Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

thanh nhac

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (284.81 KB, 13 trang )

CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CA HÁT
PHẦN 1: HƠI THỞ TRONG CA HÁT
Âm thanh xuất hiện từ khe thanh quản do tác động của luồng hơi thở từ phổi đẩy
ra làm rung thanh đới. Thanh đới rung lên không phải là một hoạt động thụ
động của hệ thống thần kinh trung ương để thực hiện một yêu cầu nào đó, chẳng
hạn khi ta muốn nói hoặc muốn hát. Khi đó thanh đới phải căng ra ở một mức
độ cần thiết tương ứng với áp lực của hơi thở ở dưới phổi đẩy lên để tạo nên một
âm thanh mong muốn. Ý định của người hát muốn hát ở một âm cao, thấp, to,
nhỏ được chuyển hóa thành những tác động của hệ thần kinh trung ương điều
khiển độ căng của thanh đới tương ứng với âm thanh ta định phát ra, đồng thời,
gần như một lúc, điều khiển một áp lực của hơi thở từ phổi đẩy ra tương ứng với
độ căng của thanh đới. Hai lực này phải luôn luôn phù hợp với nhau mới có
được âm thanh chính xác và có chất lượng. Muốn chủ động điều khiển hoạt
động này, người hát phải tập đẩy hơi thở và ghìm hơi thở sao cho những hoạt
động đó trở thành thói quen chính xác như người chơi đàn tập bấm đúng những
phím đàn, hoặc điều khiển môi, hơi thở, tay bấm khi thổi kèn những người
không biết hát hoặc hát không tốt thì một trong những nguyên nhân là không
biết điều khiển hơi thở và không biết điều khiển thanh đới.
Ngoài chức năng chính cung cấp dưỡng khí cho cơ thể và tác động lên thanh đới
để tạo âm thanh, hơi thở trong khi hát còn giải quyết yêu cầu nữa là góp phần
làm rõ ý nghĩa của lời hát. Chỗ lấy hơi đồng thời cũng là chỗ ngắt câu, ấn định
sự trọn ý, trọn nghĩa của câu hát. Không thể lấy hơi tùy tiện được.
PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP THỞ TRONG CA HÁT
Ca hát đã có trong sinh hoạt của con người từ ngàn xưa, và qua quá trình tiến
hóa đã trở thành một loại hình nghệ thuật quan trọng. Để có thể đáp ứng những
nhu cầu đa dạng của nghệ thuật qua các thời đại, người ta đã thể nghiệm nhiều
phương pháp thở để phục vụ cho tiếng hát như: Thở ngực, thở ngực kết hợp với
thở bụng, thở ngực dưới và bụng (hoặc còn gọi là thở xương sườn cụt và hoành
cách mô) và thở bụng.
Mỗi phương pháp thở đều có những ưu điểm và nhược điểm, nhưng cho đến nay


phần lớn những người hát chuyên nghiệp, kể cả không chuyên khi muốn học hát
thực thụ của nhiều nước, trong đó có nước ta, đều tập thở (trong ca hát) theo
phương pháp THỞ NGỰC DƯỚI VÀ BỤNG, coi đó là phương pháp thở phù
hợp với yêu cầu của ca hát hơn cả.
Trong phương pháp thở ngực dưới và bụng, khi hít hơi vào, phần ngực dưới
căng ra, các xương sườn cụt giương lên, bụng cũng hơi phình ra ở phía dưới
một chút và cả hai bên sườn, hoành cách mô cũng tham gia tích cực vào quá
trình hô hấp này.
Hơi thở là một nhân tố cường độ (to, nhỏ) quan trọng trong ca hát. Nó giống
1
như chiếc ác-sê (vĩ) của cây đàn viôlông, nó khiến phát ra âm thanh và cho phép
điều chỉnh độ vang, tạo cho âm thanh sự phẳng lặng, sự sinh động và sức mạnh
từ sắc thái nhỏ (pianô) - hầu như không nghe thấy cho đến sắc thái cực to
(forte).
Tuy vậy quá trình phát âm phải là sự phối hợp chính xác của động tác lấy hơi,
đẩy hơi với các hoạt động khác của cơ quan phát âm như: phối hợp với thanh
quản, với bộ phận truyền âm (cuống họng, mồm). Đó là những hoạt động tương
hỗ, tác động qua lại với nhau, tất cả mọi hoạt động đều phải đúng, phải chính
xác, phù hợp với nhau mới tạo nên những âm thanh đẹp. Chẳng hạn, nếu ta hít
vào một hơi thở sâu và đẩy ra một luồng hơi đều đặn, liên tục thì đó là cơ sở tốt
cho âm thanh, nhưng nếu những hoạt động ngay sau đó, như mồm mở quá hẹp
hoặc quá rộng, hoặc chúm môi lại, hoặc đưa hàm dưới ra phía trước thì dù
hơi thở đúng cũng chẳng có được một âm thanh tốt, mà chỉ có thể là một âm
thanh hoặc là sâu; hoặc là bẹt, hoặc là tối, hăy gằn cổ
Phần 3: ĐỘNG TÁC LẤY HƠI
Khi lấy hơi (hít hơi) phải NHẸ NHÀNG NHƯ NUỐT KHÔNG KHÍ vào, không
phát ra tiếng động. Cố gắng lấy hơi nhanh, lấy hơi chậm sẽ ảnh hưởng tới tiết
tấu của câu hát và làm cho sự bật ra âm thanh (attacca) bị căng thẳng một cách
không cần thiết. Nên LẤY HƠI NHANH BẰNG MŨI, MỘT PHẦN NÀO ĐÓ
QUA MỒM. Khi lấy hơi, mồm hé mở tự nhiên, hơi thở hít vào sẽ qua cả mũi và

mồm.
Nếu chỉ lấy hoàn toàn bằng mũi hoặc hoàn toàn bằng mồm, luồng hơi khó vào
sâu trong phổi, và gặp không khí lạnh có thể gây tác hại cho thanh quản hoặc dễ
làm khô cổ.
Không nên lấy quá nhiều hơi vì như vậy sẽ cảm thấy mệt nhọc. Lấy thừa hơi
người hát buộc phải đẩy hơi thừa ra ngoài, và lại phải lấy hơi tiếp. Khi lấy hơi
phải tùy thuộc vào độ dài hay ngắn, cao thấp của câu hát. Khi hát không nên sử
dụng hết kiệt hơi thở mà nên để thừa lại một chút trước khi lấy hơi thở khác.
Không được nhô vai cao khi lấy hơi, vì như thế các cơ hô hấp sẽ bị suy yếu,
luồng không khí đi vào sẽ rất nông, chỉ chứa một ít ở phần trên của phổi, không
thể hát được câu hát dài và cao. Vả lại nhô vai lên khi hít hơi trông không đẹp
mắt.
Phần 4: ĐỘNG TÁC ĐẨY HƠI
Sau khi lấy hơi như đã giới thiệu như ở phần trên, ta ghìm hơi lại trong khoảng
1-2 giây. Sau đó ta phát ra một âm thanh, dần dần đưa hơi thở theo âm thanh ra
đều đặn, kéo dài trạng thái kìm nén (khống chế) cần thiết ở khoảng trung tâm
lồng ngực, không để cho phía hai bên sườn óp lại quá nhanh, nghĩa là có động
tác ghìm hơi (nén hơi).
2
Chú ý: đối với người có giọng hát khỏe , việc đẩy hơi phải đủ mức cần thiết,
không được đẩy hơi quá dễ dẫn đến âm thanh bị cao lên. Ngược lại, nếu cung
cấp hơi không đủ để tạo được một áp suất đều đặn vào thanh đới và khe thanh
đới đảm bảo duy trì tần số rung vang của nốt nhạc, âm thanh bị xuống thấp dần
trở nên không chính xác nữa.
Việc biết cách đẩy hơi khi hát cũng quan trọng như cách lấy hơi. Ghìm hơi, điều
chỉnh và cung cấp hơi thở để phát ra và duy trì âm thanh là cả một nghệ thuật.
Ghìm hơi không phải bằng sự căng cứng các cơ vùng bụng mà là bằng những
xương sườn. Mục đích khiến cho hơi thở chứa đựng ở phần dưới của phổi thoát
ra một cách có kiểm soát, thể tích của phổi không thu hẹp quá nhanh, cho nên
cũng giữ cho lồng ngực không co lại nhanh.

Những cơ bắp vùng thắt lưng nếu không bị căng cứng, sẽ có sức đàn hồi, khi cần
có thể tạo sức bật, nảy,"bắn hơi" lên vùng thanh đới, tạo ra những âm thanh
nảy. Ngược lại, nếu những cơ bắp ấy bị căng cứng, chúng sẽ run rẩy (như khi ta
duỗi thẳng cánh tay, nắm chặt bàn tay lại, chẳng bao lâu cánh tay ta sẽ bị run
rẩy) và tác động xấu đến giọng hát, khiến nó cũng run rẩy.
Phần 5
BƯỚC ĐẦU TẬP THỞ
A.TẬP THỞ KHÔNG KÈM THEO ÂM THANH
*Bài tập 1:
Lấy hơi như vào như đã giới thiệu ở phần trước
-Hít hơi vào chậm, trong vài giây
-Ghìm hơi thở trong 1-2 giây
-Đặt đầu lưỡi giữa 2 hàm răng đã xít lại, xì hơi dần ra ngoài qua khe hở của 2
hàm răng, tạo ra tiếng "xì" nhè nhẹ
-Kéo dài tiếng "xì" này càng dài càng tốt (nhẩm đếm 1,2,3,4 ; cố gắng mỗi
ngày tăng dần độ dài lên). Chú ý cho tiếng "xì" đó phát ra đều đặn không giật
cục, không quá nhỏ.
Trong khi "xì" hơi ra, phải giữ sự căng thẳng cần thiết của phần bụng và phần
giáp ngực, cụ thể là tuy hơi thở vẫn "xì" ra, nhưng 2 bên mạn sườn cố giữ không
cho óp vào nhanh, bụng không xẹp xuống đột ngột.
*Bài tập 2:
Lấy hơi và ghìm hơi như bài tập 1
-Chúm môi thổi hơi từ từ ra ngoài
-Để bàn tay gần miệng, cảm nhận luồng hơi phả vào bàn tay để kiểm tra xem
hơi thở có đều đặn liên tục không. Có người cầu kì hơn, thắp ngọn nến, thổi hơi
sao cho ngọn lửa đổ nghiêng và giữ nguyên một góc độ .
*Bài tập 3:
Lấy hơi và ghìm hơi như bài tập 1
Tập cảm giác tập trung hơi thở vào vị trí, bằng cách sau khi hít hơi thì ngậm
3

miệng, bịt mũi, nén hơi thở lên phía trên sống mũi, nén vài lần rồi buông tay và
thở ra ngoài.
Chú ý: Hàng ngày trước khi tập hát có thể tập riêng hơi thở khoảng 5-10 phút.
B.TẬP HƠI THỞ VỚI ÂM THANH:
Là bài tập phát triển hơi thở, nhưng cũng là bước chuẩn bị cho những bài tập
kết hợp hơi thở và đặt vị trí âm thanh.
Bước đầu chú ý hát những nguyên âm a, ê, i, ô, u cho tròn trịa, không bẹt tiếng,
nhả âm nhẹ nhàng nhưng vẫn bắt đầu các âm cho rành mạch và không gằn tiếng
*Bài tập 1:
*Bài tập 2:
4
*Bài tập 3:
*Bài tâp 4:
Phần 5: BƯỚC ĐẦU TẬP THỞ (tt)
Các bạn đã tham khảo 4 bài tập thở với âm thanh. Những bài tập trên phải
luyện với tốc độ quy định rõ ràng, thời gian đầu có thể luyện hoơ nhanh, về sau
tập với tốc độ chậm hơn để dần dần kéo dài hơi thở. Nếu có phần đệm (oóc-gan,
pianô, ghita ) để giữ tốc độ và tiết tấu đều đặn. Khi tập các bạn có thể dùng
đồng hồ theo dõi, lúc đầu luyện mỗi bài một hơi thở từ 6-8 giây, về sau luyện với
tốc độ chậm hơn: mỗi bài, một hơi thở tới 12 giấy. Luyện cao dần lên từng nửa
cung, xuống dần từng nửa cung, không cao quá hoặc thấp quá. Tốt nhất chỉ nên
trong phạm vi âm khu trung của giọng hát.
5
*Bài tập số 5:
*Bài tập số 6:
Ở bài tập số 5 có thể tập vào thời gian sau khi đã luyện thành thục các bài tập
trước. Các bạn tập ở tốc độ vừa phải bằng nguyên âm a. Lúc đầu hết một câu,
đến hình nốt trắng thì lấy hơi. Ở những lần sau vẫn giữ nguyên tốc độ, nhưng
lấy hơi một lần để hát cả 2 câu. Nếu được như vậy thì bạn đã "tiết kiệm" và
6

dành đủ hơi để hát những câu hát dài.
Khi hát thì âm thanh phát ra phải nhẹ nhàng, hát rõ ràng từng nốt, không bỏ nốt
nhạc nào, chú ý không vì quan tâm quá đến hơi thở mà bỏ qua chất lượng của
âm thanh.
Phần 6
TỔ CHỨC ÂM THANH
Chất lượng của âm thanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mà một trong những yếu
tố đó là hoạt động của mồm. Hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến âm thanh.
Hoạt động của mồm bao gồm những cử động của hàm dưới, môi, lưỡi, hàm ếch
mềm. Tất cả những cử động này khi hát tạo nên hình dáng của mồm, thường gọi
là KHẨU HÌNH.
a)Hình dáng bên ngoài của mồm khi hát:
Hình dáng của mồm khi hát thay đổi theo sự phát âm nhả chữ, nghĩa là phụ
thuộc vào những nguyên âm. Khi nói, các nguyên âm được phát ra nhanh, gọn,
không cần phải mở rộng mồm để kéo dài nguyên âm. Nhưng khi hát các nguyên
âm được kéo dài theo trường độ của nốt nhạc. Bởi vậy khi hát những âm có
trường độ kéo dài mồm phải mở rộng hơn, tích cực hơn, linh hoạt hơn, nếu
không thì âm thanh rít qua hai hàm răng và hàm dưới cứng đưa ra phía trước
khiến âm thanh không thoát ra ngoài một cách tự nhiên.
Thường thường các giọng nữ mở mồm rộng hơn các giọng nam, nhất là giọng
nữ cao khi hát những nốt cao.
b)Hoạt động của môi khi hát:
Sau khi âm thanh được phát ra từ khe thanh quản do áp lực hơi thở lên thanh
đới, âm thanh đi ra ngoài qua mồm. Ở đây, do các hoạt động của các bộ phận
của mồm, âm thanh đã được lồng vào những nguyên âm và phụ âm, tạo thành
lời của câu hát. Hoạt động của môi nằm trong hoạt động chung của mồm.
Tư thế của môi khi hát phụ thuộc vào những nguyên âm và phụ âm. Chẳng hạn ở
nguyên âm a và ô, môi tạo hình dáng mở tròn.; Ở nguyên âm u môi hơi chúm lại
và đưa ra phía trước; Ở nguyên âm ê môi hơi nhếch lên… Tư thế của môi còn
liên quan đến từng loại giọng hát. Những giọng hát cao và nhẹ, khi hát thường

áp dụng tư thế hơi nhếch môi trên và hở hàm răng trên. Trong khi đó nhưng
giọng trầm khi hát thường hay đưa môi ra phía trước và che kín răng.
Cho dù áp dụng môi theo kiểu nào cũng đều phải tập cho môi mềm mại, linh
hoạt. Không nên chúm môi quá khi hát để tránh cho âm thanh không bị sâu và
tối. Ngược lại không nên trễ môi dưới quá dễ làm cho âm thanh bị toè, bẹt. Hoạt
động của môi phải linh hoạt để bật những phụ âm cho rõ ràng, tạo điều kiện hát
được rõ lời, nhất là khi hát những bài hát có tốc độ nhanh.
*Bài tập thực hành:
Để cho môi hoạt động được mềm mại, linh hoạt, ta có thể tập những động tác cử
7
động môi không phát âm, hoặc tập nói nhanh và nhắc đi nhắc lại nhiều lần các
phụ âm và nguyên âm. Ví dụ:
-Mi mi mi, ma ma ma, mô mô mô, mu mu mu
-Pi pi pi, pa pa pa, pô pô pô, pu pu pu
-Ka pê tê, pê tê ka
Ngoài ra cũng có thể tập những câu nói thwờng tập cho trẻ em phát âm rõ ràng:
-Tháng năm nắng lắm, ốc bám cọc cầu ao
-Nồi đồng nấu ốc, nồi đất nấu ếch.
Đó cũng là những câu tập các hoạt động của mồm, trong đó có hoạt động của
môi mà chúng ta có thể áp dụng.
LƯU Ý:
-Nếu đôi môi gần nhau quá, giọng hát sẽ bị pha tiếng cổ (cổ họng)
-Nếu chúm môi nhiều, âm thanh sẽ bị tối, sâu và nặng nề
c)Hoạt động của lưỡi khi hát:
Lưỡi là bộ phận hoạt động liên tục trong khi hát. Hoạt động của lưỡi phát ra
những âm thanh tạo thành lời hát.
Có người khi hát thì đặt lưỡi theo kiểu chiếc thìa úp sấp, đầu lưỡi nằm dưới gần
chân răng hàm dưới. Có người khi hát lưỡi lại hơi cong lên ở phần giữa hoặc
phần đầu lưỡi. Những giọng cao và nhẹ khi hát thường đặt đầu lưỡi ở chân răng
hàm dưới. Những người có giọng trầm thường đặt thường uốn lưỡi cong lên…

Dù giọng cao hay giọng trầm, khi hát nên đặt lưỡi ở tư thế tự nhiên, mềm mại,
không nên đưa ra phía trước cũng không tụt về phía sau. Lưỡi cứng là nguyên
nhân gây ra giọng cổ, hát không rõ lời. Cuống lưỡi cong lên nhiều quá sẽ gây
khó khăn khi hát những âm thanh cao. Hoạt động của lưỡi một phần phụ thuộc
vào cử động của hàm dưới. Nếu hàm dưới cứng hoặc chìa ra phía trước cũng sẽ
làm cho lưỡi cứng và nghẹt âm thanh. Do vậy khi tập cử động lưỡi cần phải chú
ý buông lỏng hàm dưới cho mềm mại. Lưỡi hoạt động không linh hoạt thì phụ
âm sẽ phát ra không rõ nét, lời sẽ không đẹp , không rõ ràng.
Ta có thể tập cử động lưỡi bằng những bài tập nguyên âm ghép với các phụ âm
Đ, L, N, R, T
d)Hoạt động của hàm dưới khi hát:
Một số người mới tập hát hoặc những người có giọng nam cao hay mắc phải tật
cứng hàm, mồm không được mở rộng thoải mái. Hàm cứng sẽ làm cho lưỡi bị
cong lên, khi hát những nốt cao thì âm thanh sẽ bị nghẹt và bị chà xát nơi cổ.
ĐÓ LÀ NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU GÂY RA GIỌNG CỔ, đồng thời là cũng là
một nguyên nhân gây HẠN CHẾ ÂM KHU CAO CỦA GIỌNG.
Khi hát phải luôn chú ý buông lỏng hàm dưới, hạ hàm xuống một cách mềm mại,
không đưa hàm ra phía trước.
e)Hoạt động của hàm ếch mềm khi hát:
Vòm trên của mồm là hàm ếch. Phần ngoài cố định, không cử động được gọi là
8
hàm ếch cứng. Phần trong mềm, có thể cử động được gọi là hàm ếch mềm. Hàm
ếch mềm nối với lưỡi gà, khi cử động có thể đóng, mở đường ra mồm và lên hốc
mũi. Khi muốn nâng lên ta mở rộng mồm phía trong giáp với cuống họng (ví dụ
như khi ngáp) Hàm ếch mềm khi hạ xuống sẽ đóng hoàn toàn đường từ cuống
họng ra mồm.
Hàm ếch mềm khi hát phải mềm mại, không nên vì mở rộng hàm ếch mà làm cho
nó quá căng thẳng, sẽ ảnh hưởng tới cuống họng, âm thanh không thoát ra
ngoài một cách thoải mái.
Nếu hàm ếch mềm không nâng lên được, phần trong giáp với cuống họng không

mở ra được, âm thanh sẽ ĐI RA NGOÀI BẰNG ĐƯỜNG MŨI là chủ yếu, âm
sắc sẽ xỉn và nghẹt, gọi là GIỌNG MŨI.
g)Vị trí của âm thanh:
Đây là một vấn đề cực kì quan trọng với người học hát. Tiếng có đẹp, có tròn, có
vang, có khả năng bay xa…một phần phụ thuộc vào vị trí của âm thanh.
Khi một người hát tốt, ta có cảm giác như âm thanh phát ra không phải âm vang
từ mồm, mà như ở chỗ nào đó cao hơn, ở đầu, ở hốc mũi, ở trán… Hiện tượng
này là có thật. Âm thanh của giọng hát không chỉ âm vang ở mồm, mũi mà
truyền đi ở những hốc vang khác nữa. Khi ta hát một âm thanh vang tốt, ta cảm
thấy hơi rung ở xương mặt.
Ta đã biết ở xương mặt có những hốc (xoang) và những xoang này ăn thông với
nhau với hốc mũi. Khi ta hát, nếu chủ động, có ý thức đẩy âm thanh lên phía
trên, hướng lên cao (đây là yếu tố trừu tượng, nặng về ý chí và cảm giác) thì ta
sẽ tác động cho những xoang bao bọc bởi những niêm mạc với hệ thống dây
thần kinh chi chít ở phía trên kích thích rung động, gây nên những cảm giác đặc
biệt, tức là cộng minh đầu. Có nghĩa là ta đã chủ động, có ý thức tạo ra sự cộng
hưởng, cùng rung vang của các xoang trên mặt. Đó gọi là vị trí cao của âm
thanh.
Vị trí cao của âm thanh là những cảm giác, nhưng chính những cảm giác ấy
giúp người hát đánh giá hoạt động của cơ quan phát âm đúng hay sai. Ở mỗi
loại giọng hát, những cảm giác cộng minh này có thể có mức độ nhiều, ít khác
nhau.
*Bài tập thực hành:
Mục đích của bài tập này là thực hành những lí thuyết đã được tham khảo về
hình dáng mồm, hoạt động của môi, lưỡi, cho nên các bạn chỉ cần dùng nguyên
âm (a, i ) hoặc kết hợp với những phụ âm (la, ma, mi…)
Chú ý: Khi lấy hơi vào, thử tưởng tượng như đang buồn ngủ và muốn ngáp, để
mở rộng mồm phía trong, nhấc hàm ếch mềm lên, mở rộng lối cho âm thanh
cùng một lúc đi vào mồm và hốc mũi.
Buông lỏng hàm dưới xuống một cách mềm mại. Lưỡi đặt ở tư thế tự nhiên, mềm

mại. Khi hát nguyên âm, đầu lưỡi chấm vào chân răng hàm dưới. Khi tập kết
hợp với phụ âm L, lưỡi cử động linh hoạt.
Khi tập với phụ âm M, môi phải linh hoạt để bật ra âm thanh rõ ràng linh hoạt.
9
Hình dáng của mồm thoải mái, thay đổi linh hoạt tuỳ thuộc vào cử động của
môi, lưỡi, hàm dưới, hàm ếch mềm.
Các bạn tham khảo bài tập hát dần từng nửa cung đến độ cao thích hợp:
Cố gắng thử hình dung đẩy âm thanh lên vị trí cao, tưởng như âm thanh không
phải phát ra từ mồm, mũi, mà từ trên trán phát ra.
Muốn biết mồm bên trong và hàm ếch mềm có nhấc lên được hay không, có thể
căn cứ vào yết hầu (nam giới thấy rõ hơn). Hầu tụt xuống là hàm ếch đã mở
(chú ý: đừng để hầu tụt xuống quá, sẽ gây ra sự căng cứng, kém linh hoạt khi
phát âm.
phần 7
MỘT SỐ KĨ THUẬT HÁT
a)Hát liền tiếng (legato, cantilena):
Hát liền tiếng là kiểu hát cơ bản nhất của kĩ thuật thanh nhạc trên thế giới. Có
người đã nói rằng ai không hát liền tiếng thì coi như không biết hát. Trong các
tác phẩm ca hát ở nước ta, từ những bài dân ca đến những bài hát trong sinh
hoạt, trên sân khấu ca nhạc, những ca khúc nghệ thuật thường có giai điệu
phong phú, êm ái, uyển chuyển. Cho nên để thể hiện đặc tính nghệ thuật đó thì
cách hát liền tiếng phải được đặc biệt quan tâm trong kĩ thuật thanh nhạc.
Hát liền tiếng là cách hát chuyển tiếp liên tục, đều đặn, tự nhiên, thoải mái từ
âm nọ sang âm kia. Giọng hát không ngừng ngắt và cũng không vuốt qua một
âm trung gian nào. Hát liền tiếng là cách hát để đáp ứng tính chất mềm mại của
giai điệu, với âm thanh có chất lượng tốt.
Hát liền tiếng là kết quả của một hoạt động phức hợp của toàn bộ bộ máy phát
thanh, hội tụ được những điều kiện như:
-Luyện tập cho cơ quan phát thanh hoạt động đúng và phù hợp, nghĩa là hơi thở
phải có điểm tựa kéo dài; hơi thở sâu và sử dụng tiết kiệm, gắn bó chặt chẽ tất

cả các nốt nhạc (âm thanh) lại với nhau, từng âm thanh phải vang khoẻ, tròn
trặn, thống nhất về cường độ và âm sắc.
-Hát liền tiếng trong luyện thanh dễ hơn trong những bài hát,vì giai điệu còn
ghép với lời, gồm những nguyên âm và phụ âm. Muốn hát liền giọng trong các
bài hát, ngoài việc hát liền các nguyên âm, còn phải phát âm những phụ âm
nhanh, gọn, làm cho bộ phận truyền âm thay đổi những tư thế khác nhau khi
phát âm những phụ âm.
Nói trong sinh hoạt và việc phát âm những vần, tiếng trong ca hát rất khác
10
nhau. Khi nói, mọi người không dừng lại ở những nguyên âm, mà phát âm
những nguyên âm nhanh và ngắn, còn trong ca hát thì nguyên âm được kéo dài
ra. Phụ âm trong lời nói và trong ca hát thì giống nhau và bao giờ cũng phát âm
nhanh.
Biết xử lí sao cho các nguyên âm được hát lên và tước bỏ những trở ngại do
phát âm những phụ âm gây ra là điều rất quan trọng để tạo ra tiếng hát đẹp,
mượt mà, nghĩa là thật legato, cantilena.
Người hát phải cố sao trong lúc hát các nguyên âm được kéo dài và nối liền
nguyên âm nọ với nguyên âm kia, càng liền càng tốt, mặc dù giữa các nguyên
âm còn có những phụ âm. CCần đặc biệt chú ý những phụ âm khép tiếng ở cuối
chữ, ví dụ: C, CH, NH, NG, P, T – không nên khép lại quá sớm mà cố kéo dài đủ
trường độ nốt nhạc trên những nguyên âm, rồi khép phụ âm và chuyển nó thành
một nguyên âm vang ở mũi. Như vậy âm thanh cũng như lời hát sẽ gắn bó được
với nhau.
Chú ý khi giải quyết yêu cầu hát liền tiếng vẫn phải chú ý hát rõ lời. Trong các
bài dân ca hoặc các bài hát mà tác giả của nó chú ý trau chuốt lời ca, thì tính
giai điệu còn hàm chứa ngay cả trong lời hát với những ca từ đẹp, giàu hình
tượng, giàu chất thơ.
*Bài tập:
a) Gồm toàn một nốt nhưng lại nối với nhau bằng những dấu nối, tức là những
nguyên âm a, ê, i , ô, u hát liền một hơi thở, khi thay nguyên âm chỉ có khẩu hình

(hình mồm) thay đổi, âm thanh không đứt đoạn, tạo ra một lối hát liền tiếng,
móc nói các nguyên âm với nhau.
b)Được bổ sung thêm phụ âm m để tập bật âm thanh (attacca) bật môi nhưng
không làm ngắt tiếng. Âm thanh liền một hơi, giữ tiết tấu, tốc độ của các nốt
nhạc hoàn toàn giống nhau.
BÀI 16
NHỊP LẤY ĐÀ
11
Một ô nhịp thông thường thì số lượng phách được qui định bởi số chỉ nhịp
(không được ít hơn hoặc nhiều hơn)
Ví dụ:
Nhịp 2/4: mỗi nhịp (ô nhịp) có 2 phách ứng với 2 hình nốt đen;
Nhịp 3/4: mỗi nhịp (ô nhịp) có 3 phách ứng với 3 hình nốt đen;
Nhịp 6/8: mỗi nhịp (ô nhịp) có 6 phách ứng với 6 hình nốt móc đơn;

Tuy nhiên có khi ở ô nhịp đầu, do chủ ý của tác giả, bản nhạc được bắt đầu từ
một phách yếu, ô nhịp đó không đủ số phách theo qui định. Ô nhịp đó gọi là
nhịp lấy đà.
b)Hát nhanh:
Hát nhanh là cách hát những giai điệu một cách linh hoạt, rõ ràng, gọn gàng.
Đó cũng là một yêu cầu quan trọng của nghệ thuật ca hát.
Giọng hát nào cũng có thể hát nhanh nếu chú trọng luyện tập phát triển kĩ thuật
hát nhanh. Tất nhiên loại giọng cao, nhẹ nhàng thuận lợi cho việc luyện tập hát
nhanh hơn là giọng trầm. Kĩ thuật hát nhanh đặc biệt cần thiết cho giọng nữ cao
màu sắc (soprano coloratura) để thực hiện những yêu cầu kĩ thuật kĩ xảo, linh
hoạt, thể hiện sự vui tươi, trong sáng, ríu rít như tiếng chim hót.
Nói chung phong cách thanh nhạc thời nay ít đòi hỏi sử dụng kĩ thuật hát nhanh
như phong cách thanh nhạc thời xưa, nhất là trong các vở ca kịch…Tuy nhiên
dù sao thì kĩ thuật hát nhanh ngày nay vẫn cần cho cho một ca sĩ. Tập hát nhanh
cũng như tập thể dục cho giọng hát vậy, giúp cho giọng hát phát triển tốt, nhẹ

nhàng, linh hoạt, hơi thở cũng dần tiết kiệm, hát được câu nhạc dài hơn. Hát
nhanh giúp cho ca sĩ biết điều chỉnh giọng hát của mình tốt hơn, luyện những
nốt cao thuận lợi hơn, vì khi hát nhanh, âm thanh sẽ lướt nhanh cùng hơi thở và
có điều kiện lên cao dễ hơn, có đà hơn.
Khi tập hát nhanh, phải chú ý lấy hơi sâu và nhanh, vì lấy hơi chậm sẽ ảnh
hưởng đến tốc độ và làm cho âm thanh bị nặng nề. Phải đẩy hơi nhẹ nhàng, liên
tục. Luôn chú ý đến sự chuẩn xác về cao độ, không bỏ nốt, âm thanh phải rõ
ràng, hàm dưới phải buông lỏng, vị trí của âm thanh phải cao và không hút vào
sâu.
12
Ở 2 bài tập này đều có dấu legato từ đầu đến cuối câu nhạc, cho nên tuy
nhanh và nhiều âm khác nhau, nhưng vẫn phải đảm bảo hát liền tiếng, không
bỏ nốt nào. Muốn hát được liền một hơi câu nhạc, cần lấy hơi vào sâu, nén
hơi thở và phát ra âm thanh, sử dụng linh hoạt khẩu hình bám sát những
nguyên âm. Có thể tập bằng tốc độ chậm trong phạm vi hơi thở cho phép, sau
đó nhanh dần.
13

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×