1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN HỮU TIỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ KĨ THUẬT
(TƯỚI NƯỚC, CẮT TỈA VÀ CHE SÁNG) ĐẾN SINH TRƯỞNG
PHÁT TRIỂN CỦA CÂY ĐINH LĂNG TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ : 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS. NINH THỊ PHÍP
HÀ NỘI, NĂM 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện hoàn thành luận văn đều đã được tác giả
cảm ơn. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Tiền
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp tôi đã nhận được sự quan tâm,
giúp đỡ của nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức trong và ngoài trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Ninh Thị Phíp, người đã trực tiếp
hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như
trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Cây công nghiệp – Cây
thuốc, phòng thực hành thí nghiệm Bộ môn Cây công nghiệp - khoa Nông học -
Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành
luận văn.
Sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp, bạn bè và gia đình trong thời gian
thực hiện luận văn là nguồn động viên tinh thần rất lớn giúp tôi hoàn thành luận
văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Tiền
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hình x
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1. Giới thiệu chung về cây đinh lăng 3
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại 3
1.1.2 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng 4
1.1.3 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu ngoại cảnh đối với sinh trưởng
phát triển 5
1.1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đinh lăng tại Việt Nam 5
1.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn nghiên cứu của đề tài 6
1.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 6
1.2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 8
1.3 Các kết quả nghiên cứu về biện pháp kĩ thuật tác động đến sinh trưởng
phát triển của cây trồng 11
1.3.1 Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về ảnh hưởng của nước
tưới tới cây trồng 11
1.3.2 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp cắt
tỉa đối với cây trồng 12
1.3.3 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp che
sáng cho cây trồng 14
1.3.4 Một số kết quả nghiên cứu về cây đinh lăng 17
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 22
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
2.2.1 Địa điểm 22
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 22
2.3 Nội dung nghiên cứu 22
2.4 Phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới nước
đến sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng (tuổi 1 và tuổi 2) 22
2.4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến sinh trưởng và
phát triển của cây đinh lăng tuổi 3. 23
2.4.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng
và phát triển của cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2. 24
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 24
2.6 Thu thập và xử lý số liệu 25
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến sinh
trưởng, phát triển và năng suất của đinh lăng (tuổi 1 và năm thứ 2).
26
3.1.1 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến độ biến động độ
ẩm đất của các công thức thí nghiệm 26
3.1.2 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng
trưởng chiều cao và đường kính thân cây đinh lăng. 27
3.1.3 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng
số lá và nhánh trên cây đinh lăng. 30
3.1.4 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến chỉ số SPAD
của cây đinh lăng. 32
3.1.5 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến diện tích lá của
cây đinh lăng. 33
3.1.6: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến sinh trưởng bộ
rễ cây đinh lăng. 34
3.1.7 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến khả năng tích
lũy chất khô và khối lượng rễ của cây đinh lăng. 36
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến đến sinh trưởng, phát
triểnvà năng suất của đinh lăng tuổi 3.
38
3.2.1 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến đến động thái tăng trưởng
chiều cao và đường kính thân cây của đinh lăng tuổi 3. 38
3.2.2 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến động thái số nhánh và lá của
cây đinh lăng tuổi 3 39
3.2.3 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến chỉ số SPAD của lá đinh lăng
tuổi 3. 40
3.2.4 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến diện tích lá của cây đinh lăng
tuổi 3. 41
3.2.5 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến tốc độ tăng trưởng bộ rễ của
cây đinh lăng tuổi 3 41
3.2.6: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến khả năng tích lũy chất khô và
khối lượng rễ của cây Đinh lăng tuổi 3. 42
3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng của cây
đinh lăng.
44
3.3.1 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến động thái tăng trưởng
chiều cao và đường kính thân cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2. 44
3.3.2 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến động thái tăng trưởng số
nhánh và số lá của cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2. 45
3.3.4 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến diện tích lá cây đinh lăng tuổi 1 và
tuổi 2. 48
3.3.5 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng của bộ rễ cây
đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2. 49
3.3.6 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến khả năng tích lũy chất khô
của cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2. 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
Kết luận 52
Kiến nghị 52
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
BA 6 – Benzylaminopurine
CS Cộng sự
CT Công thức
GAP-WHO
Good Agricultural Practices - World Health Organization (Thực hành
sản xuất nông nghiệp tốt theo tổ chức y tê Thế giới)
IBA Indolebutyric acid
KL Khối lượng
LV Litvay, 1985
MS Murashige và Skoog
RDT
Dịch chiết cồn rễ đinh lăng được tạo ra trong môi trưởng lỏng từ
Callus
RTC Dịch chiết cồn rễ đinh lăng được tạo ra trong môi trường thủy canh
RTN
Dịch chiết cồn rễ đinh lăng thu hái từ cây 5 tuổi rưỡi trồng tại vườn
thuốc của trung tâm Sâm và Dược liệu thành phố Hồ Chí Minh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên Bảng Trang
3.1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến biến động độ ẩm đất
của các công thức thí nghiệm 27
3.2: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng trưởng
chiều cao và đường kính thân cây Đinh lăng 29
3.3: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng số nhánh
và số lá trên cây đinh lăng 31
3.4: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến chỉ số SPAD cây đinh
lăng 32
3.5: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến diện tích lá của cây
đinh lăng 34
3.6: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến sinh trưởng bộ rễ cây
đinh lăng. 35
3.7: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến khả năng tích lũy chất
khô và khối lượng rễ của cây đinh lăng. 36
3.8: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến động thái tăng trưởng chiều cao và
đường kính thân cây của cây đinh lăng tuổi 3. 38
3.9: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến động thái tăng trưởng số nhánh cây
đinh lăng tuổi 3 39
3.10: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến chỉ số SPAD của lá cây đinh lăng tuổi 3 40
3.11: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến diện tích lá của cây đinh lăng tuổi 3. 41
3.12: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến tốc độ tăng trưởng bộ rễ của cây đinh
lăng tuổi 3. 42
3.13: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến khả năng tích lũy chất khô và khối
lượng rễ của cây đinh lăng tuổi 3 42
3.14: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến động thái tăng trưởng chiều cao
và đường kính thân cây đinh lăng 44
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix
3.15: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến động thái tăng trưởng số nhánh và
số lá của cây đinh lăng 46
3.16: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến chỉ số SPAD của lá cây đinh lăng
tuổi 1 và tuổi 2 47
3.17: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến diện tích lá cây đinh lăng tuổi 1
và tuổi 2. 48
3.18: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng của bộ rễ cây đinh
lăng tuổi 1 và tuổi 2 49
3.19: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến khả năng tích lũy chất khô của
cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 51
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page x
DANH MỤC ĐỒ THỊ
STT Tên Bảng Trang
3.1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây đinh lăng 1 năm tuổi 28
3.2: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến tích lũy chất khô, khối
lượng rễ tươi và khô của đinh lăng 1 tuổi 37
3.3: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến khả năng tích lũy chất khô và khối
lượng rễ của cây đinh lăng tuổi 3 43
3.4: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến khả năng tích lũy chất khô và khối
lượng rễ tươi, khô của cây đinh lăng tuổi 1 50
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
Việt Nam vốn được đánh giá là nước có nguồn dược liệu tự nhiên phong phú
và đa dạng về chủng loại lẫn công dụng làm thuốc. Thống kê có hơn 3000 loại cây
thuốc trong đó có nhiều cây đặc hữu. Đây thực sự là một lợi thế của ngành dược
Việt Nam.
Trong những năm vừa qua, việc nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính
sinh học của những cây cỏ ở nước ta ngày càng được quan tâm nhiều. Nhiều loại
cây cỏ xung quanh chúng ta được biết đến phổ biến hơn với công dụng trong chữa
trị bệnh như: Đinh lăng, nấm Linh Chi, sâm Ngọc Linh,…
Đinh lăng (Polyscias fruticosa), thuộc họ nhân sâm Araliaceae, hầu hết các
loài này được dùng làm thuốc. Theo y học cổ truyền, rễ đinh lăng có vị ngọt, hơi
đắng, tính mát có tác dụng thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết, lá có vị đắng, tính
mát có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng, chữa ho ra máu, kiết lỵ. Nói chung,
ngoài tác dụng lương huyết và giải độc thức ăn, những tính chất khác của đinh lăng
gần giống như nhân sâm. Tuy nhiên cây đinh lăng ít độc hơn cả nhân sâm và khác
với Nhân sâm, nó không làm tăng huyết áp.
Với nhiều tác dụng được biết đến trong y học mà cây đinh lăng ngày nay
được trồng phổ biến và rộng rãi. Đặc biệt một số Tỉnh đã tập trung phát triển cây
đinh lăng thành các vùng chuyên canh sản xuất lớn như: Nam Định, Bình Phước,
Đồng Nai, Thanh Hóa…. Tuy nhiên tình trạng trồng và khai thác đinh lăng ở nước
ta hiện nay còn tự phát, quy mô chưa lớn dẫn đến sản lượng không ổn định, chất
lượng không đảm bảo và giá cả biến động. Đặc biệt đinh lăng chưa được sản xuất
theo quy trình (trồng lẫn vùng trồng lúa và hoa màu, kỹ thuật trồng và chăm sóc chủ
yếu theo kinh nghiệm, việc sử dụng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nguồn
nước tưới… tùy tiện thu hái không tuân thủ theo kĩ thuật mùa, vụ và tuổi của cây)
làm ảnh hưởng tới chất lượng dược liệu, qua đó ảnh hưởng đến chất lượng thuốc
sản xuất từ dược liệu. Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu khoa học về cây đinh lăng,
tuy nhiên những nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào thành phần và hoạt chất của
rễ đinh lăng còn hạn chế nghiên cứu về quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và áp
dụng khoa học kĩ thuật mới cho cây. Vì vậy, thiết yếu cần có những nghiên cứu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
nhằm đưa ra quy trình trồng, chăm sóc để nâng cao khả năng sinh trưởng phát triển,
hạn chế sâu bệnh và cho thu hoạch năng suất cao đối với cây đinh lăng phục vụ nhu
cầu cho sản xuất.
Xuất phát từ yêu cầu sản xuất thực tế trên, dưới sự hướng dẫn của TS.Ninh
Thị Phíp tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số kĩ
thuật (tưới nước, cắt tỉa và che sáng) đến sinh trưởng phát triển của cây đinh
lăng tại Gia Lâm - Hà Nội”.
Mục đích và yêu cầu
Mục đích
Xác định kĩ thuật cắt tỉa, mức che sáng và khoảng cách giữa các lần tưới phù
hợp cho cây đinh lăng sinh trưởng, phát triển tốt góp phần hoàn thiện quy trình
trồng, chăm sóc cây đinh lăng.
Yêu cầu
- Đánh giá ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến sinh trưởng và
phát triển của cây đinh lăng (tuổi 1 và 2).
- Đánh giá ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa cành đến sinh trưởng và phát triển
của cây đinh lăng (tuổi 3).
- Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng, phát triển của
cây đinh lăng (tuổi 1 và 2).
Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học nghiên cứu quy trình trồng
và kĩ thuật thâm canh nâng cao năng suất thu hoạch tươi cũng như khô của cây đinh
lăng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm tài liệu cho công tác nghiên cứu
khoa học, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo cho các cán bộ kỹ thuật nông nghiệp.
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng và hoàn thiện quy trình
trồng, chăm sóc cây đinh lăng phục vụ người dân sản xuất theo hướng hàng hóa,
làm tăng năng suất và chất lượng đinh lăng, đáp ứng nhu cầu nguồn dược liệu.
Đề tài góp phần làm đa dạng sinh học và phát triển nguồn gen cây thuốc
trong điều kiện hiện nay.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Giới thiệu chung về cây đinh lăng
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại
Cây đinh lăng tên khoa học là Polyscias fruticosa (L.) Harms hay còn gọi là
cây gỏi cá thuộc bộ hoa tán (Apiales), họ ngũ gia bì (Araliaceae), chi (Polyscias).
Chi này chứa khoảng 114 - 150 loài (tùy theo quan điểm phân loại), chủ yếu phân
bố tại khu vực Madagascar. Chúng có các lá dạng lông chim. Chi này là một
nhóm cận ngành và có thể sẽ được chia tách (hoặc hợp nhất) với một số chi khác.
Tại Việt Nam có khoảng 4 loài.
Phân loại theo đặc điểm thực vật học (hình dạng lá) thì đinh lăng chia làm
nhiều dạng khác nhau và một số loài đang sử dụng nhiều nhất là:
- Đinh lăng lá tròn: Polyscias balfouriana Baill.
- Đinh lăng trổ (đinh lăng viền bạc): Polyscias guilfoylei (Cogn Marche) Baill.
- Đinh lăng lá to (đinh lăng răng): Polyscias filicfolia (Merr) Baill.
- Đinh lăng đĩa: Polyscias scutillarius (Burm f) Merr
- Đinh lăng răng (lá 2 lần kép, thân màu trắng): Polyscias serrata Ballf
Theo dân gian, đinh lăng được chia làm hai loại chính là: Đinh lăng nếp và
đinh lăng tẻ.
- Đinh lăng nếp: Là loại lá nhỏ, xoăn, thân nhẵn, củ to, rễ nhiều và mềm, vỏ
bì dày cho năng suất cao và chất lượng tốt. Khả năng chống chịu với điều kiện bất
thuận tốt. Vì vậy người sản xuất nên chọn loại này để trồng và hiện nay đinh lăng
nếp đang được trồng phổ biến, chiếm đa phần diện tích trồng của người dân.
- Đinh lăng tẻ: Là loại lá to, vỏ thân xù xì, màu xanh nhạt, củ nhỏ, rễ ít và cứng,
vỏ bì mỏng năng suất thấp. Loại này không nên trồng.
Cây đinh lăng có nguồn gốc từ các đảo Thái Bình Dương (Polynêdi) được
trồng khắp nơi từ đồng bằng đến miền núi. Cây được trồng phổ biến làm cảnh ở
khắp cả nuớc, có mọc cả ở Lào và miền nam Trung Quốc. Từ năm 1961, do biết tác
dụng bổ dưỡng của rễ đinh lăng nên người dân trồng nhiều ở các bệnh viện, trạm xá
và vườn gia đình.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Tại Việt Nam đinh lăng được trồng ở nhiều nơi và được trồng nhiều nhất ở
huyện Hải Hậu – Nam Định, Thái Bình, Bình Phước, Đồng Nai,…. để thu lá, thân
nhưng giá trị dược liệu chính của cây nằm ở rễ, củ. Đinh lăng là cây có giá trị kinh
tế và dược liệu cao (Như Xuân, 2013).
1.1.2 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng
Giá trị kinh tế
Cây đinh lăng là cây dược liệu quý, được sử dụng làm thuốc chữa nhiều bệnh
cho con người. Đây là một loại cây thảo, rất dễ trồng và dễ sống, ít bị sâu bệnh gây hại
nên đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng. Sau trồng 3 năm cây đinh lăng có
thể thu hoạch được. Với giá thu mua toàn bộ rễ, gốc, thân lá tại thị trường huyện
hiện nay từ 20.000 - 25.000 đồng/kg, nếu trồng 1 sào, 3 năm sau cho thu nhập 30-
45 triệu đồng/sào; chi phí giống 1,5 – 2,0 triệu và phân bón từ 400- 600 nghìn
đồng/sào; người nông dân trung bình lãi ròng 19 - 21 triệu đồng/sào/1 năm.
Qua các đề tài nghiên cứu khoa học thì tác dụng dược tính của cây đinh lăng đã
được chứng minh, nên nhu cầu sử dụng cây đinh lăng làm thuốc ngày càng tăng. Hiện
nay đinh lăng mua theo gốc (kg), giá của mỗi gốc (kg) đinh lăng tùy vào năm tuổi. Nếu
lâu năm gốc to, thịt cây chặt sẽ nặng cân và giá tiền sẽ cao lên. Đinh lăng trồng càng
lâu năm thì giá trị dược liệu và kinh tế càng cao.
Giá trị sử dụng
Trong củ đinh lăng có chứa hợp chất Saponin, alkaloid có tác dụng như Nhân
sâm, nhiều Vitamin, ngoài ra rễ cây còn chứa khoảng 13 loại axit amin không thể
thay thế, rất cần thiết cho cơ thể con người, nhờ hoạt chất trong củ đinh lăng giúp
cho tăng trí nhớ cho não bộ, một số đơn vị dược trong nước đã ứng dụng hoạt chất
trong cây đinh lăng để làm thuốc bổ não (Đỗ Tất Lợi, 1986) (Nguyễn Trần Châu và
cs, 2007). Ngoài ra củ cây đinh lăng còn dùng để chữa trị ho ra máu, chữa tắc tia
sữa, làm mát huyết, lợi tiểu, giảm mẫn ngứa. Củ đinh lăng sao vàng, khử thổ, sắc
cho phụ nữ uống sau khi sinh để chống đau dạ con, làm tăng tiết sữa cho con bú.
Một nghiên cứu gần đây trên cây này bởi Võ Duy Hồ Nam và các đồng
nghiệp, đã chiết xuất hợp chất saponin trong oleanolic axit từ lá, và polyacetylenes
từ củ. Có khả năng kháng khuẩn và kháng nấm. Các loại dầu dễ bay hơi trong lá
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
cũng đã được nghiên cứu và phân lập để tìm ra 8 hợp chất saponin mới oleanolic
acid, tên polysciosides A đến H và 3 saponin đã được biết đến.
Thành phần hoá học: Trong rễ cây đinh lăng có chứa glucosid, alcaloid,
saponin triterpen, tanin, 13 loại acid amin, B1. Trong thân và lá cũng có những
thành phần hóa học như trên nhưng lượng ít hơn.
Rễ đinh lăng có vị ngọt, tính bình, lá vị nhạt, hơi đắng, có tác dụng bổ năm
tạng, giải độc, bổ huyết, tăng sữa, tiêu thực, tiêu sưng viêm. Đinh lăng là thuốc tăng
lực. Nó giúp tăng sức chịu đựng của cơ thể đối với các yếu tố bất lợi như kiệt sức,
gia tốc, nóng. Đối với người, đinh lăng làm cho nhịp tim sớm trở lại bình thường
sau khi chạy dai sức và làm cho cơ thể chịu được nóng. Người bệnh bị suy mòn
uống đinh lăng chóng phục hồi cơ thể, ăn ngon, ngủ tốt, tăng cân. Nó cũng làm tử
cung co bóp mạnh hơn. Đinh lăng ít độc hơn nhân sâm và không làm tăng huyết áp.
1.1.3 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu ngoại cảnh đối với sinh trưởng phát triển
Đinh lăng có nhiều loại nhưng dùng để làm thuốc thường là đinh lăng lá nhỏ,
cây thân gỗ nhỏ cao 0,8 – 1,5 m, thân không lông, không gai. Lá kép 3 lần xẻ lông
chim, dài 20 – 40 cm. Lá chét có cuống nhỏ mảnh khảnh dài 3 – 15 mm, dạng màng
khía răng không đều, phần nhiều khía hay chia thùy, có mũi nhọn dài 3 – 10 cm,
rông 0,6 - 4cm. Hoa nhỏ màu trắng mọc thành cờ, tán ngắn dài 7 – 18 cm. Quả dẹt
màu trắng bạc, dài và rộng khoảng 3 – 4 mm, dày 1 mm, cây ra hoa tháng 4 - 7.
Đinh lăng là cây lâu năm, có thể sống đến vài chục năm, chịu hạn khá tốt. Cây
phát triển kém hoặc chết khi ngập úng. Phân bố rộng khắp trên khắp cả nước, ở tất cả
các vùng sinh thái, có thể phát triển trên nhiều loại đất nhưng tốt nhất là đất pha cát.
Cây phát triển mạnh khi nhiệt độ dưới 28
0
C (từ giữa thu đến cuối xuân).
Cây có khả năng tái sinh dinh dưỡng cao nên người dân trồng chủ yếu bằng
cách giâm cành bánh tẻ hoặc cành già vào tháng 2 - 4 hoặc tháng 8 - 10. Trong năm
mùa Thu và mùa Xuân thuận lợi cho cây sinh trưởng phát triển nhanh nhất.
1.1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đinh lăng tại Việt Nam
Cây đinh lăng là cây dược liệu quý, được sử dụng làm thuốc chữa nhiều bệnh
cho con người, rất dễ trồng và dễ sống, ít bị sâu bệnh đem lại hiệu quả kinh tế cao
cho người trồng. Nguyễn Huy Văn (2012) cho biết, hàng năm Tổng công ty Dược
Traphaco cần 400 tấn rễ đinh lăng để làm thuốc, nhưng hiện nay nguồn cung cấp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
này không ổn định do chưa chủ động trong sản xuất đinh lăng.
Ngày 23/5/2014, tại xã Nghĩa Lạc, Nghĩa Hưng, Nam Định, Traphaco đã phối
hợp cùng với Công ty trách nhiệm hữu hạn Hiệp Hưng Xanh và Dự án Biotrade khởi
công Trung tâm giống đinh lăng theo tiêu chuẩn GAP-WHO. Mỗi năm trung tâm sẽ
cung cấp khoảng từ 0,6 - 1 triệu cây giống đinh lăng, cung cấp đủ cho 40ha diện tích
vùng trồng, đảm bảo 50% sản lượng tiêu thụ của Traphaco. Ở thời điểm hiện tại,
Traphaco đã có hơn 10 ha diện tích đinh lăng trồng theo tiêu chuẩn GAP- WHO tại
Nam Định, cung cấp sản lượng 90.000 kg/vụ cho cho công ty. Công ty sẽ tiếp tục
khảo sát và mở rộng vùng trồng tại một số tỉnh như Phú Thọ, Thái Nguyên, Hà Nội,
Hưng Yên, Thái Bình, Ninh Bình, Đăk Nông, Đăk Lăk,
Theo số liệu của chi cục thống kê huyện Hải Hậu (2014) có 457 ha cây dược
liệu hàng năm, trong đó chủ yếu là cây đinh lăng. Gia đình nào cũng có ít nhất từ 50
- 150m
2
trồng đinh lăng. Những hộ trồng diện tích lớn quy mô từ 1.000 -
3.000m
2
quy hoạch trồng đinh lăng theo mô hình vườn ao chuồng. Mỗi năm, Hải
Hậu xuất bán ra thị trường từ 1.500 - 2.000 tấn sản phẩm đinh lăng tươi cung cấp
cho các tiểu thương và công ty dược phẩm Traphaco.
Vùng Đồng Nai có nhược điểm là đất chua nhưng được khắc phục bằng công
thức phân bón thích hợp như: Rắc vôi bột, tro trấu và phân bò ủ hoai mục …. nên
đinh lăng ở đây cho thu hoạch năng suất cao. Hiện nay đã có rất nhiều vùng trồng
cây đinh lăng lá nhỏ có diện tích 5 ha xuất hiện góp phần đa dạng hóa nguồn gen
cây thuốc ở miền Đông Nam Bộ và phát triển dược liệu đinh lăng, cung cấp cho các
công ty dược phẩm phía Nam sản xuất thuốc, không phải mua dược liệu từ miền
Bắc, giúp giảm chi phí vận chuyển và hạ giá thành sản phẩm (Nguyễn Thị Ngọc
Trâm và cs, 2015).
1.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Nước là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với tất cả các cơ thể
sống. Nước chiếm 90% khối lượng chất nguyên sinh và nó quyết định tính ổn định
của cấu trúc keo nguyên sinh chất. Với thực vật, khi hàm lượng nước trong tế bào
giảm, một loạt chức năng sinh lý quan trọng như quang hợp, hô hấp sẽ bị kìm hãm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
do đó ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của cây. Nước không chỉ đóng vai trò
như một dung môi, một phản ứng mà nước còn tham gia vào cấu trúc của tế bào.
Ngoài những vai trò quan trọng trên nước còn là một yếu tố nối liền cây với môi
trường bên ngoài và điều hòa nhiệt độ cho cây. Độ ẩm đất liên quan khá mật thiết
tới tuổi cây và độ ẩm đất cũng như lượng mưa. Khi lượng nước trong đất đảm bảo
sẽ giúp hòa tan tốt các chất muối khoáng và thuận lợi cho quá trình hút dinh dưỡng
và trao đổi chất của cây. Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn sinh trưởng phát triển cây cần
lượng nước khác nhau. Vì vậy, khoảng cách giữa các lần tưới, liều lượng tưới và
phương pháp tưới có ảnh hưởng trực tiếp tới các quá trình trao đổi chất, sinh trưởng
phát triển của cây trồng. Tóm lại cần phải cung cấp đầy đủ nước tưới cho cây trồng.
Ánh sáng được coi là yếu tố sinh thái vừa có tác dụng giới hạn, vừa có tác
dụng điều chỉnh đối với đời sống sinh vật, đặc biệt là thực vật. Ánh sáng trắng trực
tiếp tham gia vào quá trình quang hợp, là nguồn dinh dưỡng của cây cỏ và ảnh
hưởng trực tiếp đến sự sống của thực vật. Ánh sáng có ảnh hưởng căn bản đến sự
phân phối lượng tăng trưởng mới giữa các bộ phận của cây trồng. Khi được cung
cấp đầy đủ ánh sáng cây trồng phát triển một toàn diện và khi cường độ ánh sáng
không thích hợp sẽ gây ức chế sinh trưởng của cây trồng. Tuy nhiên mỗi giai đoạn
và mỗi loại cây trồng cần mức độ cũng như cường độ ánh sáng là khác nhau. Vì
vậy, trong môi trường có cường độ ánh sáng thích hợp thì cây trồng sinh trưởng
phát triển là tốt nhất.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, ở trong cây nơi nào lượng đạm được tích
lũy ít mà lượng đường nhiều thì việc cắt tỉa sẽ giúp gia tăng sự phân hoá hoa bởi tác
dụng làm cân đối giữa đạm và đường, tạo điều kiện thuận lợi tích lũy đạm ở điểm
sinh trưởng. Việc loại bỏ một vài điểm sinh trưởng không có lợi sẽ giúp tăng quá
trình cung cấp nước, đạm và chất dinh dưỡng cho các điểm sinh trưởng còn lại phát
triển tốt hơn. Cắt tỉa loại bỏ những bộ phận sinh dưỡng đã già và bị sâu bệnh sẽ
giúp cây trẻ hóa các bộ phận sinh dưỡng và tập trung dinh dưỡng cho những bộ
phận này phát triển. Như vậy cắt tỉa đảm bảo cho cây thoáng đãng, mọi phía của cây
đều nhận được ánh sáng một cách đầy đủ, khống chế được chiều cao cây ở mức
thấp để hạn chế ảnh hưởng của gió bão và thuận tiện cho thu hoạch, chăm sóc
phòng trừ sâu bệnh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
1.2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Nước giúp cho cây trồng thực hiện các quá trình vận chuyển các khoáng chất
trong đất giúp điều kiện quang hợp, hình thành sinh khối tạo nên sự sinh trưởng của
cây trồng. Tổng lượng nước mà cây trồng hút lên hằng ngày chủ yếu là để thoát ra
ngoài ở dạng thoát hơi qua lá, nước chỉ giữ lại cho bản thân cấu trúc của cây trồng
chỉ chừng 0,5 – 1,0% mà thôi. Rễ cây là bộ phận hút nước cho cây trồng. Bộ rễ hình
thành ở nhiều dạng khác nhau, tuỳ theo loại cây trồng, điều kiện đất đai, khí hậu và
chiều sâu mực nước ngầm. Thông thường, rễ cây hút nhiều nước nhất (chiếm
khoảng 40 - 50%) ở độ sâu ¼ chiều dài của rễ tính từ mặt đất, càng xuống sâu thì tỉ
lệ hút hước càng giảm.
Thực tế, cây trồng trong điều kiện được cung cấp nước đầy đủ sẽ có bộ rễ dài
và sâu, vươn ra theo các chiều trong đất. Ngược lại, nếu thiếu nước, bộ rễ của cây sẽ
ngắn và thưa.
Trong điều kiện đất và nước đầy đủ, rễ từng loại cây trồng sẽ phát triển triển
tối đa để tăng trưởng. Chiều sâu tối đa của hệ thống rễ cây trồng cũng chính là chiều
sâu lớp đất cần tưới (Lê Anh Tuấn, 2010).
Đối với các cây trồng lấy rễ củ thì yêu cầu về nước tưới cần quan tâm hàng
đầu. Đa số các loài cây trồng lấy rễ hay thân củ là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng.
Cần cung cấp đủ nước trong suốt quá trình sống cho cây. Trong giai đoạn cây con
ẩm độ đất luộn đạt 80 – 90 %. Vì vậy, thời vụ trồng luôn tiến hành vào mùa xuân ở
các tỉnh phía Bắc và mùa mưa ở các tỉnh phía Nam để cung cấp đủ ẩm cho cây. Nếu
thời tiết hanh khô thì phải tiến hành tưới nước 3 – 4 lần/tuần để cho cây thích nghi
với điều kiện sống, sau đó có thể giảm dần chế độ tưới. Trong giai đoạn phát triển
yêu cầu độ ẩm luôn đạt 70 – 75 % giúp cho củ phát triển đầy đủ cân đối. Giai đoạn
thu hoạch thì yêu cầu nước không cao, yêu cầu ẩm độ từ 60 – 65 % thuận lợi cho
thu hoạch.
Ánh sáng là nhân tố sinh thái tối quan trọng đối với thực vật. Bởi vì sánh
sáng là nguồn năng lượng cần thiết cho quá trình tổng hợp chất hữu cơ. Tuy nhiên,
mỗi lài cây khác nhau có nhu cầu ánh sáng khác nhau. Trong điều kiện ở vườn ươm,
cây con cũng phải chịu những ảnh hưởng bất lợi của cường độ ánh sáng mạnh. Vì
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
thế, nghiên cứu chế độ che bóng cho cây con trong giai đoạn gieo ươm là một việc
làm cần thiết. Việc che bóng có tác dụng không chỉ hạn chế tác động xấu của cường
độ ánh sáng mạnh, mà còn điều hòa nhiệt độ và làm giảm quá trình mất nước ở cây
con (Hoàng Công Đãng, 2000).
Hiệu quả dễ thấy nhất là sau khi cắt tỉa cây sẽ tạo ra các chồi mới sinh trưởng
mạnh và có nhiều khả năng để các cành mới này cho hoa trái, giúp giữ được sản
lượng ổn định hằng năm. Tạo cho cây trồng một khung tán cân đối, ánh sáng được
phân bố đều và vườn cây thông thoáng, độ ẩm không khí điều hòa hạn chế phát sinh
và sinh trưởng của sâu bệnh hại. Ở những cây già, khả năng ra hoa trái giảm do
giảm sinh trưởng của chồi thì việc cắt tỉa sẽ cho hiệu quả cải thiện. Việc đốn tái sinh
(cắt tỉa nặng) cũng nhằm mục đích này (Hoàng Đức Phương, 2000).
Đối với cây ăn quả thì cắt tỉa bao nhiêu, mức độ như thế nào tùy thuộc vào
cách cho trái của cây, sự kết hợp giữa chồi (hay mắt) tháp và gốc tháp, sức sinh
trưởng của cây. Tất cả các yếu tố này thay đổi tùy loài cây trồng. Do vậy, cây ăn trái
cần được xếp thành nhóm tùy theo chúng có kiểu cho trái ở nhánh bên hay ngọn
nhánh hoặc cả hai mà có cách cắt tỉa sao cho phù hợp nhất.
* Yêu cầu nước, ánh sáng, cắt tỉa của một số cây trồng lấy rễ
Ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình quang hợp của cây và hầu hết
cây trồng đều là cây ưa sáng. Tuy nhiên một số cây lại chịu bóng trong suốt quá
trình sống của mình như: Cây sa nhân, sâm…. Mỗi giai đoạn cây trồng lại thích
ứng với mức độ sáng khác nhau. Đặc biệt nhiều cây khi giai đoạn cây con có khả
năng chịu bóng rất tốt nhưng khi lớn lại ưa sáng như: Cây ba kích, cây ngưu tất, …
Vì vậy trong quá trình ươm trồng cây con loại cây này cần phải tiến hành trong
vườn ươm có mái che, độ che phủ khoảng 80%. Khi mới trồng, cây con vẫn cần che
bóng bằng cành lá các loại cây khác. Cần đảm bảo thường xuyên tưới nước giữ ẩm,
làm sạch cỏ dại và phải che nắng cho cây con không để ánh nắng trực tiếp chiếu vào
(Bùi Thị Hương Phú và cs, 2013).
Tùy vào nhu cầu ánh sáng khác nhau của mỗi cây trồng mà thời gian đưa cây
con ra ngoài sáng khác nhau như: Cây ba kích từ tháng thứ 6 trở đi nên đưa trồng
ngoài ruộng có ánh sáng chiếu toàn phần hoặc cây sa nhân cần trồng dưới tán rừng,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
vườn có ánh sáng tán xạ. Đặc biệt cây sa nhân con có thể trồng ở nhiều điều kiện môi
trường khác nhau như: Dưới tán rừng tự nhiên dưới tán vườn cây ăn quả hoặc vườn
tạp, trên đất nương rãy đã bỏ hoang đất trống (chừa lại một số cây gỗ có tán lá thoáng
với tổng độ tán che từ 10 - 20% (tối đa 30%) (Bùi Thị Hương Phú và cs, 2013).
Nước là một nhân tố không thể thiếu trong quá trình sinh trưởng và phát
triển. Có nước đầy đủ mới đảm bảo được quá trình quang hợp, hô hấp và trao đổi
chất. Nhưng với cây lấy củ thì nước còn quan trọng hơn vì làm cho đất luôn ẩm, hệ
thống lông hút được bảo vệ và bộ rễ mới phát triển tốt. Vì vậy mà lượng mưa cũng
ảnh hưởng nhiều tới năng suất cây trồng như cây sa nhân thường mọc trên các sườn
núi, ở độ cao khoảng 300 - 350 m so với mặt biển trở lên. Sa nhân thường sinh
trưởng phát triển tốt và cho thu hoạch cao ở những vùng có lượng mưa hàng năm
khoảng 2500 mm, độ ẩm bình quân hàng năm trên 80%.
Bên cạnh một số cây dễ tính như ba kích còn có một số cây yêu cầu rất khắt
khe về độ ẩm, nước tưới như cây sa nhân, cây ngưu tất … Cây sa nhân giai đoạn
sau gieo từ 1 – 1,5 tháng cần duy trì độ ẩm đồng ruộng từ 80 – 85%. Giai đoạn phát
triển thân cành (sau gieo 1,5 – 3 tháng) nếu thời tiết không mưa cần cung ứng nước
cho cây, 7 – 10 ngày/lần tháo ngấm. Giai đoạn xuống củ hạn chế tối đa tưới nước
cho cây, < 50% ẩm độ đất mới cần bổ sung nước. Giai đoạn cây đang hình thành củ
nếu gặp thời tiết mưa ẩm nhiều cần chủ động tiêu nước, không để nước ngập trong
rãnh, nếu đất quá ẩm củ sẽ nhỏ, nhiều rễ nhỏ và rễ phụ, củ bị thối. Hầu hết các cây
lấy củ khi gặp ngập úng 5 – 7 ngày đều chết do bộ rễ bị thối.
Mỗi cây trồng có yêu cầu về khoảng cách trồng và mật độ khác nhau. Vì vậy
khi đốn, tỉa sẽ giúp đảm bảo mật độ cây, tạo độ thông thoáng vườn cây và giúp cây
tập trung dinh dưỡng nuôi bộ phận sinh dưỡng. Do đó trong quá trình trồng cần phải
tiến hành tỉa cành đúng thời điểm để đem lại hiệu quả năng suất thu hoạch cao nhất
như: Cây sa nhân trồng trong vườn cây ăn quả với mật độ trồng từ 6000 - 9000
cây/ha (khoảng cách trồng 1 x 1 m/1cây). Cây ngưu tất sau trồng khoảng 3 tháng,
cây phát triển thân lá quá tốt hoặc xuất hiện ngồng hoa cần tiến hành phát ngọn cho
cây, duy trì độ cao cây 50 – 60 cm. Có thể phát ngọn 1 – 2 lần tùy thuộc vào sinh
trưởng, phát triển của cây sẽ giúp tăng năng suất củ (Phạm Thu Thủy, 2014).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
1.3 Các kết quả nghiên cứu về biện pháp kĩ thuật tác động đến sinh trưởng
phát triển của cây trồng
1.3.1 Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về ảnh hưởng của nước tưới tới
cây trồng
Với cây Đương Quy và Nghệ Đỏ thuộc dạng cây dược liệu đều lấy củ, đặc điểm
thân cây thấp nên phù hợp với cả hai hình thước là nhỏ giọt và phun mưa áp lực thấp.
Kỹ thuật tưới công nghệ cao kết hợp với bón phân và phun thuốc trừ sâu sẽ tiết kiệm
đáng kể nhân công, lượng tổn thất phân bón và thuốc trừ sâu, nâng cao giá trị thặng dư
phù hợp với đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Lượng nước tưới bổ sung cho cây mạch môn trồng xen trong vườn bưởi lâu
năm ở vụ đông xuân là 40m
3
/ha tạo điều kiện tốt nhất cho cây sinh tưởng phát triển
và năng suất thu hoạch đạt cao nhất. Sau trồng 34 tháng năng suất thực thu từ củ đạt
82,95 tạ/ha (Nguyễn Đình Vinh, 2012).
Theo Nguyễn Bá Hoạt và cs (2005), Trong cuốn “ kỹ thuật trồng, sử dụng và
chế biến cây thuốc” thì yêu cầu về lượng mưa hàng năm của một số cây lấy rễ củ
như sau: Cây ba gạc Cu Ba (>1700mm), cây Ba kích (1500 – 2500 mm), cây Bạch
truật và Đương Quy Nhật Bản (1600 – 2000 mm), cây nghệ vàng ( 2000 – 2500
mm), …
Do khoai tây được trồng bằng củ nên không hình thành rễ chính mà chỉ có
các rễ phụ thưa thớt. Phần lớn rễ tập trung ở tầng đất mặt nên khả năng hút nước
của cây không lớn. Khi gặp điều kiện khô hạn cây khoai tây rất dễ bị thiếu nước và
phát triển kém. Giai đoạn hình thành củ đòi hỏi ẩm độ đất khoảng 60%, giai đoạn
hình thành củ là 80%. Nếu thiếu nước ở giai đoạn hình thành củ thì năng suất giảm
rõ rệt, cụ thể: Ẩm độ đất là 60% thì năng suất giảm 4,3%; ẩm độ đất còn 40% năng
suất giảm 33,9% và không tưới năng suất giảm 63% (Đường Hồng Dật, 2005).
Theo Nguyễn Đình Vinh và cs (2010), kết quả điều tra kỹ thuật trồng và
chăm sóc cây mạch môn tại 2 tỉnh Phú Thọ, Yên Bái cho thấy: 90-95% nông dân
được điều tra đã đánh giá cây mạch môn có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ đất
chống hạn, giữ ẩm cho đất và không cạnh tranh dĩnh dưỡng ánh sáng với cây trồng
chính. Đây là loại cây sinh trưởng tốt trong điều kiện có che bóng. Khả năng chịu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
hạn, chịu nóng chịu rét rất tốt, cây có khả năng sinh trưởng bình thường trong điều
kiện mùa khô, lạnh ở mền bắc. Khả năng chịu úng khá, kết quả quan sát tại các
điểm điều tra và phỏng vấn người dân cho thấy cây mạch môn có thể chịu ngập úng
hoàn toàn trong thời gian 15- 20 ngày, không làm chết thân ngầm.
1.3.2 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp cắt tỉa đối với
cây trồng
Cây có tán dày nếu không cắt tỉa khi cây ra nhiều trái thì trái sẽ có kích thước
nhỏ và màu sắc kém do mất cân bằng chất đạm và chất đường bột. Cây được cắt tỉa
thường xuyên giúp tăng tỉ lệ đậu trái. Đối với cây phát triển vượt mức (sung mãn)
thì việc cắt tỉa bớt cành lá sẽ tạo điều kiện cho cây dễ ra hoa tạo trái hơn. Việc tỉa bỏ
hoa trái tuy có làm giảm năng suất tổng thể nhưng tăng năng suất cá thể, trái có giá
trị thương phẩm cao. Ngoài ra việc cắt tỉa còn là một biện pháp làm giảm nguồn lây
lan sâu bệnh trên cây.
Đối với các loài có các chồi cựa nhỏ mọc tận cùng trên nhánh và các chồi
này phát triển trong thời gian dài trên cây để cho trái, nên cắt tỉa trên các nhánh đã
phát triển trong mùa trước. Các nhánh dài cần được cắt ngọn hoặc cắt bỏ hoàn toàn
vì khi mang nhiều trái cành sẽ bị uốn cong xuống, trái bị lắc nhiều trong gió gây
bầm dập các trái khác trên cây.
Một thí nghiệm tạo hình và cắt tỉa trên giống ổi JP1 thực hiện tại Mã Lai
(Norlia Yunus, 1990) trong thời gian 5 năm cho thấy, năng suất và số trái của cây trong
điều kiện cắt tỉa nhẹ cao hơn cây được cắt tỉa trung bình và nặng. Tuy nhiên, không có
sự khác biệt về trọng lượng trung bình của trái và tỷ lệ chất hòa tan tổng số giữa các
cây được áp dụng các mức độ cắt tỉa. Việc cắt tỉa nặng đã giúp cây cho nhiều chồi mới
nhất. Trái mọc ra từ các chồi mới tại vị trí xa nhất tính từ chỗ cắt cành.
Cắt tỉa trong giai đoạn cây đang phát triển cành lá: Được thực hiện trên các
cây còn nhỏ nhằm chọn lọc các cành giâm thích hợp và khi thực hiện trên cây cho
trái thì nhằm loại bỏ các cành vượt, làm giảm sức sinh trưởng của cây, cải thiện việc
đậu trái, màu sắc trái
Cắt tỉa sau mùa thu hoạch: Đối với một số loại cây ăn trái, cần tiến hành cắt
tỉa cho cây sau khi thu hoạch trái, như nhãn, vải, xoài, nho, thanh long các chồi,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
cành mang trái phía ngoài tán, cành bị bẻ gãy, cành yếu vươn ra xa tán, cành bị sâu
bệnh, cần được cắt để thu nhỏ tán cây và giúp cây đâm chồi mới đồng loạt, to
mập, khoẻ để chuẩn bị cho mùa trái năm sau.
Các loại cành cần cắt tỉa là những cành nhỏ mọc thẳng bên trong tán, các
cành nhỏ không nhận được ánh sáng, cành mọc khít nhau hay mọc chồng khít lên
nhau. Việc cắt bỏ các cành bị sâu bệnh, cành bị khô héo hay hư hỏng cần tiến hành
thường xuyên để tăng khoảng cách thích hợp cho các cành giàn.
Thời điểm cắt cành trong năm và cách cắt cành: Tốt nhất là cắt cành trong
điều kiện thời tiết khô ráo để vết thương mau lành. Nông dân ở Đồng Bằng Sông
Cửu Long có tập quán “rửa cây” sau khi thu hoạch. Tuy nhiên trong thời gian này ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long là thời gian còn mưa, nên khi cắt cành cần bôi lên vết
cắt các loại thuốc sát khuẩn (thuốc có gốc đồng như Copper zinc, Copper-B) để
tránh nhiễm bệnh.
Phạm Thị Hương (2008) khi đốn tỉa trên 2 giống xoài Hôi và xoài Tròn 10 -
12 tuổi tại Yên Châu – Sơn La theo dõi trong 2 năm 2006 – 2007 cho kết quả: Đốn
tỉa sau thu hoạch kết hợp bón phân làm giảm độ cao tán, tăng số đợt lộc thu (từ 1
đợt lên 2 đợt) và chất lượng lộc, làm tăng số lượng hoa trên chùm một cách đáng kể
(tăng 109 hoa ở xoài Tròn và 221 hoa ở xoài Hôi) tạo tiền đề cho cải thiện tỉ lệ đậu
quả và điều kiện để thâm canh vườn cây dễ dàng hơn.
Kết quả đốn tỉa, trẻ hóa kết hợp quy trình bón phân cân đối sau một năm trên
cây mận tại Mộc Châu Sơn La thể hiện rõ rệt như: Sinh trưởng phát triển khỏe, phát
lộc và đậu quả tập trung, quả to và chất lượng ngon hơn. Trung bình mỗi cây cho
thu hoạch từ 1,5 – 1,7 tạ (Trần Thanh Toàn, 2012).
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp kĩ thuật cắt lá, đào lật rễ đến
sinh trưởng và năng suất củ của cây Mạch môn, Nguyễn Đình Vinh (2013) kết luận:
Các kĩ thuật cắt lá và đào lật rễ có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của thân lá cây ở
giai đoạn đầu sau xử lý. Tuy nhiên công thức đào lật rễ vào vụ đông có ảnh hưởng
tốt đến sự phát sinh tầng rễ và số rễ của cây mạch môn. Cắt lá hai lần vào vụ đông
và vụ hè có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và năng suất củ mạch môn. Sau 34
tháng trồng và xử lý, công thức đào lật rễ cho năng suất củ thực thu đạt cao nhất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
289,0 tạ/ha, cao hơn rõ rệt so với đối chứng không cắt lá, không đào lật rễ.
Kết quả khảo sát của Nguyễn An Đệ (2013) cho thấy măng cụt là cây ra hoa
ở đầu cành, các đọt cành có từ 2-3 cặp lá có tỷ lệ ra hoa cao hơn hơn so với các
cành non hình thành muộn trong năm. Ngoài ra các đọt cành thứ cấp già cỗi 4-5 cặp
lá trở lên hình thành từ những năm trước khả năng ra hoa rất kém. Cắt tỉa cành tượt
+ cành khô dập gãy + đọt cành cấp 1giao tán đảm bảo không làm giảm số trái và có
ảnh hưởng tốt đến chất lượng trái nên có thể áp dụng trong sản xuất.
Như vậy cắt đứt rễ cây mạch môn vào vụ đông có tác dụng kích thích cho
cây hình thành rễ, củ giúp tăng năng suất rễ và củ đạt cao nhất (289,0 tạ/ha). Tuy
nhiên cắt lá một lần không gây ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất củ so với công thức
không cắt lá. Cắt lá hai lần trong vụ đông và vụ hè có ảnh hưởng xấu đến sinh
trưởng và năng suất củ chỉ đạt 142,3 tạ/ha (Nguyễn Đình Vinh, 2013).
Trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp, Lê Quý Anh (2014) kết luận công
thức tỉa cây đinh lăng 3 năm tuổi giữ lại 2 cành có sự phát triển, sinh trưởng của bộ
rễ là tốt nhất khi số rễ là 30,67 rễ/cây và khối lượng rễ đạt 87,45g/cây cao hơn các
công thức khác (tỉa giữ lại 1 cành, tỉa giữ lại 3 cành và đặc biệt là công thức không
tỉa cành).
Hiện nay có một số nhà vườn kết hợp việc cắt cành thông qua phương pháp
chiết cành. Tuy nhiên, điều này cần được cân nhắc vì làm như thế ta đã giữ lại một số
cành trên cây trong một thời gian mà nói về mặt sinh trưởng thì không có hiệu quả. Do
đó việc chiết cành cần thực hiện với mục đích rõ ràng trong thời điểm thích hợp.
1.3.3 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp che sáng cho
cây trồng
Ánh sáng là nguồn năng lượng cần cho quang hợp của thực vật. Ánh sáng có
ảnh hưởng căn bản đến sự phân phối lượng tăng trưởng mới giữa các bộ phận của
cây gỗ. Khi được che bóng, tăng trưởng chiều cao của cây gỗ non diễn ra nhanh,
nhưng đường kính nhỏ, sức sống yếu và thường bị đỏ ngã khi gặp gió lớn. Trái lại,
khi gặp điều kiện chiếu sáng manh, tăng trưởng chiều cao của cây gỗ non diễn ra
chậm, nhưng đường kính lớn thân cây cứng và nhiều cành. Nói chung, việc che
bóng giúp cây con tránh được những tác động cực đoan của môi trường làm giảm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
khả năng thoát hơi nước, đồng thời làm giảm nhiệt độ của cây và của hỗn hợp ruột
bầu (Nguyễn Văn Thêm, 2002).
Chế độ ánh sáng được coi là thích hợp cho cây con ở vườn ươm khi nó tạo ra
tỷ lệ lớn giữa rễ/chiều cao thân, hình thái tán lá cân đối, tỷ lệ chiều cao/đường kính
bằng hoặc gần bằng 1. Đặc điểm này cho phép cây con có thể sống sót và sinh
trưởng tốt khi chúng bị phơi ra ánh sáng hoàn toàn. Vì thế, trong gieo ươm cây
giống nhà lâm học phải chú ý đến nhu cầu ánh sáng của cây con. (Kimmins, J. P.,
1998) (Nguyễn Xuân Quát, 1985) (Nguyễn Văn Thêm, 2002).
Những cây con sinh trưởng với cường độ ánh sáng thấp sẽ hình thành các lá
ưa bóng. Nếu bất ngờ đưa chúng ra ngoài ánh sáng và kèm theo điều kiện ẩm độ,
nhiệt độ thay đổi, chúng bị ức chế bởi ánh sáng mạnh. Điều này có thể làm cho cây
con bị chết hoặc ngừng sinh trưởng cho đến khi các lá ưa bóng được thay thế bằng
các lá ưa sáng (Kimmins, J. P, 1998) (Nguyễn Văn Thêm, 2002).
Trong quá trình nghiên cứu về cây ngũ vị tử Ngọc Linh, Trần Thị Liên từ
năm 2009 đến năm 2011 đã kết luận rằng để trồng cây ngũ vị tử Ngọc Linh đạt hiệu
quả cao, nhất thiết phải trồng dưới tán rừng trong đó chế độ ánh sáng tán xạ từ 45
đến 50% (ứng với ánh sáng trực xạ là từ 50% - 55%), ổn định trong suốt chu kỳ
sinh trưởng của cây (Trần Thị Liên, 2011).
Theo Vũ Thanh Hải (2008) thì rau cần nước trồng trong điều kiện che sáng
có khối lượng cây/khóm lớn hơn không che đạt 58,8 – 61,4 g/khóm. Khi che 25%
cường độ ánh sáng, năng suất rau cần trắng 25,7 % và đạt 16,5 tấn/ha. Riêng trong
điều kiện ánh sáng toàn phần, rau cần đạt năng suất 12,7 tấn/ha và còn giảm chi phí
che lưới 25 triệu đồng/ha so với che 25% cường độ ánh sáng.
Cây sâm Ngọc Linh Việt Nam nếu trồng trong điều kiện tự nhiên không che
bóng cho tỷ lệ cây sống thấp và bị sâu bệnh hại nhiều. Tuy nhiên, theo nghiên cứu
của Nguyễn Văn Thuận & Cs, có thể trồng trong điều kiện bán tự nhiên (trong nhà
có mai che theo quy mô công nghiệp đạt kết quả tốt. Nếu trồng trong điều kiện rừng
già nguyên sinh, độ che phủ 70 – 90 %, độ ẩm không khí 75 – 90 % tại khu vực núi
Ngọc Linh và có thể phát triển thêm tại một số điểm khác như Mường Lống,
Mường Xén (Nghệ An); Hang Kia, Pà Cò (Hòa Bình); Sapa (Lào Cai).