LỜI NÓI ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Lai Châu là một tỉnh miền núi biên giới ở phía Tây Bắc Việt Nam nơi
đây là một vùng sinh thái nhân văn, có nhiều đặc thù là vùng có lợi thế về đa
dạng sinh học là tiền đề cho nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá đa dạng và
phong phú về sản phẩm và là vùng có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng.
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang
nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường ở nước ta, tỉnh Lai Châu đã thu
được những thành tựu nổi bật đặc biệt là đời sống nhân dân được nâng cao, an
ninh quốc phòng được đảm bảo vững chắc, công bằng xã hội được duy trì ổn
định.
Bên cạnh đó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lai Châu
còn những khó khăn hạn chế nhất định như: địa hình phức tạp, trình độ dân trí
thấp, các tập tục còn lạc hậu, sản xuất nông nghiệp manh tính độc canh và tự
túc tự cấp. Ở các vùng núi cao, vùng sâu hẻo lánh đời sống nhân dân còn
nhiều khó khăn chưa ổn định, thường xuyên thiếu đói, thiếu nước sinh hoạt,
các dịch bệnh (bướu cổ, sốt rét, kiết lỵ, ) thường xảy ra. Cơ sở vật chất còn
quá nghèo nàn, sản xuất hàng hoá mòi nhọn chưa có, năng suất lao động thấp
hàng năm trung bình trợ cấp 80 - 90% ngân sách tỉnh.
Theo quyết định số 1232/GĐ.TTg ngày 24/9/1999 của Thủ tướng
Chính phủ thì tỉnh Lai Châu có 102 xã đặc biệt khó khăn, được phân bố trên 8
huyện. Đó là huyện: Điện Biên, Mường Lay (biên giới Việt Lào); Mường Tè
(giáp với hai nước Lào và Trung Quốc); Sìn Hồ, Phong Thổ (biên giới Việt
1
Trung), Tủa Chùa (vùng cao); Tuần Giáo (quốc lé 6), Điện Biên Đông (vùng
cao).
Những xã đặc biệt khó khăn có những vị trí rất quan trọng đặc biệt là
an ninh quốc phòng. Vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội các xã
đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu và vùng xa(gọi tắt là chương trình
135) của Đảng và chính phủ thì vùng đặc biệt khó khăn đòi hỏi cấp bách phải
phát triển tương xứng với vị trí và vai trò của nó.
Xuất phát từ ý nghĩ và yêu cầu đó em chọn nghiên cứu đề tài " Thực
trạng và giải pháp triển khai có hiệu quả chương trình 135 trên địa bàn
tỉnh Lai Châu".
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI .
- Dùa trên những vấn đề lý luận và phương pháp luận để xem xét đánh
giá vấn đề phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đối nghèo ở những
xã đặc biệt khó khăn.
- Phân tích và đánh giá thực trạng riển khai chương trình 135 ở các xã
đặc biệt khó khăn và những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên.
- Đưa ra những phương hướng, mục tiêu và đề suất những giải pháp
chủ yếu nhằm phát triển kinh tế xã hội ở những xã đặc biệt khó khăn.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Tập chung nghiên cứu tình hình thực hiện chương trình 135, thực trạng
đời sống dân cư, điều kiện phát triển kinh tế xã hội và phương hướng phát
triển kinh tế xã hội ở những xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2
Để đảm bảo các yêu cầu của đề tài trong quá trình nghiên cứu và viết
chuyên đề tốt nghiệp em áp dụng các phương pháp cơ bản sau.
- Dùng phương pháp duy vật biện chứng để xem xét sự vận động của
sự vật trong mỗi quan hệ phổ biến và quan hệ chặn chẽ với nhau, đánh giá sự
phát triển của sự vật trong điều kiện phát triển lịch sử cụ thể.
- Chuyên đề sử dụng các phương pháp điều tra phỏng vấn, phương
pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phân tích, mô
hình toán, phương pháp phân tích kinh tế Nhằm xem xét đối tượng nghiên
cứu một cách toàn vẹn và trong trạng thái động.
5. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI.
Chương I: Những vấn đề cơ bản của chương trình 135
Chương II:Thực trạng quá trình triển khai chương trình 135 trên
địa bàn tỉnh Lai Châu.
Chương III:Phương hướng và những giải pháp việc triển khai
chương trình 135 ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
Nhờ sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo: Tiến sĩ Phạm Văn Khôi và sự nỗ
lực của bản thân, đề tài đã được hoàn thành. Tuy nhiên do khả năng có hạn,
thời gian thực tập ngắn nên chắc chắn đề tài còn nhiều hạn chế, em mong
được sự góp ý thêm của thầy cô giáo và các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo hướng dẫn: Tiến sĩ Phạm Văn
Khôi và các thầy cô giáo trong khoa KTNN - PTNT trường Đại học Kinh tế
Quốc dân - Hà Nội.
3
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Uỷ ban dân téc và miền núi: Văn bản hướng dẫn thực hiện chương
trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và
vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135) Tập 1 - Hà Nội, tháng 1 năm
2000.
2. Báo cáo: Kết quả thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội
các xã ĐBKK miền núi và vùng sâu, vùng xa năm 1999 - 2000 và
kế hoạch năm 2001. Trình quốc hội khóa X, kỳ họp năm 2001.
Tháng 11 năm 2000.
3. Tạp chí chương trình 135 sè 2/2001.
4. UBND Tỉnh Lai Châu. Sở Kế hoạch và đầu tư: Báo cáo kết quả thực
hiện chương trình 135 năm 1999 - 2000.
5. UBND Tỉnh Lai Châu: Quyết định của UBND Tỉnh Lai Châu. V/v
cụ thể hóa qui chế quản lý đầu tư và xây dựng chương trình phát
triển KT - XH các xã ĐBKK, biên giới (gọi tắt là CT 135) trên địa
bàn tỉnh Lai Châu.
6. Tổng hợp qui hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó
khăn, xã biên giới thuộc chương trình 135 Tỉnh Lai Châu - Giai
đoạn 1999 - 2005.
7. Dự án chương trình 135 ở Lai Châu.
8. Uỷ ban dân téc và miền núi vụ pháp chế. Một số văn bản quy phạm
pháp luật về lĩnh vực công tác dân téc và miền núi (1993 - 1999).
NXB Văn hóa dân téc Hà Nội 2000.
4
- CHƯƠNG I -
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHƯƠNG TRÌNH 135
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÁC XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN:
Các xã đặc biệt khó khăn là thuận ngữ được sử dụng trong CT 135 theo
quyết định số 42/UB-QĐ ngày 23/05/1997 của Uỷ ban Dân téc và miền núi
đã quy định tiêu chí và phân định từng khu vực theo trình độ phát triển ở vùng
dân téc - miền núi để có cơ sở đầu tư phát triển và vận dụng thực hiện các chủ
trương chính sách sát hợp với từng khu vực, từng đối tượng có hiệu quả ở
vùng dân téc - miền núi. Do đồng bào các dân téc sống xen ghép ở miền núi,
sau nhiều năm đầu tư phát triển đã hình thành ba khu vực theo trình độ phát
triển.
Khu vực I: Khu vực bước đầu phát triển. : Khu vùc bíc ®Çu
ph¸t triÓn.
Khu vực II: Khu vực tạm ổn định. : Khu vùc t¹m æn ®Þnh.
Khu vực III: Khu vực khó khăn. : Khu vùc khã kh¨n.
Xét về các điều kiện về kinh tế - xã hội, ở khu vực III so với các khu
vực là vùng tập trung chủ yếu các xã đặc biệt khó khăn. Nh vậy các xã đặc
biệt khó khăn căn cứ vào năm tiêu chí đánh giá sau:
* Địa bàn cư trú: Các xã đặc biệt khó khăn là những xã nằm ở vùng xa,
vùng cao hẻo lánh, vùng biên giới, hải đảo và nằm trên khu vực núi cao, địa
hình, địa chất phức tạp. Độ cao trung bình cao so với mặt nước biển, nằm trên
nền địa chất có tuổi rất cổ. Khoảng cách của các xã đến các trung tâm kinh tế
văn hóa khá xa vào khoảng trên 20 km cho nên việc đi lại, giao lưu hàng hóa
giữa các vùng trong khu vực và với khu vực khác gặp rất nhiều khó khăn,
nhưng lại có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng.
5
* Cơ sở hạ tầng: Cơ cấu hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn thấp kém
chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và đời sống. Giao thông đặc biệt ở
vùng núi, vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khă, nhiều xã chưa có đường
ô tô vào xã, các tuyến đường vào đến xã chủ yếu là đường bộ và phương tiện
chủ yếu là ngựa thồ, xe thồ, đến mùa mưa còn có nhiều đoạn đường bị sạt lở
và ngập lụt. Công trình điện hầu hết các xã chưa có lưới điện quốc gia, có xã
thậm chí không có cả thủy điện nhỏ gia đình. Vấn đề nước sạch ở các xã này
gặp rất nhiều khó khăn, các xã cách các suối sông rất xa nên rất khó khăn
trong việc sinh hoạt hàng ngày gây ra rất nhiều bệnh tật. Trường học và bệnh
xá rất thấp kém, các líp học chủ yếu là các xã tự làm bằng tre nứa không đảm
bảo khi mùa mưa bão, các trạm y tế xã không đủ dụng cụ, thuốc men. Các
dịch vụ khác hầu nh không có, nếu có thì chất lượng rất kém.
* Các yếu tố xã hội: Trình độ văn hóa quá thấp, tỷ lệ mù chữa và thất
học trên 60%, tập tục lạc hậu, không có thông tin cho nên việc vận dụng các
chủ trương, chính sách, tiến bộ khoa học kỹ thuật, các vấn đề về y tế, phòng
chống dịch bệnh bảo vệ sức khỏe, kế hoạch hóa gia đình rất kém.
* Điều kiện sản xuất: Khó khăn, thiếu thốn, sản xuất giản đơn, tự cấp tự
túc là chủ yếu. Nhiều vùng sản xuất mang tính tự nhiên hái lượm, chủ yếu
phát rừng làm nương rẫy, du canh du cư.
* Về đời sống: Sè hộ đói nghèo trên 60% số hộ của xã. Đời sống thực
sự khó khăn, nạn đói thường xuyên xảy ra. Mức thu nhập bình quân đầu
người quá thấp, thấp nhất so với cả nước, mức thu nhập được quy ra gạo với
mức là dưới 13 kg gạo người/tháng.
2. ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN.
2.1. Các xã đặc biệt khó khăn là vùng phát triển nông lâm nghiệp
là chủ yếu.
6
Kinh tế các xã đặc biệt khó khăn vẫn còn mang đậm tính chất thuần
nông. Xét về cơ cấu lao động, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu sảnphẩm, sản phẩm
hàng hóa và xuất khẩu nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng gần nh tuyệt đối, cơ
cấu công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ trọng nhỏ bé. Tính thuần nông do lực
lượng sản xuất ở nông thôn chưa phát triển, chưa có sự phân công lao động rõ
nét. Chính vì thế mà sản xuất mang nặng tính tự cung tự cấp, sản xuất hàng
hóa thấp, năng suất đất đai, năng suất lao động, thu nhập và đời sống nhân
dân thấp.
2.2. Các xã đặc biệt khó khăn là vùng có trình độ phát triển lao
động thấp.
Các xã đặc biệt khó khăn là vùng sinh sống và làm việc một cộng đồng
chủ yếu là người dân téc Ýt người, là vùng chủ yếu sản xuất nông nghiệp
mang tính tự nhiên hái lượm, chủ yếu là phát rừng làm nương rẫy, các hoạt
động sản xuất và phi sản xuất khác phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho
cộng đồng nông thôn. Nên các xã đặc biệt khó khăn là vùng có thu nhập và
đời sống, trình độ văn hóa, khoa học và công nghệ thấp hơn đô thị.
Các xã đặc biệt khó khăn có trình độ phát triển trước hết ở trình độ lao
động trong nông nghiệp - nông thôn thấp, do hệ thống tổ chức sản xuất, hệ
thống kết cấu hạ tầng kém phát triển và do cá xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ
sinh rất cao, dân số đông
2.3. Các xã đặc biệt khó khăn là vùng đang gặp nhiều khó khăn.
Cơ cấu hạ tầng còn yếu kém chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất
và đời sống. Giao thông đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều
khó khăn, gây trở ngại cho tổ chức và lưu thông hàng hóa. Mạng lưới điện
thiếu quy hoạch, thiếu an toàn tổn thất điện lớn nên giá điện cao. Mạng lưới
7
thủy lợi không đồng bộ nên hiệu quả sử dụng thấp. Cơ sở chế biến và bảo
quản nông sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Rừng bị tàn phá, đất đai bị xói mòn, đồi núi trọc tăng lên, hiện có
khoảng 10 triệu ha đất hoang trọc. Gây khó khăn cho bảo vệ môi trường và
giải quyết úng hạn cục bộ ở nhiều vùng.
Tỷ lệ tăng dân số khá cao nên gây sức ỳ trên nhiều mặt về ruộng đất,
nhà ở, việc làm, thời gian nông nhàn rất cao.
Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn thiếu
thốn. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao, đời sống văn hóa cộng đồng chậm
được cải thiện, thông tin liên lạc, truyền thanh truyền hình hầu như chưa có.
Bộ máy quản lý hành chính xã thôn và trình độ quản lý của cán bộ xã
thôn còn rất non yếu, đa số mới đạt trình độ cấp I, cấp II một số cán bộ xã
thông chưa nói được tiếng phổ thông (tiếng Việt) cho nên chưa đáp ứng được
yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn
theo hướng công nghiệp hiện đại hóa.
2.4. Các xã đặc biệt khó khăn là vùng còn có tiềm năng quý hiếm
chưa được khai thác.
Các xã đặc biệt khó khăn có nhiều giá trị truyền thống mang đậm tính
đa văn hóa, đa sắc dân téc. Chính quyền này đã làm cho vùng có những tiềm
năng du lịch rất lớn: Du lịch với đồng bào dân téc người Thái ở Mai Châu -
Hòa Bình. Chợ tình Sa Pa - Lào Cai, hay các đám rước làng hội làng ở các
vùng nông thôn đồng bằng.
Ngoài ra các xã đặc biệt khó khăn còn chiếm đại đa số tài nguyên, đất
đai, khoáng sản, động thực vật, rừng biển của đất nước. Hầu hết các nguồn
lực quý hiếm này chưa được khai thác và đưa vào sử dụng. Những nguồn lực
8
này nếu được khai thác phục vụ tại chỗ thì công nghiệp chế biến sẽ phát triển
và sẽ kích thích nông nghiệp nông thôn phát triển.
II. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA CHƯƠNG TRÌNH 135.
1. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT:
Nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân téc ở
các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; tạo điều kiện để đưa
nông thông các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát
triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của cả nước; góp phần bảo đảm trật tự
an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.
2. MỤC TIÊU CỤ THỂ:
2.1. Giai đoạn từ năm 1998 đến 2000:
Về cơ bản không còn các hộ đói nghèo kinh niên, mỗi năm giảm được
4 - 5% hộ nghèo.
Bước đầu cung cấp cho đồng bào có nước sinh hoạt, thu hót phần lớn
trẻ em trong độ tuổi đến trường; kiểm soát được một số loại dịch bệnh hiểm
nghèo; có đường giao thông dân sinh kinh tế đến các trung tâm cụ xã; phần
lớn đồng bào được hưởng thụ văn hóa, thông tin:
2.2. Giai đoạn từ năm 2000 đến 2005:
Giảm tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn xuống còn 25% vào
năm 2005.
Bảo đảm cung cấp cho đồng bào có đủ nước sinh hoạt; thu hót trên
70% trẻ em trong độ tuổi đến trường; đại bộ phận đồng bào được bồi dưỡng,
tiếp thu kinh nghiệm sản xuất, kiến thức khoa học, văn hóa, xã hội, chủ động
vận dụng vào sản xuất và đời sống; kiểm soát được phần lớn các dịch bệnh xã
9
hội hiểm nghèo; có đường giao thông cho xe cơ giới và đường dân sinh kinh
tế đến các trung tâm cụm xã; thúc đẩy phát triển thị trường nông thôn.
3. NHIỆM VỤ CỦA CHƯƠNG TRÌNH 135.
3.1. Quy hoạch bố trị lại dân cư ở những nơi cần thiết, từng bước tổ
chức hợp lý đời sống sinh hoạt của đồng bào các bản, làng, phum, sóc ở
những nơi có điều kiện, nhất là những xã vùng biên giới và hải đảo, tạo điều
kiện để đồng bào nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống.
3.2. Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, gắn với chế biến,
tiêu thụ sản phẩm để khai thác nguồn tài nguyên và sử dụng lao động tại chỗ,
tạo thêm nhiều cơ hội về việc làm và tăng thu nhập, ổn định đời sống, từng
bước phát triển sản xuất hàng hóa.
3.3. Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn phù hợp với quy hoạch sản xuât
và bố trí lại dân cư, trước hết là hệ thống đường giao thông; nước sinh hoạt;
hệ thống điện ở những nơi có điều kiện, kể cả thủy điện nhỏ.
3.4. Quy hoạch và xây dựng các trung tâm cụm xã, ưu tiên đầu tư xây
dựng các công trình về y tế, giáo dục, dịch vụ thương mại, cơ sở sản xuất tiểu
thủ công nghiệp, cơ sở phục vụ sản xuất và phát thanh truyền hình.
3.5. Đào tạo cán bộ xã, bản, làng, phum, sóc, giúp cán bộ cơ sở nâng
cao trình độ quản lý hành chính và kinh tế để phục vụ yêu cầu phát triển kinh
tế xã hội tại địa phương.
* Nhận xét: Chính phủ đã đưa ra các mục tiêu và nhiệm vụ phù hợp với
điều kiện cụ thể của các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới. Mặc dù nội dung
mục tiêu và nhiệm vụ Chương trình 135 hợp lòng dân, nhưng một số địa
phương chưa quán triệt sâu sắc mục tiêu và nhiệm vụ chương trình đến dân
chưa sát dán, chưa tiến nhanh đến mục tiêu, đội ngò cán bộ địa phương và cơ
sở của các địa phương chưa vượt lên ngang tầm với nhiệm vô. Nh vậy các địa
10
phương cần phải đạt mục tiêu đề ra và thực hiện tốt các nhiệm vụ để có hiệu
quả thiết thực. Phục vụ tốt nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt
khó khăn của địa phương.
III. CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH 135.
1. BAN CHỈ ĐẠO CHƯƠNG TRÌNH 135
Ban chỉ đạo chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó
khăn miền núi và vùng sâu, vùng xã được thành lập theo Quyết định số
13/1998/QĐ-TTg ngày 23/1/1998 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Ban
chỉ đạo Chương trình 135).
1.1. Ban chỉ đạo chương trình 135 có trách nhiệm.
1.1.1. Phối hợp với các bộ, ngành, chính quyền địa phương và các đoàn
thể nhân dân thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Xây dựng kế hoạch tổng thể, kế hoạch theo từng giai đoạn và hàng năm
trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, chỉ đạo thực hiện kế hoạch nhằm đạt
được các mục tiêu của chương trình.
Xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách trình Thủ tướng Chính phủ
quyết định nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và
ngoài nước để thực hiện chương trình.
Thực hiện lồng ghép chương trình 135 với các chương trình dự án khác
đang đầu tư trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn.
1.1.2. Phối hợp với các Bộ, ngành hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các địa
phương thực hiện chương trình; phối hợp với các địa phương để trực tiếp chỉ
đạo xây dựng một số mô hình điểm ở các vùng dân téc đặc trưng, tổng kết rút
kinh nghiệm cho việc nhân rộng mô hình.
11
Định kỳ ban chỉ đạo chương trình 135 báo cáo Thủ tướng Chính phủ về
kết quả thực hiện chương trình.
Ban chỉ đạo là đầu mối phối hợp hoạt động các Bộ ngành địa phương
về các lĩnh vực: Huy động nguồn lực, bố trí và sử dụng các nguồn vốn, lồng
ghép các chương trình dự án, thực hiện giải pháp chính sách, kiểm tra đôn đốc
việc thực hiện chương trình.
2. CƠ CHẾ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG TẠI XÃ
ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN.
Để đảm bảo đầu tư đồng bộ, phù hợp với quy hoạch trước mắt và lâu
dài theo các quy định hiện hành, kế hoạch đầu tư phải dùa trên cơ sở dự án đã
được phê duyệt.
2.1. Dự án đầu tư và chủ đầu tư dự án.
* Dự án đầu tư: bao gồm các công trình hạ tầng được quy định tại
Quyết định 135. Tùy theo điều kiện cụ thể của địa phương mà Chủ tịch
UBND tỉnh quyết định quy mo dự án theo cấp huyện hoặc cấp xã.
Những năm trước mắt do năng lực cán bộ ở các xã còn nhiều hạn chế,
nên chủ yếu xây dựng dự án theo quy mô cấp huyện.
Dự án quy mô cấp huyện bao gồm các xã thuộc chương trình 135 trong
huyện, mỗi xã là một dự án thành phần, mỗi dự án thành phần có các công
trình đầu tư như đường giao thông, thủy lợi nhỏ, cấp nước sinh hoạt, cấp điện,
trường học, trạm y tế.
Đối với các xã có đội ngò cán bộ năng lực khá, có khả năng tự đảm
nhận được công việc quản lý điều hành thực hiện dự án thì xây dựng dự án
quy mô cấp xã. Việc này do Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định.
* Chủ đầu tư dự án: Chủ tịch UBND huyện.
12
2.2. Ban quản lý dự án:
Để giúp chủ đầu tư dự án tổ chức thực hiện quản lý, xây dựng các công
trình ở xã, chủ đầu tư dự án lập Ban Quản ý dự án.
Ban Quản lý dự án gồm Trưởng ban và một số cán bộ chuyên trách.
Tùy tình hình cụ thể của từng địa phương, có thể sử dụng Ban Quản lý công
trình xây dựng cơ bản hoặc Ban định canh định cư, kinh tế mới của huyện
hiện có.
Ban Quản lý dự án có tư cách pháp nhân, được mở tài khoản tại kho
bạc Nhà nước huyện và có con dấu riêng.
Trưởng Ban Quản lý dự án do Chủ tịch UBND huyện đề nghị và Chủ
tịch UBND tỉnh quyết định.
Chủ tịch UBND các xã dự án thành phần là thành viên của Ban Quản lý
dự án.
* Ban Quản lý dự án giúp Chủ đầu tư dự án chỉ đạo thực hiện các
nhiệm vụ sau:
+ Lập dự án đầu tư.
+ Lập báo cáo đầu tư, thiết kế, lập dự toán công trình.
+ Lập kế hoạch sử dụng nguồn lực huy động tại xã, huyện cho công
trình.
+ Tổ chức, theo dõi thi công công trình của xã.
+ Quản lý vật tư, tài sản, tiền vốn đầu tư cho công trình.
+ Tổ chức giải ngân từ kho bạc Nhà nước để thực hiện công trình.
13
+ Nghiệm thu, quyết toán công trình đúng thời gian quy định.
+ Chi phí cho các nhiệm vụ nêu trên do Ngân sách địa phương chi,
không được chi từ nguồn Ngân sách TW đầu tư cho chương trình 135.
2.3. Công tác chuẩn bị đầu tư.
Công trình đầu tư tại xã phải thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư gồm
các bước: lập báo cáo đầu tư, thiết kế, dự toán.
* Công tác chuẩn bị đầu tư được thực hiện:
Công trìnyh có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, chủ đầu tư dự án ký hợp
đồng hoặc ủy quyền cho Trưởng Ban Quản lý dự án ký hợp đồng với các cơ
quan chuyên môn, chủ yếu là các Công ty tư vấn của tỉnh lập báo cáo đầu tư,
thiết kế, dự toán, do các sở chuyên ngành của tỉnh thẩm định, Chủ tịch UBND
tỉnh quyết định.
Công trình quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, lực lượng chuyên môn của
huyện có thể làm được thì Chủ tịch UBND tỉnh giao cho Chủ tịch UBND
huyện quyết định đầu tư và chỉ đạo thực hiện.
* Dù toán công trình phải làm rõ: Phần vật tư, lao động do xã đảm
nhận.
* Giá để tính dự toán do Chủ tịch UBND tỉnh quy định thống nhất cho
từng khu vực trong tỉnh.
* Đối với các công trình phòng học, trạm y tế nên áp dụng thiết kế
điển hình (thiết kế mẫu) do Chủ tịch UBND tỉnh ban hành cho phù hợp với
tập quán và điều kiện của từng địa phương.
* Dù toán của công trình này gồm phần thiết kế điển hình cộng thêm
phần móng của công trình tính tại địa điểm cụ thể.
14
2.4. Thực hiện đầu tư.
Ban Quản lý dự án lập kế hoạch triển khai xây dựng công trình ở các
xã, trình Chủ tịch UBND huyện quyết định. Việc tổ chức thi công được quy
định như sau:
* Công trình do xã tự tổ chức thi công thì Ban Quản lý dự án hướng
dẫn.
* Công trình xã không tự làm được thì chia thành 2 mức như sau:
Công trình có mức vốn đầu tư do Ngân sách TW hỗ trợ trên 500 triệu
đồng thực hiện theo cơ chế hiện hành.
Công trình có mức vốn đầu tư do Ngân sách TW hỗ trợ từ 500 triệu
đồng trở xuống do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định chỉ định thầu hoặc xác
định mức vốn để ủy quyền cho Chủ tịch UBND huyện chỉ định thầu.
* Chủ đầu tư dự án phối hợp và tạo điều kiện để các lực lượng lao động
khác như bộ đội biên phòng, bộ đội đóng quân tại địa bàn, các đơn vị thanh
niên tình nguyện được tham gia xây dựng công trình hạ tầng và phát triển
kinh tế, văn hóa ở các xã đặc biệt khó khăn.
2.5. Nghiệm thu, bàn giao công trình đưa vào sử dụng.
Khi công trình hoàn thành, các bên thực hiện nghiệm thu công trình.
Thành phần nghiệm thu gồm: Chủ đầu tư dự án, Trưởng Ban Quản lý dự án,
các đơn vị thiết kế, xây dựng, đại diện Ban giám sát của xã.
Sau khi hoàn thành nghiệm thu công trình, Ban Quản lý dự án tiến hành
bàn giao toàn bộ hồ sơ, tài liệu về các vấn đề có liên quan đến công trình cho
Chủ tịch UBND xã. Văn bản bàn giao phải theo đúng quy định hiện hành.
3. CƠ CHẾ CẤP PHÁT, THANH QUYẾT TOÁN VỐN ĐẦU TƯ:
15
3.1. Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
Tất cả các nguồn vốn đầu tư cho chương trình 135 đềuphải được quản
lý tập trung thống nhất qua kho bạc Nhà nước để cấp phát cho từng công trình
theo dự án đã được duyệt.
Kho bạc Nhà nước huyện trực tiếp cấp phát vốn cho các chủ đầu tư dự
án.
Ban Quản lý dự án mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước huyện nơi giao
dịch đẻ theo dõi quản lý vốn đầu tư cho từng công trình dự án theo chế độ
quản lý tài chính hiện hành.
Vốn hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã thuộc chương
trình 135 không được dùng vào việc khác.
16
3.2. Cơ chế cấp phát, thanh, quyết toán công trình.
* Việc cấp phát, thanh, quyết toán công trình đầu tư cơ sở hạ tầng cho
các xã đặc biệt khó khăn được phân làm 2 loại:
+ Đối với những công trình có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp thì thực
hiện cấp phát, thanh, quyết toán theo chế độ quản lý vốn đầu tư hiện hành.
+ Các công trình có quy mô nhỏ, yêu cầu kỹ thuật đơn giản thực hiện
theo quy định dưới đây:
* Điều kiện cấp phát vốn: Chủ đầu tư dự án gửi đến kho bạc Nhà nước
huyện (nơi mở tài khoản) các hồ sơ chủ yếu:
Dự án và quyết định phê duyệt dự án của cấp có thẩm quyền.
Quyết định bổ nhiệm Trưởng Ban Quản lý dự án.
Kế hoạch phân bổ vốn, trong đó chi tiết theo nguồn đã được thông báo.
Các văn bản liên quan khác theo yêu cầu nghiệp vụ của cơ quan cấp
phát nhưng phải đảm bảo đơn giản, dễ thực hiện cho xã.
* Thực hiện cấp phát và thanh toán.
Công trình do nhân dân trong xã tự làm được tạm ứng 50% kế hoạch
năm của công trình và thanh toán theo khối lượng hoàn thành được nghiệm
thu.
Công trình do các doanh ngiệp thi công thì thực hiện cấp phát theo khối
lượng hoàn thành được nghiệm thu.
Tổng số vốn thanh toán không được vượt quá dự toán công trình được
duyệt hoặc chỉ tiêu kế hoạch vốn đã được thông báo.
17
Hàng năm Ban Quản lý dự án lập báo cáo quyết toán việc sử dụng vốn
cấp phát gửi cơ quan quản lý cấp trên, đồng gửi kho bạc Nhà nước cấp trên và
cơ quan tài chính nơi có chuyển vốn cấp phát.
Kết thúc công trình các Ban Quản lý dự án lập báo cáo quyết toán gửi
Ban chỉ đạo Chương trình 135 của tỉnh. Ban chỉ đạo chương trình 135 của
tỉnh chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan như Sở Tài chinhs vật giá, kho
bạc Nhà nước tỉnh xem xét, tổng hợp báo cáo UBND tỉnh duyệt quyết toán dự
án và báo cáo thường trực Ban chỉ đạo Chương trình 135 TW.
Chủ tịch UBND tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo các sở, ngành chức năng
của tỉnh kiểm tra việc chấp hành quy định quản lý đầu tư và xây dựng, cấp
phát, thanh quyết toán những công trình xây dựng cơ sở hạ tầng ở các xã.
* Nhận xét: Cơ chế hoạt động của chương trình 135 được các địa
phương rất hoan nghênh, nhưng đây mới là khung cơ chế quản lý, chưa thay
thế được tất cả các quy định. Sự phối hợp chỉ đạo của các cấp, các ngành chưa
chặt chẽ, chưa vận hành đồng bộ chương trình. Chính vì vậy cần có cơ chế
quản lý phù hợp với năng lực cán bộ ở từng địa phương, cần đơn giản và miễn
giảm các thủ tục cấp đất, cấp phép xây dựng đối với việc xây dựng các công
trình hạ tầng ở các xã thuộc phạm vi chương trình. Vừa đảm bảo thực hiện
chương trình có hiệu quả, chương trình có chất lượng, bảo đảm không thất
thoát, vừa khơi dậy được tinh thần chủ động sáng tạo của cán bộ các huyện,
xã. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, vận hành chương trình theo hướng đã
được quy định tại thông tư liên tịch 416/1999 TTLT/BKH-UBDT MM-TC-
XD, để chương trình 135 thực sự là chương trình của dân, do dân và vì dân,
tạo ra những chuyển biến tích cực, thay đổi rõ rệt bộ mặt kinh tế - xã hội vùng
dân téc và miền núi.
IV. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH 135 TRÊN
PHẠM VI CẢ NƯỚC.
18
Sau Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình do Thủ tướng Chính
phủ chủ trì vào ngày 06 - 07/01/1999, hầu hết các tỉnh đã tổ chức Hội nghị
"quán triệt mục tiêu nội dung Chương trình 135" đến cán bộ lãnh đạo các
ngành, các huyện, xã và nhân dân các xã đặc biệt khó khăn; công khai mức
đầu tư và chủ trương, giải pháp chính sách chủ yếu thực hiện mục tiêu
chương trình Ban chỉ đạo chương trình đã tổ chức họp báo giới thiệu về
chương trình và các cơ quan báo chí đã tập trung tuyên truyền về Chương
trình.
UBND các tỉnh đã có các văn bản về hướng dẫn quản lý chỉ đạo, phân
công, phân cấp thực hiện chương trình.
Chủ trương đầu tư CSHT các xã đặc biệt khó khăn được các cấp ủy và
chính quyền địa phương tập trung chỉ đạo, cùng với cơ chế quản lý chương
trình dân chủ công khai đã tạo ra niềm phấn khởi tin tưởng của đồng bào vào
đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
1. NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CHO CHƯƠNG TRÌNH 135.
Do suất đầu tư ở các xã đạc biệt khó khăn cao hơn các vùng khác và
chương trình 135 đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ 5 nhiệm vụ: xây dựng cơ sở
hạ tầng và đào tạo cán bộ, quy hoạch dân cư, phát triển sản xuất và xây dựng
trung tâm cụ xã để phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội tổng hợp. Cho nên yêu
cầu vốn đầu tư cho chương trình 135 rất lớn.
1.1. Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước.
Ngân sách Trung ương được đầu tư trực tiếp vào các xã đặc biệt khó
khăn. Ngoài ra vốn nguồn ngân sách Nhà nước đầu tư qua các chương trình,
mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án đầu tư khác được lồng ghép trên
địa bàn.
19
Nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ chỉ đầu tư cho 6 loại công trình hạ
tầng thiết yếu: đường giao thông, thủy lợi nhỏ, cấp nước sinh hoạt, cấp điện
kể cả xây dựng thủy điện nhỏ, trường học, trạm y tế trong phạm vi một xã.
Không được sử dụng nguồn vốn này cho các công trình khác ngoài các
đối tượng đã nêu trên. Nhằm đầu tư có hiệu quả chương trình 135, để tránh
trường hợp xã có trạm y tế mà không có trường học và giao thông.
Qua hai năm thực hiện đầu tư, ngân sách Nhà nước đã đầu tư nh sau:
* Diện đầu tư cơ sở hạ tầng chương trình 135:
Năm 1999 là 1.200 xã bao gồm 1.012 xã đặc biệt khó khăn và 188 xã
biên giới trên địa bàn 37 tỉnh, với số vốn từ ngân sách trung ương là 508 tỷ
đồng (các xã: 483,2 tỷ đồng, đường ra biên giới: 24,8 tỷ đồng). Năm 2000 là
1.870 xã trên địa bàn 49 tỉnh với số vốn đầu tư là: 748 tỷ đồng (trong đó ngân
sách trung ương: 698,4 tỷ đồng và đầu tư từ ngân sách địa phương: 124 xã
thuộc 11 tỉnh có điều kiện với 49,6 tỷ đồng), bình quân đầu tư cho một xã mỗi
năm 400 triệu đồng.
Đó là vốn ngấn sách Trung ương đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở các
xã thuộc Chương trình 135 đã đem lại kết quả đáng mừng cho đồng bào các
dân téc các xã đặc biệt khó khăn.
1.2. Vốn từ các chương trình dự án khác.
Nguồn vốn này chủ yếu là nguồn vốn các chương trình dự án khác đầu
tư trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn được lồng ghép với chương trình 135
nhằm tránh trường hợp đầu tư trùng lặp trên cùng một xã. Số vốn các chương
trình khác đầu tư trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn cao hơn vốn đầu tư
của Chương trình 135.
20
Việc lồng ghép chương trình 135 với các chương trình, dự án khác
nhằm: thống nhất mục tiêu, đối tượng, nhiệm vụ, địa bàn thực hiện theo
chương trình 135 để vừa phát huy nội lực tại chỗ của đồng bào các dân téc
đang tích cực thực hiện có hiệu quả chương trình này.
* Sè vốn đầu tư của ngành giáo dục đầu tư 50 tỷ đồng, bình quân mỗi
xã 50 triệu đồng để xây dựng và sửa chữa trường học, cung cấp trang thiết bị
và đồ dùng học tập.
Ngành y tế giành 97 tỷ đồng để xây dựng trạm y tế, cung cấp trang thiết
bị y tế, các loại thuộc thiết yếu và đào tạo cán bộ y tế xã; chương trình định
canh định cư đầu tư vào 304 xã đặc biệt khó khăn 49.770 triệu đồng, chiếm
38,91% vốn chương trình; chương trình trồng 5 triệu ha rừng đầu tư vào 122
xã đặc biệt khó khăn 71.361 triệu đồng, chiếm 26,15% tổng mức đầu tư;
Chương trình nước sạch đầu tư 12.242 triệu đồng chiếm 39% tổng mức đầu
tư, để đầu tư vào 737 dự án cấp nước ở các xã đặc biệt khó khăn; Chương
trình xây dựng Trung tâm cum xã đầu tư trên 200 tỷ đồng xây dựng nhiều
trung tâm cụm xã trên địa bàn chương trình 135 và nhiều chương trình, dự
án trong và ngoài nước đã ưu tiên đầu tư vào khu vực này. Một số tỉnh thuộc
phạm vi chương trình đã giành 48,7 tỷ đồng từ ngân sách địa phương đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng cho một số xã khu vực III chưa được chương trình
135 đầu tư trong năm 1999, điển hình là Tuyên Quang, Quảng Ninh, Hòa
Bình, Lào Kai
Theo tổng hợp báo cáo của các Bộ ngành và các địa phương, tổng vốn
đầu tư của chương trình 135 và các chương trình dự án khác trên địa bàn
thuộc chương trình năm 1999 là 800 tỷ đồng, năm 2000 khoảng 1.100 tỷ
đồng, bình quân mỗi xã một năm được đầu tư khoảng 700 triệu đồng.
Với nguồn vốn đầu tư lớn nh vậy, hầu hết các xã đã có đủ cơ sở hạ tầng
nhưng với số lượng các xã đặc biệt khó khăn ở các tỉnh rât nhiều, địa bàn
21
rộng, dân cư sống không tập trung nên rất khó cho việc đầu tư. Chính vì vậy
Thủ tướng Chính phủ có chỉ thị về việc phân công giúp đỡ các tỉnh nghèo
(công văn 174/CP-VX ngày 22/02/1999 của Chính phủ).
1.3. Huy động các nguồn vốn giúp đỡ các tỉnh nghèo.
Các Bộ ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh, thành phố có điều kiện,
các Tổng Công ty 91 đã cử nhiều đoàn đến các tỉnh nghèo nắm tình hình kinh
tế - xã hội của tỉnh và các xã da các xã đặc biệt khó khăn, nắm nhu cầu cần
thiết giúp đỡ, làm việc với tỉnh thống nhất kế hoạch và đã tích cực giúp đỡ
các xã đặc biệt khó khăn bằng những biện pháp thiết thực, nhằm thực hiện
đúng cơ chế chính sách; cung cách làm ăn; tháo gỡ khó khăn để khai thác thế
mạnh của địa phương; vận động cán bộ công nhân viên, các doanh nghiệp
Nhà nước của ngành mình giúp đỡ đồng bào các xã đặc biệt khó khăn quần
áo, thuốc men, sách vở, vật tư
* Sè vốn các Bộ ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh, thành phố có
điều kiện, cá Tổng Công ty 91 giúp đỡ các tỉnh nghèo được phân bổ nh sau:
Các Bộ ngành, đoàn thể Trung ương đã giúp 20 tỷ đồng năm 1999 và
10 tháng đầu năm 2000 là 7 tỷ đồng để xây dựng các công trình hạ tầng ở các
xã đặc biệt khó khăn. Bộ Giao thông vận tải trong 2 năm đã giành gần 13 tỷ
đồng giúp tỉnh Thanh Hóa và Quảng Nam xây dựng một số công trình cầu
đường; Bộ Công nghiệp đã huy động được 3,4 tỷ đồng giúp tỉnh Kon Tum
xây dựng Nhà máy bột giấy; Bộ Xây dựng đã giúp đỡ tỉnh Lào Cai làm quy
hoạch, thiết kế một số trung tâm cụm xã, công trình ở các xã đặc biệt khó
khăn, Tổng liên đoàn Lao động Việt nam đã giúp huyện Ba Bể (Bắc Kạn) xây
dựng một trạm xá với kinh phí 230 triệu đồng.
Hầu hết các tỉnh, thành phố có điều kiện chủ yếu là hỗ trợ kinh phí để
xây dựng các công trình hạ tầng hai năm qua là 24,353 tỷ đồng. Trong đó,
22
điển hình là: Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu giúp tỉnh Bình Phước 13 tỷ đồng để xây
dựng cầu đường và trường học; Thành phố Hồ Chí Minh giúp đỡ tỉnh Bến Tre
3 tỷ đồng, huyện Trà Cú (Trà Vinh) 3,253 tỷ đồng để xây dựng trạm xá,
trường học và còn giúp đỡ các xã đặc biệt khó khăn của huyện Trà Cú khoản
tín dụng không lãi 6 tỷ đồng; Tỉnh Đồng Nai giúp tỉnh Kon Tum 2,7 tỷ đồng;
Thành phố Hà nội giúp tỉnh Lai Châu 700 triệu đồng và Cao Bằng 400 triệu
đồng xây dựng trường học, trạm xá.
Các Tổng Công ty 91 đã vận động cán bộ công nhân viên giúp đỡ các
xã đặc biệt khó khăn bằng vật chất (quần áo, sách vở, thuốc men ), giúp địa
phương thực hiện một số dự án quy hoạch, phát triển sản xuất, chuyển giao
khoa học công nghệ; trích một phần kinh phí từ nguồn lợi nhuận sau thuế và
quỹ phóc lợi để giúp đỡ các xã đặc biệt khó khăn với tổng kinh phí hai năm là
89,412 tỷ đồng. Giúp đỡ các địa phương nhiều nhất là tổng Công ty Điện lực
Việt Nam đã giành 40 tỷ đồng để xây dựng công trình cấp điện cho các xã đặc
biệt khó khăn, trong đó hỗ trợ cho tỉnh Sơn La và Lai Châu mỗi tỉnh 20 tỷ
đồng; Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam giành 20 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư vùng
cây thuốc lá và xây dựng cơ sở hạ tầng cho các tỉnh Cao Bằng, Ninh Thuận và
Gia Lai, Tổng Công ty Dầu khí đã quyết định hỗ trợ cho tỉnh Quảng Ngãi 6 tỷ
đồng, Sóc Trăng 6 tỷ đồng từ nguồn lợi nhuận sau thuế.
Nh vậy, các Bộ ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh, thành phố có
điều kiện, các Tổng Công ty 91 đã giúp đỡ các tỉnh nghèo khoản kinh phí
năm 1999 là 77 tỷ đồng, 10 tháng đầu năm 2000 là 64 tỷ đồng.
Có thể khẳng định: Chương trình 135 được vận hành theo một cơ chế
đặc biệt, hợp lòng dân, đã đầu tư đúng mục tiêu, đúng đối tượng và có hiệu
quả; đã đi nhanh vào cuộc sống, tạo ra sự hồ hởi, phấn khởi và tin tưởng của
đồng bào các dân téc vào đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước.
23
2. NGUỒN NHÂN LỰC THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH 135.
2.1. Tăng cường cán bộ, công chức ở huyện, tỉnh về các xã làm công
tác xoá đói giảm nghèo.
Do năng lực cán bộ ở các xã còn nhiều hạn chế, thậm chí có xã đội ngò
cán bộ mới chỉ học hết cấp I đặc biệt có cán bộ chưa nói sõi tiếng phổ thông
(tiếng Kinh). Chính vì vậy, các bộ ngành, đoàn thể trung ương, các tỉnh thuộc
phạm vi Chương trình 135 đã tăng cường cán bộ, công chức xuống giúp đỡ
các xã đặc biệt khó khăn thực hiện chương trình 135 có hiệu quả hơn.
Đa số các cán bộ, công chức tăng cường về xã đều am hiểu về xây
dựng xã, về chủ trương xoá đói giảm nghèo, có kiến thức về sản xuất nông -
lâm - nghiệp và phong tục tập quán của nhân dân trong xã và có phẩm chất
đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình công tác, tự nguyện nhận
nhiệm vụ được giao, có sức khoẻ tốt để đảm nhận công việc.
* Các cán bộ, công chức tăng cường về xã có nhiệm vụ là:
Giúp đỡ Uỷ ban nhân dân xã tổ chức triển khai Chương trình xoá đói
giảm nghèo đến thôn bản, hộ gia đình.
Giúp xã xây dựng những dự án nhỏ về xây dựng cơ sở hạ tầng và cac
dự án định canh, định cư, di dân, kinh tế mới, thiết thực hiệu quả.
Giúp các trưởng thôn, bản xây dựng các nhóm hộ "tương trợ". "tín
dông - tiết kiệm", kết hợp với cá tổ chức hướng dẫn cách làm ăn khuyến nông
- lâm - ngư.
Giúp xã tổ chức lồng ghép các hoạt động có liên quan đến xoá đói giảm
nghèo trên địa bàn để tập trung nguồn lực cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo.
24
Ngoài ra còn giúp xã tổ chức công tác tuyên truyền, hướng dẫn rút kinh
nghiệm, sơ kết, tổng kết những cơ chế mô hình tốt để nhân ra diện rộng.
Tích cực thực hiện chủ trương này là tỉnh Cao Bằng: 212 cán bé/106
xã, Hà Giang 151 cán bé/117 xã, Hòa Bình 40 cán bé/24 xã, Yên Bái 31 cán
bé/24 xã, Đắc Lắk 27 cán bé/7 xã, các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Nghệ An tăng
cường cho mỗi xã đặc biệt khó khăn một cán bộ. Uỷ ban nhân dân các tỉnh đã
vận dụng các cơ chế chính sách nhằm khuyếnkhích các cán bộ về cơ sở công
tác: ngoài giữ nguyên mức lương, các cán bộ còn được trợ cáp thêm lương từ
300.000 - 500.000 đ/tháng, tuỳ theo điều kiện khó khăn của từng xã, nếu hoàn
thành tốt nhiệm vụ sẽ được nâng bậc lương sớm hơn so với quy định
Nhiều địa phương đã xác nhnạ: lực lượng cán bộ tăng cường thực sự là
cầu nối giữa các đồng chí lãnh đạo cũ và mới trong đợt bầu cử Hội đồng nhân
dân vừa qua.
2.2. Đào tạo cán bộ xã, bản, làng, phum, sóc nhằm nâng cao năng
lực cho cán bộ cơ sở để từng bước vơưn lên vận hành Chương trình 135
có hiệu quả.
Uỷ ban Dân téc và Miền núi đã hướng dẫn các địa phương về thời gian
và đối tượng đào tạo cán bộ cơ sở. Nội dung tạp huấn chủ yếu là: cơ chế quản
lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình 135; nội dung công tác
kế hoạch hoá ở các cấp, biện pháp lồng ghép các chương trình; phương pháp
thực hiện Chương trình để xã có công trình, dân có việc làm và tăng thêm thu
nhập; cơ chế dân chủ công khai để thực hiện Chương trình 135,
Năm 1999, tỉnh Cao Bằng là tỉnh có số lượng học viên cao nhất với
4390 người tham gia học tập, trong đó có: 680 người là cán bộ huyện và cán
bộ tăng cường xuống xã, 3170 người là cán bộ xã, bản, làng. Các tỉnh Hoà
Bình, Quảng Ngãi, Đắc Lắk đã mở rộng đối tượng đào tạo đến tận hộ nông
25