Tải bản đầy đủ (.pptx) (181 trang)

CÁC BỆNH SINH SẢN GIA SÚC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (14.66 MB, 181 trang )

Chương V
HIỆN TƯỢNG CÓ THAI
1. Khái niệm
Có thai là hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó được bắt đầu từ khi thụ tinh cho
đến khi đẻ xong.
Hiện tượng có thai được chia ra làm các loại chủ yếu:

Loại chửa đẻ lần đầu

Loại chửa đẻ lần sau

Loại đơn thai

Loại đa thai
2. Thời gian có thai
Trong thực tế, sự có thai của gia súc được tính ngay từ ngày phối lần cuối.
Thời gian có thai phụ thuộc vào nhiều điều kiện và yếu tố khác nhau như loài, giống gia súc, tuổi gia
súc mẹ, lứa đẻ, trạng thái dinh dưỡng, tình trạng sức khỏe, tình trạng cơ quan sinh dục, số lượng bào thai,…
Ví dụ:
Trong điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng tốt, nhất là lứa thứ hai thì thời gian mang thai sẽ được rút ngắn
lại.
Gia súc sớm thành thục, loài đơn thai lại có hai thai, thai giống cái thì thời gian có thai thường ngắn
Bảng thời gian có thai của một số loài gia súc
Loài gia súc
Thời gian có thai trung trình
Khoảng dao động
(ngày)
Bò 282 (9 tháng 10 ngày) 282+-9
Trâu 10 tháng rưỡi 310 – 320
Ngựa 336 ngày (11 tháng) 336+-16
Dê, Cừu 150 ngày (5 tháng) 146 – 161


Lợn 114 ngày (3 tháng 3 tuần 3 ngày) 114+-4
Chó 63 ngày (2 tháng)
58 – 65
Mèo 58 ngày (2 tháng) 56 – 60
Thỏ
31 ngày (1 tháng) 30 - 33
3. Số lượng bào thai
Số lượng bào thai của gia súc phụ thuộc vào nhiều điều kiện và yếu tố khác nhau:
-
Loài giống: Lợn thường đẻ trên dưới 10 con/lứa, trâu, bò, ngựa đẻ 1 con, dê cừu 3-5 con/lứa,…
-
Tuổi và lứa đẻ: Lứa đẻ đầu thường ít con hơn những lứa đẻ sau.
-
Nếu gia súc được nuôi dưỡng, chăm sóc, khai thác, làm việc hợp lý, phối giống đúng thời điểm, thì số
lượng bào thai cũng được tăng lên.
-
Sức khỏe gia súc nói chung và tình trạng cơ quan sinh sản bình thường thì số lượng bào thai cũng được
tăng lên.
…………
4. Quá trình phát triển của phôi thai
Quá trình phát triển của bào thai được chia ra làm 3 thời kỳ:
-
Thời kỳ trứng:
Từ khi trứng được thụ tinh đến khi hình thành phôi nang – túi phôi. Trung bình 8-10 ngày sau khi thụ
tinh.
-
Thời kỳ phôi thai:
Là thời kỳ hình thành nhau thai, hình thành các tế bào, cơ quan hệ thống của cơ thể. Ở GS lớn thì từ
ngày 11 - 40
-

Thời kỳ bào thai:
Được tính từ cuối giai đoạn phôi thai – sinh đẻ
5. Sự phát triển của bào thai trong thời gian gia súc mang thai
5.1. Bào thai của bò
-
Tháng thứ nhất:
Phôi thai 3 tuần đã có nếp nhăn ở miệng, má, mắt. Đến ngày 25 chân trước đã nhú ra và đã có vết hai
chân sau. Màng nhung chưa có nhung mao và màng niệu chỉ có tính chất đệm. Thai dài 0,1 – 1,1 cm
-
Tháng thứ 2:
Phôi thai đã hình thành giống hình dáng con bò. Bụng thai to và bắt đầu hình thành và phát triển các
khí quan. Thai đã xuất hiện đầu vú nhú ra. Ngày 40 thai dài 2 cm, ngày 50: 4,5cm, hai tháng thai dài 6,7
cm.
-
Tháng thứ 3:
Phân biệt được thai đực, cái. Thai 9 tuần dài 8cm, 11 tuần dài 11cm, cuối tháng thứ 3 dài 11-14 cm
-
Tháng thứ 4:
Thai dài 22 – 26 cm, thân chưa có lông rõ nhưng đã có lông tơ
-
Tháng thứ 5:
Ở mép bào thai đã có lông, thai cái đã có đầu vú, thai đực thì dịch hoàn đã đi vào âm nang. Thai dài
35-40 cm
-
Tháng thứ 6:
Lông mép đã phát triển dày đặc, xung quanh gốc sừng và đầu mút đuôi đã có lông nhỏ. Thai dài 45-60
cm
-
Tháng thứ 7:
Xung quanh gốc sừng và mút đuôi đã có lông phát triển dày đặc. Thai dài 60 – 75 cm

-
Tháng thứ 8
Lông đã phát triển toàn thân, dày nhất ở sống lưng, đuôi và trên cổ. Thai dài 80-85 cm
-
Tháng thứ 9:
Toàn thân mọc lông dầy đặc. Xương sọ đã cứng. Bào thai đã có răng, có con tới 8-12 răng. Thai dài 80-
100cm.
6. Nhau thai
Nhau thai được hình thành từ phía mẹ và bào thai. Quá trình trao đổi chất giữa mẹ và thai được tiến
hành qua hệ thống nhau thai.
Nhau thai được chia thành:
-
Nhau thai mẹ
Là một dạng thay đổi đặc biệt của niêm mạc tử cung mẹ khi có thai.
-
Nhau thai con
Là sự tổng hợp toàn bộ các màng nhau thai con và các
nhung mao của màng nhung.
Hệ thống nhau thai có ý nghĩa sinh học và giữ vai trò vô cùng quan trọng, thông qua hệ thống nhau
thai cơ thể mẹ cung cấp các chất dinh dưỡng để đảo bảo cho quá trình phát triển của bào thai. Mặt khác, các
sản phẩm của quá trình trao đổi chất của bào thai cũng được đưa về cơ thể mẹ thông qua hệ thống nhau thai
để cơ thể mẹ đưa ra ngoài cơ thể.
Tuy nhiên, một số vi rus, độc tố vi khuẩn,…cũng có thể từ cơ thể mẹ đi vào bào thai thông qua hệ
thống nhau thai gây nên quá trình bệnh lý cho bào thai.
Ngoài tác dụng trao đổi chất thì chính hệ thống nhau thai cũng có chức năng như một tuyến nội tiết.
Nó đảm bảo cho bào thai phát triển trong tử cung và quá trình sinh đẻ được diễn ra bình thường.
6.1. Các màng nhau thai
Gồm túi noãn hoàng, màng ối, màng niệu và màng nhung (màng đệm, màng mạch quản)
6.1.1. Túi noãn hoàng
Thời kỳ đầu của quá trình phát triển phôi thai, túi noãn hoàng được hình thành và trên

chúng có hệ thống mạch máu. Phôi thai dựa vào túi noãn hoàng để lấy dĩnh dưỡng, O
2
,…từ
cơ thể mẹ thông qua niêm mạc tử cung.
Khi các màng nhau thai khác được hình thành và phát triển thì túi noãn hoàng dần dần teo
đi.
6.1.2. Màng ối
Màng ối là màng trong cùng và bao quanh bào thai. Màng ối rất mỏng, trong suốt và qua màng này có
thể nhìn thấy bào thai bên trong. Giữa bào thai và màng ối dần dần chứa đầy dịch ối. Kỳ đầu dịch ối ít, kỳ
giữa của thai kỳ lượng dịch ối tăng lên, lúc này bào thai hoạt động tự do trong túi màng ối.
Trong dịch ối chứa nhiều chất như albumin, đường, mỡ, nước tiểu, Ca, P, Na, Kreatin, dịch nhày,
hormone,…
Kích tố nhau thai có trong nước ối có tác dụng kích thích tử cung co bóp.
Dịch ối có tác dụng bảo vệ ngăn không cho các tổ chức xung quanh dính vào da của bào thai, tránh
hiện tượng chèn ép của dạ dày, ruột gia súc mẹ lên bào thai và những tác động cơ giới từ ngoài thành bụng
cơ thể gia súc mẹ.
Nhau thai lợn
Khi gia súc sinh đẻ, dưới tác dụng co bóp của tử cung, đè ép lên túi màng ối và dịch ối làm cho màng
ối được lồi ra cổ tử cung, có tác dụng kích thích cổ tử cung mở rộng. Sau khi màng ối bị vỡ, dịch ối được
thải ra ngoài có tác dụng làm trơn đường sinh dục thuận lợi cho quá trình sổ thai.
6.1.3. Màng niệu
Màng niệu nằm giữa màng ối và màng nhung, nó được xem như bàng quang của bào thai ở ngoài cơ
thể.

Màng niệu mỏng trong suốt, phân ra nhánh và đi qua túi rốn. Trong màng niệu chứa nước niệu. Lượng
dịch niệu ở thời gian có thai kỳ cuối: ngựa 1-10 l, bò 8-15 l, dê, cừu 0,5-1,5 l, mèo 10 – 50 ml. Dịch niệu có
phản ứng toan yếu hay kiềm yếu và có thành phần gồm axit uric, urê, muối, glucose, kích tố nhau thai.
6.1.4. Màng nhung (màng đệm, màng mạch quản)
Màng nhung bao phủ kín hết mặt ngoài màng niệu, phía trong màng nhung dính sát với màng niệu và
được gọi là màng niệu nhung, phía ngoài thì tiếp xúc với niêm mạc tử cung gia súc mẹ. Ở loài nhai lại thì
màng này dễ dàng tách ra khỏi màng niệu, nhưng ở ngựa thì hai màng này dính lại với nhau.
Trên mặt ngoài của màng nhung ở thời gian có thai kỳ đầu được hình thành rất nhiều nhung mao, sau
đó nhung mao phát triển mạnh, từ dạng màng nhung nguyên thủy thành màng nhung của nhau thai con,
những nhung mao của màng nhung ăn sâu xuống những chỗ lõm của tử cung gia súc mẹ. Các loài gia súc
khác nhau thì sự phân bố nhung mao trên màng nhung và mối liên hệ giữa nhau thai con và niêm mạc tử
cung cũng khác nhau. Ở ngựa và lợn thì nhung mao được phân bố đều khắp trên toàn bộ bề mặt của màng
nhung. Niêm mạc tử cung
và những nhung mao trên màng nhung liên hệ với nhau theo hình thức tiếp xúc.
Còn ở gia súc nhai lại, những nhung mao được tập trung lại thành từng đám trên mặt màng nhung,
hình thành những núm nhau con. Tương ứng như vậy, trên niêm mạc tử cung cũng được hình thành những
núm nhau mẹ. Nhung mao của núm nhau con được chui vào bên trong núm nhau mẹ nên người ta gọi mối
liên hệ giữa núm nhau con và nhau mẹ theo hình thức cài răng lược.
7. Những biến đổi sinh lý chủ yếu của cơ thể gia súc khi có thai
Cùng với quá trình phát triển của bào thai, nhau thai, thể vàng thì cơ quan sinh dục nói riêng và toàn
bộ cơ thể gia súc mẹ nói chung xuất hiện nhiều biến đổi sinh lý khác nhau.
Những biến đổi đó tạo điều kiện cần thiết để bào thai được hình thành và phát triển trong tử cung, quá
trình sinh đẻ được diễn ra bình thường.
7.1. Biến đổi toàn thân cơ thể gia súc mẹ khi có thai
Khi gia súc có thai, hormone của thể vàng và nhau thai tiết ra làm thay đổi cơ năng hoạt động của một
số tuyến nội tiết khác.
Gia súc mẹ thường ăn uống, trao đổi chất,…được tăng cường ở giai đoạn đầu mang thai nên gia súc
mẹ thường béo hơn, lông mượt hơn.
Nhưng có thai ở thời kỳ cuối, bào thai phát triển mạnh
và nhanh chóng, nhu cầu cung cấp dinh dưỡng cao, nhất là trong điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng kém thì

cơ thể mẹ sẽ gầy.
Trong giai đoạn sau, nếu khẩu phần ăn của mẹ không bảo đảm đầy đủ các chất đạm, khoáng, vitamin,
vi lượng, thì không những bào thai không phát triển bình thường mà sức khỏe gia súc mẹ cũng bị giảm sút.
Trường hợp thiếu Ca, P nghiêm trọng thì gia súc mẹ sẽ bị bại liệt trước khi đẻ, khung xoang chậu bị lệch
hay biến dạng, dẫn tới đẻ khó,….
7.2. Sự biến đổi của cơ quan sinh dục
7.2.1. Sự biến đổi buồng trứng
Khi gia súc có thai, kích thước hai buồng trứng to nhỏ không đều nhau. Buồng trứng bên sừng tử cung
có thai thường
lớn hơn buồng trứng bên kia, trên bề mặt buồng trứng xuất hiện nhiều thể vàng. Loại gia súc đơn thai số
lượng thể vàng thường tương ứng với số lượng bào thai, loài đa thai thì số lượng thể vàng thường lớn hơn
số lượng bào thai vì một số trứng rụng nhưng không được thụ tinh.
7.2.2. Sự biến đổi của tử cung
Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung thay đổi về cấu tạo, tính chất, vị trí, khối lượng, thể tích,….
Tuần hoàn tử cung được tăng cường, lượng máu cung cấp đến cho tử cung rất nhiều nên niêm mạc
phát triển dầy lên, các tuyến được phát triển mạnh và tăng cường tiết dịch, niêm mạc tử cung hình thành
nhau mẹ.Khối lượng tử cung gấp 5-20 lần so với khi không có thai, kích thước và thể tích của nó tăng hàng
chục lần,….
Cổ tử cung khép kín hoàn toàn, niêm mạc và các nếp

×