trêng §¹i häc Kinh tÕ Quèc d©n
VIỆN THƯƠNG MẠI & KINH TẾ QUỐC TẾ
&
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP
Đề tài:
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦAVIỆT
NAM SANG THỊ TRƯỜNG CÁC NƯỚC ASEAN 5
Họ và tên sinh viên : Hoàng Tấn Trúc Sơn
Mã sinh viên : CQ528631
Chuyên ngành : Kinh tế quốc tế
Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
Hệ : Chính quy
Thời gian thực tập : Đợt I năm 2014
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS. Ngô Thị Tuyết Mai
Hà Nội, tháng 05/2014
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
LỜI CAM ĐOAN
&
Tên em là Hoàng Tấn Trúc Sơn, sinh viên lớp Kinh tế quốc tế D, khóa 52.
Em xin cam đoan chuyên đề thực tập cuối khóa “ Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng
hóa của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN 5” được thực hiện với sự tìm
tòi nghiên cứu của bản thân em, dưới sự hướng dẫn của Giảng viên – PGS.TS Ngô
Thị Tuyết Mai và sự giúp đỡ của các thầy, cô Viện Nghiên cứu Thương mại – Bộ
Công Thương. Em xin cam đoan các số liệu trong chuyên đề là trung thực, không
sao chép các bài chuyên đề tốt nghiệp của khóa trước và các công trình khoa học
khác đã được công bố. Nếu vi phạm lời cam đoan trên, em xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm với nhà trường và Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế.
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Hoàng Tấn Trúc Sơn
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
i
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
LỜI CẢM ƠN
&
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý thầy, cô Trường Đại học
Kinh tế quốc dân và Viện Thương Mại và Kinh tế quốc tế đã cùng với tri thức và
tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho em trong suốt thời
gian học tập tại trường cũng như tạo điều kiện cho em có cơ hội đi thực tập để nâng
cao hiểu biết của bản thân, định hướng công việc trong tương lai.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Viện, các phòng ban của Viện
Nghiên cứu Thương mại-Bộ Công Thương, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được
tìm hiểu thực tiễn trong suốt quá trình thực tập tại Viện. Em cũng xin gửi lời cảm
ơn đến quý thầy, cô Viện Nghiên cứu Thương mại đã giúp em rất nhiều trong quá
trình em thực tập tại Viện.
Đặc biệt, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất, sâu sắc nhất tới
PGS.TS. Ngô Thị Tuyết Mai đã tận tâm hướng dẫn em qua từng buổi học trên lớp
cũng như những buổi nói chuyện, thảo luận về các lĩnh vực liên quan đến đề tài
nghiên cứu. Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của cô thì bài chuyên đề
tốt nghiệp của em khó lòng có thể hoàn thành tốt được.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Hoàng Tấn Trúc Sơn
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
ii
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
MỤC LỤC
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
iii
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
ACFTA ASEAN-China Free Trade Area Hiệp định thương mại tự do
ASEAN- Trung Quốc
AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng kinh tế chung
ASEAN
AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
AIA ASEAN investment Area Khu vực đầu tư ASEAN
AICO ASEAN Industrial Cooperation
Scheme
Hiệp định Khung về hợp tác
Công nghiệp
AKFTA ASEAN-Korea Free Trade Area Hiệp định thương mại tự do
ASEAN- Hàn Quốc
AMM ASEAN Ministerial Meeting Hội nghị ngoại trưởng các nước
ASEAN
APEC Asia-Pacific Economic
Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu
Á- Thái Bình Dương
ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN
ASEAN Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
ASEM The Asia-Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á- Âu
CEPT the Common Effective
Preferential Tariff
Hiệp định Chương trình thuế
quan ưu đãi có hiệu lực chung
GDP Gross domestic product Tổng sản phẩm quốc nội
GEL General Exception List Danh mục loại trừ hoàn toàn
HDI Human development index Chỉ số phát triển con người
IAI Initiative for ASEAN Integration Kế hoạch công tác về Sáng kiến
liên kết ASEAN
IL Inclusion List Danh mục cắt giảm ngay
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
PPP Purchasing power parity Sức mua tương đương
RECP Regional Comprehensive
Economic Partnership
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn
diện Khu vực
SEL Sensitive List Danh mục nhạy cảm
TEL Temporary Exclusion List Danh mục loại trừ tạm thời
TPP Trans-Pacific Partnership Hiệp định Đối tác kinh tế chiến
lược xuyên Thái Bình Dương
UNDP United Nations Development Chương trình phát triển Liên
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
iv
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
Programme Hợp Quốc
USD Tổng sản phẩm quốc nội
VCCI Vietnam Chamber of
Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam
WEF World Economic Forum Diễn đàn Kinh tế Thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CNH-HĐH Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
KH & CN Khoa học và công nghệ
NK Nhập Khẩu
TM Thương mại
VN Việt Nam
XK Xuất khẩu
XNK Xuất nhập khẩu
XTTM Xúc tiến thương mại
XTXK Xúc tiến xuất khẩu
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
v
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
DANH MỤC BẢNG
Hội chợ Thương mại Quốc tế Việt Nam lần thứ 23 (Vietnam Expo 2013) 56
Hội chợ Thương mại Trung Quốc – ASEAN (CAEXPO) 56
Các hội chợ, triển lãm hàng Việt Nam tại các thị trường trong khu vực ASEAN 56
Hội nghị khách hàng Điều quốc tế lần thứ 7 (2012) 57
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
vi
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
vii
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt những năm qua, xuất-nhập khẩu luôn chiếm vị trí chính yếu trong
chiến lược phát triển kinh tế quốc gia, là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ở nước
ta, những thành tựu của công cuộc đổi mới đã và đang tạo ra những thế và lực mới cả
bên trong lẫn bên ngoài để chúng ta bước vào một thời kỳ phát triển mới. Vị thế Việt
Nam ngày càng được củng cố và khẳng định trên chính trường quốc tế. Quan hệ đối
ngoại của nước ta hiện nay với các nước, các tổ chức quốc tế và vùng lãnh thổ được mở
rộng hơn bao giờ hết. Việt Nam từng bước hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và
toàn cầu với việc gia nhập các tổ chức kinh tế- xã hội quốc tế như ASEAN ( năm 1995),
APEC (năm 1998) và gần đây nhất là tổ chức WTO (năm 2007). Thị trường xuất- nhập
khẩu của Việt Nam ngày được mở rộng mang theo đó là những cơ hội và thách thức
ngày càng lớn. Tuy vậy, thị trường các nước trong khu vực – thị trường các nước
ASEAN 5 luôn giữ vị trí quan trọng trong phát triển thương mại của Việt Nam.
Kể từ khi Việt Nam thực hiện AFTA 9, quan hệ thương mại hàng hóa song
phương giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN 5 ngày càng phát triển và
có những bước tiến quan trọng với trị giá hàng hóa buôn bán hai chiều đạt mức
tăng trưởng trên 13%/ năm giai đoạn 2005-2009 và khoảng 29,7 %/ năm giai đoạn
2011-2013. Thị trường các nước thành viên ASEAN, đặc biệt là thị trường các
quốc gia lớn trong ASEAN 5 là một trong ba thị trường xuất khẩu lớn nhất của
Việt Nam, chỉ sau thị trường Hoa Kỳ và thị trường các nước thành viên liên minh
châu Âu-EU. Ở chiều ngược lại, ASEAN 5 là đối tác thương mại cung cấp nguồn
hàng hóa thứ 2 cho các doanh nghiệp Việt Nam, chỉ sau Trung Quốc. Điều đó cho
thấy ASEAN 5 là một trong những đối tác xuất nhập khẩu quan trọng của Việt
Nam.
Xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN 5 không chỉ phát
triển mạnh về lượng và cơ cấu hàng xuất khẩu cũng đã và đang có sự thay đổi đáng kể
giúp cho kim ngạch xuất khẩu tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên, các mặt hàng xuất
khẩu của Việt Nam sang ASEAN 5 chủ yếu vẫn là các mặt hàng nông sản, hải sản,
khoáng sản thô, sơ chế có giá trị gia tăng không cao. Những mặt hàng này tuy hầu hết
được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi CEPT tại các nước nhập khẩu nhưng có giá trị thấp,
giá cả phụ thuộc vào biến động của thế giới nên kim ngạch xuất khẩu không ổn định.
Do vậy, để tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường các nước
ASEAN 5 ổn định trong thời gian tới cần có những giải pháp thúc đẩy phù hợp.
Chính vì vậy, để phát huy hiệu quả khi là thành viên của ASEAN nói
chung, việc phân tích, đánh giá thực trạng, xu hướng phát triển thương mại Việt
Nam- ASEAN 5, từ đó đề xuất, kiến nghị một số giải pháp cơ bản để thúc đẩy xuất
khẩu hàng hóa Việt Nam là cần thiết và có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
1
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu đặc điểm thị trường các nước
ASEAN 5, đối chiếu với Việt Nam để xác định những thuận lợi, khó khăn trong
việc xuất khẩu hàng hóa sang thị trường các nước ASEAN 5.
Dựa trên số liệu về kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam- ASEAN 5 và các
biện pháp xúc tiến xuất khẩu để từ đó rút ra đánh giá những thành công hạn chế.
Trên cơ sở phân tích thực tế, đề tài sẽ đề xuất, kiến nghị những giải pháp
nhằm phát huy những thành công đã đạt được và hạn chế tối đa những mặt khiếm
khuyết nhằm tăng cường thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường
các ASEAN 5.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
− Đối tượng nghiên cứu : Nghiên cứu thực tiễn về đặc điểm thị trường các
nước ASEAN 5, thực tiễn xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam- ASEAN 5 và các
biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang thị trường các nước ASEAN 5.
− Phạm vi nghiên cứu :
+ Về mặt không gian : Đề tài nghiên cứu xuất khẩu hàng hóa Việt Nam
sang thị trường các nước ASEAN 5.
+ Về mặt thời gian : Đề tài nghiên cứu số liệu thực tiễn về xuất nhập khẩu
hàng hóa Việt Nam sang các nước ASEAN 5 giai đoạn 2009-2013 và đề xuất giải
pháp cho đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử, đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến trong kinh tế như phương
pháp tổng hợp, phân tích so sánh, diễn giải, quy nạp qua những tài liệu của các cơ
quan ban ngành, các tổ chức ở Việt Nam, đồng thời nghiên cứu những tài liệu, bài
báo, tạp chí của các tổ chức quốc tế. Từ những tài liệu trên giúp cho tác giả có thể luận
giải được vấn đề nghiên cứu của đề tài một cách khách quan, khoa học nhất.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương chính :
Chương 1 : Tổng quan về thị trường các nước ASEAN 5
Chương 2 : Thực trạng xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường các
nước ASEAN 5
Chương 3 : Định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN 5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CÁC NƯỚC ASEAN 5
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
2
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
1.1. Sự ra đời và phát triển của ASEAN 5
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asia
Nations, viết tắt ASEAN) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của
các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967
với 5 thành viên sáng lập là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore và
Philippines (ASEAN 5) với mục tiêu ban đầu là tỏ rõ tình đoàn kết giữa các nước
trong khu vực, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại các nước
thành viên. Sau hội nghị Bali năm 1976, ASEAN 5 bắt đầu chương trình hợp tác
kinh tế, nhưng các hợp tác bị thất bại cho đến giữa thập niên 1980. Hợp tác kinh tế
chỉ thành công khi Thái Lan đề nghị thành lập khu vực thương mại tự do năm
1991. Từ đó cho đến nay, quan hệ hợp tác trong ASEAN nói chung và ASEAN 5
nói riêng không ngừng được củng cố và ngày càng phát huy vai trò, có tác động
tích cực đến sự phát triển của tất cả các quốc gia trong khu vực. Ngày nay,
ASEAN đã trở thành một liên kết kinh tế ngày càng chặt chẽ, khẳng định uy tín
trên các diễn đàn quốc tế, tiêu biểu cho sự liên kết khu vực và được thế giới đánh
giá cao.
Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN 5 có thể chia ra các giai
đoạn chính sau :
Tuyên bố Bangkok 8-8-1967 mở đầu tiến trình hợp tác ASEAN:
Từ sau chiến tranh thế giới II năm 1945, nhiều quốc gia đã ra đời dưới
những hình thức khác nhau ở Đông Nam Á. Năm 1945, Indonesia và Việt Nam
tuyên bố độc lập. Năm 1946, Hoa Kỳ trao trả độc lập cho Philippines. Năm 1965,
Singapore tách khỏi Liên bang Malaysia, tuyên bố thành nước cộng hòa độc lập.
Thái Lan không còn là thuộc địa trực tiếp của một đế quốc nào nên sau Chiến tranh
Thế giới lần thứ II vẫn là quốc gia độc lập.
Sau khi giành được độc lập, nhiều nước Đông Nam Á đã có dự định thành
lập một tổ chức khu vực nhằm tạo nên sự hợp tác phát triển trên các lĩnh vực kinh
tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa; đồng thời hạn chế ảnh hưởng của các nước lớn
đang tìm cách biến Đông Nam Á thành “sân sau” của họ. Trong quá trình tìm kiếm
sự hợp tác giữa các nước Đông Nam Á, nhiều tổ chức khu vực đã xuất hiện và một
số hiệp ước giữa các nước trong khu vực được ký kết. Trong đó, có thể kể đến
Hiệp ước Hữu nghị và Kinh tế Đông Nam Á (SEAFET) thành lập tháng 1/1959
giữa Malaysia và Philipines ; Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) thành lập ngày
31/7/1961 gồm Thái Lan, Philipines và Malaysia ; MAPHILINDO một tổ chức
gồm Malaysia, Philippines và Indonesia, gọi tắt là, được thành lập tháng 8/1963.
Tuy nhiên, những tổ chức và Hiệp ước trên đây đều không tồn tại được lâu do
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
3
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
những bất đồng giữa các nước về vấn đề lãnh thổ và chủ quyền nhưng nhu cầu về
một tổ chức hợp tác khu vực rộng lớn hơn ở Đông Nam Á ngày càng lớn và bị tác
động một cách mạnh mẽ bởi các trào lưu hình thành “chủ nghĩa khu vực” trên thế
giới đã xuất hiện và cùng với nó là sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế Châu Âu
(EEC); Khu vực Thương mại Tự do Mỹ Latin (LAFTA); Thị trường chung Trung
Mỹ (CACM) Thêm vào đó, từ những bài học kinh nghiệm rút ra, các nước Đông
Nam Á đều thấy rằng việc hình thành các tổ chức khu vực sẽ giúp thúc đẩy sự tăng
trưởng kinh tế thông qua tăng cường hợp tác kinh tế, buôn bán và phân công lao
động. Hơn nữa, về mặt chính trị, việc cấp thiết hình thành một tổ chức khu vực còn
giúp củng cố tình đoàn kết khu vực và giúp các nước vừa và nhỏ có tiếng nói mạnh
mẽ hơn trong các vấn đề quốc tế.
Trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp như vậy, ngày 8-8-1967 tại
Bangkok (Thái Lan) ngoại trưởng 5 nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia,
Philippines và Singapore đã họp và công bố Tuyên bố Bangkok, thành lập Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á- ASEAN, hay còn gọi là ASEAN 5. Tuyên bố Bangkok
xác định “ Nhận thức được sự tồn tại của các mối quan tâm lẫn nhau và các vấn đề
chung giữa các nước Đông Nam Á và tin tưởng vào sự cần thiết phải tăng cường
hơn nữa các mối quan hệ đoàn kết sẵn có trong khu vực. Mong muốn xây dựng
một nền tảng vững chắc cho hành động chung nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực
Đông Nam Á, các nước Đông Nam Á có trách nhiệm chính trong việc tăng cường
ổn định kinh tế và xã hội của khu vực và bảo đảm sự phát triển đất nước hòa bình
và tiến bộ, quyết tâm bảo đảm sự ổn định và an ninh không có sự can thiệp từ bên
ngoài dưới bất kỳ hình thức hoặc biểu hiện nào”…
Tuyên bố cũng nêu tôn chỉ, mục đích của Hiệp hội gồm 7 điểm và cho đến
nay dù ASEAN 5 mở rộng, kết nạp thêm các quốc gia thành viên ở khu vực Đông
Nam Á thành ASEAN 10 thì các tôn chỉ, nguyên tắc và mục đích của hiệp hội vẫn
còn nguyên giá trị. Sự thành lập ASEAN với nền tảng cốt lõi 5 quốc gia thành viên
ban đầu (ASEAN 5) có ý nghĩa trọng đại, thể hiện ý chí chính trị, tầm nhìn sáng
suốt của các nhà lãnh đạo ASEAN.
Những mốc thời gian quan trọng đánh dấu sự trưởng thành ASEAN 5:
Hơn bốn năm sau Tuyên bố Bangkok, ngày 27/11/1971 tại Kuala Lumpur
(Malaysia) Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN 5 đã ra Tuyên bố về khu vực
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
4
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
Hòa bình, Tự do, Trung lập ( Zone of Peace, Freedom and Neuturality- gọi tắt là
ZOPFAN; ZOPFAN Concept hay Tuyên bố Kuala Lumpur).
Tháng 2/1976, ASEAN 5 họp hội nghị thượng đỉnh lần thứ I tại Bali
(Indonesia). Các nhà lãnh đạo ASEAN 5 đã ký kết các văn kiện quan trọng :
- Hiệp ước thân thiện và hợp tác.
- Tuyên bố hòa hợp ASEAN.
- Hiệp định về Ban thư ký ASEAN.
Hội nghị thượng đỉnh tại Bali đã đặt nền tảng lý luận vững chắc cho sự hợp
tác ASEAN, hình thành chủ nghĩa khu vực ASEAN ( ASEAN regionalism), đồng
thời củng cố nền tảng pháp lý, cơ cấu tổ chức bảo đảm cho sự hợp tác chặt chẽ,
toàn diện giữa các nước ASEAN.
ASEAN 5 trong quá trình mở rộng thành ASEAN 10 :
Sau chiến tranh lạnh, bắt đầu từ năm 1992, tình hình chính trị an ninh kinh
tế thế giới bắt đầu thay đổi và lan dần tới khu vực Đông Nam Á, không còn đất
thực dân hay căn cứ quân sự nước ngoài nào ở ASEAN. Bối cảnh đó tạo ra cơ hội
mới cho hòa bình, ổn định và hợp tác kinh tế giữa các nước trong khu vực có thể
đưa lên tầm cao mới, song cũng đặt ra các nước trong khu vực nhiều thách thức từ
phía các cường quốc và cũng như từ bên trong mỗi quốc gia.
Tháng 1/1992 tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ IV tại Singapore,
các nhà lãnh đạo ASEAN đã quyết định thành lập Khu vực Thương mại Tự do
ASEAN (AFTA), ban đầu dự kiến trong 15 năm, sau đó rút lại 10 năm, đến năm
2003, hoàn tất đối với các nước ASEAN-5. Đồng thời hội nghị cũng ra quyết định
sẽ xúc tiến một tiến trình đói thoại với các nước bên ngoài, cũng như giữa các
nước ASEAN với nhau về hợp tác an ninh, để tăng cường an ninh khu vực. Các
cuộc đối thoại này dự định được tiến hành trên cơ sở các diễn đàn ASEAN đã có,
đặc biệt là cơ chế hội nghị sau Hội nghị ngoại trưởng ASEM (AMM-PMC).
Tháng 7/1992, Việt Nam đã ký Hiệp ước Bali trở thành quan sát viên của ASEAN.
Hội nghị AMM 28 họp ngày 29/8/1995 ở Brunei, Việt Nam chính thức gia
nhập ASEAN, trở thành thành viên chính thức thứ bảy của tổ chức này. Đó là một
bước ngoặt quan trọng của ASEAN, mở ra khả năng hiện thực tiến đến ASEAN
10. Tháng 12/1995, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ V tại Bangkok (Thái
Lan), lần đầu tiên trong lịch sử khu vực Đông Nam Á, tất cả mười nhà lãnh đạo đã
gặp gỡ, ký kết các văn kiện quan trọng. Các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký Hiệp ước
Đông Nam Á không vũ khí hạt nhân (SEANWFZ). Hội nghị thượng đỉnh lần thứ
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
5
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
V tại Bangkok cũng quyết định mở ra cơ chế Hợp tác Á- Âu (ASEM), chính thức
bắt đầu từ tháng 3-1996.
Năm 1997, bất chấp cơn bão khủng hoảng tài chính ở các quốc gia Đông
Nam Á, ASEAN vẫn kết nạp thêm Lào, Myanmar và thông qua chiến lược Tầm
nhìn 2020. Tháng 12/1998, Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN lần thứ VI, thông qua Chương trình hành động Hà Nội và Tuyên bố Hà
Nội, xây dựng ASEAN phát triển đồng đều, bền vững, rút ngắn khoảng cách phát
triển giữa các quốc gia thành viên, đồng thời mở đầu hợp tác ASEAN +3 (Nhật
Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc). Tháng 11/2013, Ủy ban đàm phán thương mại Hiệp
định Quan hệ đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) vừa ra tuyên bố chung về
cuộc đàm phán lần đầu tiên giữa ASEAN với 6 đối tác (ASEAN+6) gồm Australia,
Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand, tiến hành đàm phán
chi tiết về RCEP nhằm hoàn thành RCEP vào cuối năm 2015. Nếu như thành công,
ASEAN +6 sẽ trở thành khu vực mậu dịch tự do lớn nhất thế giới, ước tính sẽ đem
lại giá trị thương mại lên tới 17.000 tỷ USD và sẽ cân bằng với ảnh hưởng của
Thỏa thuận đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ chủ trì.
Tóm lại từ đầu thập niên 1990 đến nay, các nước Đông Nam Á đã đạt được
những mục tiêu về một khu vực hòa Bình, tự do, trung lập và không vũ khí hạt
nhân. Đồng thời, ASEAN còn đề xướng và lãnh đạo một cơ chế an ninh tập thể là
ARF quy tụ tất cả các cường Châu Á- Thái Bình Dương tham gia. Lợi dụng xu thế
vừa hòa hoãn vừa cạnh tranh giữa các siêu cường, ASEAN trở thành người khởi
xướng, dẫn dắt và điều phối một diễn đàn mở về hợp tác chính trị an ninh lớn nhất
thế giới. Đó là một điểm độc đáo, biểu hiện sự trưởng thành ASEAN 5, sau này là
ASEAN 10, thường được nói đến như “ Bản sắc ASEAN “. ASEAN cũng mở rộng
khuôn khổ hợp tác với Đông Á (ASEAN +3), với Úc, New Zealand, Ấn Độ
(ASEAN+6), với châu ÂU (ASEM), với châu Á- Thái Bình Dương (APEC).
Cộng đồng ASEAN- Bước phát triển mới trong hợp tác khu vực :
Sang đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp và
biến đổi khôn lường. Các quốc gia đều có sự điều chỉnh đối nội, đối ngoại, xu thế
đa cực ngày càng trở nên phổ biến. Quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ mở ra
nhiều cơ hội nhưng không kém phần thách thức đối với tất cả các quốc gia. Các
nước phát triển, giàu có ngày càng giàu có hơn, các nước thế giới thứ ba, một số
nước có tiềm lực và nắm bắt được thời cơ, thích nghi được đã phát triển nhanh
chóng nhưng phần các nước Á- Phi- Mỹ La tinh nằm trong hoàn cảnh khó khăn,
chậm phát triển. Sự đa dạng về dân tộc, tôn giáo giữa các nước Đông Nam Á cùng
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
6
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
với sự chênh lệch về kinh tế giữa các nước ASEAN 5 với các nước mới gia nhập
(Việt Nam, Lào, …) là những nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng sự ổn định, an ninh, phát
triển bên vững của ASEAN. Trước những thách thức mới, tại Hội nghị Thượng
đỉnh lần thứ IX ở Bali (7/10/2003), các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa
hợp ASEAN II ( ASEAN Concord II), thành lập Cộng đồng ASEAN (ASEAN
community) theo Tầm nhìn 2020. Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột chính :
- Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC)
- Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
- Cộng đồng Văn hóa- xã hội ASEAN (ASCC).
Từ năm 2004 đến năm 2007, các Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ X,
XI, XII, Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao, kinh tế…đều nhất trí đẩy nhanh tiến trình
xây dựng Cộng đồng ASEAN rút ngắn 5 năm, xuống năm 2015, soạn thảo Hiến
chương ASEAN.
ASEAN trải qua chặng đường hơn 40 năm phát triển đầy tự hào. Từ một tổ
chức gồm 5 nước ASEAN 5 ban đầu với sự liên kết thiếu sự chặt chẽ đến nay đã
phát triển ASEAN 10 gắn kết chặt chẽ với nhau. Chắc chắn ASEAN, đặc biệt các
nước ASEAN 5 sẽ tiếp tục vai trò đầu tàu, người kiến tạo hòa bình an ninh, đẩy
mạnh sự phát triển kinh tế ổn định bền vững, thịnh vượng cho khu vực Đông Nam
Á nói riêng và khu vực châu Á- Thái Bình Dương. Trong những kỷ niệm 40 năm
kỷ niệm thành lập ASEAN, hội nghị AMM 40 họp tại Manila (Philippines) 7/2007
đã bàn bạc và quyết định những vấn đề quan trọng như thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác,
hội nhập khu vực, hướng tới xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, các vấn
đề chính trị và an ninh trong Diễn đàn Khu vực ASEAN(ARF) 14. Đặc biệt, Hội
nghị đã hoàn tất, thông qua dự thảo Hiến chương ASEAN là một văn kiện lịch sử
đánh dấu sự trưởng thành của Hiệp hội vào tuổi 40. Hiến chương ASEAN đã được
thông qua và phê chuẩn vào cuối năm 2009 và đã có hiệu lực pháp lý từ năm 2009.
Các nguyên tắc hoạt động của ASEAN :
- Nguyên tắc về quan hệ song phương và đa phương : Tôn trọng chủ
quyền và không can thiệp vào nội bộ của nhau, và tiến tới tuân thủ các quy định
chung trong Hiến chương ASEAN khi Hiến chương này được tất cả mười thành
viên trong khối phê chuẩn và có hiệu lực. Hiến chương này được xem là Hiến
pháp của toàn khối.
- Nguyên tắc điều phối hoạt động : có 3 nguyên tắc chủ yếu là nguyên tắc
nhất trí, nguyên tắc bình đẳng và nguyên tắc 6-X. Trong quan hệ với nhau, các
thành viên của khối đều tuân theo 6 nguyên tắc chính được nêu lên trong Hiệp ước
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
7
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
Thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali), là :
+ Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản
sắc dân tộc của tất cả các quốc gia.
+ Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình,
không có sự can thiệp, lật đổ hay cưỡng ép từ bên ngoài.
+ Không can thiệp vào nội bộ của nhau.
+ Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thân thiện.
+ Không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực.
+ Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả.
1.2. Đặc điểm thị trường các nước ASEAN 5
1.2.1. Đặc điểm chung thị trường các nước ASEAN 5
ASEAN 5 là một thị trường rộng lớn với tổng dân số tính đến năm 2013 theo
thống kê các thị trường của Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam là hơn
460 triệu người. Quy mô thị trường thực tế còn lớn hơn rất nhiều cùng với sự hội
nhập, mở rộng hợp tác ASEAN sang các đối tác ngoài khu vực như Trung Quốc, Ấn
Độ, Úc…(ASEAN +5). Thêm vào đó, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa ngày càng tăng do
thu nhập bình quân đầu người bình quân thị trường các nước ASEAN 5 không
ngừng tăng lên trong những năm gần đây tiêu biểu nhất là Singapore với mức tăng
thu nhập bình quân đầu người là 21% giai đoạn 2010-2013 [14]. Nhu cầu tiêu thụ
hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa có giá trị trung bình, phẩm cấp thấp không đòi hỏi
quá cao về chất lượng mẫu mã sẽ tăng mạnh trong những năm tới.
ASEAN 5 là nhóm các nước có mức tăng trưởng kinh tế khá cao so với các
nước trong khu vực và được coi là thành công lớn nhất của nước đang phát triển,
trong những năm tiếp theo kinh tế các nước ASEAN 5 được dự đoán tiếp tục tăng
trưởng khá và ổn định, sự tăng trưởng kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, cụ
thể Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo các nước ASEAN 5 có mức tăng trưởng
trung bình 5,5 % năm 2014 [13]. Dự đoán đến năm 2015, kinh tế các nước
ASEAN 5 sẽ tăng trưởng mạnh, cùng với Trung Quốc, Ấn Độ, tạo động lực mới
thúc đẩy sự phát triển khu vực Đông Nam Á nói riêng và châu Á-Thái Bình Dương
nói chung. Thêm vào đó, nền kinh tế các nước ASEAN 5 được đánh giá là nền
kinh tế phát triển năng động, tích cực tham gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới và
khu vực. Tiêu biểu là các Hiệp định Thương mại tự do với Hàn Quốc ( AKFTA),
Hiệp định Thương mại tự do với Trung Quốc (ACFTA).
Một đặc điểm quan trọng của các nước ASEAN 5 đó là tăng trưởng kinh tế
chủ yếu dựa vào xuất khẩu. 5 nước trong ASEAN 5 đều nằm trong nhóm 50 nước
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
8
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
xuất khẩu lớn nhất thế giới, trong đó Malaysia xuất khẩu bằng 100% GDP,
Singapore bằng 200% GDP và Thái Lan xuất khẩu bằng 60% GDP và đây cũng là
3 nước nằm trong danh sách 10 nước phụ thuộc vào xuất khẩu nhiều nhất. Hiện
nay, ASEAN 5 đứng đầu thế giới về cung cấp một số nguyên liệu thô cơ bản như
cao su chiếm trên 70% sản lượng thế giới, gỗ xẻ chiếm hơn 40%, bên cạnh đó là
các nông sản như gạo, hồ tiêu, …Chính vì đặc điểm này mà khi nhu cầu giảm
mạnh tại các thị trường lớn do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, các nước
ASEAN 5 đã phải đối mặt với xuất khẩu suy giảm mạnh, nguồn thu ngoại tệ giảm,
khiến nhiều cơ sở sản xuất bị phá sản, thất nghiệp tăng cao, tăng trưởng kinh tế
không ổn định (cụ thể bắt đầu từ quý IV năm 2008). Điều này cũng là nguyên nhân
khiến sự tăng trưởng bền vững của các nước ASEAN 5 kém bền vững.
Các đặc điểm về tự nhiên, kinh tế xã hội, dân cư tạo nên một thị trường
ASEAN 5 có nhu cầu hết sức đa dạng, phong phú về hàng hóa theo vùng miền, thời
tiết, địa hình, khí hậu…cũng như việc tốc độ tăng trưởng kinh tế cao tạo ra sức mua
ngày càng lớn. Cũng do đặc điểm tương đồng về khu vực, nhu cầu tương đồng về
sản phẩm tiêu dùng qua đó về cơ bản tương đồng nhau. Một số hàng hóa mang tính
bổ sung cho nhau đặc biệt các hàng hóa đòi hỏi giá trị tri thức cao như hàng điện tử,
điện máy. Hoạt động thương mại sẽ tiếp tục có những bước phát triển mới trong
những năm tiếp theo, khi mà Cộng đồng ASEAN được thành lập chính thức.
1.2.2. Đặc điểm nền kinh tế của từng quốc gia trong ASEAN 5
1.2.2.1. Đặc điểm nền kinh tế Singapore
Singapore có nền kinh tế thị trường tự do phát triển cao và rất thành
công. Singapore được hưởng một môi trường kinh tế mở cửa và không có tham
nhũng, giá cả ổn định, và thu nhập bình quân trên đầu người cao hơn so với
hẩu hết các nước phát triển khác. Nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào xuất
khẩu, đặc biệt là các thiết bị điện tử tiêu dùng, sản phẩm công nghệ thông tin,
dược phẩm, và lĩnh vực dịch vụ tài chính với tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu
trên 5%/năm [11]. Năm 2011 và 2012, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế
toàn cầu, tăng trưởng GDP của Singapore chỉ đạt được lần lượt là 4.9% và 2.1%.
Năm 2013, nền kinh tế của Singapore tiếp tục tăng trưởng theo hướng tích cực, tốc
độ tăng trưởng kinh tế đạt 4,08% trong GDP (PPP) tăng hơn 40 tỷ USD.
Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bên
ngoài, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở trong
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
9
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
nước, đặc biệt là các nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Đây
là đặc điểm quan trọng mà Việt Nam có thể khai thác, tăng cường không chỉ thúc
đẩy xuất khẩu các mặt hàng thô sang thị trường này mà về lâu dài khi nền công
nghiệp chế biến của Việt Nam đạt được những tiến bộ nhất định thì Singapore
chắc chắn trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm chế biến quan trọng của Việt
Nam. Thêm vào đó, Singapore còn được coi là cầu nối trung chuyển hàng hóa lớn
trên thế giới, do vậy, nếu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam xây dựng được hình
ảnh, thương hiệu thì tốc độ lưu chuyển hàng hóa sang các nước bạn ngoài khu vực
sẽ tăng lên rất nhiều lần.
Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao
hàng đầu Châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu,
công nghiệp lọc dầu, chế biến, điện tử và lắp ráp máy móc tinh vi. Hướng tới nền
sản xuất tri thức chất lượng cao thì Singapore chính là đối tác thích hợp nhất của
Việt Nam trong khu vực ASEAN cho các dự án hợp tác chuyển giao công nghệ,
phát triển nền công nghiệp sản xuất nội địa của Việt Nam, qua đó giảm giá trị các
mặt hàng xuất khẩu thô để tăng cường xuất khẩu các sản phẩm chế biến có giá trị
cao hơn trong tương lai. Singapore có 12 khu vực công nghiệp lớn, trong đó lớn
nhất là Khu công nghiệp Du-rông (Jurong). Singapore là nước hàng đầu về sản
xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn. Singapore còn là trung tâm lọc dầu
và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở Châu Á. Các số liệu phân tích trên đây được
thể hiện ở bảng 1.1 khái quát một số chỉ tiêu kinh tế của Singapore và một số mặt
hàng nông nghiệp, công nghiệp chính và sự phát triển dịch vụ ở Singapore.
Bảng 1.1 : Một số chỉ tiêu về kinh tế của Singapore
Đơn vị tính 2010 2011 2012 2013
GDP (PPP) Tỷ USD 298,7 320
326,7 * 371,3
Tăng trưởng
GDP
% 14,6 4,9 2,1 ** 4,08
GDP theo đầu
người
USD/người 57.800 60.700 60.900 *** 64.584
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
10
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
GDP theo
ngành
Nông nghiệp 0%, Công nghiệp 27,8%, Dịch vụ 72,2%
Mặt hàng nông
nghiệp
Rau quả, trứng, cá, hoa phong la, cá cảnh
Các ngành
công nghiệp
Điện tử, hóa chất, thiết bị khoan dầu, lọc dầu, sản phẩm cao su và
chế biến cao su, thực phẩm chế biến và đồ uống, xây dựng, công
nghệ sinh học
(Nguồn: Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam-VCCI)
Ghi chú : *: đứng thứ 40 toàn cầu
**: đứng thứ 140 toàn cầu
***: đứng thứ 6 toàn cầu
Lực lượng lao động của Singapore tập trung chủ yếu ở nhóm ngành dịch
vụ chiếm đến 72,2%. Singapore là nước đi đầu trong công việc chuyển đổi sang
nền kinh tế trí thức. Mục tiêu hướng đến năm 2020 của Singapore là trở thành
thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế
toàn cầu và châu Á, một nền kinh tế đa dạng nhạy cảm kinh doanh. Đến nay,
Singapore đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 168 nước, lập 26 sứ quán và 13 Tổng
lãnh sứ quán ở nước ngoài.
1.2.2.2. Đặc điểm nền kinh tế Thái Lan
Thái Lan hiện là một nước công nghiệp mới (trước vốn là nền nông nghiệp
truyền thống). Bắt đầu từ năm 1960, Thái Lan thực hiện Kế hoạch phát triển kinh
tế- xã hội lần thứ nhất và đến nay là Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội lần thứ 12
(2011-2016).
Từ năm 2007, những bất ổn chính trị đã gây ảnh hưởng đến sự phát triển
kinh tế của Thái Lan. Tuy nhiên các yếu tố cơ bản của nền kinh tế vẫn bền vững.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Thái Lan năm 2007 đạt 4,8%. Do bất ổn chính trị
trong nước và ảnh hưởng tiêu cực bởi khủng hoảng tài chính, tăng trưởng kinh
tế của Thái Lan năm 2008 chỉ đạt 3,6%. Năm 2009, xuất khẩu giảm mạnh, thất
nghiệp gia tăng, tăng trưởng kinh tế Thái Lan giảm 2.4%. Thời gian gần đây, kinh
tế Thái Lan đã dần phục hồi. GDP năm 2010 tăng 7.8%. Tuy nhiên, đà tăng
trưởng kinh tế vẫn còn phải phụ thuộc vào một số yếu tố trong đó có sự ổn định
chính trị trong nước. Trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới, tốc độ tăng trưởng
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
11
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
GDP của Thái Lan giảm sút rõ rệt khi chỉ tăng 0,1% năm 2011. Năm 2012, Thái
Lan đã phục hồi nền kinh tế, với GDP Thái Lan đạt hơn 646 tỷ USD, tăng trưởng
đạt mức 5.6% [1]. Bước sang năm 2013, chính trường Thái Lan tiếp tục bất ổn và
các nhà đầu tư có dấu hiệu rút dần khỏi thị trường nước này. Với đặc điểm chính trị
ổn định trong khu vực cùng nhiều tiềm năng chưa được khai thác, Việt Nam cần
tranh thủ thu hút nguồn vốn đầu tư FDI, tập trung nguồn vốn chất lượng cao để tập
trung giải quyết, nâng cao quy mô và giá trị sản xuất, xuất khẩu do cơ cấu mặt hàng
xuất khẩu Thái Lan và Việt Nam nhiều điểm tương đồng nhau. Cùng với đó, với
việc tích cực thực hiện thỏa thuận thúc đẩy hợp tác khái thác tuyến đường hành
lang Đông- Tây, cơ hội xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam này sẽ được cải thiện
hơn. GDP (PPP) của Thái Lan năm 2013 tăng hơn 27 tỷ USD đồng thời người dân
Thái Lan bước đầu chịu táng động trực tiếp của biến động chính trị khi mà thu nhập
đầu người nước này có dấu hiệu giảm sút.
Thông qua bảng 1.2, chúng ta có thể khái quát phần nào về nền kinh tế của
Thái Lan thời gian qua. Cơ cấu mặt hàng nông nghiệp, công nghiệp chung để thấy
sự tương đồng nhất định so với cơ cấu những mặt hàng nay của Việt Nam. Một
điểm rất đang lưu ý nữa đó chính là xếp hạng GDP(PPP), tốc độ tăng trưởng GDP,
GDP/ người của Thái Lan ở mức khá cao trên thế giới, đặc biệt là GDP (PPP) năm
2012 của Thái Lan đạt 646, 1 tỷ USD xếp hạng 25 toàn cầu.
Bảng 1.2 : Một số chỉ tiêu kinh tế của Thái Lan
Đơn vị tính 2010 2011 2012 2013
GDP (PPP) Tỷ USD 600,8 609,8
646,1 * 673,73
Tăng trưởng
GDP
% 7,8 0,1 5,6 ** 4,27
GDP theo đầu
người
USD/người 9.400 9.600 10.000 *** 9.874
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
12
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
GDP theo
ngành
Nông nghiệp 13%; Công nghiệp 43%; Dịch vụ 44%
Mặt hàng nông
nghiệp
gạo, cao su, sắn, ngô, mía, dừa, đậu
Mặt hàng công
nghiệp
du lịch, dệt may, chế biến nông sản, đồ uống, thuốc lá, xi măng,
sản xuất công nghiệp nhẹ, linh kiện điện tử, điện máy, nội thất,
nhựa, vonfram (thứ 2 thế giới), thiếc (thứ 3 thế giới), ô tô và phụ
tùng.
( Nguồn: Phòng Công nghiệp và Thương mại VIệt Nam-VCCI)
Ghi chú : *: xếp hạng thứ 25 toàn cầu
**: xếp hạng thứ 48 toàn cầu
***: xếp hạng thứ 113 toàn cầu
Nền kinh tế Thái Lan phụ thuộc mạnh vào xuất khẩu (chiếm 60% GDP).
Ngày nay, Thái Lan từng bước tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang công
nghiệp và dịch vụ và vai trò của nông nghiệp giảm. Ngành du lịch được đánh là
ngành công nghiệp, dịch vụ trọng điểm trong những năm tới ước đạt thu nhập hàng
tỷ USD mỗi năm.
1.2.2.3. Đặc điểm nền kinh tế Indonesia
Indonesia là một nước giàu tài nguyên gồm: dầu mỏ, khí tự nhiên, thiếc, ni-
ken và bô-xít. Gần 40% lực lượng lao động làm nông nghiệp. Lúa là cây lương
thực chủ yếu, tuy nhiên vẫn không đủ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng trong
nước. Indonesia cũng xuất khẩu một số lượng đáng kể cao su, chè, cà phê và các
loại gia vị. Công nghiệp liên quan nhiều đến khai thác dầu khí, chế biến khoáng
sản và các sản phẩm nông nghiệp. [1]
Do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ và tăng trưởng chậm
của kinh tế toàn cầu, giá nhiên liệu tăng cao, chính phủ Indonesia nhận định nền
kinh tế đất nước cũng không thể phát triển cao hơn nữa trong thời gian tới. Mục
tiêu tăng trưởng kinh tế của Indonesia phấn đấu đạt mức ổn định từ 4-6%/năm
trong giai đoạn 2008-2013, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế sang công nghiệp và dịch vụ, kìm chế thâm hụt ngân sách và tỷ lệ
thất nghiệp, tăng cường xuất khẩu các sản phẩm phi dầu khí với mức tăng trung
bình khoảng 10%/năm. Bảng 1.3 chỉ ra một số chỉ tiêu kinh tế tiêu biểu của
Indonesia thời gian qua gợi ý phần nào cho hướng xuất khẩu của Việt Nam thời
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
13
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
gian tới.
Bảng 1.3 : Một số chỉ tiêu kinh tế của Indonesia
Đơn vị tính 2010 2011 2012 2013
GDP (PPP)
tỷ USD 1,074 1,143
1,212 * 1292,85
Tăng trưởng
GDP
% 6,1 % 6,5%
6% ** 6,67%
GDP theo đầu
người
USD/người 4.500 4.700 5.000 *** 5.214
GDP theo
ngành
Nông nghiệp 14.3%, Công nghiệp 46.9%; Dịch vụ 38.8%
Mặt hàng
nông nghiệp
gạo, sắn, lạc, cao su, ca cao, cà phê, dầu cọ, cùi dừa, gia cầm, thịt
bò, thịt lợn, trứng.
Các ngành
công nghiệp
dầu, khí đốt, dệt may, gia dầy, khai thác quặng, xi măng, hóa chất,
phân bón, gỗ công nghiệp, cao su, thực phẩm, du lịch
( Nguồn: Phòng Công nghiệp và Thương mại VIệt Nam-VCCI)
Ghi chú : *: xếp hạng thứ 16 toàn cầu
**: xếp hạng thứ 40 toàn cầu
***: xếp hạng thứ 55 toàn cầu
Indonesia là một thị trường quy mô rộng lớn với dân số 250 triệu người,
xếp thứ 4, đứng đầu tại ASEAN. Ngoài ra, Indonesia có hệ thống phân phối hàng
hóa tốt, nhu cầu tiêu thụ hàng nhập khẩu lớn. Chính từ đặc điểm về quy mô và cầu
thị trường, Indonesia thực sự là thị trường tiềm năng nhất để Việt Nam khai thác,
thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa ở thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai. Sự đa
dạng về nhu cầu mặt hàng, phân tầng nhu cầu tiêu dùng giúp Việt Nam dễ dàng
tiếp cận cùng một lúc nhiều đối tượng khác nhau phù hợp với mặt hàng xuất khẩu
của Việt Nam. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cũng phù hợp với nền sản xuất của Việt
Nam, tập trung nhiều vào các sản phẩm nông sản chế biến. Khả năng cạnh tranh
hàng hóa của Việt Nam ở thị trường đánh giá cao hơn khi quy mô thị trường lên
tới hàng trăm triệu người.
Tuy nhiên, thu nhập của người dân Indonesia không cao, do vậy sức tiêu
thụ hàng hóa yếu, và đây là điểm bất lợi đối với hàng hóa nhập khẩu vào thị
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
14
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
trường này. Ngoài ra, hơn 86% dân số theo đạo Hồi, nên các mặt hàng nhập
khẩu, đặc biệt là thực phẩm đều phải có chứng nhận là hàng “halal” (tiêu chuẩn
đạo Hồi). Quy định đối với mặt hàng nhập khẩu chưa minh bạch và phức tạp.
1.2.2.4. Đặc điểm nền kinh tế Malaysia
Malaysia là nước có thu nhập trung bình, nền kinh tế đã được chuyển đổi từ
những năm 70 từ sản xuất các nguyên vật liệu thô thành nền kinh tế đa ngành
nghề. Sau khi nhậm chức, cựu Thủ tướng ABDULLAH cố gắng thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế bằng cách hướng nguồn đầu tư vào khu vực công
nghệ cao, công nghệ y tế. Những nỗ lực này của ông đã được Tân thủ tướng Najip
tiếp tục thực hiện. Thủ tướng Najib cũng tiếp tục đẩy mạnh nhu cầu hoạt động
kinh tế trong nước, từ bỏ thói quen dựa dẫm vào xuất khẩu. Tuy nhiên, xuất
khẩu của Malaysia, đặc biệt trong ngành điện tử vẫn đóng vai trò quan trọng trong
sự phát triển kinh tế.
Từ sự đổi mới phát triển kinh tế của Malaysia có thể nói mang tới nhiều bài
học kinh nghiệm nhất cho Việt Nam khi hiệu quả sản xuất, kinh doanh các doanh
nghiệp nhà nước còn nhiều hạn chế. Cùng với sự đầu tư mạnh mẽ về khoa học-
công nghệ của Malaysia trong thời gian qua, Malaysia nhiều khả năng sớm vươn
lên dẫn đầu khu vực về khoa học- công nghệ. Điều này rất có lợi cho Việt Nam nếu
được học hỏi kinh nghiệm, hỗ trợ về mặt khoa học- công nghệ từ quốc gia này, đặc
biệt từ quá trình đầu tư đổi mới công nghệ. Qua đó, đổi mới cơ bản nền sản xuất
trong nước, hướng tới sự ổn định về xuất khẩu trong tương lai cả về cơ cấu mặt
hàng lẫn giá trị xuất khẩu.
Bảng 1.4 dưới dây cụ thể hóa mình chứng cho sự phát triển của Malaysia
trong thời gian qua thông qua một số chỉ tiêu tiêu biểu về kinh tế và một số mặt
hàng nông nghiệp, công nghiệp chính.
Bảng 1.4 : Một số chỉ tiêu kinh tế của Malaysia
Đơn vị tính 2010 2011 2012 2013
GDP (PPP)
tỷ USD 424,8 447
492 * 525,7
Tăng trưởng
GDP
% 7,2 5,1
4,4 ** 6,84
GDP theo đầu
người
USD/người 15.000 15.600
16.900 *** 17.965
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
15
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
GDP theo
ngành
Nông nghiệp 12%; Công nghiệp 41%; Dịch vụ 47%
Mặt hàng nông
nghiệp
cao su, dầu cọ, bột ca cao, gạo, dừa, gỗ, hạt tiêu
Mặt hàng công
nghiệp
chế biến cao su, dầu cọ, công nghiệp nhẹ, thuốc, điện tử khai
khoáng, chế biến gỗ, chế biển nông nghiệp, dầu khí
( Nguồn: Phòng Công nghiệp và Thương mại VIệt Nam-VCCI)
Ghi chú : *: xếp hạng thứ 30 toàn cầu
**: xếp hạng thứ 73 toàn cầu
***: xếp hạng thứ 74 toàn cầu
Malaysia tiếp tục thu được nhiều lợi nhuận từ việc xuất khẩu dầu, khí đốt
do giá năng lượng trên thế giới đang tăng cao. Tuy nhiên do giá gas và khí đốt
trong nước cũng tăng, kết hợp với tài chính thắt chặt, đã buộc các doanh nghiệp
xuất khẩu phải giảm thiểu sự hỗ trợ từ chính phủ. Chính phủ cũng bớt phụ thuộc
vào nhà cung cấp khí đốt là Petronas, công ty đóng góp hơn 40% trong tổng thu
nhập quốc dân . Ngân hàng Trung ương vẫn duy trì được tỷ giá ngoại tệ và cơ chế
điều hành cũng được thực hiện tốt đã hạn chế những rủi ro tài chính của
Malaysia trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, nhu cầu về
hàng tiêu dùng trên thế giới giảm mạnh đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất
khẩu của Malaysia và tốc độ phát triển kinh tế của nước này trong năm 2009 với
tăng trưởng GDP chỉ đạt -1.6%. Năm 2010, 2011 và 2012 kinh tế Malaysia hồi
phục với mức tăng GDP lần lượt đạt 7.2%, 5.2% và 4,4%. Năm 2013, nền kinh tế
tăng trưởng gần 7% với sự cải thiện rõ rệt về mức sống bình quân, đạt cao nhất
trong giai đoạn 2010-2013 xấp xỉ gần 18.000 USD/người. [1]
1.2.2.5. Đặc điểm nền kinh tế Philippines
Philippines là nước khá giàu tài nguyên thiên nhiên trên đất liền và dưới biển,
có nhiều khoáng sản như vàng, đồng, sắt, crôm, măng-gan, than đá, dầu lửa và khí
đốt. Năm 2004, Chính phủ ước tính trữ lượng khoáng sản trong lòng đất có tổng giá
trị khoảng từ 800 đến 1000 tỷ USD. Tuy nhiên, hiện nay Philippines mới chỉ xuất
khẩu khoáng sản khoảng 0,5 tỷ USD/năm. Bảng 1.5 cung cấp một số số liệu tiêu
biểu về nền kinh tế của Philippines và mặt hàng thiết yếu của quốc gia này [1]
Bảng 1.5 : Một số chỉ tiêu kinh tế của Phillipines
Đơn vị tính 2010 2011 2012 2013
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
16
Chuyên đề thực tập GVHD : PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
GDP (ppp) Tỷ USD 375,9 397,5
416,7 * 456,42
Tăng trưởng
GDP
% 7.6 3.9 4.8** 9,5
GDP theo đầu
người
USD/người 4.100 4.100 4.300 *** 4.685
GDP theo
ngành
Nông nghiệp 12.4%; Công nghiệp 31.3%; Dịch vụ 56.4%
Mặt hàng nông
nghiệp
Mía, ngô, dứa, gạo, dừa, chuối, sắn, xoài, thịt lợn, trứng, cá
Mặt hàng công
nghiệp
Lắp ráp điện tử, dệt may, gia dầy, dược, hóa chất, sản phẩm gỗ,
chế biến thực phẩm, dầu mỏ, đánh cá
( Nguồn: Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam-VCCI)
Ghi chú : *: xếp hạng thứ 33 toàn cầu
**: xếp hạng thứ 64 toàn cầu
***: xếp hạng thứ 162 toàn cầu
Qua bảng 1.5, có thể rút ra Philippines chủ yếu vẫn là một nước nông
nghiệp và trình độ phát triển còn thấp, GDP đầu người 4.100 USD (2011, xếp
hạng 156 toàn cầu). Năm 2013, GDP/người tăng lên 4.685 USD, bước đầu có sự
tăng trưởng và phát triển khá. Dân số dựa vào nông nghiệp là chủ yếu. Nông
nghiệp chiếm 12.3% GDP. Cây trồng chính là lúa, ngô, dừa, mía, chuối, dứa, cà
phê, thuốc lá, bông, đay, các loại đậu và cây Abaca để lấy sợi. Trước đây, công
nghiệp của Philippines chủ yếu là khai khoáng, gỗ và chế biến thực phẩm. Một
số ngành mới nổi lên là điện tử và may mặc xuất khẩu. Philippines buôn bán chủ
yếu với Hoa Kỳ, Nhật. Nhập khẩu chính của Philippines là: dầu mỏ, than đá, sắt
thép, vật liệu xây dựng, thiết bị máy móc, lương thực, hoá chất Chính từ đặc
điểm trên đây về sản xuất, cơ hội Việt Nam ở thị trường này là rất lớn khi các mặt
hàng xuất khẩu không chỉ giới hạn ở các sản phẩm thô mà còn là các mặt hàng chế
biến. Khả năng cạnh tranh của hàng hòa Việt Nam ở thị trường này là cũng lớn
hơn khi nền sản xuất của Phillipines còn nhiều hạn chế, bất cập. Thúc đẩy xuất
khẩu hàng hóa sang Philippines giai đoạn tới góp phần nâng cao vị thế của Việt
Nam tại thị trường này, ổn định đầu ra cho các sản phẩm chế biến của Việt nam.
Dịch vụ ở Philippines phát triển khá mạnh, chiếm trên 56,4% GDP.
SVTH : Hoàng Tấn Trúc Sơn Lớp : Kinh tế quốc tế 52D
17