Tải bản đầy đủ (.pdf) (139 trang)

Phê bình văn học thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay (LV01394)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (767.5 KB, 139 trang )




BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2






VŨ THỊ HOÀN






PHÊ BÌNH VĂN HỌC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
TỪ 1986 ĐẾN NAY


Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20


LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM


Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. PHAN TRỌNG THƢỞNG










HÀ NỘI - 2014

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học
trường đại học Sư phạm Hà Nội 2
Các thầy cô giáo ở Viện văn học, trường đại học Sư phạm Hà Nội 1 và
Sư phạm Hà Nội 2 đã trực tiếp giảng dạy suốt khóa học.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư – Tiến sĩ
Phan Trọng Thưởng, người thầy đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều để luận
văn có thể hoàn thành.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, tạo
điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn


Vũ Thị Hoàn












LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng cam đoan mọi
sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin
trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn


Vũ Thị Hoàn


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 1
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Đóng góp của luận văn 4

6. Cấu trúc luận văn 4
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1. BỐI CẢNH XÃ HỘI VÀ VĂN HỌC 5
1.1. Bối cảnh xã hội 5
1.2. Tình hình văn học 7
Chương 2. PHÊ BÌNH VĂN HỌC THỜI KÌ ĐỔI MỚI 36
2.1. Tiền đề cho phát triển phê bình thời kì đổi mới 36
2.2 Sự đổi mới của tư duy phê bình 47
2.2.1 Nhận thức lại các giá trị văn học 47
2.2.2 Phê bình chú trọng vào các đặc trưng văn học và các yếu tố hình
thức, vào cái hay cái đẹp của nghệ thuật 54
2.2.3 Đổi mới về phong cách, ngôn ngữ phê bình. 56
2.3. Thành tựu của phê bình thời kì đổi mới 57
2.3.1. Phê bình đồng hành với các sáng tác trong tiến trình đổi mới 57
2.3.2 Phê bình đã phát hiện và đánh giá kịp thời các hiện tượng văn học
mới xuất hiện đồng thời đánh giá lại văn học quá khứ 60
2.3.3 Vận dụng các lí thuyết nghệ thuật mới vào hoạt động phê bình 64
2.4 Một số hạn chế của phê bình thời kì đổi mới 66
2.4.1 Đội ngũ phê bình thiếu chuyên nghiệp 66

2.4.2 Thực trạng yếu kém của phê bình văn học thời kì đổi mới 68
2.5. Nguyên nhân của thực trạng phê bình văn học từ năm 1986 đến nay . 73
Chương 3. CÁC KHUYNH HƯỚNG PHÊ BÌNH – NHÌN TỪ LỊCH SỬ VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 77
3.1. Các khuynh hướng phê bình – nhìn từ lịch sử 77
3.1.1 Phê bình thi pháp học 79
3.1.2 Phê bình phân tâm học 88
3.1.3 Phê bình xã hội học mác xít 94
3.1.5 Phê bình văn hóa – lịch sử 104
3.1.6 Phê bình báo chí truyền thông 107

3.2. Những vấn đề đặt ra và giải pháp phát triển phê bình 112
KẾT LUẬN 122
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124





1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1 Phê bình văn học là một trong ba bộ môn cấu thành khoa nghiên
cứu văn học. Quá trình vận động và phát triển của bộ môn này trong từng thời
kì có snhững đặc điểm, quy luật và thành tựu riêng cần được nghiên cứu để
làm rõ cơ sở cho việc biên soạn lịch sử văn học, phục vụ nghiên cứu, giảng
dạy và học tập.
1.2 Phê bình văn học thời kì đổi mới là giai đoạn phát triển quan trọng
của phê bình. Dưới ánh sáng của công cuộc đổi mới và các lĩnh vực khác của
đời sống văn học, phê bình văn học cũng từng bước đổi mới và đạt được
nhiều thành tựu quan trọng cần được nghiên cứu, đánh giá.
1.3 Bên cạnh thành tựu, thực trạng phê bình văn học thời kì đổi mới
cũng cần được nghiên cứu chỉ ra đề định hướng phát triển, đáp ứng yêu cầu
bức thiết của đời sống xã hội và văn học hiện nay nói chung, của lí luận phê
bình nói riêng.
1.4 Yêu cầu tổng kết văn học 30 năm đổi mới đang được Đảng và Nhà
nước tiến hành. Luận văn này sẽ góp phần nhỏ vào nhiệm vụ quan trọng đó.
Trên đây là những lí do chúng tôi lựa chọn đề tài Phê bình văn học thời
kì đổi mới ( từ 1986 đến nay).
2. Lịch sử vấn đề

Theo số liệu mà chúng tôi khảo sát được, hiện nay đã có nhiều công
trình nghiên cứu, ý kiến thẩm định, đánh giá của các nhà nghiên cứu phê bình:
Công trình Văn học văn hóa tiếp nhận và suy nghĩ– Đinh Xuân Dũng
(phê bình – tiểu luận, 1966 – 2004), (Nxb Từ điển Bách khoa, 2004); công
trình Văn họcViệt Nam thế kỉ XX (Phan Cự Đệ, NXB Giáo dục, 2004) phần
VII “Lí luận phê bình văn học thế kỉ XX” – Trần Đình Sử đã khái quát diễn


2
biến, diện mạo phê bình văn học qua từng giai đoạn. Chương V “Phê bình
văn học Việt Nam 1986 – 2000” đã trình bày diện mạo chung của phê bình
giai đoạn 1986 – 2000, một số vấn đề chủ yếu của phê bình qua các cuộc
tranh luận, thảo luận, thành tựu, hạn chế và các thế hệ nhà phê bình. Tác giả
luận văn đặc biệt trân trọng công trình "Lý luận và phê bình vănhọc đổi mới
và phát triển" do PGS.TS Phan Trọng Thưởng (chủ biên), Viện hàn lâm khoa
học xã hội Việt Nam Viện văn học, Hà Nội, xuất bản năm 2005. Trong công
trình này, PGS.TS Phan Trọng Thưởng đã tổng hợp tất cả những bài viết bàn
về phê bình văn học sau đổi mới của các giáo sư, tiến sĩ cấp thuộc chuyên
ngành nghiên cứu văn học của Viện văn học, các giáo sư, tiến sĩ đang giảng
dạy tại khoa Ngữ văn các trường đại học. Công trình đã hệ thống hóa toàn
cảnh nền lí luận cũng như phê bình văn học thời kì đổi mới từ nhận thức về
bản chất, đối tượng, chức năng phê bình cho đến khẳng định thành tựu, chỉ ra
hạn chế cũng như đề ra những giải pháp cho phê bình thời kì này. Đây được
xem là nguồn tài liệu quý cho chúng tôi thực hiện đề tài.Công trình Bản lĩnh
nhà phê bình và thực tiễn sáng tác– Nguyễn Huy Thông (Nxb Thanh niên,
năm 2006), công trình Lí luận phê bình văn học - Thực trạng và khuynh
hƣớng (Nguyễn Văn Hạnh, Nxb Khoa học xã hội, 2009); công trình Phê
bình văn học Việt Nam 1975 – 2005 (Nguyễn Văn Long(chủ biên), Nxb Đại
học sư phạm, 2009); Đề tài cấp bộ Lý luận phê bình văn học Việt Nam thời
kì đổi mới 1986 – 2005do Nguyễn Đăng Điệp (chủ nhiệm, Viện hàn lâm khoa

học xã hội Việt Nam Viện văn học, 2010); công trình Một chặng đƣờng đổi
mới của lí luận văn học Việt Nam (1986 – 2011),(Cao Hồng, Nxb Hội nhà
văn, 2011); công trình Phê bình văn học Việt Nam hiện đại– Trịnh Bá Đĩnh
(Nxb Văn học, 2011); công trình Phê bình văn học, Con vật lưỡng thê ấy–
Đỗ Lai Thúy (Nxb Hội Nhà văn, 2011). Công trình Lí luận phê bình văn
học Việt Nam 1986 – 2000 - Trần Đình Sử ( Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012);
Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu với đề tài "Lí luận phê bình văn học


3
Việt Nam 25 năm đổi mới và phát triển” (1986 – 2010) do PGS.TS Trịnh Bá
Đĩnh (chủ biên, 2012).Công trình Thẩm định các giá trị văn học của Phan
Trọng Thưởng (Nxb Văn học, 2013); công trình Lịch sử lí luận phê bình văn
học Việt Nam – Trịnh Bá Đĩnh (chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 2013); công
trình Văn học nghệ thuật Việt Nam hôm nay – Mấy vấn đề cho sự phát triển
– Đinh Xuân Dũng(Nxb Văn hóa Hà Nội, 2013). Bên cạnh đó, các bài tham
luận như: tham luận “Lý luận phê bình, thực trạng và giải pháp”, tham luận
“Lý luận phê bình văn học 30 năm qua một cái nhìn khái quát về những
đóng góp và hạn chế ” và tham luận “Phê bình trong tương quan với lý luận
và thực tiễn sáng tác văn học”, các bài viết trong Hội nghị Lý luận phê bình
văn học lần thứ III – “Nâng cao chất lượng hiệu quả của lý luận, phê bình
văn học”, ngày 4 – 5/6/2013, thị trấn Tam Đảo, tỉnh Vỉnh Phúc. Hội nghị đã
thu hút được sự quan tâm của dư luận trong suốt thời gian chuẩn bị. Tại Hội
nghị, có nhiều ý kiến, tham luận của các đại biểu đặt ra những vấn đề lí thuyết
và thực tiễn trong công tác nghiên cứu lí luận, phê bình văn học hiện nay. Sự
kiện này cho thấy Đảng, Hội Nhà văn rất quan tâm tới tương lai của lí luận,
phê bình văn học trong thời kỳ đổi mới
Có thể thấy, tất cả các công trình, bài viết đều mang tính chất tổng kết
chỉ từng giai đoạn, từng phương diện, từng bộ phận của phê bình. Cho đến
nay, chưa có công trình toàn diện tổng kết đánh giá về phê bình. Song những

bài viết, những công trình nghiên cứu ấy đã làm nên bức tranh lịch sử cho đời
sống nền văn học đương đại nói chung, phê bình văn học Việt Nam đương đại
nói riêng Đồng thời, đó là những tài liệu quý giúp ích cho việc nghiên cứu
của chúng tôi.
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Dựa trên sự khảo sát, nghiên cứu thực tiễn phê bình văn học từ 1986
đến nay để đưa ra những luận điểm, nhận định, đánh giá, lí giải về phê bình văn
học, chỉ ra những thực trạng, quy luật vận động và phát triển của bộ môn này, từ


4
đó đúc kết những kinh nghiệm lí luận, đề xuất và kiến nghị các giải pháp phát
triển phê bình.
Đề tài nghiên cứu Phê bình văn học thời kì đổi mới (từ năm 1986 đến
nay) thực chất là đi tìm hiểu về toàn bộ thực tiễn nghiên cứu lý luận và hoạt
động thực tiễn phê bình văn học từ 1986 đến nay bao gồm các tác giả, tác
phẩm và các khuynh hướng phê bình văn học.
Phạm vi nghiên cứu là các tài liệu liên quan đến Phê bình văn học Việt
Nam thời kì đổi mới.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp so sánh lịch sử.
- Phương pháp hệ thống.
- Phương pháp phân tích khảo sát, thống kê, tổng hợp.
5. Đóng góp của luận văn
Với đề tài trên, luận văn hi vọng đóng góp trong việc nghiên cứu về
phê bình văn học của nước ta trong giai đoạn đổi mới, đồng thời là tài liệu có
ích trong giảng dạy về văn học, góp phần định hướng giá trị và định hướng
sáng tác.
6. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được triển khai 3 chương:
Chương 1: Bối cảnh xã hội và văn học
Chương 2: Phê bình thời kì đổi mới
Chương 3: Các khuynh hướng phê bình – nhìn từ lịch sử và những vấn đề
đặt ra




5
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
BỐI CẢNH XÃ HỘI VÀ VĂN HỌC

1.1. Bối cảnh xã hội
Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc ta đã kết thúc thắng
lợi. Lịch sử dân tộc đã sang trang mới, mở ra một kỉ nguyên độc lập, tự do,
thống nhất đất nước. Chiến tranh khốc liệt đã qua đi, đất nước hào hứng bước
vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, đất nước ta vẫn
phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách. Sau chiến tranh, những mặt trái
của nó bộc lộ và đòi hỏi phải nhận thức. Đó là tổn thất về người và của, là
những nỗi đau tinh thần không thể bù đắp và xóa nhòa. Đó là những đổ nát
cần được khôi phục và xây dựng lại. Đó là những sự không phù hợp khi
chuyển từ thời chiến sang thời bình, những vấn đề đạo đức xã hội, những khía
cạnh nhân đạo của xã hội sau chiến tranh. Những vấn đề đó không chỉ là vấn
đề của xã hội mà còn là vấn đề của mỗi con người, mỗi gia đình. Những mâu
thuẫn, xung đột mới nảy sinh trong thời đại mới cần nhận thức và giải quyết.
Những giá trị trong chiến tranh được đề cao nhưng hiện nay không còn giá trị
và không phù hợp với thực tại xã hội. Một kiểu người mới xuất hiện cùng với

ý thức công dân mới. Giá trị mới cũng được hình thành. Có thể nói, 1975 –
1985 được coi là khoảng thời gian khôi phục, xây dựng về vật chất để tạo điều
kiện cho đất nước phát triển cũng như nhận thức được những tác động của
quy luật đối với đời sống lịch sử từ thời chiến sang thời bình. Trong quá trình
xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã bộc lộ
những hạn chế, sai lầm. Đó là việc duy trì cơ chế quản lý tập trung, quan liêu,
bao cấp, duy ý chí. Cơ chế này đã trở nên lỗi thời, lạc hậu và không còn phù
hợp với thực tiễn đất nước. Quy luật chiến tranh đã không còn phù hợp và cần
thay thế bằng quy luật mới của thời bình. Cùng với đó, các giá trị tinh thần,


6
các giá trị đạo đức, các chuẩn mực mới cần được điều chỉnh, bổ sung và hình
thành trong bối cảnh mới.
Sau khi chiến tranh kết thúc, chúng ta tiến hành công cuộc thống nhất
đất nước, khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, về thể chế
chính trị, chúng ta chưa có một nhà nước chung. Vì thế, nhiệm vụ thống nhất
đất nước được đặt ra một cách cấp thiết. Ngày 25/4/1976, cuộc tổng tuyển cử
Quốc hội chung được tiến hành trong cả nước. Ngay sau đó, Quốc hội khóa
VI đã được tổ chức ở thủ đô Hà Nội. Tại đây, Quốc hội đã quyết định nhiều
lĩnh vực quan trọng của đất nước trong thời kì mới. Từ đây, nhiệm vụ thống
nhất đất nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế – chính trị – xã hội – tư tưởng –
văn hóa – giáo dục luôn gắn liền với thực hiện nhiệm vụ cách mạng xã hội
chủ nghĩa trong phạm vi cả nước. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung
ương Đảng lao động Việt Nam đã nêu rõ: Trong thời đại ngày nay, độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau và ở nước ta, khi giai cấp
công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộc
dân chủ cũng là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự bắt đầu thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Điều này được cụ thể hóa trong kế hoạch nhà nước 5 năm lần 1 (1976 –

1980) và lần 2 (1981 – 1985). Kế hoạch đó đã đem lại những thành tựu nhất
định. Tuy nhiên, nó cũng có những hạn chế. Đời sống nhân dân phần nhiều
còn gặp khó khăn. Nhiều lao động trong tình trạng thất nghiệp. Nhu cầu chính
đáng của nhân dân về cả vật chất và tinh thần chưa đảm bảo và chưa được đáp
ứng. Hơn thế, các hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển, công bằng xã
hội bị vi phạm. Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ
còn tồn tại. Bên cạnh đó, năm 1990, các nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ, đặc
biệt là sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu. Tất cả những tình hình xã hội trên đã
tác động to lớn tới nước ta. Nó đã tạo ra cuộc khủng hoảng to lớn về kinh tế –
chính trị – văn hóa. Xã hội khủng hoảng kéo theo tình trạng mất dân chủ


7
trong đời sống tinh thần xã hội. “Trong khoảng 10 năm sau chiến tranh từ
1975 – 1985 dân tộc Việt Nam vẫn phải tiếp tục sống trong sự “khép kín”,
không giao lưu rộng với các nước trên thế giới và buộc phải chấp nhận
những gì tù túng của cơ chế bao cấp, quan liêu (sinh ra trong hoàn cảnh lịch
sử đặc biệt) trên mọi phương diện xã hội từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, văn
học nghệ thuật…” [45.19]. Có thể thấy, các chính sách của Đảng và Nhà nước
đó đã tác động sâu sắc vào tâm tư, tình cảm, suy nghĩ và niềm tin của mọi
tầng lớp nhân dân.
Không chỉ thế, khi vừa độc lập tự do chưa lâu, đất nước ta lại phải đối
mặt với những cuộc xâm lược mới. Từ tháng 5 – 1975 đến 1977, tập đoàn Pôn
– pôt – Iêng Xari đổ bộ xâm lược nước ta từ Hà Tiên đến Tây Ninh. Chúng
dần dần mở rộng chiến tranh lớn trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta.
Tuy nhiên, hành động của chúng đã bị quân dân ta ngăn chặn. Chiến thắng
biên giới Tây Nam đã góp phần cho Campuchia có cơ hội chiến thắng.
Ở biên giới phía Bắc, Trung Quốc có những hành động làm tổn hại tình
cảm của ta và Trung Quốc như khiêu khích quân sự dọc biên giới… Đặc biệt,
tháng 2 năm 1975, Trung Quốc đã mở cuộc tấn công nước ta theo dọc biên

giới từ Móng Cái đến Lai Châu. Quân dân ta đã chiến đấu buộc Trung Quốc
phải rút quân để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Sau khi kết thúc hai cuộc xung đột biên giới phía Bắc và Tây Nam,
nước ta đã bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, khôi phục và giữ gìn tình đoàn kết giữa
các dân tộc với các nước láng giềng.
Có thể nói, bối cảnh lịch sử xã hội đất nước có nhiều chuyển biến phức
tạp. Điều này đã tác động không nhỏ đến đời sống văn học và đời sống phê bình.
1.2. Tình hình văn học
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, sự chuyển biến của đất nước
cũng góp phần đưa tới chặng đường đổi mới của văn học Việt Nam. Văn học


8
đồng hành cùng với vận mệnh dân tộc, đi qua nhiều thăng trầm, tạo ra những
biến đổi sâu sắc hình thành diện mạo văn học mới với những đặc điểm, quy
luật vận động riêng.
Trước hết, nhu cầu nhận thức lại văn học viết về chiến tranh thời kì này
là nhu cầu cấp thiết. Văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống. Trong chiến
tranh, thực hiện lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa nghệ thuật là
một mặt trận. Anh chị em cũng là chiến sĩ trên mặt trận ấy” và quan điểm chỉ
đạo của Đảng: “Văn nghệ là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân, của Đảng
trong cuộc đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ do Đảng đề ra,…”, ngòi bút
của các nhà văn luôn gắn liền với thực tiễn lịch sử, phản ánh một cách trung
thực nhất. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh kết thúc, thực trạng chiến tranh sau
chiến tranh hiện ra đổ nát, bề bộn, ngổn ngang. Con người phải nhận thức, đối
mặt với những vấn đề phức tạp trong cuộc sống đang diễn ra. Hơn thế, công
chúng trong thời kì này đa dạng, phức tạp về thành phần, nhu cầu thưởng thức
nghệ thuật. Họ không còn thích những tác phẩm dễ dãi, những tác phẩm viết
về sự thật chiến tranh một cách đơn giản, xuôi chiều. Họ mong muốn: “Người
viết phải đáp ứng cho được, thỏa mãn cho được thẩm mĩ nghệ thuật, bao gồm

nhận thức cái đẹp từ trong phẩm chất, đức hi sinh và tâm hồn nhân văn của
con người hôm qua” [98]. Đồng thời, nhà văn trước đó chưa có thời gian để
suy ngẫm, quan sát hiện thực từ nhiều phía. Lúc này, họ được sống trong đất
nước độc lập, được làm chủ chính mình nên đã có thời gian để quan sát,
nghiền ngẫm hiện thực trong tính toàn vẹn, đa chiều, đa diện, đầy đủ hơn.
Nhà văn đã nhận thấy khoảng cách giữa tác phẩm và thực tại đời sống. Cho
nên, trong bối cảnh mới, họ đã có nhu cầu đổi mới cách viết, đổi mới suy nghĩ
và cách nhìn nhận hiện thực chiến tranh. Vì thế, chiến tranh đã được nhận
thức lại trên tinh thần nhân đạo và bối cảnh lịch sử mới. Văn học viết về chiến
tranh trong thời kì trước chủ yếu nhằm phục vụ mục tiêu chính trị, phục vụ sự


9
nghiệp cách mạng. Chiến tranh được nhà văn mô tả ở cái hào hùng, cái cao
đẹp. Chiến tranh hiện lên với những chiến công hiển hách, với những tượng
đài vinh quang. Chiến tranh đặt ra vấn đề sống còn của dân tộc, mọi quyền lợi
mọi ứng xử phải nhìn theo quan điểm địch – ta. Viết về chiến tranh, nhà văn
thời kì trước chỉ nhằm mục đích cổ vũ ca ngợi tinh thần chiến đấu của dân
tộc, khẳng định lí tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng con người và chủ
nghĩa anh hùng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tinh thần lạc quan và
khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn là yếu tố chủ đạo trong văn học viết
về chiến tranh. Hình tượng trung tâm trong văn học thời kì này là người chiến
sĩ cách mạng sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp chung của đất nước, của dân tộc.
Có thể nói, các nhà văn viết về chiến tranh trong thời kì này với tinh thần
trung thực và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị đặt ra. Nhưng những gì
được phản ảnh về chiến tranh là chưa đầy đủ cần nhận thức lại. Vì thế, vấn đề
văn học viết về chiến tranh đã tạo không khí tranh luận sổi nổi ở nước ta sau
năm 1975. Trong khoảng thời gian đầu từ 1975 – 1978, hầu như các nhà phê
bình đều “bày tỏ thái độ trân trọng, nâng niu những tác phẩm viết về chiến
tranh, các nhận xét đều khẳng định thành tựu đã đạt được, đồng thời chỉ ra

hạn chế, nhược điểm. Vì thế, diễn đàn thực sự là cuộc trao đổi ý kiến, chia sẻ
và cảm thông” [50]. Điều này khá dễ hiểu vì chúng ta vẫn đang sống trong
không khí thắng lợi, hiện thực chiến tranh vẫn còn nguyên ý nghĩa trong tâm
trí, cảm xúc người viết. Nhưng càng về sau, người ta đã nhận thức được hạn
chế văn học viết về chiến tranh.
Trước hết, Lê Bá Súy và Đinh Xuân Dũng đã trình bày Mấy suy nghĩ
về đề tài chống Mĩ cứu nước và sáng tác trong giai đoạn mới – báo Văn
nghệ quân đội, năm 1976: “Văn học chống Mĩ cứu nước đã có những thành
tựu đáng mừng. Tuy vậy, vẫn thiếu những tác phẩm tương xứng với thời đại,
thiếu một chiều sâu cần thiết so với cái hiện thực đồ sộ và sâu thẳm, tác phẩm


10
của ta còn quá mỏng manh” [50]. Trong khi đó, Nguyễn Đình Tiên đã chỉ ra
hạn chế của các tác phẩm viết về chiến tranh “Quả là có một khoảng cách
giữa hiện thực chiến tranh cách mạng quá đỗi đa dạng và phong phú với cuộc
sống chiến tranh ít nhiều còn nghèo nàn và đơn điệu trong nhiều tác phẩm
văn học của chúng ta” [50]. Nguyễn Văn Long trong Nhìn lạimột chặng
đường của tiểu thuyết, báo Văn nghệ quân đội, năm 1977 cũng đã khẳng
định văn học viết về chiến tranh của ta mới đi được một nửa chặng đầu trong
khi cuộc chiến tranh chống Mĩ đã kết thúc thắng lợi vẻ vang. Và rất nhiều nhà
phê bình khác cũng chỉ ra hạn chế của văn học viết về chiến tranh thời kì này
như Ngô Thảo, Nguyễn Trọng Oánh. Ngô Thảo trong Thử nhìn lại mức độ
chân thực của các tác phẩm viết về chiến tranh và quân đội khẳng định:
“không mô tả những chi tiết nặng nề bi thảm của chiến tranh là xuyên tạc bộ
mặt thật của chiến tranh trong ý thức loài người” [99]. Nhà văn cộng sản Xi –
mô – rốp, tác giả lớn viết về chiến tranh của văn học Xô viết nói: “Nói sự
thật, sự thật và sự thật. Nói dối trong bất kì hoàn cảnh nào cũng là vô đạo
đức. Mặc dù không nói dối nhưng nói sai, bỏ qua không nói, tô hồng cũng là
không thể chấp nhận được. Chiến tranh là đổ máu và viết về chiến tranh cũng

phải khắc nghiệt” [99]. Lại Nguyên Ân nhận thấy và chỉ ra hạn chế của tác
phẩm viết về chiến tranh thời kì trước đó chỉ chú ý khai thác bề rộng chứ chưa
chú ý tới bề sâu của hiện thực chiến tranh. Ông viết: “Ở nhiều cuốn tiểu
thuyết thiên về chiều rộng trong văn học nhiều trường hợp ta có thể thấy cốt
truyện đa tuyến chưa được khai thác đúng mức cần thiết đã bị teo lại, bị thu
vào cốt truyện đơn tuyến, bút pháp tự sự khách quan bị lấn át bởi bút pháp
biểu hiện trữ tình, những mảng đời sống được diễn ra thiếu sự kết dính vào
một chỉnh thể nên chơi vơi gây cảm quan về hời hợt, vụn vặt làm hại đến tính
chỉnh thể hành tránh của tác phẩm” [98].


11
Đặc biệt, Nguyễn Minh Châu với trái tim mẫn cảm của người nghệ sĩ
đã bắt đầu trăn trở, lo lắng và đã nhận ra sự bất ổn trong các trang viết của
mình và của đồng nghiệp. Viết về chiến tranhcủa ôngđã nhận thức lại vấn đề
văn học viết về chiến tranh. Ông đã chỉ ra nguyên nhân hạn chế của nền văn
học viết về chiến tranh: “Hình như trong ý niệm sâu xa của người Việt Nam
chúng ta, hiện thực của văn học có khi đang tồn tại, mà là cái hiện thực mọi
người đang hi vọng mơ ước…Những người cầm bút chúng ta vô cùng cảm
thông với dân tộc mình, như ng chẳng lẽ chúng ta có thể yên tâm mọi người
bằng cách mô tả cái hiện thực mơ ước? Trên con đường đi đến chủ nghĩa
hiện thực, đôi khi chúng ta phải khai chiến cả với những quan niệm tốt đẹp và
lâu dài của chính mình” [50]. Nguyễn Minh Châu nhận thấy nhân vật không
thật trong các tác phẩm viết về chiến tranh thời kì trước đó: “Các nhân vật
thường có khuynh hướng miêu tả một chiều, thường là quá tốt, chưa thực.
Nhân vật thường minh họa cho đường lối, chính sách và tư tưởng của Đảng.
Nhân vật đóng vai trò làm đường dây xâu các sự kiện lại với nhau nên nhân
vật vẫn mờ nhạt” [98].
Đồng tình với nhận định của Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến đã
đăng bài trên báo Văn nghệ, năm 1979 – Về một đặc điểm của văn học và

nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua. Bài viết này đã kích thích đối thoại
trong văn giới và trở thành hiện tượng văn học đáng chú ý. Bài viết được một
số các nhà phê bình khác đồng tình nhưng cũng bị phản đối. Ông bị coi là
người phủ nhận thành tựu văn học cách mạng.
Tóm lại, việc nhận thức lại văn học viết về chiến tranh đã thu hút sự
quan tâm của các nhà phê bình, nhà văn và dư luận công chúng. Từ đó, vấn đề
văn học viết về chiến tranh đã được nhìn nhận lại một cách chính xác, toàn
diện hơn với một tinh thần dân chủ, công khai và thái độ thẳng thắn hơn.


12
Tiếp đó là khuynh hướng sử thi được tiếp tục trong hoàn cảnh lịch sử
mới với quan niệm nhân đạo mới. Sau 1975, khi chiến tranh kết thúc, sau khi
con người có nhu cầu nhận thức lại về chiến tranh toàn diện hơn cùng với
cuộc tranh luận sôi nổi về văn học chiến tranh đã thôi thúc các nhà văn trăn
trở suy nghĩ cách viết mới. Nhà văn Nguyễn Minh Châu là người tiên phong
cho công cuộc đổi mới cách viết trong sáng tác. Ông viết “Hãy đọc lời ai điếu
cho một giai đoạn văn học: “Chẳng lẽ mãi mãi thế hệ nhà văn Việt Nam
chúng ta vẫn cứ yên tâm sản sinh ra toàn những sản vật không bao giờ ngó
đến trong nền văn học thế giới. Chẳng lẽ Việt Nam ngày nay chỉ hưởng của
thiên hạ mà không làm ra cái gì góp vào của chung của thiên hạ [13]. Nhà
văn Nguyễn Minh Châu là nhà văn có tinh thần trách nhiệm cao, lương tâm
với công việc của mình cùng với sự mẫn cảm với tinh thần thời đại đã đòi hỏi
và kêu gọi các nhà văn phải viết khác đi, phải suy nghĩ khác đi. Đặc biệt, thời
kì này còn xuất hiện một loạt các nhà văn mới như Chu Lai, Bảo Ninh, Trung
Trung Đỉnh, Thái Bá Lợi,… Họ đều là những nhà văn đã tham gia chiến trận
hoặc gần gũi với công việc của người lính. Vì thế, các tác phẩm viết về chiến
tranh thời kì này gắn liền với kinh nghiệm cá nhân của nhà văn: "Nhà văn coi
mình có nhiệm vụ hấp dẫn là mổ xẻ thực tế chiến tranh, tìm đến các mặt khác
nhau của hiện thực chiến tranh, dù đó là anh hùng hay hèn nhát, niềm vui hay

nỗi buồn, chiến công hay thất bại, chiến thắng và những cái giá phải trả cho
chiến thắng, không chỉ phải trả ngay trong chiến tranh, mà còn phải tiếp tục
phải trả cả những năm dài sau chiến tranh" [98]. Nhà phê bình Trần Cương
trong Về một vài hướng tiếp cận với đề tài chiến tranhcũng đã khẳng định
văn học thời kì này viết về chiến tranh có nhiều cách tiếp cận khác trước. Ông
viết: “Hướng tiếp cận chủ yếu lí giải chiến tranh trực tiếp tục ngợi ca khẳng
định và trong điều kiện hòa bình còn có thêm khía cạnh mới nữa là tính sổ.


13
Trong số những tác phẩm này và những tác phẩm khác nữa, diện mạo chiến
tranh đã được vẽ thêm nhiều nét bút mới” [98].
Như vậy, quan niệm về chiến tranh được nhìn nhận với nhãn quan mới
khác thời kì truyền thống. Từ đó, hình thành khuynh hướng văn học viết về
chiến tranh sau chiến tranh.
Trước hết, họ viết về chiến tranh như một sự tri ân, như một món nợ
tinh thần phải trả. Nguyễn Minh Châu đã nói: “Viết về cuộc kháng chiến, viết
về chiến tranh, nhiều đồng chí cầm bút viết văn trong quân đội đã đứng tuổi
nhiều lần nói tới công việc đó như một trách nhiệm, một món nợ chưa trả
được. Một món nợ chưa trả và không thể nào quên” [98]. Bên cạnh đó, các
nhà văn còn viết về chiến tranh bằng kinh nghiệm cá nhân. Từ những trải
nghiệm, kinh nghiệm ấy, các nhà văn có sự lí giải, phát hiện mới về chân lí
chiến tranh. Chiến tranh thời kì này được các nhà văn nhìn nhận đa chiều, đa
diện từ nhiều phía.
Viết về chiến tranh, các nhà văn thời kì này chú trọng tới tính chân
thực, đòi hỏi người cầm bút phải trung thực với hiện thực chiến tranh như nó
vốn có. Nhà văn Nam Hà cho rằng viết về chiến tranh là điều tất nhiên nhưng
phải phân biệt đó là “chiến tranh nào?Vấn đề tôn trọng lịch sử, trung thực với
lịch sử phải được đặt lên hàng đầu” [98]. Nhà văn nhà phê bình Nguyễn Trí
Huân cũng đồng tình: “Thiên chức của nhà văn là viết về chiến tranh để

chống chiến tranh nhưng cần phân biệt đó là cuộc chiến tranh nào?” [98]. Hồ
Phương đặt ra vấn đề khi viết về chiến tranh thời kì này: “Không hề né tránh
tất cả sự tàn khốc chiến tranh… Viết về sự tàn khốc của chiến tranh là điều
cần phải làm nhưng viết như thế nào để không làm mờ mất tính chất của cuộc
kháng chiến ấy để cuối cùng người đọc chỉ thấy toàn bộ chuyện chết chóc ghê
sợ và muốn chối bỏ” [71]. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh: “văn học viết về
chiến tranh vẫn cứ phải lấy mâu thuẫn ta – địch làm sợi chỉ xuyên suốt,


14
không khí bi hùng và cách mạng của cuộc vật lộn sống còn của dân tộc vẫn
phải bao trùm” [98] Như vậy, có thể thấy, nhà văn Hồ Phương vừa ủng hộ
việc viết chiến tranh theo cách khai thác những mặt trái của nó, nhưng cũng
đồng thời nhấn mạnh vào khuynh hướng sử thi của chiến tranh trong văn học
thời kì này. Bên cạnh đó, nhà phê bình Nguyễn Văn Long cũng khẳng định
khi viết về chiến tranh các nhà văn vẫn phải bám sát vào những sự kiện lịch
sử để phản ánh chiến tranh một cách chân thực và toàn diện nhất.
Vì thế, viết về chiến tranh, các nhà văn vẫn coi trọng mục đích phản
ánh cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc ta, khẳng định tính chất chính
nghĩa của cuộc chiến tranh, khẳng định phẩm giá dân tộc và những chiến
công hào hùng của dân tộc. Song hiện thực chiến tranh được nhà văn nhìn
nhận, lí giải không đơn giản, một chiều mà hiện thực chiến tranh hiện lên đa
chiều, phức tạp. Các nhà văn đã đi vào miêu tả những mặt trái, góc khuất đen
tối của hiện thực chiến tranh, đau thương chiến tranh. Chiến tranh không chỉ
có thắng lợi mà có cả thất bại, không chỉ có hào hùng mà còn có thấp hèn,
không chỉ có niềm vui mà còn có nỗi buồn, nỗi đau, bi kịch,… Chu Lai là một
trong nhà văn đầu tiên nói về bản chất chiến tranh khác thời kì trước: “Bằng
những kiểm nghiệm của bản thân, tôi hiểu ra rằng chiến tranh quả thật không
vui vẻ gì, đối với bất cứ dân tộc nào, dù là tự vệ hay xâm lược, chiến tranh
đều mang ý nghĩa bi kịch” (Vài suy nghĩ về phản ánh sự thật trong chiến

tranh – 1987) [98]. Văn Lê khẳng định: “Chiến tranh không bao giờ chỉ là
một màu vinh quang mà còn có cả nước mắt, hi sinh” [98]. Nhân vật Lực
trong Cỏ lau – Nguyễn Minh Châu: “Chiến tranh làm người ta hư đi hơn là
làm người ta tốt hơn” [14]. Hay như nhân vật Kiên trong Nỗi buồn chiến
tranh – Bảo Ninh: “Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang,
khốn khổ và phiêu dạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới
bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của giống con người” [98]. Từ


15
thực tiễn văn học, giáo sư Hà Minh Đức khẳng định: "Đềtài chiến tranh vẫn
tiếp tục được miêu tả với nhiều bình diện, những tổn thất đau thương và số
phận con người trong chiến tranh và sau chiến tranh" [36]. Nhận định trên
của Giáo sư Hà Minh Đức đồng thời cũng là nhận định chung của giới phê bình
sau 1975 khi bàn về những đổi mới của tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này.
Như vậy, văn học viết về chiến tranh thời kì này đã gắn liền với cảm
hứng bi kịch. Tuy nhiên, các tác phẩm vẫn toát lên âm hưởng lạc quan, tin
tưởng bởi cái bi được nâng lên bởi cái tráng, cái hùng. Qua đó, nhà văn cũng
thể hiện tinh thần nhân đạo của mình khi viết về chiến tranh. Điều đó thể hiện
qua việc các nhà văn tuy viết về chiến tranh song không đi mô tả trực tiếp
hiện thực chiến tranh. Hiện thực chiến tranh được hiện lên gián tiếp thông qua
số phận cá nhân con người. Các nhà văn đã bày tỏ tình cảm của mình qua số
phận của họ. Nhà phê bình Tôn Phương Lan viết: “Càng lùi về cuối thập kỉ
80, sự thật trong văn chương viết về chiến tranh càng được biểu hiện theo
một hướng khác… Con người trở thành đối tượng khám phá của người viết
lẫn người đọc, hiện thực chiến tranh với đầy đủ tư chất ác liệt của nó đã được
hiện lên qua số phận và thế giới nội tâm con người. Khai thác nhân vật trong
văn xuôi có phong phú hơn và có tính phản quang của đời sống thông qua hệ
thống nhân vật làm cho văn xuôi trở nên sinh động”[48]. Hồ Phương cũng
khái quát: “Những vấn đề số phận con người đã được chú ý đào xới khai thác

một cách khá sâu sắc. Gắn liền với việc viết sâu với tính cách, số phận con
người trong chiến tranh, bi kịch chiến tranh cũng được miêu tả sâu sắc, chân
thực” [71].
Cái nhìn về hiện thực chiến tranh còn được nhà văn thể hiện qua cái
nhìn của nhân vật. Hiện thực chiến tranh gắn liền với số phận cá nhân, gia
đình dòng họ sau tổn thất chiến tranh “Cuộc sống phản ánh vào chiến tranh
không chỉ có cái cao cả, anh hùng mà còn thấm thía nỗi buồn của con người


16
hậu chiến, là cuộc sống với tất cả sự vận động quyết liệt của cuộc đấu tranh
cũng như cái đời thường vừa ấm áp, vừa nhếch nhác, lấm lem” [98]. Nhà văn
khi viết về con người trong chiến tranh đã đứng trên lập trường nhân bản và
nhìn con mắt thế sự – đời tư. Từ đó, nhà văn đã đặt ra những vấn đề nhức
nhối có sức ám ảnh đối với con người cá nhân. Đó là số phận, bi kịch con
người trong và sau chiến tranh, tha hóa nhân cách, vấn đề nhân tính, tình
người,… Đó là bi kịch của người vợ chờ chồng trở về sau chiến tranh, khao
khát tình yêu và hạnh phúc gia đình. Đó là bi kịch của người anh hùng chiến
trận trở về với cuộc sống đời thường không thích nghi được, trở nên lạc lõng.
Đó là bi kịch của con người lầm đường, lạc lối… Có thể nói, chiến tranh là
nguyên nhân gây ra những đau đớn về thể xác cũng như tinh thần của họ. Nhà
phê bình Tôn Phương Lan, Hồ Phương nhận thấy một trong những tìm tòi
không mệt mỏi của tác phẩm viết về chiến tranh sau 1975, đặc biệt là trong
thập kỷ 80 và 90 là "Những vấn đề về số phận con người đã được chú ý đào
xới, khai thác một cách khá sâu sắc (…). Gắn liền với việc viết sâu về tính
cách và số phận con người trong chiến tranh, mặt bi kịch của chiến tranh
cũng đã được miêu tả sâu sắc, chân thực hơn trước" [48]. Bàn về quan niệm
và cách thể hiện con người trong văn xuôi sau 1975 khi trình bày "Mấy suy
nghĩ về mảng văn học chiến tranh cách mạng" tại Hội thảo "50 năm văn
học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám", Xuân Thiều nhận định: "Sự quan

tâm của phần lớn các nhà văn viết về chiến tranh là âm vang chiến tranh,
nghĩa là viết về số phận con người thời kì hậu chiến mà chiến tranh dù đã đi
qua vẫn để lại những dấu ấn khó quên, chiến tranh đã đưa đẩy họ tới những
nẻo bất ngờ, ở đấy có thể có niềm vui, nỗi buồn, có tình yêu thương và lòng
căm thù, có lòng dũng cảm và tính đớn hèn, có lòng trung thành và những
phút giây dao động" [59]. Miêu tả tính chất bất thường, nghiệt ngã của chiến
tranh, các nhà tiểu thuyết sau 1975, đồng thời cũng thể hiện một tinh thần


17
nhân văn cao cả trong tác phẩm của mình khi nhận ra rằng: dù ánh hào quang
có lấp lánh trên đầu người chiến thắng hay nỗi buồn có chấp chới trong mắt
kẻ chiến bại thì những mất mát đau thương, những thống khổ, thiệt thòi mà nó
gây ra cho con người là có thực.
Chiến tranh trong sáng tác của các nhà văn không chỉ là cuộc chiến đấu
chống kẻ thù xâm lược mà còn là cuộc chiến đấu bảo vệ đê điều. Tác phẩm
Mƣa mùa hạ của Ma Văn Kháng đã thể hiện điều đó. Và khi tác phẩm này ra
đời, các nhà phê bình cũng đã nhìn nhận nó ở nhiều khía cạnh khác nhau. Nhà
văn Tô Hoài nhìn thấy tài năng của nhà văn khi ông đưa ngòi bút của mình
vào những vấn đề lịch sử và khoa học. Song Tô Hoài cũng chỉ ra hạn chế của
nhà văn ở chỗ “chưa thấy hết những khả năng khám phá và sáng tạo chi tiết
nên đã làm mờ đặc điểm cấu tạo của thể loại truyện” [50]. Nhà phê bình
Ngọc Trai lại nhìn tác phẩm ở các chi tiết nghệ thuật đặc sắc thể hiện công
việc chống lụt…
Có thể thấy, văn học viết về chiến tranh sau chiến tranh có sự đổi mới
tích cực. Sự đổi mới ấy được thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu như Đất
trắng – Nguyễn Trọng Oánh, Hai người trở lại trung đoàn– Thái Bá Lợi,
Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh, Cỏ lau và Dấu chân người lính, Miền
cháy,…– Nguyễn Minh Châu, Vùng trời – Hữu Mai, Những tầm cao – Hồ
Phương,… Những tác phẩm này đã thu hút sự quan tâm của công chúng và

các nhà phê bình.
Nhà phê bình Nguyễn Văn Bổng trong Một cuốn tiểu thuyết chân thực
– Văn nghệ số 23 năm 1980 đã chỉ ra nhược điểm của tác phẩm Đất trắng: “
trong tám chương thì hai chương đầu còn nặng nề, rối rắm”, “ đây đó có
những chi tiết chưa thất chín chắn” [50]. Đồng thời, ông cũng khẳng định tác
phẩm viết về chiến tranh với cái nhìn mới mẻ. Chiến tranh hiện lên trong
trang viết của Nguyễn Trọng Oánh với những khó khăn, những hi sinh, mất


18
mát,… Nhà phê bình Thiếu Mai cũng nhận thấy tác phẩm mô tả trực diện mặt
khốc liệt của chiến tranh. Bên cạnh đó, nhà phê bình Đặng Quốc Nhật cũng
đã khẳng định giá trị của tác phẩm: “ Đất trắng đã gợi ra cho chúng ta những
suy nghĩ mới cho tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh lúc này. Ở đây, người
đọc thấy được cái dữ dội của cuộc chiến đấu giữa ta và địch, những thiệt hại
nặng nề của ta,… cái giá của chiến công và chiến thắng cuối cùng. Chất hiện
thực của cuốn tiểu thuyết là khá đậm và chân thật” [50]. Đồng ý kiến với các
nhà phê bình khi nhận định về đóng góp về giá trị của tác phẩm, nhà phê bình
Trần Duy Thanh nhận định tác phẩm Đất trắng đã phản ánh chân thực một
mảng hiện thực chiến tranh. Tuy nhiên, ông cũng nhận thấy những hạn chế
của tác phẩm ở chỗ sơ sài khi viết về kẻ thù, ở những đoạn miêu tả nhằm mục
đích phô bày sự quan sát tinh tế song lại ít ăn nhập với sự phát triển tình tiết
câu chuyện, sự hụt hẫng khi kết thúc tác phẩm,… Lê Thị Thanh Tâm trong
Văn học chiến tranh Việt Nam cũng nhận định: “Tác phẩm Đất trắng là tác
phẩm quan trọng cảm nhận chiến tranh từ phía khác, không hoàn toàn đi theo
dòng độc thoại, tôn vinh của văn học cách mạng. Cuộc chiến đấu mô tả trong
Đất trắng không chỉ là cuộc đối đầu giữa hai lực lượng ta - địch mà còn là
trận chiến của những con người bình thường có, anh hùng có, hi sinh có, tính
toán có. Đó là góc khuất của chiến tranh mà ít nhà văn thời chiến có thể khái
quát” (báo Quân đội nhân dân).

Các tác phẩm viết về chiến tranh của Nguyễn Minh Châu đã thu hút sự
chú ý của các nhà phê bình. Huỳnh Như Phương đã khẳng định ngòi bút
Nguyễn Minh Châu đã cố vượt qua kiêng dè quá đáng để tái hiện khía cạnh,
những khốc liệt của chiến tranh, hi sinh mất mát và chấn thương tâm lí còn để
lại từ cuộc chiến tranh chống Mĩ khi ông viết Người đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành. Đồng thời, tác phẩm cũng được khẳng định ở việc thể nghiệm mới
về nghệ thuật của ngòi bút mà đã có lúc tưởng chừng đã định hình trong


19
những cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kì trước. Nguyễn Đăng Mạnh
và Trần Hữu Tá chỉ ra hạn chế của Nguyễn Minh Châu: “ngòi bút Nguyễn
Minh Châu chân thực nhưng chưa thật sâu”. Vì thế, người đọc chưa thấy
được cái hùng tráng, dữ dộicủa cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại
[14]. Nhà phê bình Ngô Thảo cũng đã khẳng định chủ nghĩa nhân đạo trong
tác phẩm Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu
khi viết về chiến tranh trong bối cảnh mới của thời đại “Lòng trân trọng của
người đọc với tác phẩm này là sự khẳng định lí tưởng cách mạng, cuộc đấu
tranh giải phóng được thể hiện qua số phận hàng loạt nhân vật” (Nhìn lại
các tác phẩm viết về chiến tranh quân đội – báo Quân đội nhân dân). Nhà
phê bình cũng chỉ ra hạn chế của tác phẩm: “Thử thách chiến tranh tuy ác liệt
những cũng chỉ tập trung trên một vài vấn đề và trong những lựa chọn rõ
ràng. Tính cách còn lại được quy định giản đơn vào một vài sơ đồ quen
thuộc. Lối viết vì thế dễ đơn điệu, một chiều” [48].
Trong Cỏ lau, Huỳnh Như Phương đã khẳng định tấm lòng nhân đạo
của nhà văn khi viết về chiến tranh, về số phận trong chiến tranh “Cỏ lau làm
người đọc xót xa trước những mất mát quá lớn mà người lính phải chấp nhận
khi cuộc chiến đi qua…Nguyễn Minh Châu đã dựng trước mắt chúng ta sự
tàn phá ghê gớm của chiến tranh: chiến tranh đã cướp đi biết bao sinh mạng,
tàn phá biết bao ngôi nhà, làng mạc. Khi chiến tranh qua đi vẫn để lại một

nỗi đau âm ỉ, day dứt trong tâm hồn của những con người đang còn sống, nó
sẽ còn là nỗi đau dai dẳng mãi tới nhiều thế hệ mai sau… Thái độ chấp nhận
những thiệt thòi, mất mát, những tâm trạng dằn vặt, trăn trở tự vấn mình về
một lỗi lầm trong quá khứ, một tình yêu duy nhất thủy chung mang theo suốt
cuộc đời – đó chính là vẻ đẹp trong tâm hồn và trong đời sống tinh thần của
người chiến sĩ. Đó cũng chính là biểu hiện nhân đạo trong sáng tác của
Nguyễn Minh Châu” [14.tr.225].


20
Không chỉ thế tiểu thuyết, truyện ngắn viết về chiến tranh gây sự chú ý
dư luận mà kí thời kì này cũng góp phần vào sự sôi động. Kí sự miền đất lửa
của Nguyễn Sinh và Vũ Kì Lân ra đời năm 1978 đã được chú ý bởi các nhà
phê bình. Nhà văn Nguyễn Tuân với bài Kể chuyện Vĩ tuyến 17, báo văn
nghệ số 35, năm 1979 cho rằng đó là một cuốn sách đúng viết về người anh
hùng dân tộc Vĩnh Linh trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, có nhiều đoạn hay
như khi diễn tả cảnh vượt sông đánh địch, tổ chức cuộc sống trong lòng đất.
Nguyễn Thành Long khẳng định: “Tập kí sự trang nào cũng viết cô đọng,…
đã nói lên được số phận con người, số phận cả một vùng đất, số phận người
viết nữa”. Ông còn nhấn mạnh: “Tác phẩm là sự cộng tác của hai người, một
là chính ủy, một là nhà báo. Những lời kể xen lẫn những trang trích sổ tay
phóng viên nhưng tưởng chừng như không nhìn thấy vết nối… Thật sự là
những trang viết của một nhà văn” [50]. Vũ Quần Phương (Thành công của
một tập kí và đòi hỏi của một nền văn học, báo Nhân dân, năm 1979) cũng
khẳng định: “Các tác giả đã ghi lại được những giây phút căng thẳng, ác liệt
cuộc chiến tranh, một ám ảnh không nguôi của nỗi lòng mong muốn một cuộc
sống yên hàn, cuộc sống vốn có của con người trên quả đất. Ám ảnh đó tạo
nên cái hơi cảm xúc đằm thắm, nhân hậu trên nhiều trang ghi chép, làm xao
xuyến cả những dòng viết như văn bản in, như lời thống kê công việc” [50].
Bên cạnh đó là nhận định của Lại Nguyên Ân trong Văn xuôi tư liệu viết về

chiến tranh, báo Nhân dân, năm 1979. Ông nhấn mạnh về nghệ thuật tư liệu
của tác phẩm, sự vận dụng đa dạng các chất liệu, ở sự chú ý thống nhất nhân
học và chất sử liệu, chất văn học. Các ý kiến của các nhà phê bình như Thiếu
Mai cũng đồng tình với nhà phê bình Nguyễn Thành Long khi cho rằng nhà
văn Vũ Kì Lân là nhà chính trị, Nguyễn Sinh là phóng viên cho nên tác phẩm
của họ là sự kết hợp tài tình giữa chính trị và văn học. Các nhà phê bình khác
như Phong Lan (Một thiên kí sự giàu sức sống, báo Văn nghệ quân đội, năm

×