Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

Đề thi ngữ văn 9

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (437.92 KB, 15 trang )

ĐỀ THI ĐỀ XUẤT
Kỳ thi Học sinh giỏi – Môn Ngữ văn 9- Thời gian làm bài 150 phút
Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hiền - giáo viên
Đơn vị : Trường THCS Chuyên Ngoại
NỘI DUNG ĐỀ THI:
Câu 1: (2. 0 điểm)
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.
(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
Xác định và phân tích giá trị của biện pháp tu từ được nhà thơ Chế Lan Viên
sử dụng trong đoạn thơ trên.
Câu 2: ( 3 điểm)
“Tôi nghĩ bụng: đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư.
Cũng giống như những con đường trên mặt đất, kì thực trên mặt đất vốn làm gì có
đường. Người ta đi mãi cũng thành đường thôi”
(Cố Hương- Lỗ Tấn)
Viết một bài văn ngắn nêu suy nghĩ về hình ảnh con đường ở cuối đoạn trích trên.
Câu 3: ( 5 điểm)
Viết bài văn ngắn khoảng một trang giấy thi trình bày suy nghĩ về câu nói
sau:
Con người sinh ra không phải để tan biến như một hạt cát vô danh. Họ sinh
ra để in dấu lại trên mặt đất, in dấu trong tim người khác.
Câu 4: ( 10 điểm)
"Một trong những thành công xuất sắc của truyện ngắn "Chiếc lược ngà" là
việc sáng tạo tình huống truyện bất ngờ mà tự nhiên, hợp lí đã thể hiện một cách
cảm động tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến
tranh".
Bằng hiểu biết của em về văn bản "Chiếc lược ngà" của nhà văn Nguyễn
Quang Sáng, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.


HẾT
HƯỚNG DẪN CHẤM HSG
MÔN: NGỮ VĂN 9
Câu Đáp án Điểm
1
- Xác định được biện pháp tu từ so sánh:
Đối tượng so sánh : con gặp lại nhân dân
Hình ảnh so sánh : nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, chim
ém gặp mùa, đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa, chiếc nôi
ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
(Một đối tượng được so sánh với rất nhiều hình ảnh)
- Phân tích được giá trị của biện pháp tu từ so sánh được sử
dụng: Với các hình ảnh so sánh cụ thể đã gợi được không
gian, thời gian của sự gặp gỡ và còn khẳng định được sự
gặp lại nầy là hợp với qui luật tự nhiên, xã hội; là cần thiết,
đúng lúc, đúng thời cơ.
* Học sinh phải biết phân tích các hình ảnh so sánh để thấy
được hiệu quả thẩm mỹ được tạo ra bởi biện pháp tu từ nầy.
Tuỳ theo mức độ phân tích mà định điểm sao cho phù hợp
0,5 đ
1,5 đ
2 1. Mở bài:
- Giới thiệu về tác giả Lỗ Tấn và tác phẩm Cố hương
- Hình ảnh con đường là hình ảnh biểu tượng mang tính triết
lí và suy ngẫm sâu sắc của tác giả.
2. Thân bài: Cần làm rõ các ý:
- Hình ảnh con đường theo nghĩa đen là con đường thực,
con đường ra đi của gia đình và nhân vật tôi.
- Theo nghĩa bóng là con đường tương lai của cả dân tộc,
của thế hệ trẻ. Con đường đó kì thực không có nhưng người

ta đi mãi cũng thành đường thôi. Nghĩa là để thành con
đường ấy trước hết phải có niềm tin, niềm hi vọng vào
tương lai phía trước. Sau đó phải có nhiều người cùng đi,
cùng kiên trì một hướng mới có thể hình thành một con
đường mới.
- Phải chăng Lỗ Tấn đang ngầm muốn nói đến những phong
trào dân chủ tiến bộ không ngăn cách giữa người và người
sẽ được thế hệ trẻ đi theo để cứu cả dân tộc.
- Liên hệ thực tế cuộc sống về những tấm gương đã tạo nên
những con đường thành công cho dân tộc ( Hồ Chí Minh…)
0,5đ
0,5đ
0,5đ
0,5đ
0,5đ
3. Kết bài:
- Khẳng định lại ý nghĩa biểu tượng mang tính triết lí của
hình ảnh con đường mà Lỗ Tấn đã đưa ra
Hình thức: - Đúng hình thức của một đoạn văn.
- Có bố cục mạch lạc, rõ ràng
0,5đ
3
1. Yêu cầu cụ thể:
* Hình thức:
- Học sinh biết vận dụng kiến thức và kĩ năng nghị luận để
suy nghĩ về một vấn đề của đời sống xã hội. Đó là quan
niệm, cách sống có mục đích.
- Tuy viết một trang giấy thi nhưng bài viết phải có bố cục 3
phần rõ ràng. Văn viết mạch lạc, trong sáng; không mắc các
lỗi.

* Về nội dung kiến thức:
1. MB:Giới thiệu vấn đề nghị luận
2. TB
- Giải thích ý nghĩa câu nói: Bằng cách nói hình ảnh so
sánh, ẩn dụ, câu nói khẳng định con người sinh ra không chỉ
để sống một cuộc đời tầm thường, vô vị. Đã sinh ra trong
cuộc đời, con người phải khẳng định vai trò tích cực của
mình với xã hội, những người xung quanh, phải sống có ích,
tốt đẹp.
- Vận dụng lí lẽ để khẳng định vấn đề:
+ Con người sinh ra nếu không có lí tưởng sống, cuộc
sống sẽ trở nên nhàm chán, vô vị, sống buông xuôi, thậm
chí buông thả, bất cần đời
+ Sống phải có công danh, sự nghiệp, giúp ích cho
đời. Vì khi sinh ra trong trời đất là ta đã mang món nợ với
cuộc đời. Mỗi người cần trả sòng phẳng món nợ sâu nặng
đó.
+ Khi có quan niệm sống có ích, sống tốt đẹp ta sẽ
thấy cuộc đời đẹp, đáng sống.
+ Có cống hiến cho đời bằng những việc làm cụ thể,
con người mới có thể in dấu của mình trong xã hội. Và biết
sống cho người khác, vì người khác là yêu tố quan trọng có
ý nghĩa quyết định để con người in dấu trong tim người
khác.
- Nêu dẫn chứng minh họa:
+ Cha mẹ in dấu trong tim con cái bằng sự chăm sóc,
nuôi dưỡng, tình yêu thương, dạy dỗ chu đáo.
+ Có những anh hùng dân tộc in dấu trên mặt đất và
trong tim chúng ta bằng những hành động chiến đấu phi
0,5 đ

1 đ
1 đ

thường và sự hy sinh anh dũng
+ Các bậc vĩ nhân in dấu trên mặt đất và trong tim
chúng ta bằng sự nghiệp lừng lẫy, sự đóng góp lớn lao cho
cuộc đời bằng tấm gương đạo đức sáng ngời: Bác Hồ, Lê-
nin,………
+ Những kẻ sống chủ nghĩa cá nhân, những tên bạo
chúa, những tên sống với tham vọng điện cuồng Những
người sống mà như chết hay sống lay lắt trong cuộc đời, ăn
bám gia đình và xã hội không bao giờ in dấu lại trên mặt
đất, in dấu trong tim người khác.
- Nhận thức hành động đúng can có:
Mỗi người sinh ra cần có quan niệm sống tốt đẹp,
tích cực, để lại danh thơm, tiếng tốt; biết sống vì người
khác, biết đóng góp công sức cho cuộc đời chung (Như học
tập, lao động tốt, giúp đỡ người khác, lên tiếng với hành
động xấu chắc chắn sẽ được in dấu lại trên mặt đất, in
dấu trong tim người khác.
3. KB: bản thân rút ra bài học

0.5 đ
4
*Yêu cầu về kĩ năng:
- HS biết cách làm một bài văn nghị luận văn học dựa
trên một tác phẩm truyện, có năng lực cảm thụ, giải thích,
phân tích, chứng minh và đánh giá khái quát làm rõ ý kiến
văn học.
- Trình bày mạch lạc, rõ ràng, lập luận chặt chẽ, có cảm

xúc.
* Yêu cầu về kiến thức:
*MB.Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm và nội dung
cần làm sáng tỏ
1. Tình huống truyện
- Hai cha con gặp nhau sau tám năm xa cách, nhưng
thật bất ngờ bé Thu lại không nhận cha. Đến lúc em nhận ra
và biểu lộ tình cảm mãnh liệt thì ông Sáu lại phải đi chiến
đấu.
- Ở khu căn cứ ông Sáu tận tâm, tận lực làm cây lược
ngà để tặng con nhưng ông đã hi sinh khi chưa kịp trao món
quà ấy cho con.
Nhận xét: Tình huống truyện mang tính bất ngờ mà tự
nhiên, hợp lí nhằm khắc họa hoàn cảnh éo le trong chiến
tranh đồng thời giúp nhân vật bộc lộ được thế giới tình cảm
phong phú, đặc biệt là tình cha- con.
2.Tình cảm cha con
a) Tình con đối với cha
- Khi bé Thu chưa nhận cha: nhìn cha với cặp mắt xa
lạ, ngờ vực, thái độ lạnh nhạt, xa lánh thậm chí còn gay gắt.


2 đ
- Khi bé Thu nhận ra cha: nghe lời bà ngoại giải thích
em ân hận, biểu lộ tình yêu cha cuống quít, mãnh liệt và hết
sức tội nghiệp thì cũng là lúc ông sáu phải lên đường
Nhận xét: Thái độ và hành động củaThu trong hai thời
điểm không đáng trách mà đáng thương chứng tỏ tình yêu
thương sâu sắc, mãnh liệt mà cũng rất hồn nhiên, trong sáng
trong em.

b) Tình cha đối với con
- Khi về thăm nhà: nóng vội, khao khát được gặp con,
dành hết tình thương yêu cho con mà không được đền đáp
nên ông đau khổ và bất lực.
- Khi trở lại chiến trường:day dứt, ân hận, dồn hết nỗi
nhớ và tình yêu thương để làm chiếc lược ngà cho con
nhưng chưa kịp trao thì ông lại hi sinh trước khi nhắm mắt,
ông cố sức lấy chiếc lược, nhờ đồng đội trao lại cho con gái
(“Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại
điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết
được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và
nhìn tôi một hồi lâu”). Đến phút cuối của cuộc đời, người
cha ấy vẫn chỉ nghĩ đến con, dành trọn vẹn tình cảm cho
con.
⇒ Như vậy thường trực, đau đáu trong cảm xúc, suy nghĩ,
tâm trạng, hành động, cử chỉ của ông Sáu từ khi được gặp
con đến khi vĩnh biệt cuộc đời là hình ảnh đứa con yêu dấu.
3. Đánh giá chung:
- Khẳng định giá trị đặc sắc của tình huống truyện góp
phần làm nổi bật tình phụ tử thiêng liêng, thắm thiết.
-Từ đó gợi lên ở người đọc nỗi xúc động thấm thía về
những đau thương mất mát, những cảnh ngộ éo le mà con
người phải gánh chịu do chiến tranh.
* KB: khẳng định tình huống truyện bất ngờ mà tự nhiên,
hợp lí đã thể hiện một cách cảm động tình cảm cha con sâu
nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh".



ĐỀ THI ĐỀ XUẤT

Kỳ thi tuyển sinh vào 10 chuyên – Môn Ngữ văn - Thời gian làm bài 150 phút
Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hiền - giáo viên
Đơn vị : Trường THCS Chuyên Ngoại
NỘI DUNG ĐỀ THI:
Câu 1 ( 3đ )
Kết thúc truyện “ Chuyện người con gái Nam Xương ‘ Nguyễn Dữ viết :
“ Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng, theo sau đến năm
mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện.
Chàng vội gọi, nàng vẫn ở giữa dòng mà nói vọng vào:
- Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ
tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.
Rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ dần rồi biến mất.”
Nêu cảm nhận của em về cách kết thúc câu chuyện trên
Câu 2 (2điểm):
ĐỪNG SỢ VẤP NGÃ
Đã bao lần bạn vấp ngã mà không hề nhớ. Lần đầu tiên chậpchững bước đi, bạn
đã bị ngã. Lần đầu tiên tập bơi, bạn uống nước và suýt chết đuối phải không ? Lần
đầu tiên chơi bóng bàn, bạn có đánhtrúng bóng không ? Không sao đâu vì …
(Ngữ văn 7, tập 2, trang 41)
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) để trình bày lí do vì sao
chúng ta không nên sợ vấp ngã.
Câu 3: (6 điểm)
Suy nghĩ về hình ảnh ba nữ thanh niên xung phong trong truyện Những
ngôi sao xa xôi của tác giả Lê Minh Khuê.Qua truyện ngắn này và những tác phẩm
khác đã học cũng viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, em hình dung và hiểu biết
được gì về thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ ấy ?
HẾT
Híng dÉn chÊm

u

Nội dung cần đạt Điểm
1.
- Hình ảnh Vũ Nương trở về trong một không gian rực rỡ và tràn
đầy ánh sáng như một sự đền bù xứng đáng cho người phụ nữ có
phẩm chất tốt đẹp nhưng cuộc đời bất hạnh. Nỗi oan của Vũ
Nương đã được giải. Đây là một kết thúc có hậu ta vẫn thường gặp
trong truyện dân gian : Ở hiền gặp lành.
0,75đ
- Cách kết thúc ấy đã làm hoàn thiện thêm vẻ đẹp ở nhân vật Vũ
Nương :
+ Đối với chồng con: nàng là người phụ nữ độ lượng, vị tha, ân
tình, nhân hậu.
+ Đối với Linh Phi: ngàng là người trọng tình, trọng nghĩa giữ trọn
lời hứa.
0.75đ
- Câu truyện kết thúc có hậu song vẫn tiềm tàng tính bi kịch, Vũ
Nương mãi mãi không thể trở về trần gian, cuộc sống giàu sang mà
nàng có nơi làn mây cung nước chỉ là ảo ảnh, hạnh phúc thực sự sẽ
không bao giờ đến với Vũ Nương. Chọn cách kết thúc ấy làm giá
trị tố cáo của truyện càng trở nên sâu sắc. Chế độ nam quyền độc
đoán đã không cho người phụ nữ quyền hưởng hạnh phúc. Phải
chăng với những người phụ nữ phong kiến hạnh phúc đối với họ là
quá mong manh, hư không.
0.75đ
- Hình ảnh Vũ Nương trở về trên kiệu hoa rực rỡ là hình ảnh đặc
sắc nhất thể hiện đặc trưng của thể loại truyền kì làm truyện thêm
sâu sắc, hấp dẫn.
Hình ảnh cuối truyện Vũ Nương hiện lên mờ ảo lúc ẩn lúc hiện
nói với chồng vài lời rồi biến mất. Nàng không thể trở lại nhân gian
được nữa dù rất thương nhớ chồng con, dù Trương Sinh rất hối hận

đau lòng đã nói lên một bài học : Phải có niềm tin với những người
thân yêu, bởi nếu thiếu nó thì sẽ rất khó đắp xây hạnh phúc gia
đinh, phải biết trân trọng nâng niu những gì mình đang có.
0,5đ
Hình ảnh cuối truyện Vũ Nương hiện lên mờ ảo lúc ẩn lúc hiện nói
với chồng vài lời rồi biến mất. Nàng không thể trở lại nhân gian
được nữa dù rất thương nhớ chồng con, dù Trương Sinh rất hối hận
đau lòng đã nói lên một bài học : Phải có niềm tin với những người
thân yêu, bởi nếu thiếu nó thì sẽ rất khó đắp xây hạnh phúc gia
đinh, phải biết trân trọng nâng niu những gì mình đang có.
0.25đ

u
Nội dung cần đạt Điểm
a.Yêu cầu về kĩ năng
- Nắm phương pháp làm bài nghị luận xã hội.
- Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.
- Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận (giải thích, chứng
minh, bình luận… ).
- Văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục. Không
mắc lỗi diễn đạt; không sai lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp; trình bày
bài rõ ràng
b. Yêu cầu về kiến thức
1.MB: Giới thiệu được vấn đề nghị luận
0,25đ
2.TB
- Vấp ngã được hiểu là không đạt được điều mình muốn, không được
như ý, thất bại.
- Cuộc sống luôn có những gian truân, trở ngại mà khả năng con
người có hạn nên chúng ta thường gặp phải những việc không như ý.

Tuy nhiên, thất bại có thể là môi trường rèn luyện ý chí để trưởng
thành.
- Với bản lĩnh, ý chí, ta có thể biến thất bại thành kinh nghiệm, sự
trải nghiệm để thành công sau này.
- Không nên lo sợ khi vấp ngã vì “thất bại là mẹ thành công”. Với sự
nỗ lực, bản lĩnh, ý chí, kiên trì, chúng ta sẽ vượt qua khó khăn và đạt
được kết quả tốt đẹp.
- Lưu ý: học sinh cần có dẫn chứng để làm sáng tỏ.
- Phê phán những người nhụt chí khi thất bại, không dám đối đầu với
thử thách …
- Rèn ý chí, thái độ sống đúng đắn
1.5đ
3.KB: HS rút ra bài học bản thân 0,25đ
3
a/ Kỹ năng:
Biết cách làm bài văn nghị luận văn học; kết cấu chặt chẽ, diễn
đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.
b/ Kiến thức:
HS có thể có những cách trình bày khác nhau nhưng cần đảm
bảo các ý chính sau
1. MB:Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm và nội dung cần
làm sáng tỏ (0.5đ)
2. TB
-Hoàn cảnh sống và chiến đấu rất gian khổ, hiểm nguy của các
nhân vật nữ thanh niên xung phong (0.5đ)
-Mặc dú thế , họ vẫn có tinh thần tự nguyện đón nhận trách
nhiệm đối với cuộc chiến khốc liệt.Đó cũng chính là tinh thần và ý
chí của các thề hệ trẻ trong thời kháng chiến chống Mỹ( 0.5đ)
-Những nữ thanh niên xung phong trong truyện mang trong


u
Nội dung cần đạt Điểm
3
mình những phẩm chất , tính cách cao đẹp và đáng yêu đầy nữ
tính .Họ sẵn sàng “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước ; Mà lòng phơi
phới dậy tương lai.”(o.75đ)
-Ở những nhân vật nữ thanh niên xung phong còn hấp dẫn
người đọc với sự cống hiến, hy sinh, của cách sống đẹp và hết sức
trong sáng, hồn nhiên.đó cũng là nét tính cách tiêu biểu của thế hệ trẻ
trong thời ký kháng chiến chống Mỹ.(0.75đ)
-Truyện sử dụng vai kể là nhận vật chính , có cách kể chuyện
tự nhiên, ngôn ngữ sinh động, trẻ trung và đặc biệt thành công về
nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật (0.5đ)
*HS cần mở rộng ra các nhân vật trong những tác phẩm cũng
viết về đề tài chống Mỹ cứu nước để làm rõ những phẩm chất tốt đẹp
của thế hệ trẻ trong một thời oanh liệt đấy máu và nước mắt .Thông
qua một số tác phẩm tiêu biểu cũng viết về đề tài chống Mỹ cứu
nước như :Bài thơ về tiểu đội xe không kính; Chiếc lược ngà; Lặng
… cần làm sáng tỏ những phẩm chất tốt đẹp của thế hệ trẻ thời
chống Mỹ cứu nước như: Yêu nước, căm thù giặc, chiến đấu dũng
cảm, tinh thần lạc quan cao độ.(1đ)
3. KB :Như vậy, truyện Những ngôi sao xa xôi làm nổi bật
tâm hồn trong sáng , giàu mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống
chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh mất mát nhưng rất hồn nhiên, lạc
quan của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường
Trường Sơn.Đó là hình ảnh đẹp, tiêu biểu về thế hệ trẻ Việt Nam
trong thời kháng chiến chống Mỹ.(0.5đ)


Lưu ý: Trên đây chỉ là những định hướng, khi chấm giáo viên cần khuyến khích

những bài văn có cảm xúc và bài làm sáng tạo của học sinh

THI XUT
K thi tuyn sinh vo 10 Mụn Ng vn - Thi gian lm bi 120 phỳt
H v tờn : Nguyn Th Thu Hin - giỏo viờn
n v : Trng THCS Chuyờn Ngoi
Cõu 1 (1 im):
Gii thớch ý ngha ca cỏc thnh ng sau v cho bit mi thnh ng cú liờn
quan n phng chõm hi thoi no:
a. ễng núi g, b núi vt
b. Núi nh m vo tai
Cõu 2. (2.5 im)
a) Bng trớ nh, em hóy ghi li nguyờn vn kh th cui trong bi
Ving lng Bỏc ca Vin Phng. V nờu hon cnh sỏng tỏc bi th?
b) Ch ra bin phỏp ngh thut c s dng trong kh th em va chộp v
nờu tỏc dng ca bin phỏp ngh thut y? Hỡnh nh hng tre kh th u v
hỡnh nh cõy tre kh th cui cú ý ngha gỡ?
Cõu 3.(2.5 im)
Anh / ch ngh nh th no v cõu núi:
"i phi tri qua giụng t nhng khụng c cỳi u trc giụng t"
( Trớch Nht ký ng Thu Trõm )
Câu 4.( 4 điểm)
Cảm nhận của em về tình cảm của nhân vật ông Sáu dành cho con trong
đoạn trích Chiếc lợc ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.
Ht
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN: NGỮ VĂN 9

Câu Đáp án Điểm
1
Giải thích được ý nghĩa của thành ngữ và nêu được phương châm hội thoại

liên quan đến thành ngữ đó. Cụ thể là:
a. Ông nói gà, bà nói vịt:
- Ý nghĩa: mỗi người nói một đằng, nói không khớp với nhau, không hiểu
nhau.
- Phương châm hội thoại liên quan: phương châm quan hệ.
b. Nói như đấm vào tai:
- Ý nghĩa: nói mạnh, trái ý người khác, khó tiếp thu, gây khó chịu cho
người khác.
- Phương châm hội thoại liên quan: phương châm lịch sự.
0,25
0,25
0,25
0,25
Câu 2(2.5điểm)
a.
Chép chính xác khổ thơ(1,0 đ): sai từ, sai chính tả không cho điểm.
- Hoàn cảnh sáng tác: năm 1976 sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết
thúc, đất nước thống nhất, lăng chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh
thành, tác giả ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ. Bài thơ "Viếng
lăng Bác" được sáng tác trong dịp đó
b.
- Biện pháp nghệ thuật và tác dụng: Điệp ngữ “Muốn làm” và liệt kê
những cảnh vật bên lăng mà tác giả muốn hoá than “con chim” “đoá hoa”
“cây tre” ( 0,25đ) để diễn tả tâm trạng lưu luyến muốn được ở bên Bác.
Đặc biệt hình ảnh “ cây tre trung hiếu”nghĩa là ước muốn sống đẹp, trung
thành với lí tưởng của Bác, của dân tộc. ( 0,25đ)
- Hình ảnh “ hàng tre” ở khổ thơ đầu và hình ảnh “cây tre” ở khổ thơ cuối
với một nét nghĩa bổ sung “ cây tre trung hiếu” tạo cho bài thơ có kết cấu
đầu cuối tương ứng, làm đậm nét hình ảnh hàng tre, gây ấn tượng sâu sắc
và dòng cảm xúc được trọn vẹn…

1.đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
Câu 3 ( 2.5đđiểm)
a. Về kĩ năng
- Biết cách làm kiểu bài nghị luận xã hội, kết hợp các thao tác: giải thích,
phân tích, chứng minh.
- Viết đủ và rõ bố cục; luận điểm đúng đắn, rõ ràng, sáng tỏ.
- Diễn đạt lưu loát.
b. Về kiến thức
Bài viết có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần có các ý cơ
bản sau:
1 - Nêu nhận định chung và trích dẫn câu nói: Cuộc sống đầy những chông gai
thử thách, đừng bao giờ đầu hàng trước số phận mà hãy tự vươn lên đối đầu
với mọi chông gai và khẳng định ý nghĩa của câu nói.
0,25
2 a/Giải thích khái niệm của đề bài (câu nói)
+ Giông tố ở đây dùng để chỉ cảnh gian nan đầy thử thách hoặc việc xảy ra
dữ dội . Đó có thể là một căn bệnh hiểm nghèo, một đổ vỡ trong kế hoạch
làm ăn, một thất bại trong học tập, một phá sản trong kinh doanh
+ Câu nói khẳng định: cuộc đời có thể trải qua nhiều gian nan nhưng chớ
cúi đầu trước khó khăn, chớ đầu hàng thử thách, gian nan. ( Đây là vấn đề
nghị luận)
0,75
3 b/Giải thích, chứng minh vấn đề: Có thể triển khai các ý:
+ Cuộc đời của con người thường có nhiều khó khăn, thử thách, nhiều thăng
trầm trong cuộc sống, chúng ta phải biết vươn lên, vượt qua mọi thử thách
của cuộc đời, đừng vì khó khăn, trắc trở ngay trước mắt mà vội vàng từ bỏ.
Đừng bao giờ “ngại núi, e sông” hoặc “Đời phải trải qua giông tố nhưng

không được cúi đầu trước giông tố”. Cuộc sống không phải lúc nào cũng
bằng phẳng, thuận lợi mà đôi khi con người phải đối mặt với nhiều chông
gai, thử thách, thậm chí là cả thất bại.
+ Giông tố, gian nan thử thách trong đời chính là môi trường tôi luyện cho ý
chí ta thêm vững bền. Gian nan, thử thách chính là môi trường tôi luyện con
người. Nhiều khi thử thách, chông gai lại làm con người trưởng thành
hơn.Những khó khăn, gian khổ mà con người cần vượt qua có thành công
hay không là do chính bản thân họ, cho dù có khó đến đâu nhưng lòng người
có ý chí vững vàng, niềm tin vào bản thân và cố gắng hết sức vượt qua thì
cũng sẽ thành công, còn ngược lại, không có lòng quyết tâm, ý chí tin vào
chính mình, không cố gắng hết sức thì cũng sẽ không làm được gì.
+ Lấy một vài dẫn chứng để làm rõ nhận định trên.
o.5
4 c/Khẳng đinh, bàn bạc mở rộng vấn đề: 0.75
+ Câu nói trên là tiếng nói của một lớp trẻ sinh ra và lớn lên trong thời đại
đầy bão táp, sống thật đẹp và hào hùng.
+ Câu nói thể hiện một quan niệm nhân sinh tích cực : sống không sợ gian
nan , thử thách , phải có nghị lực và bản lĩnh.
+ Nhận định về một số hành động tiêu cực, sống vội của giới trẻ, của những
con người tự ti để làm rõ hơn trong XH vẫn còn nhiều hiện tượng đáng lên
án.
+ Câu nói gợi cho bản thân nhiều suy nghĩ: trong học tập, cuộc sống bản
thân phải luôn có ý thức phấn đấu vươn lên. Bởi cuộc đời không phải con
đường bằng phẳng mà đầy chông gai, mỗi lần vấp ngã không được chán nản
bi quan. Để có được điều này thì cần phải làm gì?
+ Liên hệ, rút ra bài học cho bản thân.
5 - Khẳng định ý nghĩa của câu nói và lời nhắn nhủ của mình với mọi người và
nhất là với các bạn trẻ trong XH ngày nay
0,25
Câu 4. (4,0 điểm)

I. Yêu cầu chung:
- Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (kiểu bài phân
tích nhân vật). Qua phân tích biết khái quát, đánh giá ý nghĩa tư tưởng, giá trị nghệ
thuật của tác phẩm.
- Bố cục ba phần rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả,
dùng từ và diễn đạt.
II. Yêu cầu cụ thể và cách cho điểm:
Ý Nội dung cần đạt Điểm
1. Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Quang Sáng, truyện ngắn
“Chiếc lược ngà”, nhân vật ông Sáu - người cha yêu thương con sâu
nặng.
0,5đ
2. Phân tích nhân vật ông Sáu để thấy được tình yêu thương sâu nặng mà
người cha dành cho con.
Học sinh cần bám vào tình huống truyện, chọn chi tiết nghệ thuật đặc
sắc để làm rõ điều đó.
2,5đ
* Tình cảm của ông Sáu với con trong những ngày ông được nghỉ
phép:
1,0đ
+ Sau tám năm xa cách, khi được nghỉ phép về thăm nhà, ông vồ vập
đến với con ( ).
0,25đ
+ Những ngày nghỉ phép, ông tìm mọi cách để gần con, quá nóng ruột,
không kìm được mình, ông đánh con ( ). Giây phút chia tay, được
nghe con gọi “ba”, ông sung sướng, xúc động nghẹn ngào không cầm
0,75đ
Ý Nội dung cần đạt Điểm
được nước mắt ( ).
* Tình cảm của ông Sáu với con được thể hiện tập trung và sâu sắc

ở phần sau của truyện, khi ông Sáu ở trong rừng, tại khu căn cứ:
1,5 đ
+ Ông luôn day dứt, ân hận đã đánh con khi nóng giận. Lời dặn của
con lúc chia tay: “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba!” đã
thúc đẩy ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà dành cho con.
0,25đ
+ Khi kiếm được một khúc ngà, ông đã vô cùng vui sướng, rồi dành
hết tâm lực vào việc làm cây lược (“Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc
răng lược thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, “Trên
sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn
khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”). Chiếc lược ngà đã
thành một vật quí giá, thiêng liêng với ông Sáu. Nó làm dịu đi nỗi ân
hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến, nhớ thương, mong đợi
của người cha với đứa con xa cách.
0,75đ
+ Bị thương nặng trong một trận càn của địch, trước khi nhắm mắt,
ông cố sức lấy chiếc lược, nhờ đồng đội trao lại cho con gái (“Trong
giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như
chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc
cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu”). Đến phút cuối của
cuộc đời, người cha ấy vẫn chỉ nghĩ đến con, dành trọn vẹn tình cảm
cho con.
⇒ Như vậy thường trực, đau đáu trong cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng,
hành động, cử chỉ của ông Sáu từ khi được gặp con đến khi vĩnh biệt
cuộc đời là hình ảnh đứa con yêu dấu.
0,5đ
3. Đánh giá chung: 1,0đ
+ Bằng ngòi bút nghệ thuật tinh tế, đậm chất Nam Bộ, Nguyễn Quang
Sáng đã xây dựng thành công nhân vật ông Sáu. Tác giả để nhân vật
này hiện lên qua lời kể mộc mạc, chân thật của người kể chuyện là ông

Ba (bạn thân của ông Sáu); đặt nhân vật vào tình huống bất ngờ nhưng
tự nhiên, hợp lí; miêu tả tâm lí, tình cảm nhân vật sâu sắc; sáng tạo
hình ảnh chiếc lược ngà mang nhiều ý nghĩa.
0,5đ
+ Nhân vật ông Sáu đã góp phần thể hiện sâu sắc tư tưởng chủ đề của
truyện. Qua nhân vật này, nhà văn đã khẳng định và ngợi ca tình phụ
tử thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc. Tình cảm ấy là cội
nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt lên sự huỷ diệt tàn bạo của chiến
tranh, chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.
0,5đ

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×