BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
*********
NGUYỄN VĂN LONG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO PHẠM
NHÂN Ở TRẠI GIAM PHÚ SƠN 4 - TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
*********
NGUYỄN VĂN LONG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO PHẠM
NHÂN Ở TRẠI GIAM PHÚ SƠN 4 - TỈNH THÁI NGUYÊN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60 34 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN QUỐC CHỈNH
HÀ NỘI, 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ
nguồn gốc.
Tác giả
Nguyễn Văn Long
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn "Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho
phạm nhân ở Trại giam Phú Sơn 4 - tỉnh Thái Nguyên", ngoài sự cố gắng
của bản thân, tôi còn nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các tổ
chức tập thể và cá nhân.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo TS Nguyễn Quốc
Chỉnh, người thầy đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong Viện Sau đại học, Khoa
Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn các phòng ban, ngành của trại giam và các
cá nhân cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy, phạm nhân tại trại giam mà tôi đã
tiếp xúc, điều tra, phỏng vấn và thu thập số liệu.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi
trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Long
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục sơ đồ, đồ thị vii
Danh mục các từ viết tắt viii
1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1. Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO NGHỀ 4
2.1. Cơ sở lý luận về đào tạo nghề 4
2.1.1. Những vấn đề cơ bản về đào tạo nghề 4
2.1.2. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề 12
2.1.3. Đặc thù của trại giam trong đào tạo nghề cho phạm nhân 27
2.2. Cơ sở thực tiễn 28
2.2.1. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho phạm nhân 28
2.2.2. Kinh nghiệm của các địa phương về đào tạo nghề cho phạm nhân 30
2.2.3. Bài học kinh nghiệm nâng cao chất lượng đào tạo tại Trại giam
Phú Sơn 4 - tỉnh Thái Nguyên 34
2.2.4. Nghiên cứu có liên quan 35
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 38
3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của trại giam Phú Sơn 4 - tỉnh
Thái Nguyên 38
3.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Trại giam Phú Sơn 4 42
3.1.3. Bộ máy tổ chức và chức năng của các đội, phân trại 44
3.1.4. Tình hình lao động, cơ sở vật chất và kết quả hoạt động của Trại
giam Phú Sơn 4 - tỉnh Thái Nguyên 47
3.2. Phương pháp nghiên cứu 55
3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu, phương pháp xử lý số liệu 55
3.2.2. Phương pháp tính toán và tổng hợp số liệu 56
3.2.3. Phương pháp phân tích số liệu 57
3.2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 59
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60
4.1. Thực trạng nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho phạm nhân tại
Trại giam Phú Sơn 4 - tỉnh Thái Nguyên 60
4.1.1. Thực trạng công tác đào tạo nghề cho phạm nhân tại Trại giam
Phú Sơn 4 - tỉnh Thái Nguyên 60
4.1.2. Thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại Trại giam Phú Sơn 4 -
tỉnh Thái Nguyên 65
4.2. Đặc điểm của phạm nhân 68
4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho phạm
nhân tại Trại giam Phú Sơn 4 - tỉnh Thái Nguyên 70
4.3.1. Yếu tố bên trong 70
4.3.2. Yếu tố bên ngoài 80
4.4. Đánh giá chung về chất lượng đào tạo nghề tại Trại giam Phú
Sơn 4 -tỉnh Thái Nguyên 82
4.4.1. Kết quả đạt được 82
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
4.4.2. Hạn chế tồn tại 83
4.4.3. Nguyên nhân của hạn chế 84
4.5. Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho
phạm nhân tại Trại giam Phú Sơn 4 – tỉnh Thái Nguyên 85
4.5.1. Định hướng nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho phạm nhân 85
4.5.2. Mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho phạm nhân 86
4.5.3. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho phạm nhân tại
Trại giam Phú Sơn 4 - tỉnh Thái Nguyên 86
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
5.1. Kết luận 95
5.2. Kiến nghị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 101
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1. Tình hình cán bộ chiến sỹ tại Trại giam Phú Sơn 4 từ 2012 – 2014 48
3.2. Trình độ cán bộ chiến sĩ của Trại giam Phú Sơn 4 từ 2012 – 2014 50
3.3. Tình hình cơ sở vật chất của Trại giam năm 2014 52
3.4. Kết quả hoạt động sản xuất của Trại giam Phú Sơn 4 từ 2012 – 2014 54
3.5. Thu thập thông tin sẵn có liên quan đến đề tài 55
3.6. Loại và số lượng mẫu điều tra 56
4.1. Tình hình phạm nhân chấp hành án tại trại Phú Sơn 4 qua các năm 61
4.2. Hệ đào tạo nghề cho phạm nhân tại Trại giam Phú Sơn 4 63
4.3. Các ngành nghề đào tạo cho phạm nhân tại Trại Phú Sơn 4 63
4.4. Số phạm nhân được đào tạo nghề và có chứng chỉ 64
4.5. Đánh giá chất lượng đào tạo nghề của phạm nhân năm 2014 66
4.6. Đánh giá chất lượng đào tạo nghề cho phạm nhân của cán bộ
quản lý năm 2014 68
4.7. Ngành nghề của phạm nhân trước khi phạm tội 68
4.8. Trình độ văn hóa của phạm nhân điều tra năm 2014 69
4.9. Trình độ chuyên môn của phạm nhân điều tra năm 2014 69
4.10. Đánh giá chương trình đào tạo phạm nhân năm 2014 71
4.11. Đánh giá chất lượng cán bộ giảng dạy 73
4.12. Đánh giá về chất lượng cán bộ giảng dạy năm 2014 74
4.13. Đánh giá của phạm nhân về phương pháp giảng dạy tại Trại năm 2014 76
4.14. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho giảng dạy năm 2014 78
4.15. Đánh giá sự đãi ngộ của cán bộ giảng dạy Trại giam Phú Sơn 4
năm 2014 79
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
STT Tên sơ đồ, đồ thị Trang
2.1. Sơ đồ quy trình đào tạo và liên thông 12
3.1 Bộ máy quản lý của Trại giam Phú Sơn 4 45
4.1. Cơ cấu ngành nghề của phạm nhân trước khi phạm tội 62
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CĐN Cao đẳng nghề
CĐCN Cao đẳng chuyên nghiệp
CMKT Chuyên môn kỹ thuật
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CNKT Công nhân kỹ thuật
CNV, HĐ Công nhân viên, hợp đồng
HSSV Học sinh sinh viên
TCN Trung cấp nghề
TCCN Trung cấp chuyên nghiệp
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đào tạo nghề cho phạm nhân và bảo đảm việc làm cho người mãn hạn
tù là vấn đề mang tính nhân đạo sâu sắc, nhưng cũng là một nhiệm vụ hết sức
khó khăn, phức tạp. Việc đào tạo nghề cho phạm nhân vừa phải đảm bảo
những yêu cầu của công tác đào tạo nghề nói chung trong xã hội, vừa phải
đảm bảo các yêu cầu nghiệp vụ trong công tác quản lý, giam giữ, giáo dục
người đang chấp hành án phạt tù.
Phạm nhân là người đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn hoặc tù
chung thân ở trại giam. Có thể nói, trại giam là nơi tiếp nhận (đầu vào) người
có tội, rồi thông qua quá trình quản lý giam giữ, giáo dục để hướng tới việc
trả về cho xã hội (đầu ra) những người lương thiện, có ích cho cộng đồng.
Cho nên, trại giam vừa là nơi giam giữ những người có tội, vừa là “trường
học” - nơi giáo dục lại những người lầm lỗi, chuẩn bị những điều kiện tốt nhất
để họ tái hòa nhập cộng đồng khi mãn hạn tù. Số người phạm tội bị kết án tù
thuộc loại không có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định luôn chiếm
tỉ lệ cao trong tổng số người phạm tội. Đào tạo nghề cho người đang chấp
hành hình phạt tù có ý nghĩa quan trọng, vừa làm cho họ yên tâm cải tạo ở trại
giam, vừa tạo ra cho họ khả năng sống lương thiện khi trở về cộng đồng.
Hiện nay, Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp
(Tổng cục VIII) – Bộ Công an đang quản lý 49 trại giam, 6 cơ sở giáo dưỡng,
4 trường giáo dưỡng. Các trại giam, cơ sở giáo dưỡng, trường giáo dưỡng
thường đóng quân ở vùng sâu, vùng xa và các tỉnh miền núi, điều kiện giáo
dục học tập, sinh hoạt và đi lại còn nhiều khó khăn. Trong tổng số 138.559
phạm nhân, trại viên đang giam giữ ở các trại giam, cơ sở giáo dưỡng, trường
giáo dưỡng có 133.185 phạm nhân, trại viên trong độ tuổi lao động, có thời
gian thụ án dài. Đa số phạm nhân vi phạm pháp luật là những người không có
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
việc làm ổn định, khi vào trại họ chủ yếu làm nông nghiệp, chăn nuôi, sản
phẩm làm ra mang tính tự cung, tự cấp có giá trị kinh tế thấp.
Trên thực tế, nhiều trại giam đã có những thành công nhất định trong
việc đào tạo nghề cho phạm nhân với nhiều loại nghề như: cơ khí, nguội, rèn,
mộc cao cấp, mộc dân dụng, sản xuất gạch bông ốp lát, khâu bóng, làm thảm
len… Các phạm nhân cũng được phân loại theo vùng thành thị và nông thôn
để được học nghề phù hợp với từng hoàn cảnh của phạm nhân khi ra trại.
Tuy nhiên, việc tổ chức dạy nghề và tạo việc làm cho phạm nhân lao
động cải tạo đang gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất, trang thiết bị học
nghề, giáo viên dạy nghề tại các trại giam còn nhiều bất cập so với yêu cầu
nhiệm vụ đặt ra. Do vậy, việc tổ chức các lớp dạy nghề cho phạm nhân chưa
được tiến hành thường xuyên, chất lượng đào tạo nghề còn thấp, ngành nghề
đào tạo còn nghèo nàn chưa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất
nước. Ngành nghề đào tạo đa phần là ngành nghề giản đơn, kỹ thuật đơn giản,
chưa theo chương trình đào tạo chính quy nên khả năng đáp ứng được nhu
cầu thị trường lao động của phạm nhân sau khi hết án trở về với xã hội rất hạn
chế, cơ hội tìm được việc làm bị thu hẹp, không có việc làm nguy cơ tái phạm
là điều không thể tránh khỏi.
Xuất phát từ thực trạng nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Nâng cao
chất lượng đào tạo nghề cho phạm nhân ở Trại giam Phú Sơn 4 - tỉnh Thái
Nguyên" nhằm phân tích để tìm ra nguyên nhân của những hạn chế và đề
xuất một số giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả đào tạo
nghề cho phạm nhân.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng chất
lượng đào tạo nghề cho phạm nhân ở Trại giam Phú Sơn 4 - tỉnh Thái
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
Nguyên, luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho
phạm nhân tại trại giam trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo nghề.
- Đánh giá thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
đào tạo nghề cho phạm nhân ở Trại giam Phú Sơn 4 trong thời gian qua.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho
phạm nhân ở Trại giam Phú Sơn 4 trong thời gian tới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Chất lượng công tác đào tạo nghề cho phạm nhân.
- Các đối tượng tham gia học nghề: phạm nhân, trại viên, học sinh
trong độ tuổi lao động, có sức khỏe phù hợp với nghề cần học.
- Các cơ sở sử dụng lao động: các doanh nghiệp, công ty và các tổ chức
khác.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
- Các vấn đề lí luận và thực tiễn về chất lượng đào tạo nghề.
- Thực trạng công tác đào tạo nghề tại Trại giam Phú Sơn 4.
- Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề.
1.3.2.2 Phạm vi không gian
Đề tài được nghiên cứu trong Trại giam Phú Sơn 4 - tỉnh Thái Nguyên.
1.3.2.3 Phạm vi thời gian
- Số liệu được thu thập trong 3 năm từ 2012 – 2014.
- Số liệu điều tra năm 2014.
- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 4/2014 đến tháng 4/2015.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ
2.1. Cơ sở lý luận về đào tạo nghề
2.1.1. Những vấn đề cơ bản về đào tạo nghề
2.1.1.1. Khái niệm đào tạo nghề
Đào tạo nghề là thuật ngữ trong nhóm các vấn đề nâng cao chất lượng
nguồn lao động. Nói tới nâng cao chất lượng nguồn lao động có thuật ngữ đào
tạo nghề. Thuật ngữ này được hiểu theo các phạm vi khác nhau.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư, “đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ
năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể,
để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một
cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả
năng đảm nhận được một công việc nhất định" [22].
Có nhiều dạng đào tạo, tùy theo tiêu chí xem xét có thể phân thành: đào
tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu; đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề; đào
tạo ban đầu và đào tạo lại; đào tạo tập trung và đào tạo tại chức, đào tạo từ xa;
đào tạo qua trường lớp và tự đào tạo Như vậy, đào tạo nghề là một trong các
dạng đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động.
Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, không
thể tách rời nhau. Đó là dạy nghề và học nghề. Vì vậy, trong nhiều trường hợp
dạy nghề và đào tạo nghề được đồng nhất với nhau trong diễn đạt của các văn
bản.
Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và
thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm
hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học. Học nghề là quá trình tiếp
thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được
một trình độ nghề nghiệp nhất định [12].
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
Để hiểu rõ hơn khái niệm đào tạo nghề, cũng cần hiểu thêm về khái
niệm nghề. Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều
cách khác nhau.
Có thể hệ thống và phân tích một số khái niệm về nghề ở một số nước
trên thế giới như sau:
Các nhà khoa học ở Nga đưa ra khái niệm: “Nghề là một loại hoạt động
lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh
tồn". Ở Pháp, khái niệm nghề được hiểu, đó “là một loại lao động có thói
quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống”.
Ở Anh, khái niệm nghề được quan niệm cao hơn khi cho rằng, nghề “là công
việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học học nghệ thuật".
Trong khi đó, người Đức lại quan niệm, “nghề là hoạt động cần thiết cho xã
hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ
nào đó".
Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống
nhất, tập hợp lại, nghề được quan niệm “là một tập hợp lao động do sự phân
công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang
tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất
và nhu cầu xã hội”. Nhưng theo Nguyễn Hùng “những chuyên môn có những
đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và
được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần
giống nhau.
Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người
dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào
những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục
vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người”
[9].
Mặc dù các khái niệm nghề trên được hiểu dưới nhiều góc độ khác
nhau song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
- Nghề là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp
đi lặp lại.
- Nghề được hình thành do sự phân công lao động xã hội, phù hợp với
yêu cầu xã hội và là phương tiện để sinh sống.
- Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong
xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định. Vì vậy, đào tạo nghề,
dạy nghề là yêu cầu tất yếu bắt nguồn từ chính bản chất, đặc trưng của nó.
Với cách tiếp cận về nghề và đào tạo nghề nêu trên, ta có thể hiểu:
“Đào tạo nghề là quá trình có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề nào đó, từ đó tạo ra năng lực để thực hiện
thành công nghề đã được đào tạo”.
Thông qua quá trình đào tạo nghề, học viên sẽ được hệ thống những
kiến thức (hiểu biết) về lý thuyết cần thiết của nghề, được thực hành trong
thực tế để hình thành kỹ năng, kỹ xảo của nghề, đồng thời họ còn được giáo
dục và phát triển thái độ, ý thức đối với nghề trong tương lai của bản thân họ.
Sau khóa học đào tạo nghề, người lao động sẽ nắm vững một nghề, một
chuyên môn, quá trình đào tạo nghề sẽ được thực hiện với cả những người đã
có nghề, có chuyên môn hoặc học để làm nghề, chuyên môn khác.
2.1.1.2. Đặc điểm, tính chất công tác đào tạo nghề
* Đặc điểm chung của đào tạo nghề
+ Đào tạo nghề có mối liên hệ trực tiếp với thực tiễn sản xuất, trong khi
đó dạy lý thuyết nghề có mối liên hệ gián tiếp với sản xuất.
+ Trong đào tạo nghề đơn vị thời gian là ngày, học ở nơi đào tạo nghề
như: Xưởng thực hành, hoặc phân xưởng sản xuất ngoài xí nghiệp hoặc ở
phòng học thực nghiệm. Nhưng trong dạy lý thuyết thời gian là tiết học ở lớp
hoặc ở phòng học.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
+ Trong đào tạo nghề, số lượng học sinh học nghề rất khác nhau (thường
có từ 15 đến 25 học sinh cho mỗi ca). Trong dạy lý thuyết nghề thì số lượng
học sinh lớn hơn (thường từ 30 đến 50 học sinh) và không thay đổi trong toàn
bộ thời gian.
+ Trong đào tạo nghề trên cơ sở của lao động thực tế trong sản xuất mà
tự tổ chức nơi làm việc, vị trí đứng máy, các quy định về an toàn, về bảo hộ
lao động phức tạp hơn trong dạy lý thuyết nghề.
+ Lao động sư phạm của giáo viên và lao động học tập của học sinh
trong đào tạo nghề không đơn thuần là lao động trí óc mà còn có tính chất thể
chất rõ rệt, đòi hỏi nỗ lực thể chất lớn hơn khi dạy học lý thuyết.
* Tính chất xã hội của đào tạo nghề
Quá trình đào tạo nghề có liên hệ chặt chẽ với quá trình lao động xã hội.
Đây là một vấn đề cơ bản trong đào tạo nghề nghiệp của người giáo viên dạy
thực hành phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, bởi vì chính thông qua lao
động thực tiễn đã rút ra để xây dựng mục đích và nhiệm vụ của dạy học thực
hành nghề.
+ Trong đào tạo nghề, tính chất lĩnh hội nhận thức của học sinh đã từng
bước chuyển biến từ hoạt động có tính chất học tập thuần tuý sang tính chất
học tập lao động rồi đến tính chất lao động - học tập và cuối cùng trong giai
đoạn thực tập ở vị trí người công nhân hoạt động của học sinh mang tính chất
lao động. Trong đào tạo nghề, nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo
dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” thể hiện rất
rõ nét, đồng thời cũng có điều kiện khách quan thuận lợi để thực hiện một
cách triệt để.
+ Trong đào tạo nghề, lao động học tập có tính chất phân hóa cao do sự
đa dạng phong phú của các yêu cầu đặc trưng của hàng trăm nghề đào tạo
khác nhau, của các loại hình và con đường đào tạo khác nhau.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
2.1.1.3. Phân loại đào tạo nghề
a. Căn cứ vào thực tế đào tạo đối với người học
Đào tạo mới là quá trình đào tạo nghề cho những người chưa có nghề.
Đào tạo lại là đào tạo cho những người đã có nghề song vì một lý do nào
đó nghề của họ không còn phù hợp nữa. Đào tạo lại thường được hiểu là quá
trình nhằm tạo cho người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên
môn mới để đổi nghề.
Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề nhằm bồi dưỡng nâng cao kiến
thức và kinh nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những
công việc phức tạp hơn.
b. Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề
Đào tạo ngắn hạn có thể được thực hiện 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng hoặc 1
năm tại các trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề độc lập hoặc gắn với cơ sở kinh
doanh, dịch vụ và cơ sở giáo dục khác.
Đào tạo dài hạn được thực hiện từ 1 đến 3 năm tại các trường dạy nghề,
các trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học có đủ
điều kiện để tổ chức dạy nghề dài hạn.
c. Căn cứ vào trình độ đào tạo nghề
Trình độ bán lành nghề: Người học được trang bị một số kiến thức, kỹ
năng nghề nhất định, nhằm cung cấp lao động cho nhu cầu phát triển ngành
nghề giản đơn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, chuyển đổi cơ cấu lao động tại chỗ,
phát triển kinh tế trang trại, kinh tế gia đình và phát triển cơ hội có việc làm
cho người lao động.
Trình độ lành nghề: Người học được trang bị đầy đủ kiến thức lý thuyết
tổng hợp và kỹ năng thực hành chuyên sâu, giúp họ có khả năng đảm nhận
được những công việc phức tạp.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
Trình độ cao: Người học không những được hệ thống lý thuyết và kỹ
năng thực hành đầy đủ mà còn được tiếp cận với những khoa học mới, với
công nghệ tiên tiến, hiện đại từ đó có thể thực hiện công việc trên những thiết
bị mới, những công việc cần trình độ cao và sự khéo léo.
2.1.1.4. Vai trò của công tác đào tạo nghề [23]
a. Về mặt kinh tế
- Nâng cao năng suất lao động của cá nhân người lao động cũng như
năng suất lao động của toàn xã hội.
- Giúp người lao động thực hiện có hiệu quả công việc của mình.
- Giảm những chi phí không đáng có trong quá trình lao động sản xuất
do không hiểu quá trình công nghệ, kỹ thuật sản xuất.
- Nâng cao khả năng cạnh tranh của các tổ chức có sử dụng nhiều lao
động qua đào tạo nghề.
- Duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
- Làm cho doanh nghiệp có sự năng động hơn trong điều kiện cạnh tranh.
- Giảm bớt sự giám sát đối với người lao động vì những người lao động
được đào tạo nghề là những người có khả năng tự giám sát.
- Quá trình đào tạo nghề làm cho người lao động có nhiều cơ hội hơn
trong việc tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập, là phương tiện để cải tạo đời
sống hay nếp sống.
b. Về mặt xã hội
- Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của người lao động.
- Là cơ sở để sử dụng và phát triển những kiến thức của khoa học
nghiên cứu.
- Là phương tiện để chuyển giao, thích nghi và phổ biến công nghệ
khoa học tiên tiến.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
- Góp phần thay đổi cơ cấu lao động. Thông qua đào tạo nghề, số lượng
lao động nghề tăng lên làm cơ cấu lao động theo cấp trình độ đại học, cao
đẳng, nghề thay đổi.
- Đào tạo nghề còn góp phần giải quyết công ăn việc làm do những
người được đào tạo sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tìm kiếm việc làm từ đó
cải thiện đời sống, thúc đẩy công tác xóa đói giảm nghèo.
c. Về mặt văn hóa
Nhờ đào tạo nghề, người lao động có cách thức làm việc khoa học, biết
sắp xếp công việc một cách hợp lý, sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào để
tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng. Bên cạnh đó,
thông qua đào tạo nghề, người sử dụng lao động còn giảm bớt thời gian phải
giám sát đối với người lao động vì bản thân người lao động đã tự giám sát
chính họ khi họ làm việc.
Như vậy, văn hóa được hiểu trong trường hợp này là văn hóa trong
doanh nghiệp, văn hóa thể hiện trong quá trình lao động của mỗi người lao
động. Đó chính là việc tuân thủ những nội quy lao động, việc thực hiện tốt, có
hiệu quả công việc về nhiệm vụ của người lao động phải làm, là cách cư xử,
đối xử giữa những người lao động trong cùng một doanh nghiệp, một tổ chức
và rộng ra là giữa những người lao động trong toàn xã hội
d. Về mặt trật tự, an toàn xã hội
Trật tự xã hội là những chuẩn mực do pháp luật hoặc những luật lệ
của xã hội mà mọi người phải tuân theo hay bị cưỡng chế tuân theo. An
toàn xã hội là việc xã hội đảm bảo đủ các chuẩn mực trong phạm vi của
trật tự xã hội. Những người không có việc làm (thất nghiệp) sẽ rơi vào tình
trạng thiếu thốn về vật chất hay bức bách về tinh thần, từ đó họ sẽ có những ý
nghĩ và việc làm không mong muốn như là hay soi mói, dò xét hành động của
mọi người xung quanh rồi nói xấu người này, người khác (mức độ thấp); hoặc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
có thể ăn trộm, ăn cắp, thậm chí giết người, cướp của (mức độ cao). Tất cả
những việc nêu trên đều làm mất ổn định xã hội, gây ra xung đột trong nội bộ
nhân dân và cho toàn xã hội. Như vậy, người lao động qua đào tạo nghề sẽ có
nhiều cơ hội tìm được việc làm ổn định, có thu nhập đảm bảo đời sống hơn là
người không được đào tạo, bồi dưỡng. Từ đó, họ sẽ có sự tập trung vào công
việc, nghề nghiệp của mình, tránh những tệ nạn xã hội, va chạm không đáng
có trong cuộc sống hàng ngày do có nhiều thời gian nhàn rỗi. Đây là ý nghĩa
vô cùng to lớn của đào tạo nghề.
2.1.1.5. Yêu cầu của công tác đào tạo nghề
* Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục nghề nghiệp [12]
- Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung đào tạo năng lực thực
hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khỏe, rèn luyện
kỹ năng theo yêu cầu đào tạo của từng nghề, nâng cao trình độ học vấn theo
yêu cầu đào tạo.
- Phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹ năng
thực hành với giảng dạy lý thuyết để giúp người học có khả năng hành nghề
và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu của từng công việc.
* Phải gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm
Giáo trình và chương trình đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu tuyển
dụng của các chủ cơ sở kinh doanh, chủ doanh nghiệp. Đào tạo người lao
động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức,
lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe
nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc
làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Đào tạo nghề
nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực
thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
2.1.1.6. Quy trình đào tạo
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ quy trình đào tạo và liên thông
- Hệ trung cấp nghề:
+ Thời gian đào tạo là 2 năm đối với học sinh tốt nghiệp THPT.
+ Thời gian đào tạo là 3 năm đối với học sinh tốt nghiệp THCS.
- Hệ cao đẳng nghề: Thời gian đào tạo 3 năm đối với học sinh tốt
nghiệp THPT.
- Hệ liên thông cao đẳng nghề: Thời gian đào tạo 1 năm đối với học
sinh tốt nghiệp TCN cùng nghề đào tạo; 1,5 năm đối với học sinh tốt nghiệp
CNKT 1/7, TCN khác nghề đào tạo.
2.1.2. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề
2.1.2.1. Khái niệm
Chất lượng đào tạo nghề là một vấn đề luôn được xã hội quan tâm vì
tầm quan trọng hàng đầu của nó đối với sự nghiệp phát triển đất nước nói
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
chung và sự nghiệp phát triển dạy nghề nói riêng. Chất lượng lao động ngày
một được cải thiện chính là nhờ việc các cơ sở dạy nghề đã tăng cường hợp
tác đào tạo hoặc các doanh nghiệp gửi lao động đến trường để nâng cao kiến
thức nghề nghiệp.
Như vậy, chất lượng đào tạo nghề là kết quả tác động tích cực của tất
cả các yếu tố cấu thành hệ thống đào tạo nghề và quá trình đào tạo vận hành
trong môi trường nhất định
Xét về mức độ của các hệ thống quản lý chất lượng đang áp dụng trong
các cơ sở giáo dục đào tạo hiện nay, có 3 mức độ: Kiểm soát chất lượng, đảm
bảo chất lượng và quản lý chất lượng tổng thể. Do đó, Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội, Tổng cục Dạy nghề đã và đang chỉ đạo các đơn vị chức năng
xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng trong và ngoài cơ sở dạy nghề, coi đây
là công cụ nâng cao chất lượng dạy nghề, góp phần nâng cao niềm tin của xã
hội đối với công tác dạy nghề. Hệ thống kiểm định, đánh giá chất lượng
chương trình dạy nghề mới được hình thành và phát triển trong những năm
2012 và 2013 góp phần xác định mong đợi của khách hàng, cộng đồng và xã
hội đối với nhà trường và những chương trình đào tạo nhà trường mang lại.
Đây là một nhận thức đổi mới trong cải cách công tác dạy nghề, là cơ sở để
hoạch định tương lai. Kiểm định chất lượng là một công cụ hữu hiệu bảo đảm
chất lượng dạy nghề. Kiểm định chất lượng dạy nghề nhằm đánh giá, xác định
mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung dạy nghề trong từng giai
đoạn nhất định, giúp cơ sở dạy nghề tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả
đào tạo. Kiểm định chất lượng dạy nghề gồm hai hình thức đó là: Kiểm định
chất lượng cơ sở dạy nghề và kiểm định chất lượng chương trình đào tạo.
Quản lý chất lượng là một hoạt động quan trọng đảm bảo hiệu quả và chất
lượng của hoạt động của bất kỳ một tổ chức nào, quyết định sự phát triển nói
chung và chất lượng của một hệ thống nói riêng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
Như vậy, có thể hiểu nâng cao chất lượng đào tạo nghề là sự cải tiến hệ
thống tổ hợp các biện pháp để tăng hiệu quả, hiệu suất của mọi khâu trong
quá trình đào tạo nhằm đạt kết quả đào tạo cao nhất
2.1.2.2. Vai trò của nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Thứ nhất, các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh
tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ
bản: áp dụng công nghệ mới; phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng
trưởng kinh tế bền vững chính là những con người được đào tạo, đặc biệt là
nhân lực có kỹ năng nghề cao. Nguồn nhân lực chất lượng cao, là những con
người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm,
năng lực sáng tạo (nói cách khác, đó chính là năng lực thực hiện của nguồn
nhân lực). Năng lực thực hiện này chỉ có thể có được thông qua giáo dục –
đào tạo và tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, ngay cả
việc tích lũy kinh nghiệm này cũng phải dựa trên một nền tảng là giáo dục -
đào tạo nghề nghiệp cơ bản. Như vậy, có thể thấy, vai trò quyết định của
giáo dục - đào tạo nghề nghiệp đối với việc hình thành và phát triển năng lực
thực hiện của con người.
Thứ hai, vai trò của đào tạo nghề đối với chất lượng nguồn nhân lực
xuất phát từ khía cạnh lợi ích cá nhân của con người (con người lao động). Lý
thuyết về vốn nhân lực hiện đại cho rằng “tất cả các hành vi của con người
đều xuất phát từ những nhu cầu lợi ích kinh tế cho chính các cá nhân hoạt
động tự do trong thị trường mang tính cạnh tranh. Các dạng biểu hiện khác
đều bị cho là không thuộc phạm vi hoặc sự biến dạng của lý thuyết này”
(Fitzimons, 1999).
Thứ ba, đào tạo nghề tạo ra sự “tranh đua” xã hội [6] và trong bối cảnh
cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động, những người học vấn thấp, kỹ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
năng, tay nghề thấp hoặc không có nghề khó có thể cạnh tranh được so với
những người có trình độ, có kỹ năng nghề cao. Khi đó, họ sẽ trở thành nhóm
người “yếu thế”, phải làm những việc thu nhập thấp, thậm chí không kiếm
được việc làm, trở thành người thất nghiệp dài hạn và nhận trợ cấp xã hội.
Nhưng dù sao, những trợ cấp đó chỉ mang tính tức thời, giúp họ “cầm cự”
được trong cuộc sống thường nhật, tạo cơ hội cho họ quay trở lại thị trường
lao động. Nhưng nếu những người này không tự tạo cho họ năng lực, nâng
cao “vốn nhân lực” của mình thì sớm hay muộn, họ cũng lại bị “bật” ra khỏi
thị trường lao động. Muốn thoát khỏi vòng luẩn quẩn này, buộc những người
đó, bằng cách này hay cách khác phải nâng cao “vốn nhân lực” của mình và
cách hiệu quả nhất là đầu tư vào giáo dục, đào tạo nghề.
Thứ tư, vai trò của đào tạo nghề đối với nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực được thể hiện thông qua chính nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Nhu cầu của nền kinh tế công nghiệp đòi hỏi phải phát triển đội ngũ lao động
có kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng làm chủ được các
phương tiện, máy móc, làm chủ được công nghệ. Quá trình công nghiệp hóa
dài hay ngắn, ngoài các yếu tố về cơ chế, chính sách và thể chế còn phụ thuộc
rất nhiều vào năng lực của đội ngũ lao động kỹ thuật này. Đây có thể nói là
nhu cầu khách quan của nền kinh tế, đòi hỏi Chính phủ các nước phải đầu tư
cho đào tạo nghề.
2.1.2.3. Phương pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Để công tác dạy nghề cho lao động đạt kết quả tốt:
- Trước hết là phải nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên dạy nghề
cả về số lượng lẫn chất lượng.
- Hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng giảng dạy cho những
người là nghệ nhân, người có kinh nghiệm và tay nghề, nông dân sản xuất