BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ MINH TRÍ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ TẠI TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ MINH TRÍ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ TẠI TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành : KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số : 62 31 01 05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
1. PGS.TS. BÙI BẰNG ĐOÀN
2. TS. VŨ THỊ PHƯƠNG THỤY
HÀ NỘI, NĂM 2015
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng
dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được
cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 27 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận án
Đỗ Minh Trí
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận án tiến sĩ này được thực hiện nghiên cứu và hoàn thành tại Bộ môn
Kinh tế Tài nguyên và Môi trường thuộc Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn của
Học Viện nông nghiệp Việt Nam. Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
PGS.TS. Bùi Bằng Đoàn và TS. Vũ Thị Phương Thụy đã dành nhiều sự quan tâm,
kinh nghiệm và trí tuệ giúp tôi trưởng thành trong quá trình nghiên cứu để hoàn
thành luận án.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới tập thể các nhà khoa học đã
tận tình, ân cần hướng dẫn tôi nghiên cứu khoa học trong quá trình làm luận án và
tập thể các thầy, cô giáo Bộ môn Kinh tế Tài nguyên và Môi trường, Khoa Kinh tế
và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý đào tạo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Thường trực Tỉnh ủy Hưng Yên, Lãnh đạo UBND
tỉnh Hưng Yên, lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh Hưng Yên; Sở Kế hoạch và Đầu
tư, Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Sở Công thương, Sở Xây dựng, Sở Tài
nguyên và Môi trường, Cục Thống kê, Cục Thuế, Sở Giao thông vận tải, các doanh
nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh đã tạo điều kiện, hợp tác
giúp đỡ tôi thực hiện luận án.
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các đồng nghiệp, bạn
bè và gia đình, đặc biệt là vợ và con tôi đã luôn động viên kịp thời, giúp đỡ, chia sẻ
để tôi hoàn thành luận án tiến sĩ.
Hà Nội, ngày 27 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận án
Đỗ Minh Trí
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục sơ đồ và đồ thị ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Những đóng góp mới của luận án 5
Chương 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG
CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ 6
1.1 Lý luận nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thu hút đầu tư 6
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 6
1.1.2 Phân loại cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 11
1.1.3 Cấu thành năng lực, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 17
1.1.4 Sự cần thiết và mối quan hệ giữa nâng cao năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh với thu hút đầu tư 23
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 28
1.2 Thực tiễn nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư một số nước
trên thế giới và ở Việt Nam 38
1.2.1 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu 38
1.2.2 Kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thu hút đầu tư ở
một số nước trên thế giới 40
iv
1.2.3 Bài học kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thu hút
đầu tư của một số tỉnh ở Việt Nam 43
1.2.4 Một số bài học kinh nghiệm cho Hưng Yên 49
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài 50
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 52
2.1 Đặc điểm phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Hưng Yên 52
2.1.1 Các điều kiện tự nhiên của tỉnh 52
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 53
2.2 Phương pháp nghiên cứu 61
2.2.1 Xây dựng khung phân tích 61
2.2.2 Phương pháp tiếp cận của đề tài 61
2.2.3 Phương pháp chọn điểm khảo sát 63
2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu 66
2.2.5 Phương pháp xử lý và tổng hợp giữ liệu 68
2.2.6 Hệ thống các chỉ tiêu nghiêu cứu 69
Chương 3 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ THU HÚT
ĐẦU TƯ Ở TỈNH HƯNG YÊN 72
3.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh ở Hưng Yên 72
3.1.1 Xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh của Hưng Yên so với cả nước 72
3.1.2 Thực trạng các yếu tố chủ yếu cấu thành năng lực của tỉnh Hưng Yên 76
3.2 Khái quát tình hình thu hút đầu tư 98
3.2.1 Tình hình thu hút số lượng nhà đầu tư 98
3.2.2 Tình hình về dự án, lĩnh vực đầu tư 104
3.2.3 Tình hình thu hút vốn đầu tư 109
3.3 Mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư 115
3.3.1 Quan hệ giữa chỉ số năng lực cạnh tranh với kết quả thu hút đầu tư 115
3.3.2 Đánh giá thành công và hạn chế trong việc nâng cao năng lực cạnh
tranh và thu hút đầu tư ở Hưng Yên 120
v
Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH NHẰM
THU HÚT ĐẦU TƯ Ở TỈNH HƯNG YÊN 125
4.1 Bối cảnh kinh tế, quan điểm và mục tiêu của Hưng Yên trong việc đẩy
mạnh thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội 125
4.1.1 Bối cảnh 125
4.1.2 Quan điểm của Hưng Yên 127
4.1.3 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Hưng Yên từ nay đến năm 2020 128
4.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thu hút đầu tư ở tỉnh
Hưng Yên 129
4.2.1 Hoàn thiện chính sách về thu hút đầu tư và cải cách thủ tục hành chính 129
4.2.2 Giải pháp đẩy mạnh xây dựng phát triển hệ thống đường giao thông 134
4.2.3 Phát triển nguồn nhân lực tại địa phương 137
4.2.4 Phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề 142
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 146
1 Kết luận 146
2 Đề xuất 148
Danh mục các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến luận án 150
Tài liệu tham khảo 151
Phụ lục 157
vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Tiếng Việt (tiếng Anh - nếu có)
ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
(Association of Southeast Asian Nations)
AFTA
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area)
CCTTHC Cải cách thủ tục hành chính
CCN Cụm công nghiệp
DN Doanh nghiệp
EU
Liên minh Châu Âu (European Union)
EWEC Hành lang kinh tế Đông Tây (East West Economic Corridor)
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
FII
Đầu tư gián tiếp (Foreign Indirect Investment)
HĐND Hội đồng nhân dân
ISO Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế
(International Organization for Standardization)
KCN Khu công nghiệp
NXB Nhà xuất bản
ODA Viện trợ phát triển chính thức
(Official Development Assistance)
PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
(Provincial Competitiveness Index)
QPPL Quy phạm pháp luật
SXKD Sản xuất kinh doanh
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TPP Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên
(Trans Pacific Strategic Economic Partnership Agreement)
UBND Ủy ban nhân dân
USAID
Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
(United States Agency for International Development)
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
(Vietnam Chamber of Commerce and Industry)
WEF Diễn đàn Kinh tế thế giới (World Economic Forum)
WTO
Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
2.1 Tình hình dân số, lao động của tỉnh Hưng Yên 54
2.2 Thực trạng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp trên địa
bàn tỉnh 55
2.3 Cơ cấu lao động làm việc theo ngành trong các doanh nghiệp 56
2.4 Đóng góp của các khu vực kinh tế vào tăng trưởng chung 60
2.5 Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 64
2.6 Số lượng mẫu được chọn điều tra 65
3.1 Đánh giá về triển khai chính sách và cải cách thủ tục hành chính 79
3.2 Đánh giá của doanh nghiệp về tình hình lao động 84
3.3 Tình hình về chất lượng lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh 86
3.4 Hiện trạng đường bộ tỉnh Hưng Yên 87
3.5 Mật độ quốc lộ, đường tỉnh so với khu vực đồng bằng sông Hồng và
cả nước 88
3.6 Kế hoạch xây dựng và cải tạo trạm biến áp 110 KV giai đoạn 2011 – 2015 89
3.7 Ý kiến về chất lượng cơ sở hạ tầng kinh tế 90
3.8 Ý kiến của doanh nghiệp về chất lượng đường giao thông trên địa bàn tỉnh 91
3.9 Ý kiến doanh nghiệp đánh giá về chất lượng và hiệu quả các dịch vụ
công trên địa bàn tỉnh cung cấp tới doanh nghiệp 93
3.10 Đánh giá về công tác quy hoạch khu công nghiệp, cụm công nghiệp
trên địa bàn tỉnh 98
3.11 Đánh giá của doanh nghiệp về chất lượng môi trường kinh doanh ở
Hưng Yên 102
3.12 Số lượng dự án đã đăng ký đầu tư tại Hưng Yên 104
3.13 Thành phần doanh nghiệp đang hoạt động tại Hưng Yên 105
3.14 Ý kiến về tình hình triển khai thực hiện dự án 106
viii
3.15 Lĩnh vực đầu tư của các dự án đang hoạt động 108
3.16 Ý kiến của doanh nghiệp, cá nhân về tiếp cận nguồn vốn 112
3.17 Tốc độ triển khai vốn thực hiện của doanh nghiệp 112
3.18 Tình hình thu ngân sách và thứ hạng PCI Hưng Yên so với các tỉnh 117
ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ
STT Tên sơ đồ Trang
2.1 Khung phân tích năng lực cạnh tranh cấp tỉnh nhằm thu hút đầu tư 62
STT Tên đồ thị Trang
2.1 Cơ cấu kinh tế tỉnh Hưng Yên 58
2.2 Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh 59
3.1 Xếp thứ hạng PCI tỉnh Hưng Yên 73
3.2 Chỉ số thành phần PCI Hưng Yên 75
3.3 Mạng lưới cơ sở dạy nghề các tỉnh, thành phố (tính đến hết năm 2011) 82
3.4 Cơ cấu doanh nghiệp đóng tại địa bàn các huyện, thành phố tỉnh Hưng Yên 94
3.5 Số lượng các nhà đầu tư đã đăng ký tại Hưng Yên 101
3.6 Cơ cấu số lượng doanh nghiệp công nghiệp theo quy mô vốn sản xuất
kinh doanh 110
3.7 Tổng vốn đầu tư trên địa bàn 114
3.8 Quan hệ giữa phát triển doanh nghiệp với thứ hạng PCI 115
3.9 Quan hệ giữa thứ hạng PCI với thu ngân sách tỉnh Hưng Yên 118
3.10 Quan hệ giữa thứ hạng PCI với tổng vốn đầu tư 119
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện chủ trương chung của Đảng, Nhà nước về hội nhập phát triển kinh
tế, trong thời gian qua nhiều tỉnh, thành phố đã tích cực triển khai, xây dựng môi
trường đầu tư nhằm cải thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút vốn đầu tư và
tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Một số
địa phương đã có thành công trong việc cải thiện môi trường đầu tư, kết quả bước
đầu thể hiện rõ là đã ổn định được tình hình kinh tế - xã hội, nhiều lĩnh vực biến đổi
theo chiều hướng tích cực và khẳng định được vị thế của địa phương trong bối cảnh
khủng hoảng kinh tế thế giới kéo dài.
Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, cần cải thiện môi trường đầu tư nhằm từng bước xây dựng môi
trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi. Hệ thống pháp
luật cần phải đảm bảo tính minh bạch, thống nhất, ổn định và có hiệu quả (Nguyễn
Thị Thu Hà, 2008). Trong thời gian qua, các tỉnh, thành phố trên cả nước luôn tự
khẳng định mình trong cuộc đua thu hút đầu tư thông qua nhiều chính sách để cải
thiện thứ hạng xếp bậc về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Đã có nhiều tỉnh,
thành phố thành công về phát triển kinh tế - xã hội nhờ thu hút vốn đầu tư từ bên
ngoài do đã làm tốt các chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư. Đây chính là
sự thi đua từng bước khởi nguồn để nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, vậy bài
học kinh nghiệm của các địa phương đạt được kết quả trong lĩnh vực này đã được
đúc rút như thế nào? Trước hết, là do các địa phương đã xác định được thế mạnh và
yếu kém của riêng mình, biết khai thác thế mạnh để tạo thành lợi thế cạnh tranh với
các địa phương khác trong thu hút đầu tư. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh có thể
được xem là “tập hợp tiếng nói” của các doanh nghiệp đánh giá về môi trường kinh
doanh cấp tỉnh với doanh nghiệp đang hoạt động (Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam - VCCI, 2011). Do mỗi địa phương có những lợi thế, vị trí địa -
chính trị khác nhau cũng đưa đến xu hướng các chính sách phát triển kinh tế - xã
2
hội của mỗi địa phương khác nhau để phù hợp với quá trình hội nhập và chủ động
khai thác tiềm năng của chính mình. Chính những tác động tích cực trên đây đã tạo
ra sự phong phú, đa dạng về quá trình cải thiện môi trường đầu tư. Vì vậy, vai trò và
ý nghĩa của việc nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển kinh tế của các địa
phương trên cả nước thời gian qua đã được chính quyền các tỉnh, thành phố rất coi
trọng và nhận thức trong quá trình hội nhập kinh tế thì các tỉnh, thành phố cũng
không thể tự mình độc lập phát triển, mà cần thiết phải có sự giao lưu, tiếp nhận hỗ
trợ bởi các nguồn lực từ bên ngoài. Các nguồn lực này vừa chính là thành quả
chung của nền kinh tế thế giới, vừa thể hiện xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế
thông qua việc dịch chuyển vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các nước
phát triển vào các nước có nhu cầu tiếp nhận.
Nâng cao năng lực cạnh tranh một tỉnh không tách rời mục tiêu chiến lược
phát triển chung của vùng và cả nước. Để thực hiện mục tiêu này, quá trình cạnh
tranh giữa các tỉnh không tách rời quan hệ hợp tác, liên kết nhằm phát huy lợi thế so
sánh của mỗi địa phương. Với hàm nghĩa ấy, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
cũng nhằm khai thác thế mạnh mối quan hệ liên vùng, liên kết ngành, liên kết giữa
các địa phương trong phạm vi cả nước (Phan Nhật Thanh, 2010).
Tỉnh Hưng Yên là địa phương được đánh giá có nhiều điều kiện thuận lợi
cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Hưng Yên có tiềm năng và đang xuất hiện những lợi thế rất cơ bản để phát triển,
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, là vành đai của thủ đô Hà Nội (Tỉnh
ủy Hưng Yên, 1997). Mặc dù đã có nhiều cố gắng đổi mới trên nhiều lĩnh vực
nhưng trên thực tế Hưng Yên vẫn còn nhiều hạn chế, chính vì thế nên quá trình thu
hút đầu tư tại Hưng Yên hơn 16 năm qua chưa tương xứng với lợi thế tiềm năng mà
Hưng Yên đang có. Kết quả xếp loại Chỉ số năng lực cạnh tranh cho thấy, Hưng
Yên năm 2006 xếp thứ hạng 10/63 tỉnh, thành phố; năm 2007 đứng thứ 25/63; năm
2008 là 20/63; năm 2009 là 24/63; cá biệt năm 2010 Hưng Yên tụt 37 bậc đứng thứ
61/63 tỉnh, thành phố cả nước, năm 2011 xếp thứ hạng 33/63, năm 2012 vươn lên
28/63, năm 2013 giảm mạnh xuống còn 53/63 (VCCI, 2013). Điều này cho thấy
môi trường thu hút đầu tư ở Hưng Yên đang gặp những trở ngại từ chính những yếu
3
tố nội lực của mình. Vậy, chính quyền tỉnh Hưng Yên đã có những tác động gì nhằm
tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi để các doanh nghiệp nói chung, nhất là
doanh nghiệp nhỏ và vừa có điều kiện tiếp cận được cơ hội trong hoạt động kinh
doanh, qua đó nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Hưng Yên, nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng bền vững, tăng cả về số lượng
và chất lượng trong hoạt động kinh doanh, góp phần giải quyết việc làm và thu nhập
ổn định cho người lao động, tăng nguồn thu ngân sách địa phương, đóng góp ngày
càng nhiều vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh (UBND tỉnh Hưng Yên,
2013). Đây cũng chính là sự đòi hỏi bức thiết, nhằm cải thiện môi trường đầu tư,
nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đầu tư của Hưng Yên trong thời gian tới.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu nghiên cứu chung
Thông qua nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của
tỉnh Hưng Yên, từ đó luận án sẽ đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
để thu hút đầu tư tại Hưng Yên.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Luận án nghiên cứu nhằm giải quyết 3 mục tiêu cụ thể.
- Góp phần làm sáng rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh,
nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thu hút đầu tư để đẩy nhanh quá trình phát triển
kinh tế - xã hội ở cấp tỉnh hiện nay;
- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh nhằm thu hút đầu tư tại tỉnh Hưng Yên những năm qua.
- Đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thu
hút đầu tư với mục tiêu đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hưng
Yên trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
2.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Năng lực cạnh tranh của một tỉnh bao gồm bởi các yếu tố khác nhau ra sao
và được xác định như thế nào?
- Môi trường thu hút đầu tư tại Hưng Yên hiện nay đang diễn ra như thế nào?
Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của Hưng Yên những năm qua ra sao? Tại
4
sao kết quả xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh Hưng Yên những năm qua liên
tục rớt bậc?
- Giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của Hưng Yên nhằm tăng cường thu
hút đầu tư trong thời gian tới là vấn đề cần được nghiên cứu và tháo gỡ như thế nào?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh
trong quan hệ ảnh hưởng tới việc thu hút đầu tư của một địa phương cấp tỉnh. Nghiên
cứu các đơn vị hành chính, thành phần doanh nghiệp, các ngành sản xuất, hệ thống tổ
chức quản lý chính quyền và đội ngũ cán bộ cấp tỉnh, huyện, thể chế các liên kết, hợp
tác, chính sách có liên quan như văn bản pháp lý và thủ tục hành chính.
Đề tài nghiên cứu các yếu tố liên quan đến năng lực cạnh tranh của một tỉnh,
như: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, thị trường, nguồn nhân
lực, yếu tố văn hóa - xã hội…
3.1.2. Đối tượng khảo sát
Để làm rõ được đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu của đề tài,
chúng tôi sẽ tiến hành điều tra, khảo sát các vấn đề liên quan tại một số đơn vị chức
năng chuyên môn của tỉnh. Nghiên cứu các đơn vị, doanh nghiệp đang hoạt động
trên địa bàn và ý kiến đánh giá của họ về thuận lợi, khó khăn trong quá trình đầu tư
và hoạt động tại địa phương. Lấy ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý, chủ
các doanh nghiệp làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp liên quan.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trong khuôn khổ thời gian có hạn, các điều kiện phục vụ
cho nghiên cứu cũng được tính toán hợp lý để đảm bảo cho việc đánh giá thực trạng
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế nhằm thu hút đầu tư. Xuất phát từ đó, đề xuất những
giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh nhằm thu hút đầu tư, nội dung của
nghiên cứu tập trung chính vào các doanh nghiệp phân bố trên địa bàn tỉnh.
1) Về không gian, nội dung nghiên cứu sẽ tiến hành điều tra thu nhận thông
tin đại diện các loại hình doanh nghiệp thuộc 10 huyện, thành phố, các cơ quan
5
quản lý kinh tế và người dân tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa
tỉnh Hưng Yên.
2) Về nội dung, nội dung nghiên cứu sẽ xem xét tới các loại hình doanh
nghiệp có tính đại diện cao như doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, hộ sản xuất kinh doanh.
3) Về thời gian, nội dung nghiên cứu phản ánh các dữ liệu và thông tin mà
luận án sử dụng như đối với số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2000 đến 2013, số liệu
sơ cấp năm 2013.
4. Những đóng góp mới của luận án
a) Đóng góp về mặt lý luận
Các đề tài nghiên cứu về năng lực cạnh tranh có nhiều, nhưng ít có đề tài đề
cập nghiên cứu năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư cho một địa phương cấp tỉnh.
Chính vì vậy, luận án sẽ góp phần hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về năng
lực cạnh tranh cấp tỉnh và vấn đề thu hút đầu tư. Từ đó, luận án phân tích đầy đủ hệ
thống các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, đồng thời chỉ rõ về sự phụ
thuộc, tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố.
b) Đóng góp về thực tiễn
Luận án sẽ đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện các yếu tố, tác nhân tham
gia cấu thành năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường đầu tư để tăng cường thu
hút đầu tư ở Hưng Yên.
Luận án sẽ là kênh cung cấp thông tin quan trọng để các nhà lãnh đạo tỉnh,
thành phố, các cơ quan tham mưu, tổ chức kinh tế và các cá nhân tham khảo.
Các giải pháp mà luận án đưa ra không chỉ có ý nghĩa áp dụng thực tiễn đối với
tỉnh Hưng Yên, mà mong muốn làm bài học kinh nghiệm cho các địa phương khác ứng
dụng, cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường thu hút đầu tư cho địa phương mình.
6
Chương 1
TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ
1.1. Lý luận nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thu hút đầu tư
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh, nói chung là sự phấn đấu, vươn lên không ngừng để giành lấy vị
trí hàng đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ
khoa học - kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất
và hiệu quả cao nhất. Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có cạnh tranh. Không có
cạnh tranh sẽ không có sinh tồn và phát triển. Đó là quy luật tồn tại của môn loài.
Trong kinh tế, cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ sản phẩm
(hàng hóa và dịch vụ) bằng các phương pháp và biện pháp khác nhau như kỹ thuật,
kinh tế, chính trị, quân sự, tâm lý xã hội (Trần Sửu, 2005).
Tuy nhiên, ở mỗi một giác độ nghiên cứu, mỗi giai đoạn lịch sử và của mỗi tác
giả thì có những quan điểm về cạnh tranh khác nhau. Vì vậy, cho tới nay sự thừa nhận
một khái niệm chuẩn về cạnh tranh vẫn chưa được thống nhất. Có nhiều quan điểm về
cạnh tranh khác nhau, thuộc nhiều trường phái nhưng tiêu biểu là các đại diện như
Adam Smith; John Stuart Mill; Darwin; K.Marx…Với mỗi đại diện trên đưa ra quan
điểm về cạnh tranh là khác nhau, tùy thuộc vào các hướng nghiên cứu ở mỗi lĩnh vực
kinh tế - xã hội khác nhau. Tuy nhiên, ở nội dung nghiên cứu này, luận án của tác giả
chủ yếu tập trung đề cập tới khái niệm cạnh tranh kinh tế (Economic Competition).
Trong nghiên cứu của mình cũng đã nêu rõ, quan điểm cạnh tranh của K.Marx
và cho rằng sự ra đời và tồn tại của cạnh tranh trước hết phải dựa vào hai điều kiện cơ
bản: (1) Phân công xã hội; (2) Chủ thể lợi ích đa nguyên (Trần Văn Tùng, 2004).
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) cũng đã chỉ rõ, cạnh tranh trong
kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các
thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ
7
cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất, dẫn
theo (Bùi Thị Thanh Hà, 2000).
Trên thực tế, cạnh tranh đã tồn tại trong tất cả các quan hệ của đời sống từ
chính trị, tôn giáo, kinh tế - xã hội tới các tổ chức hội, ngành. Vậy cạnh tranh là
gì, được hiểu và vận dụng như thế nào trong suốt thời gian qua và định hình cho
chiến lược thời gian tiếp theo của mỗi địa phương.
Chúng ta đã thấy rõ, cạnh tranh luôn luôn tồn tại và không phụ thuộc vào ý
muốn chủ quan của các chủ thể, nếu các chủ thể có cùng mục đích, hành động dù
xuất phát theo các cách khác nhau thì cũng sẽ dẫn tới cạnh tranh với nhau nhằm tìm
kiếm mục đích riêng của chính mình.
Với tư cách là hiện tượng xã hội, theo cuốn từ điển kinh doanh của Anh xuất
bản năm 1992, cạnh tranh được định nghĩa là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các
nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại
khách hàng về phía mình” (Lê Danh Vĩnh và cộng sự, 2010).
Trong nền kinh tế thị trường, cùng với quy luật giá cả, quy luật cung cầu thì
quy luật cạnh tranh đã tác động tích cực tới hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi
và tiêu dùng hàng hóa. Nhận thức và thấy được vai trò của cạnh tranh, bởi vậy cạnh
tranh chính là những động lực và thử thách của các nhà hoạch định chính sách phát
triển kinh tế - xã hội.
Tiếp thu từ những nghiên cứu trên, tác giả cho rằng: Cạnh tranh chính
là biện pháp đặc biệt mà các tập thể, cá nhân quyết liệt nhằm giành về phía
mình những điều kiện thuận lợi hơn từ môi trường bên ngoài và từ các tập thể,
cá nhân khác có cùng mục đích.
Các khái niệm về cạnh tranh trên đây chủ yếu gắn liền đến quyền lợi hoặc
mục đích giữa các cá nhân, tổ chức kinh tế với nhau. Cùng với quá trình phát triển
của xã hội khái niệm của cạnh tranh đã vượt ra khỏi phạm vi của một một sản phẩm,
một cá nhân, một tổ chức và hình thành nên ở phạm vi rộng hơn, đó là cạnh tranh
giữa các quốc gia, giữa các vùng lãnh thổ. Cạnh tranh cũng được thể hiện theo nhiều
tiêu chí, giác độ nhìn nhận khác nhau nên rất đa dạng và phức tạp. Sự đa dạng, phức
8
tạp của khái niệm cạnh tranh xuất phát từ sự đa dạng của đời sống kinh tế - xã hội, sự
đa dạng về cách nhìn và cũng xuất phát từ nhu cầu của sự phát triển.
1.1.1.2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Khái niệm về năng lực cạnh tranh đã được bàn thảo nhiều và đưa ra theo
nhiều quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Viện
Quản lý kinh tế Trung ương và Học viện năng lực cạnh tranh Châu Á của Singapore
quan niệm về năng lực cạnh tranh gồm năng lực cạnh tranh vĩ mô, với các nhóm
nhân tố chất lượng của hạ tầng xã hội và thể chế chính trị cũng như các chính sách
kinh tế vĩ mô. Năng lực cạnh tranh vi mô gồm các nhóm nhân tố như sự tinh thông
của doanh nghiệp, trình độ phát triển của các cụm ngành và chất lượng của môi
trường kinh doanh. Bên cạnh đó là các lợi thế tự nhiên cũng là một nhóm nhân tố
nữa cần xem xét, vì nhóm nhân tố này cũng tạo ra một môi trường tổng thể mà
trong đó vì vị thế tương đối của nó so với các nền kinh tế khác được xác định.
Tổng hợp khái niệm về năng lực và năng lực cạnh tranh, theo đó năng lực là:
1) những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì đó; 2) khả năng đủ để thực
hiện tốt một số công việc. Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong
cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trường tiêu thụ
(Nguyễn Như Ý, 2008).
Trong rất nhiều các công trình đã được công bố, nhiều học giả đã đề cập tới
các thuật ngữ nhằm mô tả quá trình tăng trưởng kinh tế quốc gia, phát triển doanh
nghiệp, phát triển sản phẩm mới, ngành hàng…bằng các khái niệm như sức cạnh
tranh, lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh, tính cạnh tranh, năng lực cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của
chủ thể cạnh tranh thông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục nhằm đạt được
mục tiêu với hiệu qủa cao và bền vững (Phan Nhật Thanh, 2010).
Một số công trình nghiên cứu gần đây, các tác giả đã thể hiện khái niệm năng lực
cạnh tranh như là một kết quả bao quát của nhiều yếu tố được lựa chọn làm cơ sở tổng
hợp mà xuất phát từ tất cả các yếu tố tác động tới môi trường bên trong và bên ngoài của
các cá nhân, tổ chức hay ở phương diện doanh nghiệp, tỉnh, thành phố, quốc gia.
9
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả khái quát chung về năng lực
cạnh tranh đối với một địa phương như sau: Năng lực cạnh tranh là khả năng tập
hợp đầy đủ các nguồn lực, lợi thế của chính địa phương mình và được vận dụng phát
huy tối đa các nguồn lực, lợi thế đó nhằm mang lại hiệu quả cao thực hiện những
mục tiêu nhất định so với các điều kiện chung, giống nhau với các địa phương khác.
1.1.1.3. Khái niệm về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Theo Briguglio and Cordina (2004) cho rằng việc phát triển các vùng sẽ xuất
phát đáng kể vào nâng cao khả năng cạnh tranh của vùng này, từ đó giúp cho cả
quốc gia trở nên mạnh mẽ hơn.
Vì vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các tỉnh, thành phố ở nước ta cũng
sẽ càng trở nên ý nghĩa hơn. Kết hợp với ý nghĩa nội hàm các khái niệm cạnh tranh đã
trình bày, đặc biệt là khái niệm cạnh tranh vùng, địa phương ta có thể nhận thấy hoạt
động cạnh tranh cấp tỉnh được diễn ra trong một trật tự chung dưới sự tác động bởi các
chính sách từ Trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh sẽ
được hiểu hoàn toàn khác, xuất phát từ sự gắn bó, kết nối và có mối quan hệ ràng buộc
chặt chẽ bởi vai trò dẫn dắt của chính quyền cấp tỉnh với các lợi thế của địa phương.
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả năng ganh đua của các tỉnh nhằm thu hút
đàu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối quan hệ
liên kết với những địa phương khác trong phạm vi quốc gia (Phan Nhật Thanh, 2010).
Cùng với quá trình hội nhập và thu hút đầu tư nước ngoài, khái niệm cạnh tranh
cấp tỉnh ở nước ta càng được quan tâm nhiều hơn. Chính vì vậy, cần phải hiểu đúng và
đầy đủ về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, từ đó giúp các tỉnh có biện pháp tương xứng,
phù hợp để không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh cho địa phương mình, đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Tuy nhiên khái niệm này đưa ra
chưa nhiều nên có thể hiểu đó là năng lực cạnh tranh của một tỉnh nhằm đạt được một
mục đích nào đó, hoặc dùng để đánh giá so sánh giữa các địa phương với nhau theo
một tiêu chí quản lý nào đó và được phản ánh qua các tiêu chí cụ thể.
Theo quan điểm của tác giả thì năng lực cạnh tranh cấp tỉnh chính là thể
hiện tối ưu hóa sự khác biệt trong xây dựng đường lối phát triển kinh tế - xã hội bởi
vai trò lãnh đạo cấp tỉnh, nhằm đạt được mục tiêu cao nhất về phát triển kinh tế -
xã hội cho từng thời kỳ cụ thể.
10
Trong tư duy cạnh tranh phát triển bền vững, năng lực cạnh tranh của tỉnh
được đánh giá chủ yếu trong con mắt của nhà đầu tư và doanh nghiệp mà không chỉ
dưới góc nhìn chính quyền tỉnh. Đồng thời, các tỉnh cạnh tranh đặt trong mối quan
hệ hợp tác, liên kết để phát huy tốt nhất lợi thế của mỗi tỉnh trong khung khổ luật
pháp quốc gia và thông lệ quốc tế (Phan Nhật Thanh, 2010).
1.1.1.4. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khái niệm mới được sử dụng trong
những năm gần đây mà một số tổ chức trên thế giới thường tập trung phân tích để đánh
giá năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm. Ở Việt Nam, tổ chức có
uy tín và kinh nghiệm lâu năm trong việc theo dõi, hỗ trợ hoạt động kinh tế và phát
triển doanh nghiệp là Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng với sự hỗ trợ
của cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ tại Việt Nam (USAID) đã tổ chức khảo sát đánh
giá chỉ số năng lực cạnh tranh của các tỉnh, thành phố ở Việt Nam.
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay PCI (Provincial Competitiveness
Index) là chỉ số được xây dựng nhằm đánh giá môi trường kinh doanh, chất lượng
điều hành kinh tế và các nỗ lực cải cách hành chính của chính quyền các tỉnh, thành
phố của Việt Nam (VCCI, 2013).
Phạm vi nghiên cứu của đề tài liên quan đến vấn đề thu hút đầu tư, nên để
hiểu và phản ánh toàn diện năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, thì kết quả nghiên cứu chỉ
số PCI của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam sẽ là một kênh quan trọng
được dùng làm căn cứ để nghiên cứu và thực hiện mục tiêu của luận án này.
Cũng cần phải hiểu rằng, việc tiếp cận đầy đủ năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở
đây căn cứ vào chỉ số PCI cần được hiểu rõ nội hàm của chỉ số PCI so với các khái
niệm về năng lực cạnh tranh khác. Bởi PCI là sự nhìn nhận từ phía ngoài do các
doanh nghiệp đánh giá, nhận định về môi trường thu hút đầu tư của một tỉnh. Mặc
dù được nhìn nhận, đánh giá từ bên ngoài nhưng nó là kết quả phản ánh từ các yếu
tố bên trong của địa phương.
Nói khác đi, năng lực cạnh tranh của một tỉnh phụ thuộc chủ yếu từ các yếu tố
bên trong, đó là các điều kiện của tỉnh đã, đang hoặc chưa được triển khai vì mục
đích thu hút đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Với các ý nghĩa
11
trên đây, PCI được coi là dấu hiệu quan trọng để các địa phương tự soi xét mình, tự
điều chỉnh trong cuộc cạnh tranh để thu hút đầu tư giữa các địa phương với nhau.
1.1.1.5. Khái niệm về nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Với rất nhiều công trình đã và đang nghiên cứu về chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh, nhưng chưa có sự xem xét hay đánh giá toàn diện nào về nâng cao năng
lực cạnh tranh cấp tỉnh. Việc nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
khác với nội dung các nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh. Nâng cao
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được nghiên cứu xuất phát từ một phạm vi, không gian
riêng biệt của mỗi tỉnh mà ở đó có nhiều yếu tố tác động, thay đổi theo đòi hỏi của
các chủ thể khác nhau. Vì thế, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh phải xuất phát
từ sự tổng hợp các thế mạnh của địa phương, mang ý nghĩa kinh tế, cụ thể là thu hút
đầu tư hiệu quả để các thế mạnh của địa phương được phát huy tối đa. Quá trình
này được diễn ra nhịp nhàng, với tư duy kinh tế của đội ngũ lãnh đạo tỉnh kết hợp
với lợi thế của địa phương mình, từ đó có các chính sách hợp lý, hiệu quả hơn so
với các tỉnh, thành phố khác.
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả năng thu hút đầu tư, tạo lập môi trường
thuận lợi, thông thoáng, lành mạnh trong phát triển kinh tế của các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương. Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là yêu cầu tất yếu đặt
ra trong công cuộc đổi mới hiện nay. Điều này cũng trả lời cho câu hỏi tại sao có
những tỉnh, thành phố luôn có sức hút đầu tư mạnh, ngược lại, có những tỉnh vẫn
chưa có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư (Nguyễn Thị Thu Hà, 2008).
Với những nội dung trên, có thể khái quát về nâng cao năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh là một quá trình đổi mới liên tục nhằm phát huy các thế mạnh sẵn có, trên
cơ sở kết hợp giữa các lợi thế của địa phương với nhau để xây dựng một môi
trường thu hút đầu tư hiệu quả.
1.1.2. Phân loại cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
1.1.2.1. Phân loại cạnh tranh
Với rất nhiều công trình, đề tài đã đề cập tới những loại cạnh tranh, song với
những cách tiếp cận khác nhau có thể phân chia các loại cạnh tranh trong kinh tế
dưới các hình thức dưới đây.
12
Xem xét dưới giác độ tích cực hay không tích cực, cạnh tranh phân thành
cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
- Cạnh tranh lành mạnh: Cạnh tranh lành mạnh đúng như cái tên của nó là
cạnh tranh đẹp và trong sáng, phù hợp với chuẩn mực đạo đức kinh doanh thông
thường, cạnh tranh bằng những tiềm năng vốn có của bản thân doanh nghiệp như:
đăng ký nhãn hiệu thương phẩm, hạ giá bán hàng hóa trên cơ sở đổi mới công nghệ,
giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng,
liên tục đổi mới phương thức giao tiếp với khách hàng (Tăng Văn Nghĩa, 2007).
- Cạnh tranh không lành mạnh: có thể hiểu là những hành vi cạnh tranh của
các chủ thể tham gia thị trường vi phạm những chuẩn mực đạo đức kinh doanh
thông thường, có thể gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho các chủ thể kinh
doanh khác và người tiêu dùng (Viên Thế Giang, 2011).
Nếu xem xét dưới giác độ giới hạn có cạnh tranh tự do và cạnh tranh độc quyền.
- Cạnh tranh tự do: Cạnh tranh tự do ra đời đầu tiên tại Phương Tây với sự
bùng nổ của chủ nghĩa tự do. Bất cứ ai cũng có quyền điều tra thị trường, khám phá
thị trường và gia nhập thị trường. Thậm chí, người ta còn có thể bắt chước nhau trên
thị trường. Người tiêu dùng có vô số quyền lựa chọn đối với hàng hóa và nhà cung
cấp. Trong sự ganh đua tự do như vậy, đào thải tự nhiên là quy luật tất yếu: Kẻ mạnh
ở lại và kẻ yếu ra đi. Sự đào thải hoàn toàn dựa vào khả năng thực có của các bên và
ở một khía cạnh nào đó thì công bằng xã hội được thiết lập. Rõ ràng sự can thiệp của
công quyền lúc này sẽ bóp méo quy luật đào thải trên (Tăng Văn Nghĩa, 2007).
- Cạnh tranh độc quyền: Cạnh tranh độc quyền là cấu trúc thị trường nằm ở
giữa cạnh tranh và độc quyền. Nhưng độc quyền nhóm và cạnh tranh độc quyền lại
khác hẳn nhau. Trái lại trong cạnh tranh độc quyền, có nhiều người bán trên thị
trường và mỗi người trong số họ có quy mô nhỏ so với thị trường. Thị trường cạnh
tranh độc quyền lệch khỏi cạnh tranh tranh hoàn hảo bởi vì mỗi người bán đưa ra
một sản phẩm khác nhau đôi chút (Mankiw, 2003).
Dưới giác độ sản xuất kinh doanh được xem xét mang tính cá biệt có cạnh
tranh sản phẩm, cạnh tranh doanh nghiệp.
13
- Cạnh tranh sản phẩm: Là cạnh tranh giữa các loại sản phẩm hàng hóa với
nhau được sản xuất trong cùng một doanh nghiệp hay giữa các doanh nghiệp khác
nhau về các tiêu chí chất lượng, giá cả, mẫu mã…
- Cạnh tranh doanh nghiệp là một doanh nghiệp làm khác biệt hóa chính
mình so với các đối thủ cạnh tranh nếu doanh nghiệp có điều gì đó là duy nhất và
điều đó có giá trị cho những người mua (Porter, 2010).
Khi xem xét dưới giác độ về phạm vi liên quan đến địa giới hành chính, địa
lý có cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh vùng lãnh thổ.
- Cạnh tranh quốc gia, thường được phân tích theo quan điểm tổng thể, chú
trọng vào môi trường kinh tế vĩ mô và thể hiện vai trò của chính phủ (Phan Nhật
thanh, 2010).
- Cạnh tranh vùng lãnh thổ (cạnh tranh cấp tỉnh) cũng được phân tích theo
quan điểm tổng thể, chú trọng vào môi trường kinh tế cấp tỉnh và thể hiện vai trò
của chính quyền cấp tỉnh. Cạnh tranh cấp tỉnh gắn với phân cấp ngày càng rộng hơn
cho chính quyền cấp tỉnh và xu hướng phi tập trung hóa trong quản lý kinh tế, trong
đó có quản lý đầu tư (Phan Nhật thanh, 2010).
Với những hình thức cạnh tranh xuất hiện trên, ở mỗi góc độ tác động khác
nhau, đều có thể đem tới hậu quả không tốt, cũng có thể đưa đến cơ hội phát triển
cho chính các chủ thể liên quan. Xem xét giác độ tác động không tích cực, cạnh
tranh tác động xấu đến người sản xuất và người tiêu dùng, để lại sự lãng phí các
nguồn lực xã hội, kéo lùi sự phát triển chung của nền kinh tế. Nếu xét dưới giác độ
tích cực, cạnh tranh sẽ đưa lại “sự sàng lọc khôn ngoan” nhất, đồng thời cũng tạo ra
các điều kiện, cơ hội cho sự phát triển.
Để hạn chế những tác động xấu của cạnh tranh, cần thiết phải có sự điều
chỉnh từ một trung tâm đó là Nhà nước. Nhận thức được tầm quan trọng như vậy,
ngày 01 tháng 7 năm 2005 Luật cạnh tranh đã được thực thi và có hiệu lực tại nước
ta và bao gồm những quy định cụ thể cho vấn đề cạnh tranh ở Việt Nam.
1.1.2.2. Phân loại năng lực cạnh tranh
Tùy thuộc vào mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, thì việc phân loại
năng lực cạnh tranh được dựa trên các tiêu chí, phạm vi, tính chất,…được nhìn nhận
14
ở các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, trong nội dung của nghiên cứu này chúng tôi
tập trung đề cập tới cách phân loại năng lực cạnh tranh chủ yếu nhằm phục vụ mục
đích nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
- Năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng
trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định được kinh tế xã hội, nâng
cao đời sống của dân (Lương Gia Cường, 2003).
Theo Ủy ban cạnh tranh của Tổng thống Mỹ, cạnh tranh đối với một quốc gia là
mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các
hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy
trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó (Chu Văn Cấp, 2003).
Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003
đã đưa ra định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là khả năng của nước đó đạt
được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ
tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian.
Năng lực cạnh tranh của một quốc gia được xác định trước hết bằng mức độ
tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, và sự có mặt (hay thiếu vắng) các yếu tố quy
định khả năng tăng trưởng kinh tế dài hạn trong các chính sách kinh tế đã thực hiện
(Nguyễn Đăng Doanh và cộng sự, 1998).
- Năng lực cạnh tranh vùng (địa phương)
Khi đề cập tới năng lực cạnh tranh của vùng (địa phương), dường như các
yếu tố đất đai, tài nguyên, vị trí địa lý, dân số luôn được xem xét nhiều hơn, trên
thực tế các vùng (địa phương) nếu biết kết hợp sử dụng hiệu quả các nguồn lực trên
mới là quan trọng nhất và đạt mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Tuy nhiên, lợi ích lâu dài của việc khám phá các nguồn lực sẵn có tại địa
phương lại nằm trong quá trình đổi mới và triển khai hợp lý với thực tế. Kết quả
cuối cùng của năng lực cạnh tranh địa phương trong lĩnh vực kinh tế được thể hiện
là những thông tin về tăng trưởng kinh tế, các vấn đề an sinh xã hội, trình độ dân trí,
hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế phản ánh rõ nét nhất.