Tải bản đầy đủ (.pdf) (64 trang)

đặc điểm động vật đáy ở rạch sang trắng và cái khế, thành phố cần thơ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (784.09 KB, 64 trang )

TRƯ
ỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯ
ỜNG VÀ TÀI NGYÊN THIÊN NHIÊN
Đ

CÔNG THÀNH
Lu
ận văn tốt nghiệp Đại học
Chuyên ngành Khoa h
ọc Môi Tr
ường
Đ
ẶC
ĐIỂM ĐỘNG VẬT ĐÁY Ở RẠCH SANG TRẮNG
VÀ CÁI KH
Ế, THÀNH PHỐ CẦN TH
Ơ
Cán b
ộ hướng dẫn: Dương Trí Dũng
C
ần Thơ, 2013
i
TRƯ
ỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯ
ỜNG VÀ TÀI NGYÊN THIÊN NHIÊN
Đ
Ỗ CÔNG THÀNH
Lu
ận văn tốt nghiệp Đại học


Chuyên ngành Khoa h
ọc Môi Tr
ường
Đ
ẶC
ĐIỂM ĐỘNG VẬT ĐÁY Ở RẠCH SANG TRẮNG
VÀ CÁI KH
Ế, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Cán bộ hướng dẫn: Dương Tr í Dũng
C
ần Thơ, 2013
ii
Lu
ận v
ăn kèm th
eo đây, v
ới tựa
đề là “Đặc điểm động vật đáy ở rạch Sang Trắng
và Cái Kh
ế, thành phố Cần Th
ơ
”, do Đ
ỗ Công Thành
th
ực hi
ện và báo cáo đ
ã
đư
ợc hội
đồng chấm luận văn thông qua

PGS.TS. Bùi Th
ị Nga
ThS. Nguy
ễn Công Thuận
ThS. Dương Trí D
ũng
iii
L
ỜI CẢM TẠ
Trong su
ốt quá trình thực hiện đề tài Luận văn Tốt nghiệp, tôi xin chân
thành c
ảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, quý
th
ầy (cô) Bộ môn Khoa học môi
trư
ờng luôn giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận
l
ợi để tôi thực hiện đề tài Luận văn Tốt nghiệp này, cũng như đã truyền đạt
nh
ững kiến thức và kỹ năng cho tôi trong suốt quá trình học tập tại Khoa Môi
trư
ờng và Tài nguyên thiên nhiên, trường Đại học Cần Thơ
.
Tôi xin bày t
ỏ l
òng bi
ết ơn sâu sắc đối với thầy
Dương Trí D
ũng đã tận

tình h
ướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn.
Xin cảm ơn thầy Trần Sỹ Nam luôn động viên và cỗ vũ tinh thần tôi và tập
thể lớp Khoa học môi trường K36 trong suốt qua trình làm Luận văn.
Xin c
ảm ơn gia đình tôi luôn ủng hộ, luôn giúp đỡ và động viên tôi trong
su
ốt quá trình học tập tại trường và trong
quá trình th
ực hiện Luận văn này.
Xin c
ảm tập thể lớp Khoa học môi trường K36 luôn chia sẻ và giúp đỡ tôi
trong quá trình th
ực hiện Lu
ận văn. Đ
ặc biệt xin c
ảm
ơn các bạn Thái Văn Lem,
Nguy
ễn Minh Thiện, Lê Ngọc Hạnh, Nguyễn Thị Lan Anh
, Võ Th
ị Huỳnh Như
đ
ã giúp đỡ tôi trong quá trình thu mẫu và phân tích mẫu.
Sinh viên
Đ
ỗ Công Thành
iv
TÓM LƯ
ỢC

Đ
ề tài “Đặc điểm độ
ng v
ật đáy ở rạch Sang Trắng và Cái Khế, thành phố
C
ần Thơ” được tiến hành từ tháng 08/2013 tại 14 điểm trên rạch Sang Trắng
(qu
ận Ô Môn, thành phố Cần Thơ) nhằm khảo sát về đặc điểm của quần xã động
v
ật đáy và mức độ ô nhiễm của rạch chịu tác động của các
ngu
ồn nước thải từ
khu công nghi
ệp Trà Nóc và chất thải sinh hoạt của người dân sống ven rạch và
khảo sát 10 điểm trên rạch Cái Khế (quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ) chịu
tác động chính từ nguồn chất thải sinh ra từ chợ Cái Khế, chợ An Nghiệp và chất
thải sinh hoạt của c
ư dân ven r
ạch.
K
ết quả thu
được 27 loài động vật đáy trên
r
ạch Sang Trắng và 30 loài trên rạch Cái Khế thuộc 5 lớp: Oligochaeta,
Polychaeta, Bivalvia, Gastropoda và Insecta, trên r
ạch Cái Khế phát hiện thêm
l
ớp Crustacea.
S
ố l

ượng động v
ật
đáy trên r
ạch Sang Trắng biến động rất lớn
3032 - 36837 cá th
ể/m
2
do s

đóng góp của loài Limnodrilus hoffmeisteri
, kh
ối

ợng
bi
ến
động
t
ừ 4.170
- 1163.518 g/m
2
, r
ạch Cái Khế có
s
ố l
ượng
th
ấp h
ơn
t


2089 - 28471 cá th
ể/m
2
do s

đóng góp của hai loài Li
mnodrilus hoffmeisteri và
Tubifex sp, kh
ối l
ượng biến động từ 0.959 g/m
2
đ
ến 1229.065 g/m
2
. Kh
ối l
ượng
đ
ộng vật
đáy trên cả hai rạch đều do lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) quyết định. Kết
qu

đánh giá theo chỉ số đa dạng sinh học
Shannon – Weiner (H’) thì c
ả ha
i r
ạch
Sang Tr
ắng và Cái Khế

đều đang bị ô nhiễm ở mức độ
t
ừ ô nhiễm nhẹ
đến rất ô
nhi
ễm,
nhưng r
ạch Sang Trắng ô nhiễm h
ơn do có chỉ số đa dạng H’ thấp hơn.
v
MỤC LỤC
Trang
PHÊ DUY
ỆT CỦA HỘI ĐỒ
NG ii
L
ỜI CẢM TẠ
iii
TÓM T
ẮT
iv
M
ỤC LỤC
v
DANH SÁCH HÌNH vii
DANH SÁCH B
ẢNG
viiii
CHƯƠNG 1 M
Ở ĐẦU

1
CHƯƠNG 2 LƯ
ỢC KHẢO TÀI LIỆU
3
2.1 Tổng quan về thành phố Cần Thơ 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Đi
ều kiện kinh tế
- xã h
ội
4
2.2 Hi
ện trạng chất lượng nước mặt
trên các r
ạch khảo sát
5
2.2.1 Hi
ện trạng chất lượng nước mặt trên rạch Cái Khế
- qu
ận Ninh Kiều
5
2.2.2 Hi
ện trạng chất lượng nước mặt trên rạch Sang Trắng
– qu
ận Ô M
ôn . 5
2.3 Sinh v
ật chỉ thị môi trường
6
2.4 Đ

ộng vật đáy
7
2.4.1 Sơ lư
ợc về động vật đáy
7
2.4.2 Đ
ặc điểm một số loài động vật đáy thường xuất hiện ở các thủy vực

ớc ngọt
8
2.4.3
Ứng dụng độn
g v
ật đáy trong quan trắc sinh học
13
2.5 Giám sát môi trư
ờng bằng phương pháp quan trắc sinh học
15
2.5.1 Lư
ợc sử phát triển củ
a quan tr
ắc sinh học
15
2.5.2 K
ết quả nghiên cứu ứng dụng quan trắc sinh học trên thế giới và ở
Vi
ệt Nam
16
2.6 Những nghiên cứu trước đây về động vật đáy 18
2.6.1 Nghiên cứu ngoài nước 18

2.6.2 Nghiên c
ứu trong n
ước
20
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C
ỨU
23
3.1 Th
ời gian và
địa điểm nghiên cứu
23
3.2 Phương ti
ện nghiên cứu
25
3.3 Phương pháp nghiên c
ứu
26
3.3.1 Phương pháp thu m
ẫu
26
vi
3.3.2 Phương pháp phân tích 26
3.3.3 Phương pháp x
ử lý số liệu
26
CHƯƠNG 4 K
ẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
27
4.1 Thành ph
ần loài và biến

động thành phần loài động vật đáy
27
Trên r
ạch Sang Trắng
27
4.2 Bi
ến động số lượng động vật đáy trên rạch Sang Trắng và Cái Khế
34
4.3 Bi
ến động khối lượng động vật đáy trên rạch Sang Trắn
g và Cái Kh
ế
37
4.4 Ch
ỉ số đa dạng Shannon
-Weiner (H’) 40
CHƯƠNG 5 K
ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
44
5.1 K
ết luận
44
5.2 Ki
ến nghị
44
vii
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 3.1 S
ơ đồ v

ị trí thu m
ẫu trên rạch Sang Trắng
23
Hình 3.2 S
ơ đồ vị trí thu mẫu trên rạch Cái Khế
24
Hình 4.1 Thành ph
ần loài động vật đáy ở rạch Sang Trắng
27
Hình 4.2 S
ự biến động số loài động vật đáy giữa các điểm khảo sát trên rạch
Sang Tr
ắng
28
Hình 4.3 Thành ph

n loài đ
ộng vật đáyở các điểm khảo sát trên rạch Sang Trắng
29
Hình 4.4 Thành ph
ần loài động vật đáy ở rạch Cái Khế
30
Hình 4.5 Sự biến động số loài động vật đáy giữa các điểm khảo sát trên rạch Cái
Khế 31
Hình 4.6 Thành ph
ần
loài đ
ộng vật đáyở các điể
m kh
ảo sát trên rạch Cái Khế


32
Hình 4.7 Bi
ến động số lượng động vật đáy ở các điểm khảo sát trên rạch Sang
Tr
ắng
34
Hình 4.8 Bi
ến động số lượng động vật đáy ở các điểm khảo sát trên rạch Cái Khế
36
Hình 4.9 Bi
ến động khối lượng động vật đáy ở các điểm kh
ảo sát trên rạch Sang
Tr
ắng
37
Hình 4.10 Bi
ến động khối lượng động vật đáy ở các đi
ểm khảo sát trên rạch Cái
Kh
ế
39
viii
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Mối liên h

giữa ch

số sinh học (ASPT) v


i mức
độ
ô nhiễm
17
B
ảng 2.2
X
ếp hạng chất lượng nước
theo ch
ỉ số đa dạng sinh học
Shannon –
Weiner (H’) 18
B
ảng 3.1 Các vị trí khảo sát trên rạch Sang Trắng
23
B
ảng 3.2 Các vị trí khảo sát trên rạch Cái Khế
24
B
ảng 4.1 So sánh thành phần loài giữa rạch Sang Trắng và Cái Khế
33
B
ảng 4.2
Ch
ỉ số đa dạng của độ
ng v
ật đáy ở các điểm khảo sát trên rạch Sang
Tr
ắng

40
B
ảng 4.3
Ch
ỉ số đa dạng của động vật đáy ở các điểm khảo sát trên rạch Cái Khế
41
1
CHƯƠNG 1
M
Ở ĐẦU
Đô th
ị hóa và hoạt động kinh tế xã hội diễn ra rất mạnh mẽ ở các đô thị

ớc ta, trong khi đ
ó h
ệ thống hạ tầng kỹ thuật và hệ thống hạ tầng xã hội của
các đô th
ị được đầu tư xây dựng, nâng cấp chưa tương xứng với yêu cầu phát
triển. Nguồn thải khí, nguồn nước thải, chất thải rắn phát sinh ngày càng lớn,
ngày càng đa dạng với tính chất ngày càng phức tạp hơn, nhưng hầu như chưa
đư
ợc xử lý hoặc xử lý ch
ưa đạt yêu cầu kỹ thuật vệ sinh và đổ thẳng vào nguồn
ti
ếp nhận (Bộ Tài nguyên và Môi tr
ường, 2010).
Trong nh
ững n
ăm qua, cùng với xu hướng phát triển của đất nước, thành
ph

ố Cần Th
ơ ngày càng khẳng đ
ịnh là một thành phố trung tâm của
đ
ồng bằng
sông C
ửu Long. Với vị trí thuận lợi và tiềm n
ăng dồi dào, thành phố Cần Thơ là
đô th
ị có tốc
độ phát triển cao, thu hút nguồn lực lao động từ nơi khác đến để làm
vi
ệc trong các ngành kinh tế, hoạt
động sản xuất,
kinh doanh và thương m
ại
đã
mang l
ại nhiều nguồn thu lớn cho thành phố (Bùi Thị Nga, 2010).
Th
ế nh
ưng,
m
ục tiêu phát triển kinh tế ch
ưa gắn với bảo vệ môi trường đã và đang từng ngày,
t
ừng giờ làm cho tình trạng ô nhiễm môi tr
ường ở đô thị trung tâm miền
Tây
Nam B


đến hồi báo động.
Thành ph
ố Cần Th
ơ hiện có 8 khu công nghiệp tập trung với tổng diện
tích 2.364ha, n
ằm cặp sông Hậu. Nhiều n
ăm qua nước thải của các doanh nghiệp
qua x
ử lý
đạt hay chưa đạt đều thải thẳng ra sông, rạch do các
khu công nghi
ệp
chưa có nhà máy x
ử lý n
ước thải tập trung, gây ô nhiễm môi trường ngày càng
nghiêm tr
ọng (Hồng Khanh, 2012).
R
ạch Cái Khế
- m
ột trong những con rạch chính, dài nhất tại thành phố
C
ần Thơ hiện nay, chạy qua nhiều phường từ Cái Khế, An Hòa, An Nghiệp, An
H
ội, X
uân Khánh, An Khánh, c
ủa quận Ninh Kiều. Đoạn kênh là nơi phải tiếp
nh
ận nguồn chất thải từ các hoạt động sinh hoạt của cư dân ven rạch, của việc

buôn bán trên khu ch
ợ (chợ Cái Khế và chợ An Nghiệp), nước thải đô thị, Theo
k
ết quả quan trắc chất lượn
g nư
ớc tại thành phố Cần Thơ trong vòng 3 năm:
2008, 2009, 2010 trên r
ạch Cái Khế, các chỉ tiêu BOD, COD, Coliform đều cao
hơn và DO th
ì thấp hơn so với QCVN 08:2008/BTNMT loại A1 cho thấy nguồn

ớc mặt tại đây đang bị ô nhiễm mà chủ yếu ô nhiễm hữu cơ (T
rung tâm quan
tr
ắc Tài nguyên và Môi trường Cần Thơ, 2010).
R
ạch Sang Trắng là nơi tiếp nhận trực tiếp nguồn nước thải từ khu công
nghi
ệp Trà Nóc
1 và Trà Nóc 2 nên đây đư
ợc xem là một trong những điểm nóng
v
ề ô nhiễm môi trường nước. Nước trên rạch bị ô n
hi
ễm làm ảnh hưởng đến chất

ợng nguồn nước sinh hoạt, sức khỏe của cư dân lân cận và trên diện rộng sẽ
2
ảnh h
ư

ởng đến chất lượng nguồn nước cấp cho cư dân thành phố Cần Thơ
(Quách Thanh Tri
ệu, 2012).
Quan trắc môi trường nước sông có vai trò rất quan trọng trong việc
ra quyết định, xây d
ựng
các chiến lược và kế ho
ạch
phát triển kinh tế - xã h
ội
của Qu
ốc
gia và c
ủa
mỗi thành ph
ố.
K
ết quả quan trắc không kịp thời, báo
cáo
quan tr
ắc sau
m
ột
năm nên không th
ể giải quyết nhanh các sự cố môi trường ở
nơi ô nhi
ễm
.
Đến nay, trên th
ế

giới và Việt Nam đ
ã sử dụng chủ
yếu ph
ư
ơng pháp
quan trắc môi trường nước sông: quan trắc lý hóa và quan trắc sinh h
ọc.
Do
các thiết bị quan trắc lý - hóa ngày càng hiện
đại
và thu
ận lợi
nên phương pháp
này trở nên ph
ổ biến
và được áp dụng rộng rãi. Mặc dù quan trắc hóa-lý đánh
giá ch
ất lượng
nước ở một thời
điểm
nhưng không đánh giá được di
ễn biến
c
ủa
c
ủa môi trường nước
và nh
ững
biến đổi sinh thái c
ủa thủy vực

. Trong khi
quan trắc sinh học b
ằng
đ
ộng
vật không xương s

ng cỡ lớn lại giải quyết được
những nhược điểm trên của phương pháp quan trắc lý-hóa. Ngoài ra, quan trắc
sinh h
ọc
còn có nhiều ưu điểm như: đơn giản; thu th
ập
định lượng, b
ảo quản dễ
dàng; rẻ tiền,
đ
ặc biệt là thuận lợi cho việc giám sát về sau (Phan Th
ị Hiền,
2011).
Cho đến nay, ch
ưa có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự biến động
qu
ần xã động vật đáy với chất lượng nước trên các kênh rạch chịu tác động của

ớc thải công nghiệp và sinh hoạt của thành phố Cần Thơ.
C
ần có tiêu chí đánh
giá nhanh chất lượng nước nhằm cảnh báo kịp thời cho người dân Do đó, đề tài
“Đ

ặc
đi
ểm
đ
ộng vật
đáy ở rạch Sang Trắng và Cái Khế, thành phố
C
ần
Thơ” đư
ợc thực hiện
k
ết hợp với các nghiên cứu
v
ề chất lượng đất và nước
trên th
ủy vực
s
ẽ có đóng góp quan trọng trong việc việc đánh giá
nhanh môi
trư
ờng nước trên
h
ệ thống sông rạch
ch
ịu
tác đ
ộng của nước thải công nghiệp và
sinh ho
ạt.
Mục tiêu đề tài

Cung c
ấp dẫn liệu về sự biến động thành phần loài và sinh khối động vật
đáy gi
ữa mùa khô và mùa mưa để làm cơ sở đánh giá môi trường nước trên hai
r
ạch Sang Trắng và Cái Khế dưới tác động của nước thải công nghiệp và sinh
ho
ạt.
N
ội dung nghiên cứu
Kh
ảo sát sự biến động thành phần loài và sinh lượng động vật đáy trên
r
ạch Sang Trắng và Cái Khế tại các vị trí thu mẫu vào mùa mưa.
Đánh giá ch
ất lượng nư
ớc mặt trên rạch Sang Trắng và Cái Khế dựa vào
chỉ số đa dạng sinh học Shannon – Weiner (1949).
3
CHƯƠNG 2

ỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 T
ổng quan về thành phố Cần Thơ
2.1.1 Đi
ều kiện tự nhiên
Thành ph
ố Cần Thơ nằm trong vùng trung
-h
ạ lưu vực sông Hậu, là trung

tâm vùng ĐBSCL, điểm giao nhau của vùng Tây Nam sông Hậu với vùng Tứ
giác Long Xuyên, vùng Bắc sông Tiền và vùng trọng điểm phía Nam. Thành phố
n
ằm giữa một mạng l
ưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, cách biển Đông 75 km,
cách th

đô Hà Nội 1.877 km và các
h thành ph
ố Hồ Chí Minh 169 km theo
đư
ờng bộ. Thành phố hiện có 05 quận nội thành là Thốt Nốt, Ô Môn, Bình Thủy,
Ninh Ki
ều, Cái R
ăng và 04 huyện ngoại thành: Vĩnh Thạnh, Thới Lai, Cờ Đỏ,
Phong Đi
ền bao gồm 85 xã, ph
ường và thị trấn. Theo thống kê của Phòng
Qu
ản
lý Đ
ất
đai
-S
ở Tài nguyên và Môi tr
ường thành phố Cần Thơ đến ngày 01 tháng
01 năm 2009, thành ph
ố có tổng diện tích 140.161,60 km
2
(Trung tâm quan tr

ắc
Tài nguyên và Môi trư
ờng Cần Th
ơ, 2010).
T
ọa
độ địa lý: 9
o
55’08” – 10
o
19’38” v
ĩ Bắc; 105
o
13’38” – 105
o
50’35”
kinh Đông v
ới các mặt tiếp giáp nh
ư sau:
- Phía B
ắc giáp An Giang;
- Phía Nam giáp H
ậu Giang;
- Phía Tây giáp Kiên Giang;
- Phía Đông giáp 02 t
ỉnh Vĩnh Long và
Đồng Tháp;
Thành ph
ố Cần Th
ơ

có 04 m
ặt
đều không giáp biển, hầu như không có
r
ừng tự
nhiên. Thành ph
ố Cần Th
ơ từ lâu đã
là trung tâm kinh t
ế, v
ăn hóa giáo
d
ục
- đào t
ạo,
đ
ầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận
qu

c t
ế của vùng ĐBSCL và cả nước.
Sau nhi
ều năm phấn
đ
ấu, ngày 24 tháng 6
năm 2009, thành ph

chính th
ức đượ
c công nh

ận là đô thị loại I trực thuộc Trung
ương thông qua quyết
định số 889/QĐ
-TTg c
ủa Thủ tướng Chính phủ. Đây là
ni
ềm vui và
vinh d
ự lớn cho Đảng bộ chính quyền và nhân dân thành phố,
là m
ột
m
ốc
quan tr
ọng tạo đà cho quá trình thành phố
đi lên công nghi
ệp hóa, hiện đại
hóa bi
ến Cần Thơ trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020 (Trung tâm
quan tr
ắc Tài nguyên và Môi trường Cần Thơ, 2010).
Ch
ế độ thủy văn
và h
ệ thống kênh rạch
Do đi
ều kiện địa lý của vùng, chế đô thủy văn của Cần Thơ chịu ảnh

ởng
ch

ủ yếu của chế độ thủy văn sông Hậu: vừa chịu ảnh hưởng chế độ nhật
tri
ều biển Đông, vừa chịu ảnh hưởng chế độ mùa mưa và bị ảnh hưởng nhẹ chế
đ
ộ nhật triều biển Tây
– V
ịnh Thái Lan. Mùa lũ ở Cần Thơ bắt đầu vào tháng 7
và k
ết thúc vào tháng 12. Nguyên n
hân gây ra l
ũ chi yếu là do mưa lớn ở thượng
4
ngu
ồn. Lũ
đạt mức cao nhất vào tháng 9 và 10, thời gian này thường trùng với kỳ
mưa l
ớn tại
địa phương làm mực nước dâng lên gây ngập một vùng rộng lớn, thời
gian ng
ập kéo dài. Do có hệ thống kênh rạch chằng chị
t nên th
ời gian truyền lũ
tương đ
ối chậm. Thời gian xuất hiện
đỉnh lũ ở Cần Thơ chậm hơn thời gian xuất
hi
ện
đỉnh lũ tại Châu Đốc khoảng 10
-15 ngày. Mùa ki
ệt n

ước ở Cần Thơ bắt đầu
t
ừ tháng 1 kết thúc vào tháng 6. Giai đoạn đầu dòng chảy có cường độ cao v
ì nó
mang tính ch
ất chuyển tiếp từ mùa lũ sang mùa cạn. Từ tháng 12 đến tháng 1 lưu

ợng vẫn lớn hơn 8% tổng lưu lượng trong năm. Tháng 4 lưu lượng nhỏ nhất
kho
ảng 1/20 lưu lượng mùa lũ (2.000m
3
/giây) (Nguy
ễn Hữu Lợi, 2013).
M
ật độ sông rạch tại Thành ph
ố Cần Th
ơ khá lớn khoảng
1,8 km/km
2
,
vùng ven sông H
ậu thuộc quận Ninh Kiều, Ô Môn, Cái Răng và huyện Thốt Nốt
lên t
ới trên 2 km/km
2
. H
ệ thống sông rạch chính tại Cần Thơ gồm:
- Sông H
ậu: là nhánh phía Tây của sông Mê Kông trong lãnh thổ Việt
Nam, v

ừa là
ngu
ồn cung cấp nước ngọt chính cho ĐBSCL và Cần Thơ, vừa là
ranh gi
ới tự nhiên của thành phố Cần Thơ với 02 tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long.
Sông H
ậu cũng là thủy lộ Quốc tế cho các tàu đi về Campuchia Sông Hậu là
con sông l
ớn nhất của vùng với tổng
chi
ều
dài ch
ảy qua Cần Thơ là 55 km, tổng

ợng nước sông Hậu đổ ra
bi
ển khoảng 200 tỷ m
3
/năm (chi
ếm 41% tổng lượng

ớc của sông Mê Kông). Tổng lượng phù sa của sông Hậu là 35 triệu m
3
/năm
(chi
ếm gần 1/2
t
ổng lượng phù sa sông Mê Kông)
(Trung tâm quan tr
ắc Tài

nguyên và Môi trư
ờng Cần Thơ, 2010).
- Hệ thống các kênh rạch nội đồng: Rạch Cần Thơ (dài 16 km đổ ra sông
Hậu tại bến Ninh Kiều), rạch Bình Thủy, rạch Trà Nóc, rạch Ô Môn, rạch Thốt
N
ốt, kênh Cái Sắn, Đây là những kênh rạch lớn dẫn nước từ sông Hậu vào c
ác
vùng n
ội đồng và nối liền với kênh rạch của các tỉnh lân cận thành phố Cần Thơ,
có nư
ớc ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa có tác
d
ụng tiêu úng trong mùa lũ và c
ó ý ngh
ĩa lớn về giao thông
(Trung tâm quan tr
ắc
Tài nguyên và Môi trư
ờng Cần Thơ, 2010).
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Kinh t
ế thành phố tăng trưởng nhanh, tốc độ tăng bình quân giai đoạn
2006 – 2010 đ
ạt 15,13%/năm (so với giai đoạn 2001
- 2005 ch
ỉ đạt 13,48%);
riêng năm 2012, trong t
ình hình khó khăn chung nhưng tốc
đ
ộ tăng trưởng GDP

c
ủa thành phố đạt 11,55%, cao nhất so với năm thành phố lớn. Cơ cấu kinh tế
chuy
ển dịch theo hướng công nghiệp
– d
ịch vụ
- nông nghi
ệp công nghệ cao:
Ngành công nghi
ệp
– xây d
ựng, năm 2005 chiếm tỷ trọng 39,84%, đến năm 2012
chi
ếm 39,22%
, gi
ảm không đáng kể trong cơ cấu kinh tế thành phố; ngành
thương mại – dịch vụ, năm 2005 chiếm tỷ trọng 18,7% trong cơ cấu kinh tế thành
phố Cần Thơ; đến năm 2012 còn 10.66%, giảm 8,04%. Các ngành và lĩnh vực
kinh t
ế có những chuyển biến tích cực
(Nguy
ễn
H
ữu Lợi, 2013).
5
2.2 Tình hình ô nhi
ễm

ớc mặt
trên các r

ạch khảo sát
2.2.1 Tình hình ô nhi
ễm

ớc mặt trên rạch Cái Khế
- qu
ận Ninh Kiều
Trong vài năm g
ần
đây, chất lượng nước rạch Cái Khế có khuynh hướng
suy gi
ảm. Theo Bùi Thị Nga (2010) (tham khảo kết q
u
ả nghiên cứu của Trần Thị
Di
ễm My (2001), Võ V
ăn Ngoan (2004), Bùi Thị Nga & Nguyễn Hoàng Vinh
(2006)) cho th
ấy, hàm lượng COD, tổng Coliform tăng liên tục từ năm 2001
-
2006; trong khi đó DO ngày càng gi
ảm với các giá trị thể hiện: DO biến động
trong kho
ản
g 1,8-3,6 mg/l, DO gi
ảm từ 1,2
-2 l
ần năm 2006 so với năm 2001;
COD dao đ
ộng trong khoảng 20,5

-30,5 mg/l, cao hơn 1,5-2,2 l
ần so với năm
2001. T

ng Coliform bi
ến động 4,8x10
3
– 3x10
5
MPN/100ml, Coliform năm
2006 cao hơn t
ừ 7
- 63 l
ần so với năm 2001 và 2004.
Theo s
ố liệu báo cáo hiện
tr
ạng môi trường 1999
-2009 c
ủa T
hành ph
ố Cần Thơ
, cho th
ấy vào năm 2008,
m
ột số các chỉ tiêu như: COD vượt 1,87 lần, TSS đã vượt 1,8 lần, chỉ tiêu NH
4
-N

ợt 8,5 lần và Coliform vượt 64 lần so với QCVN 08:2008 cột A1

(Bùi Th

Nga, 2010).
R
ạch Cái Khế nằm trên địa bàn quận Ninh Kiều (Cần Thơ), dài gần 10
km, ti
ếp giáp với bờ sông Hậu đến khu vực Thới Nhựt, phường An Bình hiện ô
nhi
ễm khá nặng. Nguyên nhân do nước thải từ Trung tâm thương mại Cái K
h
ế
m
ỗi ngày thải xuống rạch khoảng
2.000 m
3

ớc bẩn, chất thải rắn và rác sinh
ho
ạt. Cư dân sống trên những nhà sàn dọc theo kênh cũng đổ nhiều loại chất thải
xu
ống rạch làm cho tình trạng ô
nhi
ễm ngày càng trầm trọng thêm (Bộ tài
nguyên môi trường, 2006).
Theo Nguyễn Hoàng Oanh, lấy dữ liệu từ Công Ty Trách nhiệm hữu hạn
C
ấp Thoát Nước Cần Thơ (2009), có 31 cửa xả nước thải thoát ra rạch Cái Khế
đ
ể ra sông Hậu thuộc các tuyến đường nội ô Trần Quang Khải, Trần Hưng Đạo,
M

ậu Thân, Phạm Ngũ Lão, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Trãi, Hoàng Văn Thụ, Đề
Thám, Xô Vi
ết Nghệ Tỉnh, Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Thị Xuân. Có 8/31 cửa xả
có dòng ch
ảy chậm do bùn hai bên bồi đắp, bê tông và rác xả đầy trước miệng
c
ửa xả. Ngoài ra, người dân còn tự xây dựng nhiều cống hở nhận nước từ khu
v
ực đông dâ
n cư th
ải thẳng ra rạ
ch Cái Kh
ế (
Nguy
ễn Hoàng
Oanh, 2011).
2.2.2 Tình hình ô nhi
ễm

ớc mặt trên rạch Sang Trắng
– qu
ận Ô Môn
R
ạch Sang Trắng thuộc địa bàn phường Phước Thới, quận Ô Môn, nằm
gi
ữa khu công nghiệp Trà Nóc I và Trà Nóc II với hàng trăm cơ sở, xí nghiệp
s
ản
xu
ất c

ông nghi
ệp bên trên.
Khu v
ực thuộc rạch Sang Trắng bị ô nhiễm do nguồn

ớc thải từ khu công nghiệp tập trung.
Do không có c
ống thoát nước riêng nên
toàn b
ộ nước thải trong khu công nghiệp đều đang xả vào hệ thống thoát nước
mưa sau khi đã được xử lý tại các công trình xử lý cục bộ của doanh nghiệp.
Năm 2009, khu công nghiệp Trà Nóc có tổng cộng 14 cửa xả thoát nước mưa ra
4 th
ủy vực chính tiếp nhận n
ước thải và nước mưa của khu công nghiệp Trà Nóc
6
I, II, g
ồm: sông Hậu (phía
Đông),
r
ạch
Cái Chôm (phía B
ắc),
kênh ngang qua
Qu
ốc lộ 91A (phía Nam) và
r
ạch Sang Trắng
n
ằm giữa KCN

(Qu
ỳnh
– Di
ễm,
2010).
Nhi
ều n
ăm qua, hàng chục hộ dân phường Phước Thới, quận Ô Môn phải
s
ống trong cảnh ô nhiễm môi tr
ường, nhất là ô nhiễm nguồn nước do nước thải từ
khu công nghi
ệp
Trà Nóc II x
ả thẳng ra rạch Sang Trắng. Hằng ngày, nước thải
t
ừ cống khu công nghiệp thải ra rạch Sang Trắng đen ngòm, nổi bọt, bốc mùi hôi
th
ối khó chịu. Gặp nước sông Hậu đang xuống, mùi hôi thối bốc lên càng nồng
n
ặc hơn. Nước thải ở khu công nghiệp làm

ớc rạch Sang Trắng ô nhiễm nặng,
không th
ể dùng cho sinh hoạt, cây, trái, hoa màu không phát triển được (Thanh
Tâm, 2011).
2.3 Sinh v
ật chỉ thị môi trường
Sinh v
ật chỉ thị là những đối tượng sinh vật có yêu cầu nhất định về điều

ki
ện sinh thái liên quan
đ
ến nhu cầu dinh dưỡng, hàm lượng oxy, cũng như khả
năng ch
ống chịu một hàm lượng nhất định các yếu tố độc hại trong môi trường
s
ống và do đó, sự hiện diện của chúng biểu thị một tình trạng vè điều kiện sinh
thái c
ủa môi trường sống nằm trong giới hạn nhu
c
ầu và khả năng chống chịu của
đ
ối tượng sinh vật đó. Có rất nhiều sinh vật chỉ thị được lựa chọn để chỉ thị cho
nhi
ều mục đích khác nhau. Trong các sinh vật chỉ thị đó thì một số nhóm được
xác đ
ịnh là phù hợp cho mục đích bảo vệ môi trường như thực vật l
ớn, thực vật
n
ổi, độ
ng v
ật nguyên sinh, cá, một s
ố vi sinh v
ật và động vật đáy để chỉ thị cho
một số đặc tính khác nhau của môi rường nước. Mỗi nhóm sinh vật có đặc điểm
sinh học khác nhau và có thể chỉ thị một điều kiện môi trường khác nhau (Lê Văn
Khoa et al., 2007)
Theo Dương Trí D
ũng (2009), sự tồn tại và phát triển của một nhóm sinh

v
ật nào đó trong một môi trường nào đó là kết quả của quá trình thích nghi. Sự
phát tri
ển mạnh của một nhóm sinh vật nào đó sẽ biểu hiện được tính chất môi
trư
ờng đó thích
h
ợp cho sự phát triển của quần xã này, Mặc khác sự không thích
ứng hay mất
đi của một nhóm sinh vật nào đó trong khu hệ cũng là một dấu hiệu
cho th
ấy khuynh hướng diễn biến của môi trường. Tóm lại, sự xuất hiện hay biến
m
ất của một nhóm sinh vật nào đó thể
hi
ện được đặc tính môi trường thì đó gọi
là sinh v
ật chỉ thị.
Qua nh
ững kết quả nghiên cứu về đặc tính thủy sinh vật, có thể thấy một
nét cơ b
ản là điều kiện môi trường nước đã tác động đến đặc tính thủy sinh vật
thông qua các đ
ặc điểm về cấu trúc thành p
h
ần loài, sự phân bố số lượng các
nhóm th
ủy sinh vật (Đặng Ngọc Thanh
et al., 2002). Đ
ặc điểm này thể hiện như

sau:
+ Một số khu vực nghiên cứu, thường có một vài loài hoặc nhóm loài có
t
ần suất cao h
ơn hẳn so với nhóm loài khác cũng như so với khu vực khá
c.
7
+ M
ột số nhóm loài chỉ phân bố ở khu vực này mà không tìm thấy phân bố
ở khu vực khác.
Đây là nh
ững nhóm loài được coi là nhạy cảm với điều kiện môi
trư
ờng.
+ M
ột số nhóm loài thấy xuất hiện ở tất cả các
điểm nghiên cứu dạng sông
v
ới nền
đáy mềm, bùn cá
t, cát bùn như giun ít tơ Oligochaeta. Đây là nhóm loài
đư
ợc coi là có tính chống chịu nhất đối với điều kiện môi trường.
2.4 Đ
ộng vật
đáy
2.4.1 Sơ lư
ợc về
động vật đáy
Đ

ộng vật đáy là tập hợp những động vật không xương sống thủy sinh,
s
ống trên mặt nền đá
y (epifauna) hay trong t
ầng đáy (infauna) của thủy vực.
Ngoài các đ
ối tượng trên, có một số loài sống tự do trong tầng nước nhưng cũng
có th
ời gian khá dài (theo tỉ lệ thời gian sống) sống bám vào giá thể hay vùi mình
trong t
ầng đáy thì vẫn được xếp trong
nhóm đ
ộng vật đáy (Dương Trí Dũng,
2009).
Đ
ộng vật đáy sống trong một khu vực, một thủy vực không những chịu tác
đ
ộng của các yếu tố lý hóa học của nước mà chúng còn chịu tác động trực tiếp
v
ới chất đáy (Dương Trí Dũng, 2009).
Theo Dương Trí D
ũng
(2009), theo các đ
ặc tính phân bố cũng như kích
thư
ớc mà người ta phân chia làm các nhóm sau:
+ D
ựa vào loại hình thủy vực, nơi mà sinh vật đáy phân bố, người ta xếp
chúng vào các nhóm như sinh v
ật đáy biển, s

inh v
ật đáy ao, sinh vật đáy hồ

+ Dựa vào kích thước mà sinh vật đáy được phân chia thành (i) sinh vật
đáy cỡ lớn: nhóm này bao gồm các sinh vật đáy có kích thước >2 mm; (ii) sinh
v
ật đáy cỡ vừa: sinh vật trong nhóm này có kích thước 0,1
-2,0 mm và (iii) sinh
v
ật đáy cỡ nhỏ có kích thước nhỏ hơn 0,1mm.
+ D
ựa
vào t
ập tính sống mà phân chia chúng thành các dạng như (i) sinh
v
ật sống cố định: do đời sống cố định nên một số cơ quan bị thoái hóa như hệ vận
đ
ộng, hệ thần kinh nhưng cũng có một số phần hay cơ quan phát triển để thích
nghi như xúc giác, xúc tu ; (ii) sinh v
ật sống đục khoét: chúng đục gỗ hay đá và
chui vào đó đ
ể sống xem như là tổ; (iii) sinh vật bơi, bò ở đáy: thường thấy ở
giáp xác; (iv) sinh v
ật dưới đáy: những loài này ít di động và phát triển theo

ớng có vỏ để bảo vệ như da gai Echinodermata)
; (v) sinh v
ật chui sâu dưới
đáy: chúng s
ống chui sâu vào nền đáy, đặc điểm thích nghi là cơ thể dài, có phần

ph
ụ như ống hút thoát nước và nhóm cuối cùng là (vi) sinh vật sống bám.
8
2.4.2 Đ
ặc
điểm một số loài động vật đáy thường xuất hiện ở các thủy vự
c

ớc ngọt
Giun nhi
ều t
ơ (Polychaeta)
L
ớp Polychaeta có khoảng 25 bộ. Hầu hết sống ở biển hoặc vùng cửa
sông. L
ớp giun nhiều t
ơ có 3 bộ thường gặp là bộ Phyllodocida, bộ Eunicida và
b
ộ Sabellida với 40 họ (Vũ Ngọc Út, 2010).
L
ớp này có khoảng 4.000 loài,
ch
ủ yếu sống ở biển, một số ít loài sống ở

ớc ngọt. Là động vật đơn tính, cơ quan chuyển vận là chi bên (parapoda), phát
tri
ển qua
ấu trùng trochophora (Thái Tr
ần Bái, 2001
).

C
ấu tạo các phần cơ thể gồm 3 phần là đầu, thân và thùy đuôi.
+ Ph
ần đầu gồm c
ó 2 ph
ần là phần trước miệng (protostomium) và phần
quanh mi
ệng (peristomium). Phần trước miệng nhỏ, dẹp theo hướng lưng bụng,
có hình tam giác cân,
đỉnh quay về phía trước. Mặt trên có 2 anten (râu), gồm
ph
ần gốc và phần ngọn liên tục nhau. Mặt bên ở phần
g
ốc của phần trước miệng
có 2 xúc bi
ện (palpi) là cơ quan cảm giác như một bướu nhỏ, linh động còn mặt
trên c
ủa phần trước miệng có 2 mắt màu đen. Phần quanh miệng ngắn, mang 2
đôi s
ợi ở mỗi bên (có nguồn gốc là do sự kết hợp của 2 đốt thân). Phía dưới ph
ần
quanh mi
ệng có lỗ miệng rộng. Khi định hình, phần trước hầu lộn ra đưa hẳn 2
hàm kitin có móc răng ra ngoài
+ Thân có nhi
ều đốt, các đốt đều ngắn, chiều dài ngắn hơn chiều ngang,
m
ỗi đốt thân mang một đôi chi bên. Mỗi chi bên là thành lồi cơ thể và phân
thành
2 thùy là thùy lưng và thùy bụng. Trên thùy lưng có sợi lưng, chùm tơ lưng. Trên

thùy bụng có sợi bụng, chùm tơ bụng. Trong các chùm tơ, bên cạnh các tơ nhỏ
th
ẳng màu đen có một tơ hình que, lớn hơn, được gọi là tơ trụ. Nhờ có các chùm

ở chi bên
mà con v
ật có thể bơi hay bò trên nền đáy, cấu tạo này biểu hiện rõ
nét
ở nhóm Giun nhiều tơ sống di động (Errantia), nhưng có biến đổi ít nhiều ở
nhóm s
ống định cư (Sedentaria). Nhóm động vật ẩn mình trong vỏ, chi bên tiêu
gi
ảm, còn các tơ giúp cơ thể bám
vào thành
ống, còn phần đầu và một số đốt phía
trư
ớc có thể thò ra ngoài để lấy thức ăn. Một số người chia phần thân của nhóm
này thành 2 ph
ần (ngực và bụng).
+ Ph
ần đuôi ở vào cuối của cơ thể không có chi bên và có hậu môn.
M
ột số giun nhiều t
ơ có màu sắ
c ngu
ỵ trang nh
ư màu xanh (họ Phyllodomicidae)
hay có các đốm đen (họ Aphroditidae). Hầu hết giun nhiều tơ sống ở biển, một số ít
s
ống ở n

ước lợ, ngọt hay thậm chí cả trong lớp đất trồng trọt ở các vùng xa biển
(Lycastopsis catarractarum). Giun nhi
ều tơ ph
ân b
ố ở biển rất rộng, từ vùng cực đến
vùng xích đ
ạo, trong vùng triều ở
độ sâu dưới 800m, tập trung nhiều ở vùng ven bờ.
Ph
ần lớn giun nhiều t
ơ sống đáy, chui rúc trong bùn, bò trên mặt đáy, trong rong
t
ảo và cả trong xác vỏ của
động vật thân mềm (vỏ trai
,
ốc…). Một số loài sống
n
ổi suốt
đời như họ Tomopteridae, Alciopidae, Typhloscoleicidae, họ
9
Phyllodocidae, Aphroditidae có đ
ặc
điểm thích nghi
v
ới lối sống nh
ư cơ thể
thư
ờng
dẹp, trong suốt, chi bên dài và rộng. Mức
đ

ộ thích nghi với yếu tố môi
trư
ờng

ộ sâu,
độ mặn, nhiệt độ, chất đáy)… thay đổi tùy loài. Ví dụ loài
Terebellides stroenii phân b
ố rộng trên nhiều
đại dương từ độ sâu 0
– 2.400m,
r
ộng muối, có nền
đáy là bùn cát hay sỏi, sét… Mặt khác có loài thì lại thích nghi
h
ẹp với điều kiện của môi t

ờng sống. Ví dụ như các giống
Otopsis, Samythella,
Macellicephala, Saetmatomice… ch
ỉ sống ở đáy đại dương hay loài
Enuphis
conchyleya l
ại thích sống trong vỏ trai ốc hay đáy cuội. Các loài giun nhiều tơ
s
ống đáy, có nhóm sống định cư trong tổ hay có khả
năng di đ
ộng.
Giun nhi
ều tơ
di đ

ộng thường có thức ăn là động vật hay thực vật, một số ăn tạp và các cá thể
c
ủa nhóm này thường phát triển về giác quan và chi bên. Giun nhiều tơ định cư
thư
ờng ăn các vụn bã hữu cơ theo lối ăn lọc nên phát triển phần đầu cò
n các chi
bên c
ủa thân thì biến thành cơ quan bám vào tổ. Hiện tượng hội sinh gặp khá phổ
bi
ến ở giun nhiều tơ. Một số loài giáp xác sống trong tổ của giống
Chaetopterus,
nhi
ều loài thuộc
Kamptozoa s
ống hội sinh trên cơ thể của giống
Nephthys c
ủa họ
Eunicidae. nhi
ều loài khác lại sống hội sống với thân lỗ, hải tiêu, thân mềm, giáp
xác… (Thái Tr
ần Bái, 2001
).
Giun ít tơ (Oligochaeta)
Giun ít tơ có kho
ảng 4.000 loài, có quan hệ gần gũi với giun nhiều tơ
nhưng đ
ặc điểm hình thái có biến đổi để phù hợp với lối
s
ống chui luồn trong đất,
đáy các thu

ỷ vực hay sống bám trên cây thuỷ sinh
(Thái Tr
ần Bái, 2001
).
Đa số giun ít tơ, cả dưới nước và trên cạn là những loài ăn xác bã động
thực vật thối rửa, nhất là thực vật. Tảo, mùn bả hữu cơ và các vi sinh vật khác là
nh

ng ngu
ồn thức ăn quan trọng cho nhiều loài nước ngọt có kích thước nhỏ.
L
ớp phụ Oligochaeta có 3 bộ (Lumbriculida, Haplotaxida và Lumbricina)
v
ới 21 họ thường gặp. Bộ phụ Tubificina có 6 họ, thường gặp 2 họ là Tubificidae
và h
ọ Naididae (Vũ Ngọc Út, 2010).
Giun ít tơ s
ống ở n
ước ngọt có kích thước bé, đường kính thân khoảng một vài
mm. Giun đ
ất có cỡ lớn h
ơn (0,5
- 50mm) có th
ể dài tới 3m (
Megascolides australis).
S
ố đốt thân thường thay đổi từ 7
– 8 đ
ốt đến hàng trăm đốt. Ở giun ít tơ các bộ phận
c

ảm giác
trên đ
ầu và chi bên bị tiêu giảm. T
ơ thường xếp thành 4 chùm tơ hay vành tơ
trên m
ỗi đốt. Tơ là điểm tựa bám vào thành hang khi di chuyển. Một số loài sống tự do
trong nư
ớc thì có lông tơ dài (giống
Acoloma thu
ộc họ Naididae).
Thành cơ th
ể của
giun ít tơ cũng có cấu tạo nh
ư ở giun nhiều tơ: Lớp cuticun bao ngoài, trong suốt,
có nhi
ều gờ chéo nên bền vững. Tiếp theo là lớp biểu mô có xen lẫn các tế bào
tuy
ến và tế bào cảm giác. Chức năng của tế bào tuyến là tiết chất nhầy, đôi khi
dính đ
ất, sỏi, cát… tạo thà
nh v
ỏ tách khỏi lớp cuticun hay tạo thành đai sinh dục
(t
ế bào tuyến tạo đai sinh dục có 2 loại, một loại thì tạo thành lớp vỏ ngoài của
đai, sau này thành v
ỏ kén để bọc trứng, một loại khác thì hình thành chất dinh
10

ỡng
để nuôi phôi. Tế bào cảm giác có t

iêm mao, có khi t
ập trung thành nhú
c
ảm giác. Bao c
ơ của giun ít tơ có lớp cơ vòng ngoài và cơ dọc trong (ở họ
Branchiobdellidae còn có thêm l
ớp c
ơ xiên).
Nhìn chung m
ức
độ phát triển của
các l
ớp c
ơ phụ thuộc vào cách chuyển vận của giun ít tơ: hoặc là tế
bào cơ có s
ợi
phân b

đều trong các lớp cơ hoặc là tạo thành bó cơ. Xoang cơ thể là xoang thứ
sinh, trong xoang có nhi
ều vách ngăn đốt, ứng với ngấn đốt bên ngoài. Trong
xoang ch
ứa đầy dịch thể xoang
(Thái Tr
ần Bái, 2001
).
L
ớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia)
S


loài hi
ện
s
ống
(8.000 loài) ít hơn so v
ới
các loài hoá th
ạch
(12.000
loài), trong đó ch

y
ếu
s
ống
ở bi
ển,
còn ở nư
ớc
ng
ọt
ch

chi
ếm
10 - 15%). Chân
rìu là nhóm đ
ộng
v
ật

xu
ất
hi
ện
r
ất
s
ớm,
nhi
ều
loài thu
ộc
các h

Nuculidae,
Arcidae, Aviculidae, Pectinidae có hoá th
ạch
t

cu
ối
Cambri. L
ớp
Chân rìu
đư
ợc
chia làm 4 b

là Mang nguyên th
ủy,

Mang s
ợi,
Mang t
ấm
và Mang ngăn
(Thái Tr
ần Bái, 2001
):
+ B

Mang nguyên th
ủy
(Protobranchia): T
ập trung nhiều đặc điểm
nguyên thủy nh
ư Chân hình đế, hạch não và hạch bên chưa tập trung làm một,
mang có c
ấu tạo lá đối điển hình, xoang sinh dục đổ vào thận (là ống dẫn thể
xoang như
ở giun đốt). Sống ở biển, thường chia làm 2 nhóm lớn là Nuculacea và
Arcacea.
Ở vùng biển nước ta thườn
g g
ặp sò huyết
Tegellarca granosa, sò long
Anadara antiquata, sò v
ỏ quăn
Anadra tortuosa thư
ờng tập trung thành bãi lớn
như

ở Thanh Hoá và các tỉnh miền Trung.
+ Bộ Mang sợi (Fillibranchia): Là một nhóm lớn, gồm số lớn các loài. Cơ
thể có mang hình sợi, phần gốc và ngọn có thể nối với nhau bằng cầu nối ngang.
Răng b
ản lề của vỏ tiêu giảm hay mất hẳn, có 1
- 2 cơ khép v
ỏ. Một số giống phổ
bi
ến như Hàu
(Ostra), V
ẹm (
Mytilus), Đi
ệp (
Amussium) là ngu
ồn thức ăn có
giá tr
ị của nhân dân. Ở vùng biển Việt Nam có
kho
ảng 20 loài Hàu khác nhau về
hình thái và n
ơi phân bố. Có 2 loài là đối tượng nuôi phổ biến là hàu cửa sông
Ostrea rivularis, hàu
ống
Ostrea gigas. Trong t
ự nhiên, chúng có thể tập trung
thành bãi l
ớn. Loài vẹm xanh
Chloromitylus viridis có tơ chân bám ch
ắc vào vật
th

ể dưới nước (mỗi con trung bình có 0,1
- 0,2 gam tơ g
ồm có khoảng 150
- 200
s
ợi dài khoảng 1,5m, chịu đựng được sức kéo khoảng 15 kg). Các loài điệp cũng
thư
ờng gặp ở ven bờ biển nước ta như loài
Ammussium pleuronectes là th
ức ăn
ngon. Ngoài ra trong b
ộ này còn gặp loài trai ngọc
Pinctata martensi, P. maxima,
P. margaritifera, đi
ệp ngọc
Placuna placenta.
+ B

Mang t
ấm
(Eulamellibranchia): Mang c
ấu tạo phức tạp, kiểu tấm. Vỏ
có răng b
ản lề phát triển, có dạng mấu lồi hay bản mỏng sắc, có khi
tiêu gi
ảm, cơ
khép vỏ phát triển đều. Có thể chia thành 4 phân bộ. Phân bộ Schizodonta gồm
có các loài trai nước ngọt thuộc các họ Unionidae, họ Margaritiferidae,
Amblemidae.
Ở sông, hồ, ao miền Bắc n

ước ta các loài thường gặp là trai sông
11
Sinanodonta elliptica, trai cánh m
ỏng
Cristaria bialata, trai đi
ệp
Pletolophus
swinhoei, Sinohyriopsis cumingii, trai cóc Lamprotula leai, trùng tr
ục ngắn
Oxynaia micheloti, trùng tr
ục dài
Lanceolaria grayi.
Ở vùng biển phía Nam
thư
ờng gặp các loài
Sinohyriopsis biatus, Cristaria bellua, Physunio superbus,
Ensidens ingallsianus Phân b
ộ Heterodonta có số loài lớn nhất, chủ yếu sống ở
bi
ển, chỉ có một số ít loài sống ở nước ngọt. Phổ biến là các họ Trai như
Caridiidae, Mactridae, Donacidae, Psammobiidae và m
ột số họ t
rai h
ến cỡ nhỏ
ph
ổ biến như Corbiculidae,
Sphaerudae, Dreissenidae. Ở vùng bi
ển
và nư
ớc

l

c
ủa
Vi
ệt
Nam thư
ờng
g
ặp
các loài Solen gouldi (con móng tay), Aloidí laevis
(D
ắt),
Pholas (trai đ
ầu
gai), Glaucomya chinensis (don), Tenedo mani, Bankia
saulii (hà bún). Phân b
ộ Anomalodesmata: có ít loài, răng bản lề kém phát triển,
mang cong v
ề phía trước hay tiêu giảm, sống ở biển. Ở Việt Nam thường gặp các
gi
ống
Suntilla, Laternula, Aspergillum (Thái Tr
ần Bái, 2001
).
B

Mang ngăn (Septibranchia): G
ồm có số ít loài các động vật Chân rìu
s

ống ở biển sâu. Phần chính của mang tiêu giảm, khả năng trao đổi khí do thành
xoang bi
ến đổi về cấu tạo và đảm nhận, phần còn lại của mang tạo thành vách
ngăn gi
ới hạn phần hô hấp củ
a xoang áo. Là nhóm ăn th
ịt. Đại diện có các giống
Poromya và Cuspidaria (Thái Tr
ần Bái, 2001
).
Th

tinh thư
ờng
đư
ợc
ti
ến
hành trong xoang áo hay ngoài cơ th
ể.
Tr
ứng
phân c
ắt
xo
ắn
ốc và có th

phát tri
ển

trên các t
ấm
mang. S

phát tri
ển
khác nhau
ở các nhóm. Đ
ộng
v
ật
chân rìu ở bi
ển
phát tri
ển
qua ấu trùng trochophora và ấu
trùng veliger. Ấu trùng veliger của chân rìu rất giống với ấu trùng veliger của
chân bụng nhưng không xoắn vặn nên luôn có cấu tạo đối xứng 2 bên. Tuyến vỏ
c
ủa
ấu trùng lúc đ
ầu
ti
ết
ra m
ột
t
ấm
v


ở m
ặt
lưng, sau đó phát tri
ển
ra 2 bên đ

hình thành 2 t
ấm
v

như ở trư
ởng
thành. Quá trình phát tri
ển của động vật chân
rìu thu
ộc nhóm Mang nguyên thủy có đặc điểm khác. Ấu trùng trochophora có 4
dãy t
ế bào lớn bao lấy mầm vỏ và mầm các nội quan ở bên trong. Tiếp tục biến
thái, l
ớp tế bào ngoài đột ngột tan rã và giải phóng ra con non ở bên trong. Trứng
c
ủa chân rìu trong họ Sphaeriidae sống ở nước ngọt phát triển trực tiếp trong tấm
mang. Như v
ậy cá
c giai đo
ạn trochophora và veliger đã thu gọn lại, mất màng
bơi và đư
ợc tiến hành trong trứng. Con non được hình thành ngay trong mang
c
ủa mẹ. Sự phát triển của các loài trong họ Trùng trục khá phức tạp. Trứng phát

tri
ển trong tấm mang, hình thành ấu trùng
veliger có c
ấu tạo thích nghi với sống
bám và đư
ợc gọi là ấu trùng glochidium. Glochidium có 2 mảnh vỏ, có gai bám
và tuy
ến dính, tuy nhiên chân, miệng, hậu môn và ống tiêu hoá chưa phát triển.
Ấu trùng theo dòng n
ước qua ống thoát nước rồi rơi xuống đáy
hay bám vào các
động vật bơi qua (cá, tôm ). Thường chúng bám vào vây, mang của cá như là
một vật ký sinh và sau khoảng 10 - 30 ngày rời vật chủ rơi xuống đáy để phát
tri
ển cho ra dạng tr
ưởng thành. Nhờ có khả năng ngoại ký sinh trên động vật
12
khác nên
ấu
trùng c
ủa chân rìu này có thể sử dụng thức
ăn và mở rộng khả năng
phát tán vùng phân b
ố của loài (
Thái Tr
ần Bái, 2001
).
L
ớp Chân bụng (Gastropoda)
Đ

ộng vật chân bụng chiếm tới gần 80% tổng số loài của
động vậ
t thân
m
ềm (có khoảng 90.000 loài). Hiện nay
đã biết khoảng 75.000 loài đang sống và
15.000 loài đ
ã hoá thạch. Phần lớn động vật chân bụng sống ở biển, một số sống
ở n
ước ngọt, ở cạn hay chuyển sang đời sống ký sinh. Được chia làm 3 phân lớp
là Mang trư
ớc,
Mang sau và Có ph
ổi.
Đ
ộng vật Chân bụng phân bố rất rộng,
ph
ần lớn sống ở nước (số lượng loài ở biển và nước lợ nhiều hơn so với ở nước
ng
ọt). Ở biển động vật chân bụng có thể phân bố ở độ sâu 5.000m, còn trên lục
đ
ịa thì có thể đạt đến độ cao là 5.500m (
loài Lymnaea kookeri và Anadenus
schaginteiti). Ch
ỉ một số ốc Mang trước thích nghi với đời sống trôi nổi, còn
ph
ần lớn động vật chân bụng sống bò ở đáy, một số khác sống bám, ít di động
như các gi
ống
Patella, Ancylus, Vermetus ). Ngoài ra còn có các loài s

ống ký
sinh trên đ
ộng vật da gai như sao biển, cầu gai, hải sâm hay các loài động vật
thân m
ềm khác như trai (giống
Mucronalia, Stilifer ).
Ốc có phổi ưa sống nơi
ẩm, giàu mùn bã thực vật, về mùa lạnh hay khô chúng th
ường có thời kỳ nghỉ
ho
ạt động,
b
ịt miệng bằng chất nhầy có nhiều muối can xi do chúng tiết ra. Một
s
ố ốc có mang có thể s
ống cả ở suối n
ước nóng (tới
53
0
C). Riêng nhóm
ốc nhồi
(h
ọ Pilidae) vừa có mang, vừa có phổi nên có thể sống trên cạn khá lâu.
Đa s
ố ăn
th
ực vật, mùn bã hữu cơ, rêu,
n
ấm Một số ốc có thể ăn thịt (các giống thuộc bộ
Chân bụng mới, Chân cánh, họ Cypraeidae, Doliidae ), thức ăn là giun, sứa, trai

và ốc khác. Đặc điểm nổi bật nhất của động vật chân bụng là cơ thể mất đối xứng
và đư
ợc chia thành 3 phần là phần đầu, ph
ần thân và phần chân.
Đầu ở phía
trư
ớc, có mắt và các tua cảm giác (râu). Thân (hay được gọi là khối phủ tạng)
n
ằm trên chân, là một
túi xo
ắn.
Chân là kh
ối
cơ kho

n
ằm
ở m
ặt
b
ụng,
c

đ
ộng
u
ốn
sóng khi bò. Toàn b
ộ cơ thể được bao trong một vỏ xoắn, thường x
o

ắn hình
chóp hay xo
ắn trên một mặt phẳng, có thể có thêm nắp vỏ. Mức độ phát triển vỏ
r
ất khác nhau. Cấu tạo vỏ điển hình, từ ngoài vào trong có các lớp như lớp sừng
(periostracum), l
ớp lăng trụ canxi và lớp xà cừ (chỉ có ở một số như bào ngư, ốc
xà c

). S
ố vòng xoắn của vỏ ốc trưởng thành thay đổi ví dụ như ở ốc nhồi (
Pila
polita) là 5,
ở ốc sên (
Achatina fulica) thư
ờng là 6 đến 7 vòng. Vòng xoắn có thể
theo chi
ều kim đồng hồ (xoắn thuận) hay ngược chiều kim đồng hồ (xoắn
ngư
ợc). Nội quan của động vật
thân m
ềm được lớp áo bao phủ, nằm trong vỏ.
Ph
ần lớn chân bụng ăn thực vật, một số khác ăn thịt bằng cách bắt con mồi, tiết
men tiêu hoá phân hu
ỷ con mồi rồi hút vào ống tiêu hoá, một số khác lọc thức ăn
trong nước hay sống ký sinh. Đặc điểm đáng chú ý của hệ tiêu hoá chân bụng là
có nhiều răng ở lưỡi gai (tới hàng trăm ngàn răng), tiêu hoá ngoại bào là chủ yếu
(m
ặc dù có khối gan có thể tiêu hoá nội bào), dạ dày quay h

ướng trước ra sau,
13
tuy
ến n
ước bọt có thể tiết các chất hoà tan đá vôi hay chất độc (ốc cố
i Conus), d

dày c
ủa một số chân bụng
ăn lọc như giống
Lambris, Strombus có tr
ụ gelatin tiết
men tiêu hoá b
ằng cách bào mòn dần, ruột sau có thể xuyên qua tâm thất. Ng
ược
l
ại hệ tiêu hoá của một số
chân b
ụng ký sinh lại tiêu giảm
(Thái Tr
ần Bái, 2001
).
Ph
ần lớn chân bụng
đẻ trứng thành đám, chìm trong khối chất nhầy bám
vào cây th
ủy sinh (như ốc đá, ốc
Limnaea, Busycon, Aplysia v.v ), m
ột số đẻ
tr

ứng từng đám bám vào hốc đất, bùn (ốc nhồi, ốc sên ). Trứng p
hân c
ắt xoắn
ốc, xác
định, hoàn toàn và không đều. Ở nhóm Mang trước hai tâm nhĩ, trứng nở
thành
ấu trùng trochophora, còn các động vật chân bụng còn lại thì giai đoạn ấu
trùng trochophora ch
ỉ xảy ra trong trứng và trứng nở ra ấu trùng veliger bơi lội tự
do. C
ấu tạo ấu trùng veliger như sau: Có cơ quan bơi là 2 màng bơi hình bán
nguy
ệt với tiêm mao dài, được hình thành từ vành tiêm mao trước miệng của ấu
trùng trochophora. Do các ph
ần sinh trưởng không đều nên ấu trùng veliger lần

ợt hình thành chân, mắt,
xúc tu, v
ỏ xoắn, miệng, hầu Đáng chú ý là ấu trùng
veliger có qua m
ột giai đoạn xoắn vỏ và quay khối n
ội tạng một góc 180
0
(so
tương đ
ối với phần đầu). Quá trình xoắn xảy ra rất nhanh (3 phút như ở các loài
thu
ộc giống
Acmaea) hay khá lâu như
ở giống

Pomatias (10 ngày).
Ở ốc nón
(Patella), bào ngư (Haliotis) có 2 l
ần xoắn, mỗi lần quay 90
0
, l
ần đầu thì nhanh
hơn, l
ần sau thì chậm hơn. Quá trình xoắn của ấu trùng veliger của bào ngư nhờ
vào s
ự hoạt động của 6 tế bào cơ có một đầu đính vào đỉnh vỏ, một đầ
u kia đính
vào ph
ần chân. Một số Mang trước sống ở biển như
Busycon, Conus, Natica
cùng với tất cả Mang trước sống ở nước ngọt và Có phổi trứng nở trực tiếp thành
con non. Một số khác như Littorina và Mang trước thuộc họ Viviparidae đẻ con
(Thái Tr
ần Bái, 2001
).
2.4.3
Ứng dụng động vật đáy trong quan trắc sinh học
Giám sát sinh h
ọc được chấp nhận nhờ khả năng xem xét thận trọng sự
bi
ến đổi tính toàn vẹn của hệ sinh thái trong một thời gian dài. Đơn giản và p
h

bi
ến nhất trong cách tiếp cận sinh học để đánh giá chất lượng các dòng chảy và

các sông là s
ử dụng động vật không xương sống ở đáy để đánh giá ô nhiễm. Đặc
bi
ệt, mối tương quan giữa cấu trúc quần xã động vật không xương sống với biến
đ
ổi của môi trường
là m
ột chủ đề được quan tâm và có nhiều nghiên cứu (
Nguy
ễn
Văn Khánh et al., 2010).
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu và ứng dụng quan trắc sinh học bằng đ
ộng
v
ật không xương sống
c
ỡ lớn còn khá mới mẻ. Việc đánh giá hiệu lực của
phương pháp BMWP m
ới chỉ được tậ
p trung nghiên c
ứu ở những hệ thống sông
ngòi thu
ộc miền Bắc và miền Nam nước ta (
Nguy
ễn Văn Khánh
et al., 2010).
Theo Lê Hoàng Vi
ệt (2004), những sinh vật chỉ thị này được sử dụng để
làm sinh v
ật chỉ thị đánh giá chất lượng nước ngày càng phổ biến bởi một

s
ố đặc
đi
ểm sau:
14
- S
ống t
ương đối cố định tại đáy sông, chịu đựng được sự thay đổi chất

ợng n
ước liên tục và chế độ thủy văn.
- Có s
ự phân bố rộng.
- Chu k
ỳ sống khá lâu (từ vài tuần
đến vài tháng).
- D
ễ lấy mẫu, dễ phân loại.
- Có kh
ả năng tích tụ kim
lo
ại nặng, các hóa chất bảo vệ thực vật khi
ngu
ồn nước bị ô nhiễm các chất độc hại này.
Do đó, đ
ộng vật đáy được sử dụng như chỉ thị sinh học để đánh giá chất

ợng nước cho:
- Ô nhi
ễm hữu cơ với sự suy giảm oxy hòa tan.

- Ô nhi
ễm các chất dinh dưỡng.
- Ô nhi
ễm do kim loại nặng và hóa chất bảo vệ thực vật.
Ô nhi
ễm do các tác nhân này sẽ làm thay đổi quần thể động vật đáy. Ngoài
ra, ô nhi
ễm do kim loại nặng và hóa chất bảo vệ thực vật còn được phát hiện dễ
dàng qua vi
ệc xác định tồn lưu các chất này trong độ
ng v
ật đáy như nhóm
Mollusca.
Theo Thái Tr
ần Bái
(2001) thì m
ột số động vật đáy sẽ thể hiện tính chất
môi trư
ờng qua đặc điểm sinh học của chúng như sau:
- Các h
ọ Tubificidae, Lumbriculidae thuộc lớp Oligochaeta (giun ít tơ):
s
ống chui rút trong bùn đất, t
hích s
ống những nơi có dòng chảy, ưa đáy cát pha
bùn. Chúng đư
ợc xem là loài có tính chống chịu nhất đối với môi trường. Ở nước
ta thường gặp Limondrilus hoffmeisteri kết thành từng búi dày đặc màu hồng ở
cống rãnh và ao nuôi cá, Branchyura sowerbyi có mang ở cuối thân, cỡ tương đối
l

ớn, thường sống xen với loài trên. Thức ăn của chúng chủ yếu là xác bả động
th
ực vật phân hủy. Chúng chỉ thị cho môi trường ô nhiễm hữu cơ rất nặng.
- H
ọ Nereidae thuộc lớp Polychaeta (giun nhiều tơ) là các loài sống tự do,
chui rút trong bùn, ki
ếm ăn trên nền đáy trong rong tảo, len lỏi hay bám trên các
m
ảnh vụn vỏ ốc trai, ưa đáy bùn hoặc cát pha bùn. Thức ăn của chúng là động
v
ật (giáp xác bé, thân mềm,…) hoặc tảo. Chúng chỉ thị cho môi trường ô nhiễm
h
ữu cơ rất nặng.
- H
ọ Ch
ironomidae thu
ộc lớp Insecta là các ấu trùng sống trong nước. Là
các sinh v
ật được coi là có sức chống chịu cao đối với môi trường. Chúng xuất
hi
ện ở hầu hết các thủy vực như sông, ao, hồ, cống rãnh, nơi giàu chất hữu cơ
th
ối rữa, ưa bùn mềm, cát pha nhiều
bùn. Th
ức ăn của chúng là các chất hữu cơ
t
ừ thực vật, động vật phân hủy. Chúng chỉ thị cho môi trường ô nhiễm hữu cơ rất
n
ặng.
- Họ Petaluridae thuộc lớp Insecta là ấu trùng chuồn chuồn, sống nền đáy

thủy vực, là loài chỉ có một thời gian nhất định sống trong nước. Chúng chỉ thị
cho môi trư
ờng ô nhiễm hữu c
ơ trung bình,
15
- H
ọ Parathelphusidae thuộc lớp Crustacea là
động vật đáy sống bò, chúng
đào hang làm t
ổ, thích bùn mềm hoặc cát pha bùn
để làm hang. Thức ăn của
chúng là các xác b

động thực vật phân hủy
, mùn b
ả,… Là loài chỉ thị cho môi
trư
ờng ô nhiễm hữu c
ơ nặng.
- H
ọ Corophiidae thuộc lớp Crustacea là
động vật sống trong nước hoặc
trên n
ền đáy, là loài chỉ thị cho môi trường ô nhiễm hữu cơ trung bình.
- H
ọ Mytilidae, Unionidae, Corbiculidae thuộc lớp B
ivalvia là các loài có
đ
ời sống ăn lọc, sống vùi trong bùn đáy, ít hoạt động di chuyển hoặc di chuyển
r

ất chậm. Thích sống ở các nền đáy bùn mềm, cát để có thể vùi mình hay chui
rúc trong bùn. Th
ức ăn của chúng là các vụn hữu cơ lắng đọng. Chúng chỉ thị ch
o
môi trư
ờng ô nhiễm hữu cơ nặng.
- H
ọ Viviparidae, Pilidae thuộc lớp Gastropoda là các loài sống di động,
bò trên n
ền đáy. Thức ăn của chúng là các xác bã động thực vât đang phân hủy.
H
ọ Viviparidae chỉ thị cho môi trường ô nhiễm hữu cơ ở mức trung bình,
h

Pilidae ch
ị thị cho môi trường ô nhiễm hữu cơ nặng.
2.5 Giám sát môi trư
ờng bằng phương pháp quan trắc sinh học
2.5.1 Lư
ợc sử phát triển của quan trắc sinh học
Quan trắc sinh h
ọc đang đ
ược ch
ấp nhận
rộng rãi hiện nay trên th
ế
gi
ới
,
trong đó việc s


d
ụng
đ
ộng
vật không xương s
ống
cỡ lớn làm sinh vật ch

thị
trong quan trắc và đánh giá ch
ất
lượng c
ủa
môi trường nước, thông qua các ch

số sinh h
ọc,
đang là một hướng nghiên c
ứu
được quan tâm trên th
ế
giới và Việt
Nam.
Theo Cairns và Pratt (1993), Hellawell (1978 - 1986), Calow và Maltby
(1987), Metcalfe (1989) và các tác giả khác ở Rosenberg và Resh (1993), quan
trắc sinh h
ọc
được định nghĩa là “S


giám sát b
ằng
việc s

d
ụng
nh
ững
ph
ản
ứng c
ủa
cơ thể s
ống
để xác định môi trường có thích hợp hay không đối với cơ
thể sống (Phan Th
ị Hiền, 2011).
Quan trắc sinh học thu
ận
lợi hơn h

thống quan trắc hóa lý, nó đưa ra ch

s

các điều kiện quá kh

c
ũng
như hiện tại, ph

ản
ánh các tác đ
ộng
tích d
ồn đến
h

sinh thái.
Theo Muralidharan (2010) phương pháp quan trắc sinh h

c th
ể h
iện nh
ững
ưu điểm đáng k

trong đánh giá chất lượng nước: nhưng qu
ần
xã sinh vật đóng
vai trò như là giám sát viên liên tục của nước thay cho việc lấy mẫu không liên
tục để phân tích hoá h
ọc
; các qu
ần
xã sinh vật phản ứng với ch
ất
lượng nước
khác nhau ở một ph
ạm
vi rộng do các yếu tố xác định và nh

ững
ch
ất
ô nhiễm;
nh
ững
qu
ần
xã sinh v

t có kh

năng hợp nhất những ảnh h
ư
ởng c
ủa
các chất
độc tổng hợp. Số liệu hoá học sẽ rất cần đến nó để tính toán những tác động
qua lại và để dự đoán ảnh hưởng của chất độc lên khu hệ sinh vật (Phan Thị
Hi
ền, 2011).
16
2.5.2 K
ết quả nghiên cứu ứng dụng quan trắc sinh học trên thế giới và ở
Vi
ệt Nam
Kết quả nghiên cứu trên th
ế
giới
Ở Anh năm 1976, một tổ ch

ức
nghiên c
ứu
về quan trắc sinh h
ọc
“Biological Monitoring Working Party” đ
ã
được thành lập và đã
đưa
ra một hệ
th
ống
mới đó là h

th
ống
điểm s

BMWP. Trừ lớp Giun ít tơ, h

th
ống
này s

d
ụng
s

liệu ở mức đ


h
ọ,
mỗi h

được quy cho một điểm s

phù hợp với tính
nhạy c
ảm
c
ủa
nó với s

ô nhiễm h
ữu
cơ. Những điểm s

riêng được c
ộng
lại
đ

cho điểm s

tổng c
ủa
mẫu. Sự biến thiên c
ủa đ
iểm s


BMWP b
ằng cách ch
ia
tổng
đ
iểm s

cho s

họ có mặt, ta được một điểm s

trung bình cho các đơn vị
phân loại (ASPT) (Phan Th
ị Hiền, 2011)
.
Hệ th
ống
điểm s

BMWP rất có hiệu lực trong thực tiễn và tương đ
ối
dễ dàng áp dụng khi đ
òi
hỏi của nó về mức đ

kỹ năng phân loại tương đ
ối
bình thường. Kết qu

là nó được ch

ấp
nh
ận
một cách rộng rãi, làm cơ sở của
quan trắc sinh học ở kh
ắp
nước Anh. Khi được cải tiến nó còn được áp d
ụng

các khu vực khác nhau, ở các nước khác nhau, bao gồm Tây ban Nha (Alba -
Tercedor và Sanchez - Ortega, 1988), Ấn Độ (De Zwart và Trivedi, 1994), Úc
(Chessman, 1995) và Thái Lan (Mustow, 1997) (Phan Th
ị Hiền, 2011)
.
Ở Nh
ật
Bản, Mỹ, Úc và Ấn Độ:
Từ khi được gi

i thiệu và tiếp c
ận,
h

th
ống
này trải qua một vài lần thay
đ
ổi
theo hướng đơn giản và b


sung, nó được áp dụng ở một s

nước phía đông
của Châu Âu như Đức (Friedrich, 1990), Áo (Zelinka và Marvan, 1961; Moog,
1995) (Phan Thị Hiền, 2011).
Ở Anh vào năm 1976, đ
ã
đưa ra một h

th
ống
mới thường được biết
đ
ến
là h

th
ống
điểm s

BMWP (Biological Monitoring Working Party) với
hai chỉ s

đánh giá: BMWP và ASPT (Average Score Per Taxon). Hệ thống
này s

d
ụng
các loài đ
ộng vật không xương sống

cỡ l

n làm sinh vật ch

thị, các loài đ
ộng vật không xương sống
c

lớn thu tại các điểm nghiên c
ứu
s

được phân lo
ại
đến h

và mỗi h

s

được quy cho một điểm số gọi là điểm
BMWP có thang điểm từ 1 đ
ến
10, phù hợp với mức
độ
nh
ạy
cảm c
ủa
nó với

sự ô nhiễm. Đánh giá chất lượng môi trường nước thông qua ch

s

ASPT theo
thang x
ếp
lo
ại
c
ủa
Richard Orton, Anne Bebbington, Jonh Bebbington (1995)
và Stephen Eric Mustow (1997) (Phan Th
ị Hiền, 2011)
.

×