể lực
CNH - HĐH gắn liền với việc áp dụng phổ biến các phương pháp sản xuất
công nghiệp, các thiết bị và công nghệ hiện đại, do đó đòi hỏi sức khỏe và thể lực
cường tráng của người lao động trên các khía cạnh: sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng
những quá trình sản xuất liên tục, kéo dài; Có các thông số nhân chủng học đáp
ứng được các hệ thống thiết bị công nghệ được sản xuất phổ biến và trao đổi trên
thị trường khu vực và thế giới; Luôn luôn có sự tỉnh táo, sảng khoái tinh thần,
những điều này lại phụ thuộc chủ yếu vào trạng thái sức khỏe của người lao động.
Kỹ thuật công nghệ càng tinh vi, đòi hỏi sự chính xác và an toàn cao độ; mặt khác
giá trị của nhiều loại sản phẩm rất lớn, chỉ một sơ suất nhỏ trong động tác lao động
có thể gây tổn thất to lớn. Do đó, Chính phủ có thể đặt ra các giải pháp để nâng cao
trạng thái sức khỏe nguồn nhân lực, phát triển toàn diện thể chất, tăng cường thể
lực người lao động, hướng tới thực hiện những mục tiêu phát triển toàn diện con
người Việt Nam, đáp ứng những yêu cầu tổ chức lao động khoa học và cường độ
làm việc của xã hội công nghiệp như:
Nâng cao số lượng và chất lượng bữa ăn của cư dân ( đặc biệt là nguồn nhân
lực trẻ) bằng việc tạo ra nhiều việc làm để tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho
người lao động. Cần có chế độ tiền lương hợp lý phù hợp với công sức người lao
động.
Phát triển mạnh mẽ dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe cho người dân tạo điều kiện để
mọi người dân đều được khám chữa bệnh đầy đủ, nâng cao chất lượng khám chữa
bệnh ở mọi vùng miền, địa phương.
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về sức khỏe dinh dưỡng cho cộng
đồng, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Cần trau dồi thêm kiến thức đối với phụ
nữ mang thai và cho con bú, nhằm đề phòng các bệnh còi xương, suy dinh dưỡng…
Phát triển các hoạt động thể dục thể thao, rèn luyện sức khoẻ cộng đồng.
Ban hành các chính sách triệt để bài trừ các tệ nạn xã hội và phòng ngừa dịch
bệnh.
Cải thiện môi trường sống: các dự án đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội phải
tuân thủ luật bảo vệ môi trường; các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường trầm
trọng cần mạnh dạn đóng cửa hoặc phải thay đổi quy trình công nghệ.
Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề bảo hộ lao động.
3.3 Về phương diện trí lực
Ta thấy: Nguồn lao động ở nước ta hiện nay thiếu về số lượng lẫn chất lượng
đối với lao động có trình độ cao, có chuyên môn nghiệp vụ. Một lực lượng lao động
đông đảo có trình độ chuyên môn kỹ thuật ngày càng cao là đòi hỏi hàng đầu và là
nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH – HĐH và hội nhập của đất
nước. Đi vào CNH - HĐH thì không có lĩnh vực hoạt động nào lại không đòi hỏi
người lao động phải có trình độ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật cao, nhất là lĩnh vực
công nghệ cao, công nghệ tin học, tự động hóa và công nghệ sinh học hiện đại. Vì
vậy, đòi hỏi mặt bằng dân trí của nguồn nhân lực phải cao và phải được đào tạo về
chuyên môn kỹ thuật. Và điều đó có thể thực hiện bằng cách cải cách mạnh mẽ hệ
thống giáo dục quốc dân theo hướng hiện đại. Việc chuẩn bị đủ lực lượng lao động
có chất lượng tốt hiện nay gắn liền với quyết tâm cao và bước đi đúng đắn của công
cuộc cải cách hệ thống giáo dục, trong đó có hệ thống giáo dục đại học bằng các
biện pháp cụ thể: