Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Nghiên cứu xạ khuẩn phân giải cellulose trong đất tại xuân hoà, phúc yên, vĩnh phúc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (870.99 KB, 12 trang )

NGHIÊN CỨU XẠ KHUẨN PHÂN GIẢI CELLULOSE TRONG ĐẤT
TẠI XUÂN HOÀ, PHÚC YÊN, VĨNH PHÚC
Đinh Thị Kim Nhung
1

Nguyễn Thị Minh Nguyệt
2

Trần Thuỳ Duyên
3

ừ mẫu đất lấy tại khu vực Xuân Hoà, Phúc Yên, Vĩnh Phúc, chúng tôi đã
phân lập được 17 chủng từ đất trồng trọt và 18 chủng từ đất đồi, chọn
lọc được 4 chủng là T5, T9 (phân lập từ đất trồng trọt) và Đ4, Đ12 (phân lập
từ đất đồi). Đây là những chủng xạ khuẩn đã phân lập có hoạt tính cellulose
mạnh nhất trên môi trường thử hoạt tính chứa 1% CMC và 1% bột giấy. Tiến
hành nghiên cứu đặc điểm hình thái cuống sinh bào tử và bào tử, tính chất
nuôi cấy của các chủng được tuyển chọn, thấy các chủng này đều có khả
năng đồng hoá tốt nguồn cacbon và có khả năng sinh emzyme ngoại bào.
Đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường và điều kiện nuôi cấy đến
khả năng cellulase của các chủng nghiên cứu, thấy có thể sử dụng các chủng
này, tiếp tục nghiên cứu định loại bằng phương pháp PCR, ứng dụng vào sản
xuất bột giấy, phân bón vi sinh và đặc biệt là ứng dụng xử lý rác thải.

1. MỞ ĐẦU
Cellulose là thành phần quan trọng tạo nên lớp tế bào thực vật, là một loại
polysaccharide có cấu trúc phức tạp. Việc phân huỷ cellulose bằng tác nhân lý hoá làm ảnh
hưởng tới nhiều quá trình sản xuất nông nghiệp. Các loài sinh vật tham gia sinh tổng hợp
emzyme cellulase trong tự nhiên là rất phong phú như: xạ khuẩn, vi khuẩn, nấm mốc, nấm
men, động vật nguyên sinh Trong các vi sinh vật nói trên xạ khuẩn đóng vai trò quan trọng
trong quá trình phân giải cellulose trong đất. Xạ khuẩn là một nhóm các vi sinh vật đất có số


lượng lớn, chiếm 10  70% số tế vi sinh vật có trong đất. Chúng có vai trò phân giải chất hữu
cơ và là vi sinh vật tạo ra kháng sinh chủ yếu (tới 80% chất kháng sinh) vì thế trong đất có
nhiều xạ khuẩn cây trồng ít bị bệnh hơn [3].
Phường Xuân Hoà, Phúc Yên, Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên là 423,9 ha, trong đó diện
tích đất đồi (lâm nghiệp) là 22,3 ha, diện tích đất nông nghiệp là 175,47 ha. Đặc điểm của đất
ở đây là có thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu kém hoặc không có kết cấu, tầng đất mỏng dễ bị
rửa trôi, hàm lượng mùn và độ phì trung bình thấp. Chính vì vậy, việc nghiên cứu xạ khuẩn
trong đất có khả năng phân huỷ cellulose là việc có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc cải
tạo đất và bảo vệ môi trường. Điểm mới của công trình: đây là công trình nghiên cứu đầu tiên

1
PGS.TS, Trường ĐHSP Hà Nội 2
2
ThS, Trường ĐHSP Hà Nội 2
3
Học viên Cao học, K 16, Trường ĐHSP Hà Nội 2
T
khảo sát sự có mặt của một số chủng xạ khuẩn có khả năng sinh enzyme cellulase trong đất
tại khu vực Xuân Hoà, Phúc Yên, Vĩnh Phúc.
2. NỘI DUNG
2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Là một số chủng xạ khuẩn phân giải cellulose từ đất tại khu vực Xuân Hoà, Phúc Yên,
Vĩnh Phúc.
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng: phương pháp lấy mẫu; phương pháp
phân lập xạ khuẩn theo Vinogradski; phương pháp bảo quản chủng giống; phương pháp quan
sát hình thái xạ khuẩn; nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh hoá của xạ khuẩn; phương pháp xác
định hoạt tính cellulase của xạ khuẩn; phương pháp thống kê và xử lý kết quả.
2.2. Kết quả nghiên cứu

2.2.1. Phân lập xạ khuẩn từ đất thuộc khu vực Xuân Hoà, Phúc Yên, Vĩnh
Phúc
2.2.1.1. Đặc điểm khuẩn lạc
Từ các mẫu đất lấy ở độ sâu 0 cm  30 cm, tại các địa điểm khác nhau ở khu vực Xuân
Hoà, Phúc Yên, Vĩnh Phúc, chúng tôi tiến hành phân lập. Kết quả cho thấy ở các độ sâu 5
cm, 10 cm, 15 cm phân lập được nhiều chủng xạ khuẩn hơn so với các độ sâu khác, nhiều
nhất là ở độ pha loãng 10
5
và 10
6
[5]. Môi trường Gause I có thành phần môi trường thích
hợp nhất với sự phát triển của xạ khuẩn nên khuẩn lạc mọc trên môi trường này nhiều hơn 2
môi trường Czapeck  glucose và Czapeck  tinh bột. Kết quả thí nghiệm cho thấy: đất trồng
trọt phân lập được 18 chủng, đất đồi phân lập được 17 chủng xạ khuẩn, kết quả thí nghiệm
được dẫn ra trên bảng 1 và hình 1.
Bảng 1: Các chủng xạ khuẩn phân lập từ đất thuộc khu vực Xuân Hoà, Phúc Yên, Vĩnh
Phúc
STT
1
2
3
4
5
6
7
Độ sâu (cm)
0 cm
5 cm
10 cm
15

20
25
30
Môi
trườn
g
Gaus
e I
Đất
ruộng

T1
T2,
T3
T4, T5
T6
T7, T8
T9,
T10
T11
T12
T13
T1
4
Đất
đồi
Trồng
keo
Đ1
Đ2

Đ4,
Đ5
Đ6,
Đ7
Đ9


Bạch
Đ10


Đ12,
Đ1


đàn
Đ13
4
Đồi
trọc


Đ15,
Đ16
Đ17



Czap
eck

gluco
zo
Đất
ruộng


T15



T17


Đất
đồi
Trồng
keo

Đ3


Đ1
1


Bạch
đàn








Đồi
trọc







Czap
eck
tinh
bột
Đất
ruộng




T16
T18



Đất
đồi

Trồng
keo



Đ8



Bạch
đàn







Đồi
trọc







Khuẩn lạc xạ khuẩn phân lập chủ yếu có dạng xù xì hoặc dạng bẹt, có sự bông, xốp, khô,
có màu đặc trưng, nhìn kỹ có dạng sợi nấm, phóng xạ, có thể có vòng vô khuẩn bao quanh,
kích thước khá nhỏ so với các loài VSV khác, khoảng 0,5  2 mm.


Hình 1: Một số chủng xạ khuẩn phân lập từ đất đồi
2.2.1.2. Đặc điểm hệ sợi
Tiến hành nghiên cứu đặc điểm của HSCC và HSKS của các chủng xạ khuẩn thu được,
chúng tôi nuôi cấy các chủng này trên môi trường Gause I từ 3 đến 5 ngày, thuần chủng trên
môi trường thạch nghiêng rồi đem quan sát. Màu sắc của HSCC và HSKS rất đa dạng: trắng,
xám, vàng, xanh Tiến hành quan sát chúng tôi nhận thấy 2 nhóm màu chiếm ưu thế là xám
và trắng. Xạ khuẩn của 2 nhóm màu này luôn có tần suất xuất hiện cao hơn các nhóm màu
khác.
2.2.2. Xác định khả năng sinh cellulase của xạ khuẩn
2.2.2.1. Xác định khả năng sinh cellulase của xạ khuẩn phân lập từ đất trồng trọt
Từ các củng xạ khuẩn phân lập đem đi thử hoạt tính enzyme cellulase trên môi trường
chứa 1% CMC và 1% bột giấy. Kết quả thí nghiệm thu được như sau:
Bảng 2: Hoạt tính cellulase của 18 chủng xạ khuẩn đã phân lập từ đất ruộng
Hoạt tính
Số chủng
Rất mạnh
Mạnh
Trung bình
Yếu
CMC
BG
CMC
BG
CMC
BG
CMC
BG
Số lượng chủng
0

0
4
1
14
14
0
3
Tỷ lệ (%)
0
0
22.2
5.5
77.8
77.8
0
16.7
Đường kính lỗ khoan: d (mm); Đường kính vòng phân giải: D (mm); Mức
độ hoạt tính: Rất mạnh: D

d ≥ 30 mm; Mạnh: 20 mm ≤ D

d ≥ 30mm;
Trung bình: 10 mm ≤ D

d <20mm; Yếu: D

d <10 mm
Tất cả 18 chủng nghiên cứu đều có hoạt tính cellulase. Trong đó trên môi trường CMC
có 4 chủng có mức độ hoạt tính mạnh chiếm 22,2%, đường kính phân giải cellulose từ 23 
28 mm. Còn lại 14 chủng có mức độ hoạt tính trung bình chiếm 77,8%. Không có chủng nào

hoạt tính rất mạnh hoặc yếu. Trên cả 2 môi trường nuôi cấy chứa CMC và bột giấy cho thấy
chủng T5 có hoạt tính mạnh nhất, đứng thứ 2 là chủng T9. Điều này chứng tỏ các chủng
Streptomyces phân lập được có khả năng sinh cả enzyme Endogluconase và Exogluconase.
2.2.2.2. Xác định khả năng sinh Cellulase của xạ khuẩn phân lập từ đất đồi
Từ các chủng xạ khuẩn đã phân lập đem thử hoạt tính enzyme cellulase trên môi trường
chứa 1% CMC và 1% bột giấy. Kết quả thu được như sau:
Bảng 3: Hoạt tính cellulase của các chủng xạ khuẩn đã phân lập từ đất đồi
Hoạt tính
Số chủng
Rất mạnh
Mạnh
Trung bình
Yếu
CMC
BG
CMC
BG
CMC
BG
CMC
BG
Số lượng
chủng
0
0
3
2
13
12
1

3
Tỷ lệ (%)
0
0
17.6
11.
8
76.5
70.
6
5.9
17.6





Hình 2: Hoạt tính cellulase của một số chủng xạ khuẩn phân lập
Tất cả 17 chủng nghiên cứu đều có hoạt tính cellulase. Trong đó trên môi trường CMC
có 3 chủng có mức độ hoạt tính mạnh chiếm 17,5%, 13 chủng có mức độ hoạt tính trung bình
chiếm 17,6%, 1 chủng có hoạt tính yếu chiếm 5,9%. Trên môi trường bột giấy có 2 chủng có
mức độ hoạt tính mạnh, chiếm 11,8%, có 12 chủng có mức độ hoạt tính trung bình chiếm
70,6%, cón lại 3 chủng có mức độ hoạt tính yếu chiếm 17,6%. Có thể thấy khả năng sinh
cellulase của các chủng xạ khuẩn phân lập từ đất đồi là khá tốt. Trên cả hai môi trường nuôi
cấy chứa CMC và bột giấy cho thấy chủng Đ4 có hoạt tính mạnh nhất, đứng thứ 2 là chủng
Đ12.
2.2.3. Đặc điểm hình thái cuống sinh bào tử, bào tử và tính chất nuôi cấy của
một số chủng xạ khuẩn
2.2.3.1. Cuống sinh bào tử và bào tử
Quan sát cuống sinh bào tử: chúng tôi tiến hành nuôi cấy chủng xạ khuẩn trên môi

trường Gause I có găm lamen nghiêng 45
0
C trên bề mặt môi trường từ 7  9 ngày, nuôi cấy ở
nhiệt độ phòng rồi đem quan sát dưới kính hiển vi quang học [1]. Kết quả quan sát cuống
sinh bào tử ở một số chủng xạ khuẩn đã phân lập được dẫn trên hình 3.


Cuống sinh bào tử của chủng Đ4 (X
280)
Cuống sinh bào tử của chủng Đ12 (X 280)


Cuống sinh bào tử của chủng T5 (X
280)
Cuống sinh bào tử của chủng T9 (X 280)
Hình 3: Cuống sinh bào tử của một số chủng xạ khuẩn đã phân lập
Quan sát bề mặt bào tử: tiến hành nuôi cấy chủng xạ khuẩn trên môi trường Gause I hoặc
Czapektinh bột trong các đĩa petri, sau 7  12 ngày nuôi cấy ở 28
0
C  30
0
C, dùng lưới đồng
Collodion đặt trực tiếp trên bề mặt khuẩn lạc rồi đem quan sát dưới kính kiển vi quang học.
Kết quả quan sát bề mặt bào tử ở chủng Đ4 và Đ12 như sau:


Bề mặt bào tử của chủng Đ4 (X 20.000)
Bề mặt bào tử của chủng Đ12 (X 20.000)
Hình 4: Bề mặt bào tử của chủng Đ4 và Đ12
Kết quả quan sát cho thấy: Chủng Đ4 có HSKS màu đỏ gạch, sắc tố tan màu hồng, cuống

sinh bào tử có dạng thẳng lượn sóng, bề mặt bào tử nhẵn; Chủng Đ12 có HSKS màu xanh,
HSCC màu xanh nhạt, cuống sinh bào tử có dạng thẳng xoắn có móc, bề mặt bào tử nhẵn.
Chủng T5 có HSKS màu hồng, HSCC màu đỏ gạch, cuống sinh bào tử dạng xoắn, bề
mặt bào tử có dạng gai; chủng T9 có HSKS màu trắng, không có HSCC cuống sinh bào tử
dạng thẳng, bề mặt bào tử dạng xù xì.
2.2.3.2. Tính chất nuôi cấy
 Khả năng đồng hoá các nguồn cacbon:
Để đánh giá khả năng đồng hoá nguồn cacbon khác nhau, chúng tôi tiến hành nuôi cấy 2
chủng Đ4 và Đ12 từ 7  12 ngày trên môi trường Cazepck  glucose có thay đổi các nguồn
đường khác nhau. Kết quả thu được như sau:
Bảng 4: Khả năng đồng hoá nguồn cacbon 2 chủng xạ khuẩn Đ4, Đ12
Nguồn cacbon
Mức độ sinh trưởng
Chủng Đ4
Chủng Đ12
Glucose
+
++
Lactose
+
+++
Mantose
+++
_
Fructose
+++
+++
Không có đường (đối chứng
âm)



Ghi chú: +++ Sinh trưởng tốt; ++ Sinh trưởng trung bình;
+ Sinh trưởng yếu;

Không sinh trưởng
Kết quả cho thấy: chủng Đ4 đồng hoá tốt nhất nguồn cacbon là: mantose, fructose và
sinh trưởng yếu trong môi trường chứa nguồn cacbon glucose và lactose. Chủng Đ12 sinh
trưởng tốt trên môi trường chứa nguồn cacbon lactose, fructose. Như vậy, 2 chủng xạ khuẩn
nghiên cứu đều có khả năng đồng hoá tốt các nguồn cacbon khác nhau.
 Khả năng sinh enzyme ngoại bào:
Để đánh giá khả năng sinh emzyme ngoại bào. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 2
chủng Đ4 và Đ12 trên môi trường có cơ chất là CMC[2], bột sữa và tinh bột tan. Kết quả thí
nghiệm được dẫn ra trên bảng 5 và hình 5.
Bảng 5: Khả năng sinh enzyme ngoại bào 2 chủng xạ khuẩn Đ4, Đ12
Enzyme
Chủng
Cellulase
Protease
Amylase
Đ4
+
+
+
Đ12
+
+
+
Ghi chú: +: có hoạt tính;

: không có hoạt tính



Cơ chất CMC

cellulase
Cơ chất bột sữa

protease

Cơ chất tinh bột tan

amylase
Kết quả nghiên cứu cho thấy: tính chất nuôi cấy của 2 chủng xạ khuẩn Đ4, Đ12 cho thấy
2 chủng xạ khuẩn đều có khả năng đồng hoá tốt các nguồn cacbon và có khả năng sinh
enzyme ngoại bào.
2.2.4. Ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường và điều kiện nuôi cấy đến khả
năng sinh cellulase của 2 chủng xạ khuẩn
2.2.4.1. Ảnh hưởng của nguồn cacbon tự nhiên
Tiến hành nuôi cấy các chủng xạ khuẩn Đ4, Đ12, T5, T9 trong các môi trường chứa
nguồn cacbon tự nhiên là lõi ngô, rơm rạ, bã mía từ đó tìm ra các chủng loại hoạt tính
cellulase cao ứng dụng vào đời sống sản xuất.

Hình 6: Môi trường chứa nguồn cacbon tự nhiên
Bảng 6: Ảnh hưởng của nguồn cacbon tự nhiên đến hoạt tính cellulase
của một số chủng xạ khuẩn
Chủng
Cơ chất
Đ4
Đ12
T5

T9
Lõi ngô
30
22
30
25
Rơm rạ
35
32
22
28
Hình 5: Khả năng sinh
enzyme ngoại bào của chủng
Đ4

Bã mía
27
28
27
24
Hoạt tính enzyme: D

d; Đơn vị: mm
Như vậy, từ kết quả thí nghiệm cho thấy các chủng nghiên cứu đều có khả năng sinh
trưởng và phát triển đồng đều trong các môi trường chứa nguồn cacbon tự nhiên. Điều này
giải thích vì sao khi nuôi cấy các chủng xạ khuẩn chứa nguồn này đều cho hoạt tính emzyme
cellulase cao.
2.2.4.2. Ảnh hưởng của nguồn nitơ
Nuôi cấy các chủng xạ khuẩn lần lượt trong các môi trường chứa nguồn nitơ khác nhau,
nuôi lắc ổn nhiệt (160v/p) trong vòng 4 ngày. Sau đó ly tâm thu sinh khối tế bào và dịch

emzyme khô, cân khối lượng khô tế bào và thử hoạt tính emzyme bằng phương pháp nhỏ
dịch. Kết quả được trình bày ở bảng sau:
Bảng 7: Ảnh hưởng của nguồn nitơ đến khả năng sinh trưởng và hoạt tính cellulase
của chủng Đ4, Đ12
Nguồn
nitơ
Chủng
Bột đậu tương
Cao nấm men
(NH
4
)
2
SO
4

KNO
3

Dd
(mm)
M
tb
(g)
Dd
(mm)
M
tb
(g)
Dd

(mm)
M
tb
(g)
Dd
(mm)
M
tb
(g)
Đ4
32
0,532
30
0,487
27
0,423
24
0,327
Đ12
30
0,436
28
0,433
22
0,367
19
0,320
T5
30
0,436

28
0,433
22
0,367
19
0,320
T9
29
0,33
25
0,31
19
0,26
17
0,22
M
tb
: Khối lượng khô tế bào; D

d: Hoạt tính cellulase

Kết quả cho thấy: Hai chủng xạ khuẩn Đ4, Đ12 đều có hoạt tính cellulase cao trong môi
trường nitơ hữu cơ là bột đậu tương và cao nấm men hơn ở MT nitơ vô cơ là (NH
4
)
2
SO
4
,
KNO

3
.
Nghiên cứu tương tự trên 2 chủng T5 và T9 cho thấy 2 chủng đều sinh trưởng tốt trong
môi trường nitơ hữu cơ và có hoạt tính yếu trong môi trường nitơ vô cơ. Điều đó khẳng định
ảnh hưởng ưu thế của nguồn nitơ hữu cơ nên khả năng sinh trưởng cũng như tổ hợp cellulase
của xạ khuẩn nói chung. Có thể giải thích rằng trong các nguồn nitơ hữu cơ, ngoài thành phần
protein còn chứa các chất cần thiết cho quá trình sinh tổng enzyme cellulase ngoại bào.
2.2.4.3. Ảnh hưởng của thời gian
Nuôi chủng xạ khuẩn Đ4 và Đ12 trong môi trường Gause I (không chứa thạch), lắc
160v/p, sau 24 giờ lấy 5ml ra lọc, thử hoạt tính dịch lọc với cơ chất là CMC và BG [4]. Xác
định hoạt tính emzyme bằng khả năng phân giải giấy lọc, đo vòng phân giải sau khi đã
nhuộm dung dịch lugol. Kết quả thu được nhu sau:
Bảng 8: Khả năng sinh enzyme của xạ khuẩn theo thời gian
Chủng
Thời gian
Đ4
(Dd,mm)
Đ12
(Dd,mm)
24 giờ
CMC
8
5
BG
8
10
48 giờ
CMC
15
10

BG
12
10
72 giờ
CMC
18
20
BG
22
21
96 giờ
CMC
25
23
BG
20
19
120 giờ
CMC
22
20
BG
19
18
144 giờ
CMC
21
20
BG
15

16
Hoạt tính enzyme cellulase của chủng Đ4, Đ12 mạnh nhất sau 72

96 giờ nuôi cấy.
2.2.4.4. Ảnh hưởng của pH
Xạ khuẩn được nuôi cấy ở môi ISP  1 đã điều chỉnh pH từ 3  10. Nuôi ở nhiệt độ trong
khoảng 28
0
C ` 37
0
C. Sau 7  10 ngày lấy ra quan sát sự sinh trưởng. Chúng tôi đã thu được
kết quả như sau:
Bảng 9: Ảnh hưởng của pH đến hoạt tính cellulase của chủng Đ4, Đ12
Thang pH
Chủng
3
4
5
5.5
6
6.5
7
7.5
8
8.5
9
9.5
Đ4



+
++
++
++
+
++
+
++
+
++
+
+

Đ12


+
+
++
++
+
++
+
++
+
+


Ghi chú: +++ Sinh trưởng tốt; ++ Sinh trưởng trung bình;
+ Sinh trưởng yếu;


Không sinh trưởng
Từ bảng trên so sánh với kết quả nghiên cứu của Lê Gia Hy (1994) (pH: 7 xạ khuẩn phát
triển mạnh nhất) thì 2 chủng chúng tôi nghiên cứu sinh trưởng mạnh trong phổ pH rộng hơn,
cụ thể: Chủng Đ4 sinh trưởng tốt nhất trên môi trường có pH là 6,5  7,5 và chủng Đ12 sinh
trưởng tốt nhất trên môi trường có pH là 6,5  7.
3. KẾT LUẬN
Đã phân lập được 17 chủng xạ khuẩn từ đất trồng trọt và 18 chủng xạ khuẩn từ đất đồi
thuộc khu vực Xuân Hoà, Phúc Yên, Vĩnh Phúc. Nghiên cứu khuẩn lạc, hệ sợi, khả năng sinh
cellulase từ các chủng phân lập được đã lựa chọn được 4 chủng T5 và T9 (từ đất trồng trọt,
Đ4 và Đ12 (từ đất đồi). Nghiên cứu được đặc điểm hình thái, cuống sinh bào tử, bào tử, tính
chất nuôi cấy của 4 chủng xạ khuẩn. Các chủng nghiên cứu khi được nuôi cấy trong môi
trường chứa nguồn Cacbon tự nhiên và nguồn Nito đều cho thấy cả 4 chủng đều sinh trưởng
và phát triển mạnh. Nguồn nitơ hữu cơ có ưu thế hơn nguồn nitơ vô cơ. Đề nghị cần có
nghiên cứu sâu hơn khả năng sinh cellulase của 4 chủng đã phân lập nhằm ứng dụng sản xuất
phân bón vi sinh, đặc biệt là trong xử lý rác thải.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hozzein W.N., et al, A novel alkaliphilic Actinomycetes isolated from desert soil in Egypt, Int. J.
Syst. Evol. Microbiol, 54, pp. 247252, 2004.
2. J.H. Auh, et al, Modification of Rice Starch by Seclective Degradation of Amylose Using
Alkalophilic Bacillus Cyclomaltodextrinase, J. Agric, Food Chem, 2006.
3. Seong C.N., et al, Mycolic acid

containing Actinomycetes associated with activated sludge
foam, J Microbiol, 37, pp. 6672, 1999.
4. Shirling E.B., D. Gottlieb, Methods for characterization of Streptomyces species, International
Journal of Systematic Bacteriology, Vol. 16. No.3
5. Yan Cai et al, Study on Cellulose

decomposed Actinomycetes in Soil in the Eastern of the

Qinghai Plateau, Vol 3, No2,pp. 18131852, 2009.
STUDY ON CELULOSE  DECOMPOSED ATINOMYCETES IN SOIL XUAN
HOA, PHUC YEN, VINH PHUC
Dinh Thi Kim Nhung, Nguyen Thi Minh Nguyet, Tran Thuy Duyen
Abstract
From soil samples taken in the area of Xuan Hoa, Phuc Yen, Vinh Phuc been 17 strains isolates
from arable land and 18 strains isolates from the hills. 4 selective race is T5, T9 (isolated from soil
land) and D4, D12 (isolated frome the hills). This is Actinomycetes strains isolated cellulose reactive
power activity in the test environment contains 1% CMC and 1% paper pulp. Be studied
morphological characteristics spore stalk and spores, nature and culture of selected strains. Studied
show that these strains are capable of assimilation of carbon sources and production extracellular.
Evaluate the influence of some environmental factors and culture conditions from the fertility of the
species studied enzyme. Therefore can use this strains futher study of the method PCR. Application to
pulp production, microbial fertilizers and especially waste disposal application.

×