Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đề bài: Tại sao Hồ Chí Minh thực hiện cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đề cương
1.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin
1.1.1 Hình thái kinh tế - xã hội
1.1.2 Lực lượng sản xuất
1.1.3 Quan hệ sản xuất
1.1.4 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất
1.2 Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.2.1 Tính tất yếu thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.2.2 Đặc điểm của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
2. Kinh nghiệm các nước
2.1 Thực tiễn ở Liên Xô → chính sách kinh tế mới (NEP)
2.1.1 Hoàn cành lịch sử Liên Xô lúc bấy giờ
2.1.2 Nội dung và thành tựu của chính sách kinh tế mới (NEP)
2.1.3 Bài học rút ra từ chính sách kinh tế mới
3. Thực tiễn Việt Nam
3.1 Chiến tranh kéo dài→ kinh tế thuộc địa nửa phong kiến→ SXHH
phát triển nhưng QHSX phong kiến vẫn duy trì→ LLSX chưa phát triển.
3.2 Về cơ bản nước ta vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu→ LLSX
trình độ thủ công, tính chất cá thể.
4. Nội dung luận điểm
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
4.1 Khôi phục sau chiến tranh, nâng cao năng suất lao động và phát triển
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
4.2 Ổn định và phát triển nền nông nghiệp nước ta, nâng cao chất lượng
nhân dân và áp dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp.
5. Giá trị của luận điểm
5.1 Sai lầm trước đổi mới 1986
5.2 Những nét đổi mới
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II. Bài làm
Tại sao Hồ Chí Minh thực hiện cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
1. Cơ sở lý luận của luận điểm
1.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin
1.1.1 Hình thái kinh tế xã hội
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử
dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với 1 kiểu quan hệ sản
xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với 1 trình độ nhất định của lực lượng
sản xuất, với một kiến trúc thượng tầng tương ứng xây dựng trên những quan
hệ sản xuất ấy.
Sản xuất vật chất luôn được tiến hành bằng một phương thức sản xuất
nhất định. Phương thức sản xuất là cách con người thực hiện quá trình sản
xuất vật chất ở từng giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người.
Một xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định.
Phương thức sản xuất quyết định tất cả các mặt của đời sống xã hội. Sự vận
động của phương thức sản xuất quyết định sự phát triển của xã hội từ thấp đến
cao. Phương thức sản xuất lại là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở trình
độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng: Sự vận động, phát triển của
phương thức sản xuất do sự tác động qua lại một cách biện chứng giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
1.1.2 Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất chính là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật của
quá trình sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra
sức sản xuất làm cải biến các đối tượng trong quá trình sản xuất, tức tạo ra
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo
nhu cầu nhất định của con người và xã hội. Như vậy, lực lượng sản xuất là
những nhân tố có tính sáng tạo và tính sáng tạo đó có tính lịch sử. Cũng do
đó, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phản ánh trình độ chinh phục
thế giới tự nhiên của con người: trình độ thủ công của lực lượng sản xuất
phản ánh trình độ chinh phục giới tự nhiên thấp hơn rất nhiều so với lực
lượng sản xuất ở trình độ kĩ thuật công nghiệp và công nghệ cao.
1.1.3 Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình
sản xuất. Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất,
quan hệ trong tổ chức – quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối
kết quả của quá trình sản xuất đó. Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong
mối quan hệ thống nhất và chi phối, tác động lẫn nhau trên cơ sở quyết định
của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.
1.1.4 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan
hệ thống nhất biện chứng, trong đó lượng sản xuất quyết định quan hệ sản
xuất và quan hệ sản suất tác động trở lại lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của
quá trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá
trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là “ hình thức xã hội ” của quá trình đó.
Trong đời sống hiện thực, không thể có sự kết hợp các nhân tố của quá trình
sản xuất để tạo ra năng lực thực tiễn cải biến các đối tượng vật chất tự nhiên
lại có thể diễn ra bên ngoài những hình thức kinh tế nhất định. Ngược lại,
cũng không có một quá trình sản xuất nào có thể diễn ra trong đời sống hiện
thực chỉ với những quan hệ sản xuất không có nội dung vật chất của nó.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
tuân theo nguyên tắc khách quan: quan hệ sản xuất phải phụ thuộc vào thực
trạng phát triển của lực lượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử xác định.
Tuy nhiên, quan hệ sản xuất, với tư cách là hình thức kinh tế - xã hội của quá
trình sản xuất, nó luôn luôn có khả năng tác động trở lại sự vận động, phát
triển của lực lượng sản xuất. Sự tác động này có thể diễn ra theo chiều hướng
tích cực hoặc tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào tính phù hợp của quan hệ sản
xuất với thực trạng và nhu cầu khách quan của sự vận động, phát triển của lực
lượng sản xuất. Nếu phù hợp sẽ có tác động tích cực và ngược lại không phù
hợp sẽ có tác động tiêu cực.
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan
hệ thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát
sinh mâu thuẫn. Trong phạm vi tương đối ổn định của một hình thức kinh tế -
xã hội, lực lượng sản xuất của xã hội được bảo tồn, không ngừng được khai
thác, sử dụng và phát triển trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của xã hội.
Tính ổn định, phù hợp của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất càng
cao thì lực lượng sản xuất đó càng có khả năng phát triển, nhưng chính sự
phát triển của lực lượng sản xuất lại luôn luôn tạo ra khả năng phá vỡ sự
thống nhất của những quan hệ sản xuất từ trước đến nay đóng vai trò là hình
thức kinh tế - xã hội cho sự phát triển của nó. Những quan hệ sản xuất này, từ
chỗ là những hình thức phù hợp và cần thiết cho sự phát triển của các lực
lượng sản xuất đã trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó, nó đã
tạo ra một mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó xuất
hiện nhu cầu khách quan phải thiết lập lại mối quan hệ thống nhất giữa chúng
theo nguyên tắc quan hệ sản xuất phải phù hợp với sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Khi phân tích sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất, C.Mác đã từng chỉ ra rằng:” Tới một giai đoạn
phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu
thuẫn với nhưng quan hệ sản xuất hiện có…, trong đó từ trước đến nay các
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của
lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực
lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội ”. Chính
nhờ các cuộc cách mạng xã hội mà nhưng quan hệ sản xuất cũ của xã hội
được thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới, phù hợp với nhu cầu phát triển
của lực lượng sản xuất đã phát triển, tiếp tục phát huy tác dụng tích cực thúc
đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất trong một hình thức quan hệ sản xuất
mới.
1.2 Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.2.1 Tính tất yếu thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Vận dụng lý luận của Lênin vào hoàn cảnh của Việt Nam Đảng ta đã
xác định: thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan đối với
mọi quốc gia xây dựng CNXH dù điểm xuất phát ở trình độ cao hay thấp – vì
vậy thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử, bởi vì:
Thứ nhất, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là phù hợp với
quy luật khách quan của lịch sử: Loài người đã phát triển qua năm hình thái
kinh tế xã hội, sự biến đổi đó là một quá trình lịch sử tự nhiên, đều tuân theo
quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất.
Thứ hai, phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội không chỉ phù hợp
với xu thế của thời đại mà còn phù hợp với đặc điểm cách mạng Việt Nam.
Trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta đã xác định, cách mạng Việt
Nam sẽ trải qua hai gia đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, và cách
mạng xã hội chủ nghĩa, như vậy cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân gắn liền
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
với cách mạng xã hội chủ nghĩa. Như vậy theo lý luận cách mạng không
ngừng của Lênin thì cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng hợp
lôgic, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, làm cho cách mạng dân tộc dân chủ
được thực hiện triệt để.
1.2.2 Đặc điểm của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đặc điểm đặc trưng bao trùm nhất của thời kỳ quá độ ở nước ta là bỏ
qua chế độ TBCN. Nhưng bỏ qua chế độ TBCN không phải là phủ định sạch
trơn, điểm đối lập CNXH với CNTB, bỏ qua cả những cái "không thể bỏ qua"
như đã từng xảy ra ở các nước XHCN trước đây. Quan điểm của Đại hội IX
Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: " Bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị
của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN; Tiếp thu, kế thừa
những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dứơi chế độ TBCN, đặc biệt về
khoa học và cộng nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền
kinh tế hiện đại ".
Do vậy bỏ qua chế độ TBCN thưc chất là phát triển theo con đường "
rút ngắn" quá trình đi lên CNXH. Nhưng rút ngắn không phải là đốt cháy giai
đoạn, duy ý chí coi thường quy luật. Trái lại, phải tôn trọng quy luật khách
quan và biết vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước, tận dụng
thời cơ và khả năng thuận lợi để tìm ra con đường, hình thức, bước đi thích
hợp; phải biết kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được ở CNTB
không chỉ về lực lượng sản xuất, mà cả về quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế và
kiến trúc thượng tầng (KTTT) .
Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là con đường rút ngắn để xây
dựng đất nước văn minh, hiện đại. Để thực hiện được con đường đó, trong
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
điều kiện kinh tế lạc hậu, nhưng nước ta vẫn có khả năng và tiền đề để quá dộ
lên CNXH, đó là khả năng khách quan và những tiền đề chủ quan.
2. Kinh nghiệm các nước
2.1 Thực tiễn ở Liên Xô → Chính sách kinh tế mới (NEP)
2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử Liên Xô lúc bấy giờ
Cách mạng Tháng Mười thành công, nền chuyên chính vô sản ở nước
Nga vừa được thiết lập, chưa kịp thực hiện những nhiệm vụ mới của cách
mạng đề ra ở thời kỳ quá độ thì sự can thiệp vũ trang của nước ngoài và nội
chiến xảy ra.
Các nước đế quốc không chỉ tấn công bằng quân sự mà còn bao vây
kinh tế đối với nước Nga và tiếp tay cho bọn phản động bên trong chống lại
cách mạng XHCN và chính quyền Xô viết, hòng bóp chết thành quả còn đang
trứng nước của cách mạng Tháng Mười.
Trước tình hình vô cùng nguy hiểm "ngàn cân treo sợi tóc" cả về chính
trị và kinh tế, để bảo vệ thành quả cách mạng, đánh thắng bọn đế quốc can
thiệp và bọn phản động trong nước; tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng đi lên,
chính quyền Xô viết buộc phải thi hành "chính sách kinh tế cộng sản thời
chiến". Sau khi nội chiến kết thúc nền kinh tế nước Nga lâm vào tình trạng
cực kỳ khó khăn như Lê-nin đã đánh giá: đó là cuộc khủng hoảng toàn diện
chưa từng có, một tai họa hết sức nguy hiểm. Xét về mặt kinh tế so với năm
1913 sản lượng công nghiệp giảm 7 lần, năng suất lao động giảm 4 lần, hàng
loạt xí nghiệp công nghiệp phá sản, lực lượng công nhân trực tiếp sản xuất
giảm đi 1/3. Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và nông thôn còn nghiêm
trọng hơn. Nông dân bất bình với việc Nhà nước trưng thu lương thực thừa,
có nơi đã nổ ra biểu tình chống đối, người lao động không thích thú với công
việc đồng áng. Do đó diện tích gieo trồng cũng như sản lượng lương thực,
8