LỜI MỞ ĐẦU
Thế kỷ XXI được dự đoán là thế kỷ của châu Á vì những phát triển vượt bậc về kinh
tế trong những thập kỷ qua của thế kỷ XX với sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản, sự
vươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc, cũng như sự tăng trưởng của các nền kinh tế
khác.
Mặc dù vậy, kinh tế châu Á vẫn đứng trước rất nhiều khó khăn và thử thách. Vẫn còn
rất nhiều nước kém phát triển và đang phát triển, kinh tế còn gặp quá nhiều khó khăn,
cuộc sống của người dân không được đảm bảo. Châu Á chiếm tới 2/3 số người nghèo
trên thế giới. Và có thể nói vấn đề lớn nhất là vấn đề mà các nền kinh tế châu Á đang
gặp phải là vấn đề về nguồn vốn. Chính vấn đề này là nguyên nhân đã dẫn đến rất
nhiều vấn đề tiêu cực khác của nền kinh tế. Các chính phủ thiếu vốn để thực hiên các
dự án phát triển kinh tế đất nước của mình. Từ đó kéo theo nhiều vấn đề liên quan như
thất nghiệp, chất lượng cuộc sống thấp.
Trước tình hình đó, năm 1966 ngân hàng phát triển châu Á (viết tắt là ADB) đã ra đời
nhằm giúp các nước châu Á xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế. Từ đó đến nay
Ngân hàng đã có rất nhiều hoạt động để thực hiện mục tiêu đó của mình.
MỤC LỤC
1
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Phát triển châu Á (The Asian Development Bank; viết tắt: ADB) là
một thể chế tài chính đa phương cung cấp các khoảng tín dụng và hỗ trợ kỹ thuật
nhằm giúp các nước châu Á xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội. ADB được
thành lập vào năm 1966, có trụ sở chính tại Manila, và chủ tịch là một người Nhật Bản
Ngân hàng Phát triển châu Á là một ngân hàng phát triển khu vực được thành lập
năm 1966 nhằm thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, xã hội ở các nước châu Á Thái Bình
Dương thông qua các khoản tín dụng và hỗ trợ kĩ thuật, lần lượt vào khoảng 6 tỉ và
180 triệu USD mỗi năm.
ADB là một thể chế phát triển tài chính đa phương với 67 thành viên bao gồm 48
nước trong khu vực và 19 nước ở các nơi khác trên khắp toàn cầu. ADB hướng đến
viễn cảnh về một khu vực không có đói nghèo, và tự đặt cho nó sứ mệnh giúp đỡ các
quốc gia thành viên đang phát triển giảm đói nghèo và nâng cao mức sống người dân.
Hoạt động của ADB nhắm tới việc cải thiện phúc lợi cho người dân châu Á -Thái
Bình Dương, đặc biệt là 1.9 tỉ người đang sống dưới mức 2 USD/ngày. Cho dù người
ta có nói nhiều về những giai thoại thành công đi chăng nữa, thì sự thật, châu Á Thái
Bình Dương vẫn là nơi có đến 2/3 số người nghèo của thế giới.
ADB được xây dựng như một bản sao của World Bank, với nguồn vốn thành lập
xuất phát từ Chính phủ các nước Mỹ, Nhật và Tây Âu. Nguồn tài trợ chính cho các
khoản cho vay của ADB là từ việc phát hành trái phiếu trên thị trường châu Âu. Dù
cho mức tăng trưởng kinh tế mau lẹ ở một số nước thành viên trong thời gian gần đây
đã dẫn đến một số thay đổi tới một mức độ nào đó, thì hầu như trong suốt lịch sử của
ADB, ngân hàng này vẫn hoạt động trên cơ sở các dự án, đặc biệt là trong những lĩnh
vực như đầu tư vào cơ sở hạ tầng, phát triển nông nghiệp và cấp vốn vay cho các
ngành công nghiệp cơ bản ở các nước thành viên. Trên lý thuyết, ADB là người cho
vay của các Chính phủ và các tổ chức của Chính phủ, song nó còn tham gia vào quá
trình nâng cao tính thanh khoản và tối ưu hoá hoạt động trong các khu vực tư nhân ở
các nước thành viên trong khu vực.
Takeshi Watanabe (24/11/1966 – 24/11/1972) là chủ tịch đầu tiên của ADB
2
1.1. Các cột mốc thời gian đáng nhớ của Ngân hàng Phát triển Châu Á:
1963:liên hợp quốc đã quyết định thiết lập thể chế tài chính để tăng cường sự phát
triển kinh tế và hợp tác
1965: Chủ tịch philippin là Diosdado Macapatal đem đến sự đột phá cho khu vực của
trụ sở chính đầu tiên ở Manila
1966: ADB được thành lập ở Manila vào ngày 12/12 với 31 thành viên để phục vụ
phần lớn khu vực nông thôn
1967: ADb phê duyệt dự án hỗ trợ kĩ thuật đầu tiên để giúp đỡ sản xuất thức ăn ngũ
cốc
1970: Với mục đích mở rộng hoạt động, ADB thúc đẩy nguồn tài nguyên thêm nữa từ
các tổ chức song phương và đa phương khác
1972: ADB chuyển đến trụ sở chính mới ở trước vịnh của Manila
1974: Quỹ phát triển Châu Á được thiết lập để cung cấp các khoản vay ưu đãi cho các
thành viên nghèo nhất của ADB
1978: ADB tập trung cải thiện đường xá và cung cấp điện
1980: Tiến đến hành động chú tâm đến các vấn đề xã hội như giới tính, môi trường,
giáo dục và sức khoẻ
1981: Ý thức được cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần 2, ADB tiếp tục hỗ trợ phát triển cơ
sở hạ tầng, đặc biệt là các dự án năng lượng
1985: Chính sách mới chú tâm đến nhu cầu liên quan đến phụ nữ tích cực hơn trong
tiến trình hội nhập
1986:thúc đẩy hỗ trợ bộ phận tư nhân, với khoản vay đầu tiên không có đảm bảo của
chính phủ với Pakistan
1991: ADB chuyển đến trụ sở chính mới thường trú ở Ortigs, mà ngay sau đó nổi lên
như một khu vực thương mại và tài chính của Manila
1992: ADB bắt đầu xúc tiến sự hợp tác khu vực, tiến gần hơn đến sợi dây liên kết giữa
các Quốc gia trong khu vực Greater Mekong
1997: Nguyên Cộng hoà Liên Xô Cũ của Trung Á gia nhập ADB, trong khi đó, một
cuộc khủng hoảng tài chính đã làm rung chuyển Châu Á
1999: ADB chấp nhận giảm đói nghèo là mục tiêu hàng đầu và phê duyệt một số
chính sách bước ngoặt
2001: ADB thúc đẩy cơ cấu xã hội chiến lược dài hạn đển hướng dẫn hoạt động xuyên
suốt đến 2015
2002: ADB giúp đỡ các nước hậu chiến như Afghlistan, Timor Leste
2004: ADB bổ nhiệm bà Khempheng Pholseno của Lào PDR làm phó chủ tịch nữ đầu
tiên
3
1.2. Chủ tịch các đời của ADB
• Takeshi Watanabe 1966 - 1972
• Shiro Inoue 1972 - 1976
• Taroichi Yoshida 1976 - 1981
• Masao Fujioka 1981 - 1989
• Kimimasa Tarumizu 1989 - 1993
• Mitsuo Sato 1993 - 1999
• Tadao Chino 1999 - 2005
• Haruhiko Kuroda 2005 - 2013
• Takehiko Nakao 2013 - nay
1.3. Các quốc gia thành viên
1.3.1. Châu Á và Thái Bình Dương
Nhật Bản (1966)
Hàn Quốc (1966)
Afghanistan (1966)
Philippines (1966)
Samoa (1966)
Singapore (1966)
Australia (1966)
Nepal (1966)
New Zealand (1966)
Pakistan(1966)
Sri Lanka (1966)
Ấn Độ (1966)
Indonesia (1966)
Lào (1966)
Malaysia (1966)
Campuchia (1966)
Thái Lan (1966)
Trung Hoa Dân Quốc
(1966)
Hồng Kông (1969)
Fiji (1970)
Papua New Guinea
(1971)
Tonga (1972)
Bangladesh (1973)
Myanma (1973)
Quần đảo Solomon
(1973)
Kiribati (1974)
Quần đảo Cook (1976)
Maldives (1978)
Vanuatu (1981)
Bhutan (1982)
Cộng hoà Nhân dân
Trung Hoa (1986)
Liên bang
Micronesia (1990)
Quần đảo Marshall
(1990)
Mông Cổ (1991)
Nauru (1991)
Tuvalu (1993)
Kazakhstan (1994)
Kyrgyzstan (1994)
Uzbekistan (1995)
Tajikistan (1998)
Azerbaijan (1999)
Turkmenistan (2000)
Timor-Leste (2002)
Palau (2003)
Armenia (2005)
Brunei (2006)
Georgia (2007)
1.3.2. Các vùng khác
Hoa Kỳ (1966)
Vương quốc Liên
hiệp Anh và Bắc
Ireland (1966)
Áo (1966)
4
Bỉ (1966)
Canada (1966)
Đan Mạch (1966)
Phần Lan (1966)
Đức (1966)
Hà Lan (1966)
Ý (1966)
Na Uy (1966)
Thụy Điển (1966)
Thụy Sĩ (1967)
Pháp (1970)
Tây Ban Nha (1986)
Thổ Nhĩ Kỳ (1991)
Bồ Đào Nha (2002)
Luxembourg (2003)
Ireland (2006)
5
2. Cơ cấu, tổ chức
Ban thống đốc: là cơ quan ra quyết định cao nhất của ADB. Ban thống đốc do mỗi
quốc gia thành viên đóng góp một đại diện.
Ban Thống đốc còn bầu ra chủ tịch Ngân hàng, là người đứng đầu Ban Giám đốc và
điều hành ADB. Mỗi chủ tịch giữ cương vị của mình trong một nhiệm kì kéo dài 5
năm và có thể được tái đắc cử. Theo truyền thống và vì Nhật Bản là một trong những
cổ đông lớn nhất của ADB, cho nên chủ tịch của ADB đã luôn là người Nhật. Chủ tịch
đương nhiệm của ADB là Haruhiko Kuroda.
Ban giám đốc: gồm 12 thành viên do ban thống đốc bầu ra, và các cấp phó của họ.8
trong số 12 thành viên này là đại diện của các quốc gia trong khu vực(các quốc gia
châu Á - Thái Bình Dương) và số còn lại là từ các quốc gia ngoài khu vực.
Trụ sở của ngân hàng ADB đặt tại 6 ADB Avenue, thành phố Mandaluyong, Metro
Manila, Philippine, và có văn phòng đại diện trên khắp thế giới. Hiện ADB có khoảng
2400 nhân viên, đến từ 53 trên tổng số 67 quốc gia thành viên, và hơn một nửa số
nhân viên của họ là người Philippine.
3. Chức năng, vai trò
Hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững và công bằng: tăng trưởng kinh tế không tự
nhiên có tính bền vững và thường làm gia tăng mất công bằng. Để tăng trưởng bền
vững và công bằng, cần có sự can thiệp trong khi vẫn đảm bảo một sự phát triển thân
thiện với thị trường.
Phát triển xã hội: giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng để giảm thiểu những rủi ro
trong quá trình phát triển kinh tế.
Quản lý kinh tế tốt: thực hiên các chính sách kinh tế một cách có trách nhiệm, có sự
tham gia, có khả năng dự đoán, và minh bạch, chống tham nhũng.
4. Hoạt động
4.1. Chiến lược
Khuôn khổ chiến lược trung và dài hạn của ADB trong giai đoạn 2001 – 2015
đã xác định các lĩnh vực cần chú trọng và chỉ ra phương hướng hoạt động của ADB
trong giai đoạn này. Khuôn khổ chiến lược đó đã đưa ra 6 mục tiêu phát triển dài hạn:
(1) tăng trưởng kinh tế bền vững; (2) phát triển toàn diện về xã hội; (3) quản lý thể chế
và chính sách có hiệu quả; (4) nâng cao vai trò của khu vực tư nhân trong phát triển;
(5) hợp tác và hội nhập vùng và (6) bền vững về môi trường. Như vậy, ngoài vai trò
truyền thống là người cung cấp tài chính cho các dự án phát triển ở các nước đang
phát triển (DMC), ADB đã đảm nhận nhiệm vụ mới đó là tham gia vào các vấn đề
mang tính chính sách, tạo sự phát triển bền vững và những vấn đề liên quan đến hợp
tác khu vực.
4.2. Mục tiêu hoạt động chính
-Bảo vệ môi trường: người nghèo ở thường bị buộc phải sống ở những khu vực có
điều kiện môi trường bất lợi. Muốn xóa nghèo thì phải bảo vệ môi trường.
-Hỗ trợ giới: ở nhiều nước, phần lớn người nghèo là phụ nữ. Hỗ trợ phụ nữ phát triển
là một biện pháp xóa nghèo.
-Hỗ trợ khu vực tư nhân: khuyến khích cải cách và hoàn thiện môi trường chính
sách để tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân, hỗ trợ sự hợp tác giữa khu vực nhà nước và
khu vực tư nhân, cho vay và hỗ trợ kỹ thuật cho các xí nghiệp tư nhân và thể chế tài
chính tư nhân
-Khuyến khích hợp tác và liên kết khu vực: khuyến khích sự hợp tác giữa các chính
phủ để phát triển cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy thương mại và đầu tư,
4.3. Hoạt động của Ngân hàng Phát triển Châu Á
Tầm nhìn của ADB là biến khu vực Châu Á và Thái Bình Dương trở thành một
khu vực không có tình trạng nghèo. Sứ mệnh của ADB là hỗ trợ các nước thành viên
đang phát triển giảm nghèo và nâng cao chất lượng sống của người dân. Mặc dù có rất
nhiều thành công, khu vực này vẫn là khu vực chiếm đến 2 phần 3 dân số nghèo của
thế giới: 1,8 triệu người sống với mức thu nhập dưới 2 USD một ngày, trong đó 903
triệu người đang phải vật lộn với mức thu nhập dưới 1,25 USD một ngày. ADB cam
kết giảm nghèo thông qua tăng trưởng kinh tế toàn diện, phát triển một cách bền vững
với môi trường và hội nhập khu vực.
Để hoạt động có hiệu quả, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) phải làm việc
với rất nhiều cá nhân và tổ chức khác nhau. Muốn tạo dựng được những quan hệ đối
tác mạnh mẽ và hiệu quả, ADB phải được nhiều người biết đến, động cơ và mục tiêu
của ADB phải rõ ràng và dễ hiểu và ADB phải được nhìn nhận như một tổ chức mang
tính chuyên nghiệp, định hướng vào kết quả và mang tính thực tế. ADB làm việc chặt
chẽ với các bên vay và những người tài trợ dự án khu vực tư nhân để chuẩn bị và thực
hiện các hoạt động phát triển.
4.3.1. Các hoạt động chính của ADB
(1) Nguồn vốn của ADB
Nguồn vốn đặc biệt (ADF) chủ yếu là vốn do các nước hội viên đóng góp.
Nguồn ADF là nguồn cho vay ưu đãi của ADB với điều kiện vay là 32 năm (bao gồm
8 năm ân hạn), lãi suất 1%/năm trong thời gian ân hạn và 1,5% sau đó.
Nguồn vốn thông thường (OCR) chủ yếu là vốn ADB huy động từ thị trường
vốn quốc tế và một phần vốn góp của các nước hội viên. Điều kiện vay từ nguồn OCR
là 25 năm (bao gồm 5 năm ân hạn), phí cam kết là 0,75%/năm, lãi suất là LIBOR cộng
với một khoản phí chênh lệch của ADB
(2) Hoạt động cho vay
Theo tính chất nguồn vốn vay, các khoản vay của ADB được chia làm 2 loại:
cho vay ưu đãi từ nguồn vốn ADF và cho vay theo lãi suất thị trường từ nguồn vốn
OCR. Căn cứ vào tiêu chí thu nhập và khả năng trả nợ, các nước hội viên vay vốn của
ADB được phân thành các nhóm từ A đến C để xác định hình thức vay, trong đó
- Nhóm A: gồm các nước chỉ vay từ nguồn ADF
- Nhóm B1: gồm các nước vay phần lớn từ nguồn ADF và một phần từ nguồn OCR
- Nhóm B2: gồm các nước vay phần lớn từ nguồn OCR và một phần từ nguồn ADF.
- Nhóm C: gồm các nước chỉ vay từ nguồn OCR
=> Việt nam hiện nay đang thuộc nhóm B1
Các phương thức cho vay chính của ADB gồm: Khoản vay dự án, khoản vay
chương trình, khoản vay theo ngành, hạn mức tín dụng.
(3) Hoạt động hỗ trợ kỹ thuật (HTKT): Ngoài các khoản vay cho dự án, chương trình,
ADB còn tài trợ cho các dự án HTKT bằng nguồn vốn không hoàn lại để giúp các
nước hội viên chuẩn bị khoản vay, tăng cường năng lực, thể chế, xây dựng chiến lược
phát triển …
(4) Hoạt động khu vực tư nhân: bao gồm đầu tư cổ phần, cho vay trực tiếp để hỗ trợ
khu vực tư nhân phát triển và tham gia vào quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước
hội viên
(5) Hoạt động đồng tài trợ và bảo lãnh: ADB phối hợp với các nhà tài trợ khác trong
các chương trình, dự án, xây dựng chiến lược phát triển và bảo lãnh cho các khoản
vay khu vực công cộng hoặc tư nhân của các nước hội viên.
4.3.2. Một số hoạt động cụ thể của ADB
Thường xuyên lập các báo cáo phát triển về tình hình tăng trưởng kinh tế xã hội
của các nước trong khu vực châu Á và đưa ra những dự báo
Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)
đã cam kết hỗ trợ Kế hoạch hành động chống tham nhũng của châu Á và Thái Bình
Dương, một kế hoạch đã được 20 nước thành viên của ADB tán thành từ tháng 11
năm 2001. Kế hoạch hành động ADB - OECD nhằm hỗ trợ các hoạt động khu vực có
liên quan đến ba thành tố của chương trình là:(1) phát triển hệ thống dịch vụ công
cộng hoạt động hiệu quả và minh bạch, (2) củng cố các hoạt động chống hối lộ và
tăng cường tính liêm chính trong hoạt động kinh doanh, (3) hỗ trợ việc tham gia tích
cực của quần chúng. Cả hai tổ chức này dẫn đầu trong việc huy động nguồn lực cho
các quốc gia đang tìm kiếm hỗ trợ thông qua kế hoạch hành động này.
Thông qua việc cam kết giúp đỡ các quốc gia đảm bảo nguồn lực cho những sáng kiến
chống tham nhũng ADB và OECD hướng tới việc tạo ra động lực hành động cho các
Chính phủ. Tuy nhiên, một vấn đề khó khăn khi giải quyết nạn tham nhũng là ban đầu
chỉ có 18 trong số 33 Chính phủ có mặt tại Tokyo tháng 11 năm 2001 ký vào kế hoạch
hành động, bởi thuộc tính thu hút sự tham gia một cách rộng rãi ở mức có thể, kế
hoạch này không mang tính bắt buộc.
ADB kêu gọi liên kết khu vực châu Á: Nhằm thảo luận về triển vọng kinh tế cho
khu vực châu Á-Thái Bình Dương trước rối loạn tài chính toàn cầu và giá lương thực
và dầu mỏ tăng cao; vấn đề thay đổi khí hậu và chống đói nghèo (Chiến lược 2020 của
ADB sẽ tái tập trung vào ba chương trình phát triển bao gồm tăng trưởng kinh tế toàn
diện, phát triển bền vững và hội nhập khu vực)
Các dự án hỗ trợ tài chính cho các quốc gia thành viên thực hiện các chương trình
thương mại và giảm đói nghèo và hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các doanh nghiệp
hoạt động có hiệu quả hơn, minh bạch hơn và đem lại lợi nhuận nhiều hơn nhằm thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế và mở thêm nhiều triển vọng phát triển mới (tại Việt Nam,
Trung Quốc, Malaysia, Pakistan, Bangladesh, Indonesia, Philippines ,SriLanka và khu
vực Trung Á…). Bên cạnh đó, ADB còn hợp tác với các thể chế tài chính khác để
tăng cường hiệu quả cho hoạt động này:
• Chương trình vốn vay dành cho nông nghiệp
• Dự án chè và hoa quả
• Dự án Khoa học kỹ thuật nông nghiệp
• Dự án Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo
• Nghiên cứu về sự vận hành của thị trường và khả năng người nghèo được hưởng lợi
từ thị trường, và xây dựng năng lực để hỗ trợ sự phát triển thị trường vì người nghèo
Cho Indonesia vay 1 tỉ đô la Mỹ vào 4/6/2009 nhằm giúp chính phủ nước này tăng
khả năng khắc phục tác động của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay.
Cấp vốn cho dự án đường sắt tại Campuchia: Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)
vừa thông báo sẽ cung cấp 42 triệu USD giúp Campuchia hoàn thành dự án khôi phục
hệ thống đường sắt nhằm đưa Campuchia trở thành trục giao thông tiểu vùng trọng
yếu, tạo thêm công ăn việc làm và các cơ hội kinh doanh.
ADB tăng cường đầu tư cho năng lượng sạch tại châu Á: Mục tiêu đầu tư mới là
một phần trong Sáng kiến Sử dụng hiệu quả Năng lượng (EEI) của ADB nhằm thúc
đẩy tăng trưởng các ngành kinh tế ít phát thải khí cacbon và giảm lượng khí nhà kính
thải ra trong khu vực.
Phát hành trái phiếu và thông qua chương trình Sáng kiến Thị trường Trái phiếu
châu Á (ABMI) nhằm giúp đỡ các nước xây dựng hệ thống quản lý và cải thiện cơ sở
hạ tầng của thị trường để phát triển thị trường trái phiếu trong khu vực vì "Thị trường
vốn nội địa mạnh mẽ là thiết yếu để đa dạng hoá nguồn vốn cần thiết để hỗ trợ cho sự
đầu tư lâu dài và mức tăng trưởng cao bền vững, đặc biệt là khi chúng ta đang bước
vào thời kỳ mà tất cả đều hy vọng là thời kỳ hậu khủng hoảng" (ông Bindu N. Lohani,
Phó Chủ tịch Tài chính và Hành chính của Ngân hàng Phát triển châu Á phát biểu
hôm 02/12/09, hội thảo "Tăng tốc hệ thống điều hành và hợp tác khu vực - Một thời
kỳ tăng trưởng mới của thị trường trái phiếu châu Á")
Tăng vốn vay, lập quỹ CSF
“Quỹ CSF cung cấp tín dụng nhanh hơn và rẻ hơn so với chương trình cho vay đặc
biệt hiện hành của ADB. Tôi tin đây sẽ là một sáng kiến rất được hoan nghênh nhằm
hỗ trợ các nền kinh tế đang chao đảo và quan trọng nhất là bảo vệ người nghèo khỏi
tác động tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng”, ông Kuroda nói.
Ngân hàng ADB cũng thông báo tăng gấp ba nguồn vốn của ADB từ 55 tỉ đô la Mỹ
lên 165 tỉ đô la Mỹ, cho phép ngân hàng này tăng hoạt động cho vay tới các nước
đang phát triển ở châu Á mà hầu hết đều bị tác động của đợt tăng giá đầu năm ngoái
và suy giảm xuất khẩu, cạn kiệt tín dụng hiện nay.
4. 3.3. Những chính sách hỗ trợ mới
Các chính phủ trong khu vực cũng đã thúc đẩy chi tiêu và hạ lãi suất để kích thích nhu
cầu trong nước nhằm bù đắp nhu cầu đang sụt giảm đối với hàng xuất khẩu sang châu
Âu và Mỹ. Nhưng ADB cũng lo sợ rằng giải pháp đặt ra có thể vượt quá khả năng của
một số nước và muốn đưa ra một kế hoạch giúp những nước thành viên nghèo hơn đối
phó với khủng hoảng. “Nhiều chính phủ trong khu vực đã thúc đẩy chi tiêu để khuyến
khích tiêu dùng trong nước, bù lại sự sụt giảm nhu cầu ở nước ngoài, nhưng không
phải chính phủ nào cũng có thể làm được điều đó”, ADB nhận định.
4.3.4. Gia tăng giám sát
Sự gia tăng cơ sở vốn của ADB phải đi cùng với sự giám sát chặt chẽ hơn những tác
động môi trường và xã hội của các dự án vay tiền của ADB. Bà Joanna Levitt của Dự
án Trách nhiệm Giải trình Quốc tế (International Accountability Project) nhận định,
“ADB sẽ đi ngược lại với thực tế hiện tại nếu họ không tăng cường những chính sách
bảo vệ môi trường và xã hội. Không có những sự cải thiện thực sự, chúng ta có thể
thấy được việc sử dụng thiếu thận trọng những khoản vốn trợ cấp của ngân hàng, do
những dự án không có hiệu quả”.
Do đó ADB đã công bố những kế hoạch tăng cường quy trình giám sát nội bộ để bảo
vệ những người kiểm soát, những người thông báo sự quản lý yếu kém trong các dự
án liên kết với ADB. Trưởng ban kiểm soát của ADB, Philip Daltrop, cho biết, “ADB
không tha thứ cho bất cứ sự tham nhũng nào. Điều cần thiết là chúng ta phải bảo vệ
những người cung cấp thông tin”.
Trong số nhiều khoản đầu tư vào năng lượng sạch của ADB có dự án phát triển thủy
điện tại Bhutan, Trung Quốc và Việt Nam ADB cũng hỗ trợ việc nâng cấp và mở rộng
các hệ thống vận tải công cộng sử dụng hiệu quả năng lượng tại một số thành phố
châu Á trong khuôn khổ Sáng kiến Vận tải Bền vững.
Thiết kế các tòa nhà cao tầng và các hệ thống vận tải sử dụng năng lượng một cách
hiệu quả hơn được xem là biện pháp tiết kiệm chi phí nhất, giúp giảm bớt nhu cầu về
năng lượng đang tăng lên nhanh chóng tại khu vực châu Á, cải thiện hiệu quả của
nguồn cung, giảm lượng phát thải khí nhà kính và giảm sự phụ thuộc của các nước
vào nguồn nhập khẩu đắt đỏ các loại nguyên liệu hóa thạch.
Đặc biệt, sáng kiến Thị trường Cácbon (CMI) là một trong những sáng kiến mới trong
Chương trình Môi trường và Năng lượng sạch của Ngân hàng Phát triển Châu Á
(ADB). Đây là một Chương trình tài chính sáng tạo hỗ trợ việc phát triển năng lượng
sạch, sử dụng năng lượng hiệu quả và các dự án nhằm giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng
nhà kính (GHG) tại các nước đang phát triển trong khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương, những nước đủ tiêu chuẩn nằm trong danh sách Cơ chế Phát
triển sạch (CDM) thuộc Nghị định thư Ky-ô-tô. Sáng kiến này được xây dựng trên cơ
sở và gia tăng giá trị cho ưu tiên phát triển bền vững trong các hoạt động trợ giúp tài
chính khu vực công và khu vực tư nhân của ADB.
Mục đích chính của CMI là nhằm giúp các nước thành viên đang phát triển (DMCs) tận
dụng được lợi ích từ công cụ thị trường trong khuôn khổ Nghị định thư Ky-ô-tô nhằm
thúc đẩy phát triển bền vững, một nguyên tắc cơ bản của Chương trình Nghị sự 21. Hầu
hết các quỹ mua cácbon hiện hành đều chỉ chi trả tài chính khi dự án hoàn thành và khi
mà các tín dụng cácbon đã được trao. Kết quả là nhiều dự án năng lượng sạch vấp phải
vấn đề về thiếu kinh phí trong giai đoạn đầu. Điều này cản trở việc thực hiện dự án
trong giai đoạn đầu. ADB đề xuất một cách tiếp cận nhằm rỡ bỏ những rào cản này
thông qua một sáng kiến thị trường cácbon được xây dựng chuyên biệt, mang tính toàn
diện và tổng hợp.
CMI có ba hợp phần:
Cung cấp tài chính thông qua Quỹ Cácbon Châu Á –Thái Bình Dương (APCF)
Trợ giúp kỹ thuật Cơ chế Phát triển sạch (CDM) thông qua Quỹ Hỗ trợ kỹ thuật
(TSF)
Trợ giúp thị trường tín dụng cácbon qua Quỹ Hỗ trợ Thị trường Tín dụng (CMF)
4.4. Quan hệ ADB - Việt Nam :
Việt Nam là một trong những thành viên sáng lập của Ngân hàng phát triển Châu
Á - ADB từ khi ngân hàng mới thành lập năm 1966. Nhưng các hoạt động hợp tác bị
ngừng lại từ năm 1979 đến năm 1992, đến năm 1993 thì quan hệ được nối lại. Tổng
hỗ trợ của ADB từ khi tái hợp tác với việt nam gồm 78 khoản vay chính phủ trị giá
6,03 tỷ USD, 225 dự án hỗ trợ kỹ thuật trị giá 176,69 triệu USD và 23 dự án viện trợ
không hoàn lại trị giá 135,6 triệu USD. ADB cũng duyệt 9 khoản vay chính phủ, 2
khoản bảo lãnh rủi ro chính trị và một khoản vay loại B trị giá 305 triệu USD. ADB
còn tài trợ một số dự án hỗ trợ kỹ thuật trong dự án tiểu vùng Mê Kông mở rộng
(GMS). Việt Nam hiện là một nước nhận được hỗ trợ ưu đãi lớn nhất từ Quỹ phát
triển Châu Á ( ADF), đồng thời là đối tác quan trọng trong hoạt động vốn vay thông
thường.
Việt Nam là cổ đông góp vốn đúng thứ 23 trong số các thành viên khu vực và
đứng thứ 29 trong tổng số tất cả các thành viên với số cổ phần 12,076 (0.34%), số
phiếu bầu nắm giữ 25,308 (0,54%).
Cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm trực tiếp về các hoạt động của ngân hàng
ADB là Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Giám đốc đại diện tai Việt Nam là ông Ayumi Konishi với văn phòng đại diện
được thành lập năm 1997 (VRM). Đây là nơi liên lạc chủ yếu của ADB và chính phủ,
khu vực kinh tế tư nhân và các tổ chức xã hội liên quan, tham gia vào các hoạt động
và đối thoại chính sách Việt Nam trên cơ sở kiến thức của mình về vấn đề phát triển.
4.4.1. Các hoạt động của ADB tại Việt Nam:
4.4.1.1. Tác động hỗ trợ :
Ban đầu hoạt động chủ yếu của ADB là tập trung vào khôi phục và xây dựng
cơ sở hạ tầng và hỗ trợ các cải cách kinh tế. Kể từ năm 2002 , ADB đã giúp các nỗ lực
của chính phủ nhằm giảm nghèo, tập trung vào tăng trưởng bền vững , phát triển xã
hội toàn diện , quản lí tốt và trọng tâm địa lí được đặt vào khu vực miền Trung. Một
đánh giá vào năm 2002 cho thấy các dự án của ADB trong chương trình và chiến lược
phát triển Quốc Gia ( CSP) giai đoạn 2002-2004 đã đáp ứng được chiến lược của Việt
Nam đóng góp vào những mục tiêu phát triển đất nước.Đánh giá kiến nghị các hoạt
động của ADB nhằm tăng cường hiệu quả, giảm chi phí giao dịch và chi phí chung.
Trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, tầm quan trọng của ADB được xác nhận qua
những quá trình chuyển đổi kinh tế và việc gia tăng đầu tư từ nước ngoài và đầu tư
trong nước vào khu vực chế tạo. Đặc biệt là các hoạt động kinh tế phát triển dọc theo
các hành lang giao thông nâng cấp tuyến quốc lộ Hà Nội – Lạng Sơn, hành lang kinh
tế Đông Tây thuộc GSM, tuyến quốc lộ TP HCM –Phnômpênh đã giúp tạo công ăn
việc làm và giảm đáng kể tỷ lệ nghèo ở khu vực này. ADB cũng đang hỗ trợ việc thiếu
điện cung cấp , một trong những trở ngại lớn với nỗ lực duy trì phát triển kinh tế cao,
thông qua các khoản đầu tư về hệ thống truyền tải điện, nhà máy thủy điện và hệ
thống truyền tải điện. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã phê duyệt khoản vay trị
giá đợt đầu là 28 triệu USD cho dự án nhiệt điện Mông Dương tại Việt Nam. Nhà máy
này sẽ bổ sung thêm 2,200 MW trong tổng công suất điện toàn quốc. Khoản vay được
chia làm 2 đợt, với tổng trị giá 931 triệu USD. Điều kiện để ADB hỗ trợ cho dự án
nhiệt điện Mông Dương là nghiên cứu chi tiết về tác động môi trường. Để giảm nhẹ
tác động của môi trường, dự án sẽ ứng dụng công nghệ lò tầng sôi tuần hoàn nhằm
giảm thiểu khói bụi. Cùng với khoản hỗ trợ dự án trên, ADB đang phối hợp cùng với
các ban ngành Việt Nam để thực thi Chương trình Quốc gia về Sử dụng Hiệu quả và
Tiết kiệm Năng lượng. Việt Nam là 1 trong 6 nước được ưu tiên nhận hỗ trợ đầu tư
năng lượng sạch từ ADB với trị giá 1 tỷ USD cho một năm sáng kiến năng lượng hiệu
quả.ADB cũng hỗ trợ dự án giao thông bằng tàu điện ngầm tại Hà Nội và TPHCM.
Dự án cung cấp phương tiện vận chuyển sử dụng năng lượng hiệu quả bởi các phương
tiện này sẽ giảm đáng kể khí thải khi vận hành ở 2 thành phố.
Hoạt động hỗ trợ cho tư nhân thông qua các hoạt động cho vay chính sách và
phát triển các tổ chức phi ngân hàng đã trọ giúp cho các nỗ lực của chính phủ và khiến
cấc công ty tư nhân phát triển mạnh về cả số lượng cũng như vốn đăng ký. Chiều nay
25/7, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tổ chức lễ ký kết tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật
viện trợ không hoàn lại từ ADB và Chính phủ Nhật Bản nhằm chuẩn bị chương trình
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) lần thứ hai và Dự án tăng cường kỹ
năng nghề. Hai khoản viện trợ không hoàn lại này có tổng trị giá 1,1 triệu USD được
tài trợ bởi Quỹ đặc biệt của Chính phủ Nhật Bản.Khoản hỗ trợ thứ nhất có trị giá
500.000 USD sẽ giúp Việt Nam chuẩn bị chương trình phát triển DNNVV lần thứ hai
tiếp theo chương trình phát triển DNNVV lần thứ nhất với mục tiêu tiếp tục thúc đẩy
cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Một gói chính sách sẽ được xây dựng
để thực hiện trong giai đoạn 2008-2010 dựa trên kế hoạch phát triển DNNVV 5 năm
của Việt Nam. Đồng thời, một báo cáo đánh giá cũng sẽ được triển khai nhằm tìm
hiểu những trở ngại đối với sự phát triển của khu vực tư nhân tại Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.Khoản hỗ trợ kỹ thuật thứ hai trị giá 600.000 USD sẽ giúp xây dựng
“Dự án tăng cường kỹ năng nghề” với mục tiêu thúc đẩy đào tạo kỹ năng nghề nhằm
đáp ứng tốt hơn nhu cầu về lao động có tay nghề trong các ngành chủ chốt của khu
vực công nghiệp và dịch vụ. Theo các chuyên gia của ADB, hệ thống giáo dục đào tạo
dạy nghề ở Việt Nam cần có những cải thiện đáng kể nhằm đáp ứng việc đào tạo các
kỹ năng ở mức độ cao hơn với sự tham gia rộng rãi hơn của khu vực tư nhân. Hỗ trợ
kỹ thuật sẽ tập trung vào đánh giá đối tượng tham gia của các tổ chức đào tạo nghề để
đánh giá sự phù hợp của việc đào tạo đối với các nhu cầu của thị trường lao động; xác
định các vấn đề then chốt nhằm cải thiện đào tạo kỹ năng ở các mức độ; xây dựng
chiến lược dài hạn để cải thiện việc đào tạo, cải thiện chất lượng đào tạo; thiết kế dự
án để giải quyết những khó khăn và nhu cầu của thị trường lao động.
Hỗ trợ của ADB đối với phát triển nông thôn và thủy lợi đã giúp tăng năng suất
lao động và thu nhập của người dân khu vực nông thôn thông qua việc tiếp cận thị
trường và các đầu vào sản xuất , đa dạng hóa cây trồng chất có giá trị cao và cải tiến
quản lí các hệ thống nguồn nước . Ngày 17/9/2009, Thống đốc NHNN Việt Nam
Nguyễn Văn Giàu và ông Ayumi Konishi, Giám đốc Quốc gia của ADB tại Việt Nam
đã ký kết dự án “Phát triển năng lượng tái tạo và mở rộng, cải tạo lưới điện cho các xã
nghèo vùng sâu, vùng xa” từ nay đến năm 2015. Dự án có tổng vốn đầu tư khoảng
202,5 triệu USD, trong đó vốn vay ADB là 151 triệu USD, còn lại là vốn đối ứng của
Chính phủ. Dự án “Phát triển năng lượng tái tạo và mở rộng, cải tạo lưới điện cho các
xã nghèo vùng sâu, vùng xa” gồm 2 hợp phần chính. Hợp phần một là xây dựng các
nhà máy thủy điện nhỏ tại các khu vực có tiềm năng thủy điện ở các tỉnh Quảng Nam,
Thừa Thiên-Huế, Điện Biên, Lai Châu và một số tỉnh miền núi phía Bắc nhằm cung
cấp thêm điện năng cho hệ thống điện quốc gia kết hợp cấp điện cho các xã, các hộ
dân vùng lân cận.Hợp phần hai gồm xây mới và cải tạo hệ thống lưới điện nông thôn
tại các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Điện Biên, Lai Châu và một số tỉnh khác để cung
cấp điện cho các xã, hộ dân chưa được sử dụng điện quốc gia và nâng cao chất lượng
cung cấp điện cho những hộ dân đã được sử dụng điện.Cũng trong khuôn khổ dự án
này, ADB còn cam kết tài trợ khoản hỗ trợ kỹ thuật trị giá 2,5 triệu USD giúp Việt
Nam xây dựng Luật Năng lượng tái tạo, tăng cường năng lực hoạt động cho các nhà
máy thủy điện nhỏ và hỗ trợ thực hiện một số hoạt động trong phạm vi dự án
Bên cạnh đó ADB hỗ trợ tài chính cho các ngân hàng Việt Nam .Nhằm ngăn
chặn nguy cơ thâm hụt thương mại tăng cao do suy giảm xuất khẩu, Ngân hàng Phát
triển châu Á (ADB) sẽ hỗ trợ tài chính cho hệ thống ngân hàng Việt Nam để tăng khả
năng cho vay tới các doanh nghiệp.Số liệu từ Hải quan Việt Nam cho thấy kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam giảm 19% trong tháng 4, xuống còn 4,3 tỷ USD, trong khi
kim ngạch nhập khẩu giảm 35%, còn 5,5 tỷ USD so với cùng kỳ năm ngoái. Điều này
dẫn đến Việt Nam thâm hụt thương mại 1,2 tỷ USD trong tháng 4, sau khi xuất siêu 3
tháng đầu năm nay.Trong tình hình kinh tế thế giới vẫn còn khó khăn trong năm 2009,
ADB cho rằng nhiều ngân hàng Việt Nam có thể ngày càng hạn chế cho vay do cần
bảo toàn nguồn vốn. Khi các doanh nghiệp không được hỗ trợ tài chính cho hoạt động
thương mại, khủng hoảng kinh tế có nguy cơ trầm trọng thêm và xuất khẩu bị ảnh
hưởng.Do đó, ADB đã ký thỏa thuận hỗ trợ tài chính với 8 ngân hàng Việt Nam là
Ngân hàng Á Châu (ACB), Ngân hàng Quân đội (MB), Ngân hàng Sài Gòn Thương
Tín (Sacombank), Ngân hàng Techcombank, Ngân hàng Eximbank, Ngân hàng
Agribank, Ngân hàng Vietinbank và Ngân hàng VIB. Trong tương lai gần, ADB sẽ ký
thỏa thuận tương tự với thêm hai ngân hàng Vietcombank và BIDV. "Nguồn tín dụng
tài trợ cho các hoạt động thương mại đang giảm đi ở khắp mọi nơi, trong đó có Việt
Nam. Các thỏa thuận này sẽ hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam thực hiện các giao dịch
thương mại quốc tế. Điều này sẽ giúp duy trì công ăn việc làm cho người lao động",
ông Philip Erquiaga, Vụ trưởng Vụ Hoạt động của Khu vực tư nhân của ADB phát
biểu trong buổi họp báo sáng nay. ới hỗ trợ từ ADB cùng các chương trình kích cầu
khác, ADB dự đoán thâm hụt thương mại của Việt Nam sẽ ở mức 12,379 tỷ USD vào
năm 2009, giảm nhẹ so với 12,782 tỷ USD hồi năm ngoái và có thể tiếp tục xuống còn
11,833 tỷ USD trong năm 2010.Thỏa thuận được ký nằm trong chương trình hỗ trợ tài
chính thương mại (TFFP) mở rộng trị giá 1 tỷ USD của ADB dành cho các nước đang
phát triển trong khu vực châu Á. ADB hy vọng TFFP sẽ huy động tổng cộng 15 tỷ
USD hỗ trợ các hoạt động thương mại tại Châu Á tính đến 2013.
Ngoài ra ADB còn hỗ trợ các hoạt động trong lĩnh vực xã hội như : y tế dự
phòng,giáo dục.
Về giáo dục,Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam đã ký kết một khoản viện trợ không hoàn lại trị giá 0,6 triệu USD để giúp
Việt Nam xây dựng một hệ thống giáo dục trung học hiệu quả và tin cậy hơn.Theo đó,
khoản viện trợ này sẽ giúp Bộ Giáo dục & đào tạo (GD&ĐT) và ADB xây dựng một
gói các cải cách toàn diện và một dự án đầu tư. Các sáng kiến chính sách mới dự kiến
được đưa vào gồm: Một khuôn khổ quản lý mới cho việc cấp học bổng và cho vay
sinh viên; áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế cho việc đánh giá kết quả học tập của học
sinh; xây dựng các tiêu chuẩn cho giáo viên trung học cơ sở và mặt bằng chất lượng
trường học cơ bản cho giáo dục trung học phổ thông; sản xuất và cung cấp sách giáo
khoa hiệu quả và giá cả phù hợp; và tăng cường sử dụng dịch vụ công nghệ thông tin
và truyền thông trong giáo dục.Theo phía ADB, hiện nay, do Việt Nam đang trong
quá trình trở thành một nước có mức thu nhập trung bình, Chính phủ hiện đang phải
đối mặt với thách thức quan trọng để cung cấp các dịch vụ công bằng cho những
người khó tiếp cận nhất, đồng thời nâng cao hiệu quả và tính trách nhiệm trong giáo
dục. Theo kế hoạch, phía chính phủ Việt Nam sẽ đóng góp 170.000 USD cho dự án.
Bộ GD&ĐT là cơ quan điều hành hỗ trợ kỹ thuật và thông qua đó một đề xuất toàn
diện sẽ được chuẩn bị vào tháng 4/2009. Phần hỗ trợ của ADB trị giá 600.000 USD
được lấy từ nguồn Quỹ Đặc biệt Nhật Bản cho Chính phủ Nhật Bản tài trợ.
Bên cạnh y tế và giáo dục ADB còn hỗ trợ chính phủ nâng cao chất lượng của
cán bộ nhà nước thông qua chương trình đào tạo và hiện đại hóa quản lý nhà nước và
hỗ trợ chính phủ chống tham nhũng và hướng đến bình đẳng giới.
4.4.1.2. Định hướng tương lai :
Chương trình và chiến lược Quốc Gia ( CSP) giai đoạn 2007- 2010 đã được
gắn kết và hỗ trợ cho việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội (SEDP) của
chính phủ 2006-2010. Nó đã giải quyết được các vấn đề về cơ sở hạ tầng, giảm nghèo,
phát triển xã hội và nần cao chất lượng cuộc sống.
CSP hướng mục tiêu đến phát triển kinh tế vì người nghèo dựa trên sự phát
triển của các doanh nghiệp, phát triển xã hội toàn diện và việc cải thiện quản lý tài
nguyên thiên nhiên.Quản lý điều hành tốt, bình phát triển khu vực cũng là mục tiêu
của CSP. CSP đề cao vai trò phát triển của kinh tế tư nhân kể cả mối quan hệ đối tác
nhà nước tư nhân rồi chuyển dần từ hoạt động hỗ trợ từ cách trên truyền thống dựa
trên dự án thành hình thức cho vay khác đa dạng hơn. Trọng tâm chính là tập trung
vào các trở ngại phát sinh gây cản trở tới việc tăng tốc đầu tư tư nhân bao gồm những
nổ lực để : phát triển cơ sở hạ tầng vật chất, cải thiện môi trường tạo thuận lợi cho
kinh doanh, thúc đẩy việc phát triển nguồn nhân lực. Chương trình đầu tư ADB thúc
đẩy xã hội toàn diện và tăng cường cải thiện môi trường. Đánh giá kiểm điểm những
thành tựu trong giai đoạn cũ và đang xây dựng kế hoạch CSP cho giai đoạn mới 2011-
2015 và chiến lược mới của ADB chiến lược 2020.
Việt Nam là một trong những nước nhận viện trợ lớn nhất từ quỹ phát triển
Châu Á (ADF) với khoản phân bổ dự kiến khoản 713,8 triệu USD cho giai đoạn 2009-
2010. hoạt động vay vốn thông thường từ OCR cũng mang lại nguồn vốn cho các dự
án tỷ lệ thu hồi lãi suất cao,chẳng hạn như các dự án cơ sở hạ tầng với mức phân bổ
tỷ giá khoảng 1 tỷ USD năm 2009.Tuy nhiên dự đoán mức phân bổ này có thể cao
hơn trong trung hạn.
Do việt nam nằm trong khu vực chịu sự tác dộng lớn của khí hậu nên ADB
cũng đang tìm cách hỗ trợ việc thực thi các công trình quốc gia để hạn chế sự biến
đổi của khí hậu.
4.4.1.3. Đồng tài trợ và mua sắm
Các hoạt động đồng tài tợ cho phép các đối tác tài chính của ADB bao gồm cả
chính phủ và các tổ chức chính phủ, các tổ chức đa phương, các tổ chức thương mại
tham gia đóng góp tài chính cho các dự án ADB. Các nguồn vốn này được cung cấp
dưới hình thức khoản vay không hoàn lại, khoản vay chính thức và các hoạt động hỗ
trợ vay.
Trong năm 2008, Nhật bản đã cung cấp khoản vay trị giá 517,6 triêu USD để
đồng tài trợ cho dự án xây đường cao tốc TPHCM- Long Thành – Dầu Giây.
Tính đến cuối năm 2008, tổng các giá trị cho hoạt động tài trợ trực tiếp tại việt Nam từ
năm 1996 đã tăng lên 874,7 triêu USD với 15 dự án đầu tư, và 51,4 triệu USD với 63
dự án hỗ trợ kỹ thuật.
Cuối năm 2008 số hợp đồng tư vấn được ký kết là 10.330 được trao theo các
dự án cho vay của ADB với trị giá 4,17 tỷ USD trong đó 274 hợp đồng giao cho Việt
Nam với trị giá 25 triệu USD.
4.4.2. Tiếp tục thúc đẩy quan hệ Việt Nam – ADB
4.4.2.1. Việt Nam sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA
Cam kết cho vay của ADB hàng năm đã tăng từ 250 - 300 triệu USD lên hơn 1
tỷ USD trong giai đoạn 2007 - 2010. ADB đã giúp Việt Nam phát triển trong tất cả
các mặt của đời sống kinh tế- xã hội. Đặc biệt, ADB hiện đang là một thành viên tích
cực trong nhóm 6 ngân hàng phát triển trong hài hoà hoá thủ tục ODA và hỗ trợ cải
thiện tình hình thực hiện các chương trình dự án ODA tại Việt Nam.
Thống đốc khẳng định, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và ADB không ngừng
được củng cố và phát triển thông qua đối thoại chính sách cởi mở, quy mô vốn, lĩnh
vực tài trợ và loại hình thể thức tài trợ. Chương trình và chiến lược hỗ trợ của ADB
đối với Việt Nam ngày càng được cập nhật, điều chỉnh theo từng thời kỳ cho phù hợp
với nội dung ưu tiên, trọng tâm chiến lược và nhu cầu phát triển của Việt Nam trong
từng giai đoạn. Sự hỗ trợ của ADB đã góp phần giải quyết nhu cầu về phát triển cơ sở
hạ tầng, tạo công ăn việc làm, nâng cao năng suất nông nghiệp và thu nhập của người
dân Việt Nam, đồng thời tham gia hiện đại hoá hành chính công, phát triển khu vực tư
nhân, thực hiện hiệu quả chống tham nhũng và bình đẳng giới.
Thống đốc bày tỏ mong muốn, thời gian tới, Việt Nam và ADB sẽ tiếp tục tăng
cường đối thoại chính sách, trao đổi và chia sẻ thông tin để đưa ra những ý tưởng xây
dựng một chương trình hợp tác toàn diện, chặt chẽ với giải pháp kịp thời và phù hợp.
Thông qua sự hợp tác này, ADB sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam thực hiện chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 10 năm tới (2010 - 2020).
Lãnh đạo ADB cho biết, ADB cũng như các nhà tài trợ quốc tế đều nhận thấy
Chính phủ Việt Nam đã và đang nỗ lực để đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
ODA, không chỉ các khoản vay từ ADB mà còn cả các nguồn hỗ trợ khác của các đối
tác phát triển. ADB cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ để Việt Nam đạt được nhiều thành công
hơn nữa.
Các dự án, chương trình phát triển do ADB tài trợ cho Việt Nam chủ yếu tập
trung chủ yếu vào các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống, cải cách chính
sách và tăng cường thể chế, phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực. Bên cạnh các
chương trình, dự án được ADB tài trợ từ nguồn vốn ADF (nguồn vốn ưu đãi), ADB
còn tài trợ cho Việt Nam từ nguồn vốn OCR (nguồn vốn vay theo lãi suất thị trường).
NH Phát triển Châu Á (ADB) và Chính phủ Việt Nam vừa ký hai hiệp định vay
vốn với tổng trị giá khoảng 234 triệu USD nhằm hỗ trợ những cải cách giúp tăng
cường năng lực cạnh tranh của Việt Nam và phát triển một hệ thống giao thông đô thị
bền vững ở Hà Nội.
ADB cho Việt Nam vay 270 triệu USD phát triển lưới điện ADB tài trợ cho
Việt Nam thêm 165 triệu USD ADB cấp thêm 85 triệu USD nâng cấp hạ tầng nông
thôn tại miền Trung Hà Nội vay 5,8 triệu USD vốn ODA để xây đường sắt đô thị
ADB nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam
4.4.2.2. Việt Nam sẽ tiếp tục hợp tác hiệu quả với ADB:
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, Việt Nam coi hỗ trợ của ADB là hợp
tác mẫu mực giữa hai bên nhằm mang lại hiệu quả thiết thực không chỉ cho Việt Nam
mà cho cả sự phát triển của ADB.
Phát biểu tại buổi tiếp ông Haruhiko Kuroda, Chủ tịch Ngân hàng Phát triển
châu Á( ADB), tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng đánh giá cao nỗ lực của ADB trong
việc kịp thời đưa ra các giải pháp hỗ trợ các quốc gia châu Á trong việc đối phó với
suy giảm kinh tế và khắc phục tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Thủ tướng cũng đánh giá cao ADB trong việc dự báo tốc độ tăng trưởng của
Việt Nam và sự hỗ trợ của ADB trong việc tư vấn chính sách, đặc biệt là hỗ trợ kịp
thời khoản tín dụng trong năm tài khóa 2009 nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, xóa đói
giảm nghèo, cho các ngân hàng thương mại của Việt Nam vay…
Để làm được điều này, Việt Nam đang tập trung thực hiện các chính sách tiền
tệ linh hoạt theo cơ chế thị trường vừa đảm bảo cho tăng trưởng vừa kiềm chế lạm
phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững.
Trên tinh thần này, Thủ tướng cho rằng, những đánh giá và khuyến nghị của
ADB là quan trọng, kịp thời với Việt Nam trong quá trình phát triển, đồng thời mong
muốn ADB tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong việc tư vấn chính sách và tín dụng, đặc biệt
là hỗ trợ đầu tư các dự án phát triển hạ tầng, môi trường, đối phó với biến đổi khí hậu
và nước biển dâng.
Chủ tịch Haruhiko Kuroda khẳng định tiếp tục tài trợ tín dụng và tư vấn chính
sách cho Việt Nam, đồng thời cam kết sẽ hợp tác chặt chẽ với các Bộ, ngành chức
năng của Việt Nam triển khai có hiệu quả các dự án do ADB tài trợ.
KẾT LUẬN
Sự ra đời cùng những hoạt động thiết thực của Ngân hàng phát triển châu Á đã
đóng góp không nhỏ vào sự phát triển tiến bộ của khu vực châu Á. Do đó, thông qua
đề tài này, tôi muốn tạo nên một cái nhìn tổng quan nhằm hiểu rõ hơn về ADB và
quan hệ hợp tác giữa ADB và Việt Nam. Hơn nữa mong muốn rằng ADB sẽ không
ngừng cải tiến và phát triển vươn xa để có thể khẳng định vị thế ngày càng quan trọng
không thể thiếu đối với tương lai thịnh vượng của toàn châu Á.
Việt Nam nên tận dụng mối hệ hợp tác giữa Việt Nam và ADB nhằm giúp
Chính phủ Việt Nam tạo lập nền tảng cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân và
tăng việc làm, bao gồm những hỗ trợ để: Tăng trưởng kinh tế định hướng doanh
nghiệp và vì người nghèo; công bằng xã hội và phát triển cân đối; bảo vệ Môi trường
và quản trị. Nhờ đó giúp thu hút các nguồn đầu tư từ bên ngoài để Việt Nam ngày
càng phát triển mạnh mẽ hơn nữa.