Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

NGHIÊN cứu TỔNG hợp một vài dẫn XUẤT TAN tốt hơn TRONG nước của ARTEMISININ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (216.13 KB, 15 trang )

MỤC LỤC
1. Giới thiệu chung về đề tài 2
1.1. Giới thiệu về bệnh sốt rét 2
1.2. Giới thiệu về artemisinin 3
Nghiên cứu dẫn xuất Artemisinin là hướng đi đúng đắn nhằm cải thiện những nhược
điểm đó. Nhiều công trình đã được công bố nhằm tối ưu hóa thuốc đặc trị sốt rét. Chẳng
hạn như những nghiên cứu về Artenimol, Artesunate, Artemether và nhiều dẫn xuất khác.
Nhưng artesunate được đưa vào sử dụng rộng rãi hiện nay. Các quy trình điều chế
Artesunate được nêu rất cụ thể trong đề tài Preparative Process For Artesunate From
Artemisinin của Degani, Narkhede, Pedgaonkar, Chaval, Sharma, đăng trên
INTERNATIONAL APPLICATION PUBLISHED UNDER THE PATENT
COOPERATION TREATY 3
Tuy artesunate và artemether đã đóng góp rất lớn trong điều tri sốt rét so với thuốc cổ
điển, nhưng vấn đề tồn tại lại tiếp tục đặt ra. Đó là tình trạng kháng thuốc và tái phát bệnh
bắt đầu xảy ra ở campuchia và đang lan rộng sang Myanmar, Thái Lan, Việt Nam. Việc tìm
ra một thuốc điều trị tối ưu hơn đang là vấn đề cấp thiết giúp nhân loại chặn đứng dịch
bệnh sốt rét 3
1.3. Hướng nghiên cứu hiện nay 3
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 4
3. Các nội dung chính và giới hạn của đề tài 4
Dự đoán các hợp chất có khả năng tan tốt trong nước 4
Tiến hành tổng hợp ít nhất một dẫn xuất nêu trên theo quy trình có sẵn và tối ưu hóa
chúng để năng cao hiệu suất 5
Khảo sát độ tan của dẫn xuất vừa tổng hợp 5
4. Tổng quan tài liệu 5
5. Hóa chất và thiết bị 6
1.1. Nguyên liệu và hóa chất 6
1.2. Dụng cụ và thiết bị 6
6. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 7
7. Kế hoạch thực hiện 8
8. Sơ lược nguyên liệu và hóa chất 8


1.1. Artemisinin 8
1.2. Ethanolamine 10
10
1.3. Hydroxylamine 11
11
9. Phương án tiến hành tổng hợp 12
A.
Đề cương luận văn thạc sĩ
B. MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu chung về đề tài
1.1.Giới thiệu về bệnh sốt rét
Bệnh sốt rét đã từng được Hypocrate mô tả cách đây hơn 2000 năm. Nhưng tới
năm 1897 thì Ross (Anh) mới chứng minh được vai trò truyền bệnh của muỗi. Trong
đó, yếu tố đầu tiên quyết định sinh bệnh sốt rét là giống ký sinh trùng Plasmodium ký
sinh trên cơ thể người thông qua vật chủ trung gian truyền bệnh là muỗi Anopheles.
Đời sống ký sinh trùng tương đối ngắn, nhưng quá trình sinh sản nhân lên nhanh và
nhiều nên tồn tại kéo dài trong cơ thể.
3

Dịch bệnh này bùng phát trên toàn thế giới, đặc biệt là các vùng có điều kiện về
địa hình và khí hậu thuận lợi cho muỗi gây bệnh sinh sôi và phát triển. Điển hình là
Việt Nam, một vùng có nhiều sông ngòi, hồ ao, mương rạch, rừng cây rậm rạp. Hơn
nữa, không có tình trạng miễn dịch tự nhiên trong sốt rét, tuy là có vài tình trạng ngoại
lệ nhưng không ổn định và toàn diện. Do đó cần sử dụng thuốc chống sốt rét để điều
trị bệnh.
Các chất có khả năng kháng ký sinh trùng Plasmodium đã được nghiên cứu và
sử dụng trong truyền thống là: nhóm Quinine, Aminoacridin, Biguamid,
Pyrimethamin, các sulfamid…
Vấn đề nảy sinh là sự kháng thuốc của ký sinh trùng Plasmodium. Đặc biệt là
loại ký sinh trùng P.falciparum có thể giết chết bệnh nhân trong một vài giờ, làm cho

dịch sốt rét trở lại trầm trọng. Hơn nữa dện tích thế giới sống trong vùng có hiểm họa
sốt rét với khoảng hơn 500 triệu người mắc bệnh và số tử vong hàng năm lên tới 2 – 3
triệu mà phần lớn nạn nhân là trẻ nhỏ.
2

Hiện nay ở Việt Nam, bệnh sốt rét được coi là vấn đề sức khỏe hàng đầu của
cộng đồng, là một trong những nguyên nhân gây nghèo đói và ảnh hưởng nghiêm
Hồ Quốc Trinh
2
Đề cương luận văn thạc sĩ
trọng đến sức khỏe của con người. Chương trình Quốc gia phòng chống sốt rét của
Việt Nam ước tính có khoảng 36 triệu người sống trong vùng sốt rét lưu hành. Trong
đó có 15 triệu người sống trong vùng sốt rét lưu hành nặng. Tỷ lệ mắc sốt rét trong
nhân dân có thể lên dến 30 – 40%, làm mất nhiều sức lao động, ảnh hưởng rất lớn đến
sự phát triển kinh tế, xã hội.
1
1.2.Giới thiệu về artemisinin
Năm 1972, trong một chương trình nghiên cứu có tên là Project 523 được
thành lập bởi quân đội Trung Quốc, Tu Youyou đã phát hiện ra Artemisinin – Một hợp
chất lacton sesquiterpene tự nhiên được tìm thấy trong phần lá của cây Artemisia
annua (Qinghao) – chứa cầu endoperoxide đóng vai trò quan trọng trong chống sốt rét.
Trong những phản ứng lâm sàn đầu tiên cho thấy khả năng kháng bệnh của
Artemisinin cao và ít độc hại. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là độ hòa tan thấp trong
nước hoặc dầu gây khó khăn trong quá trình điều trị cho những bệnh nhân nặng. Thêm
vào đó là khả năng tái phát bệnh cao. Để khắc phục điều này, một chương trình sữa
đổi cấu trúc của Artemisinin đã được thực hiện.
11

Nghiên cứu dẫn xuất Artemisinin là hướng đi đúng đắn nhằm cải thiện những
nhược điểm đó. Nhiều công trình đã được công bố nhằm tối ưu hóa thuốc đặc trị

sốt rét. Chẳng hạn như những nghiên cứu về Artenimol, Artesunate, Artemether và
nhiều dẫn xuất khác. Nhưng artesunate được đưa vào sử dụng rộng rãi hiện nay.
Các quy trình điều chế Artesunate được nêu rất cụ thể trong đề tài Preparative
Process For Artesunate From Artemisinin của Degani, Narkhede, Pedgaonkar,
Chaval, Sharma, đăng trên INTERNATIONAL APPLICATION PUBLISHED
UNDER THE PATENT COOPERATION TREATY.
Tuy artesunate và artemether đã đóng góp rất lớn trong điều tri sốt rét so với thuốc
cổ điển, nhưng vấn đề tồn tại lại tiếp tục đặt ra. Đó là tình trạng kháng thuốc và tái
phát bệnh bắt đầu xảy ra ở campuchia và đang lan rộng sang Myanmar, Thái Lan,
Việt Nam. Việc tìm ra một thuốc điều trị tối ưu hơn đang là vấn đề cấp thiết giúp
nhân loại chặn đứng dịch bệnh sốt rét.
1.3.Hướng nghiên cứu hiện nay
Hồ Quốc Trinh
3
Đề cương luận văn thạc sĩ
Một chất mới được nghiên cứu cần phải đáp ứng yêu cầu về hoạt tính kháng sốt
rét cao, dễ hòa tan trong nước và bền với điều kiện phản ứng.
Hiện nay, dẫn xuất azaartemisinin đang là hướng đi mới có nhiều triển vọng.
Bởi vì thông qua kiểm tra in vitro và in vivo cho một số chất
N-substituted 11-azaartemisinin cho thấy rằng hoạt tính chống sốt rét của chúng bằng
hoặc cao hơn artemisinin.
N
O
H
3
C
O
CH
3
H

CH
3
H
O O
R
N-substituted 11- artemisinin
Trên cơ sở đó, tiến hành điều chế các dẫn xuất với hi vọng đưa thêm các nhóm
phân cực vào phân tử artemisinin để cải thiện độ hòa tan trong nước, nhưng vẫn giữ
hoặc tăng thêm hoạt tính. Theo thực nghiêm, dẫn xuất hoạt động nhất là N-(2-
hydroxyethyl)-11-azartemisininin. Hoạt tính của nó so với artemisinin thì gấp 26 lần
in vitro và gấp 4 lần in vivo.
7
Từ những thông tin nêu trên, trong đề tài này, tôi sẽ tổng hợp ít nhất một dẫn
xuất tan tốt trong nước là N-(2-hydroxyethyl)-11-azartemisininin.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ vấn đề trên, đề tài “Nghiên cứu tổng hợp một vài dẫn xuất tan tốt
hơn trong nước của Artemisinin” nhằm mục đích tìm ra ít nhất một dẫn xuất mới có
khả năng tan tốt hơn trong nước để nâng cao hiệu suất kháng sốt rét của Artemisinin.
3. Các nội dung chính và giới hạn của đề tài
- Dự đoán các hợp chất có khả năng tan tốt trong nước.
Hồ Quốc Trinh
4
Đề cương luận văn thạc sĩ
N
O
H
3
C
O
CH

3
H
CH
3
H
HO
N-(2-hydroxyethyl)-11-temisininin
O
O

N
O
H
3
C
O
CH
3
H
CH
3
H
HO
N-hydroxy-11-artemisinin
O
O

- Tiến hành tổng hợp ít nhất một dẫn xuất nêu trên theo quy trình có sẵn
và tối ưu hóa chúng để năng cao hiệu suất.
- Khảo sát độ tan của dẫn xuất vừa tổng hợp.

4. Tổng quan tài liệu
Trong nước:
Đề tài “Nghiên cứu chuyển hoá artemisinin thành một số dẫn xuất
azaartemisinin” của Phan Đình Châu; Hồ Đức Cường; Trần Thị Mỹ Hạnh; Trần Khắc
Vũ; Trương Thị Thanh Nga; Nguyễn Văn Tuyến; Nguyễn Đức Vinh (2005).
Ngoài nước:
- Quy trình điều chế N-Amino-11-azaartemisinin, N-Hydroxy-11-azaartemisin và
N-Ethanol-11-azaartemisin của Ajit Shankar Singh, Ved Prakash Verma, Mohammad
Hassam, Naikade Niraj Krishna, Sunil K. Puri và Chandan Singh: Artemisinin phản
ứng với hydrazine hydrate trong methanol ở nhiệt độ phòng khoảng 1 giờ, sau đó
khuấy với silica gel và 20% H
2
SO
4
trong sự hiện diện của
2,4-di-tert-butylphenol trong CHCl
3
để hình thành hổn hợp
N-amino-11-azaartemisinin và N-amino-10-azadeoxyartemisinin. Ta sẽ thu được
lượng N-amino-11-azaartemisinin tới 70% khi bước đầu tiên của chuổi phản ứng được
điều chỉnh trong hệ MeOH-CHCl
3
với tỉ lệ 3:7 khoảng 1 giờ ở O°C. Dạng deoxy sẽ
không hình thành dưới điều kiện này. Sử dụng quy trình như trên, thay hydrazine
hydrate bằng hydroxylamine, ethanolamine ta thu được N-Hydroxy-11-azaartemisin và
N-Ethanol-11-azaartemisin.
4
- Quy trình điều chế N-Ethanol-11-azaartemisin của Mai M. Al-Oqail: Cho hổn
hợp dung dịch gồm 0.5 mL ethanolamine và 5 ml methanol vào 500 mg Artemisinin ở
Hồ Quốc Trinh

5
Đề cương luận văn thạc sĩ
nhiệt độ phòng. Dung dịch được khuấy khoảng 3h. Sau đó đem dung dịch cô dưới áp
suất thấp, cho phần dư lượng là chất rắn màu vàng nhạt. Dư lượng này được hòa tan
tiếp tục trong 70 mL dichloromethane, sau đó thêm tiếp tục 47 mg BHT, 15% H
2
SO
4
,
4 g Silicagel. Sau đó khuấy qua đêm ở nhiệt độ phòng thu được hổn hợp phản ứng.
Lọc hổn hợp trên. Và silica gel được rửa nhiều lần bằng dichloromethane. Dịch hữu cơ
được hợp lại và cô dưới áp suất thấp thu được dư lượng ở dạng gel. Tiến hành săc kí
cột với dung môi chạy cột là dichloromethane thu được chất rắn tinh thể. Đó là
N-Ethanol-11-azaartemisin.
7
5. Hóa chất và thiết bị
1.1. Nguyên liệu và hóa chất
1.2. Dụng cụ và thiết bị
Dụng cụ:
Hồ Quốc Trinh
Nguyên liệu Hóa chất
- Artemisinin
- Ethanolamin
- Hydroxylamin
- Methanol, cloroform
- BHT
- nhựa H
+
- SiO
2

, H
2
SO
4
- Nước cất
6
Đề cương luận văn thạc sĩ
- Ống hút, pipet, đũa thủy tinh, cá từ, lọ thủy tinh, chai đựng mẫu,
- Ống đong 50 mL, 25 mL, 10 mL, 5 mL.
- Bình tam giác 50 mL, 100 mL, 250 mL.
- Cốc thủy tinh 50 mL, 100 mL, 250 mL.
- Bình định mức 100 mL, 500 mL.
- Giấy đo pH, giấy lọc.
Thiết bị:
- Máy khuấy từ gia nhiệt (Heating Magnetic Stirrer–VELP
Scientifica).
- Cân điện tử Mettler Toledo Ab204, Sartorius GP 1503 P.
- Hệ thống đun hồi lưu, máy cô quay.
- Tủ sấy thường, cân thường.
6. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các dẫn xuất mới của Artemisinin có khả năng tan tốt
hơn trong nước.
Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện tại phòng thí nghiệm số 15, Viện Công Nghệ Hóa
Học. Số 1, Mạc Đĩnh Chi, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thời gian thực hiện: từ 01/09/2011 đến 01/09/2012
Phương pháp nghiên cứu
- Tập trung tài liệu trên sách, tạp chí, webside và thông tin liên quan từ thầy cô
và anh chị đi trước.
- Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm:

o Tinh chế chất bằng phương pháp kết tinh lại, xử lý lại dung môi
bằng chưng cất hồi lưu.
o Tổng hợp aza bằng phản ứng thế.
Hồ Quốc Trinh
7
Đề cương luận văn thạc sĩ
o Phân tích sản phẩm bằng sắc ký, nhận danh sản phẩm bằng
phương pháp phổ.
7. Kế hoạch thực hiện
- 01/09/2011 đến 01/10/2011: Tập hợp tài liệu.
- 02/10/2011 đến 17/11/2011: Tiến hành tổng hợp các dẫn xuất Artemisinin
dự đoán tan tốt trong nước theo quy trình có sẵn.
- 18/11/2011 đến 18/03/2012: Tiến hành thử nghiệm những thay đỗi về điều
kiện phản ứng của quy trình trên nhằm nâng cao hiệu suất và chất lượng sản phẩm.
- 19/03/2012 đến 01/05/2012: Khảo sát thêm dẫn xuất azaartemisinin khác nếu
còn thời gian.
- 02/05/2012 to 01/09/2012: Tập trung kết quả thực nghiệm để viết báo cáo
luận văn
C. NỘI DUNG
8. Sơ lược nguyên liệu và hóa chất
1.1.Artemisinin
O
O
H
3
C
O
CH
3
H

CH
3
H
O
O
Artemisinin
Artemisinin là một sesquiterpene lactone có chứa một cầu nối peroxide bất
thường – là chìa khóa để tiêu diệt ký sinh trùng Plasmodium falciparum và loại bỏ
các tế bào ung thư vú - được chiết suất từ cây thanh hao hoa vàng (Artemisia annua
Hồ Quốc Trinh
8
Đề cương luận văn thạc sĩ
L.). Đây là loại cây thảo dược lâu năm, mọc hoang thành từng đám, phát triển ở nhiều
nước như Trung Quốc, Việt Nam, nam châu Âu, Argentina Toàn cây thơm, cao trên
1m, hoa có màu vàng nhạc. Thành phần hóa học của cây chứa khoảng 0.3 – 0.5%
artemisinin và các tinh dầu như campho, 1,8-cineol, β-farsenen, β-caryophyllen
Các phương pháp định lượng và định tính Artemisinin trong quá khứ như
TLC, HPLC-UV hấp thu tại bước sóng 260 nm, HPLC-EC, GC-MS, GC-FID và
ELISA. Nhưng các phương pháp này bị hạn chế về chi phí thiết bị, tốn thời gian, khả
năng phát hiện… Hiện nay, phương pháp phân tích HPLC-ELSD đang được sử dụng
phổ biến cho phân tích Artemisinin và các dẫn xuất với khả năng phát hiện các chất có
hoặc không có cầu peroxide và tiết kiệm thời gian hơn.
5
Artemisinin được chiết bằng cách sử dụng các dung môi để chiết xuất như:
rượu, chloroform, acetone, hexane Việc tổng hợp và bán tổng hợp Artemisinin đã
được công bố rất nhiều cả trong và ngoài nước. Có thể tổng hợp artemisinin từ
citronellal, isolimonene, artemisic acid,
6
Điển hình là tổng hợp của Zhou (1979) và
Ravindranathan (1990).

Ngày nay, Artemisinin đã được xác định chính xác là một nguyên liệu
đầu dùng để điều chế các chất có hoạt tính dược học.
6
Mô tả nguyên liệu như sau:
Công thức : C
15
H
22
O
5

Phân tử lượng : 282.3
Tên hóa học : (3R, 5aS, 6R, 8aS, 9R, 12S, 12aR)-Octahydro-3,6,9-
trimethyl-3,12-epoxy-12H-pyrano[4.3-j]-1,2- benzodioxepin-10(3H)-one.
Độ hòa tan : Hầu như không tan trong nước, tan nhanh trong
dichloromethane, tan tự do trong acetone và ethylacetate, tan trong
acid acetic băng, methanol và ethanol.
Bảo quản : Artemisinin được bảo quản trong hộp đóng kín,
để nơi khô mát và tránh ánh sáng.
Hình thức : Tinh thể hình kim không màu hoặc bột kết tinh
màu trắng.
Điểm chảy : 151°C - 154°C
Hồ Quốc Trinh
9
Đề cương luận văn thạc sĩ
Năng suất quay cực : Sử dụng 1 lượng dung dịch 10mg/ml trong
ethanol khan; [a]
20
D = +75° ÷ +78°
Khối lượng mất do sấy khô : Sấy tới nhiệt độ 80

0
C, hàm lượng mất do sấy
không quá 5.0mg/g
Ngoài ra, về mặt lập thể thì Artemisinin chứa 7 trung tâm lập thể, nên có
thể có 2
7
đồng phân. Tồn tại hai cấu hình là α và β nhưng không ảnh hưởng đến hiệu
lực, độ an toàn và chất lượng của artemisinin.
Đặc biệt, cầu peroxide chính là nòng cốt chống bệnh sốt rét, nên nếu phá
hủy cầu peroxide như deoxyartemisinin thì không còn hoạt tính đó nữa. Năng lượng
liên kết của cầu peroxide gần bằng 30 kcal/mol. Vì đặc điểm này mà những công trình
nghiên cứu mới về các dẫn xuất dihydroartemisinin hay những ester, ether, carbonate
của nó vẫn còn giữ nguyên cầu peroxide. Và gần đây là những nghiên cứu về
azaartemisinin.
Cơ chế tác dụng: có bằng chứng cụ thể đưa ra rằng việc tiêu diệt ký sinh
trùng được giải thích là do các gốc tự do. Cơ chế hoạt động có thể diễn ra theo hai
bước. Bước đầu tiên, các hợp chất artemisinin bị hoạt hóa bởi các heme hoặc phân tử
sắt để hình thành gốc tự do và các chất thân điện tử . Bước tiếp theo, các phần mang
hoạt tính này sẽ phản ứng với các protein liên kết với màng tế bào nhiễm sốt rét.
10
Để khắc phục những hạn chế về độ tan và độ bền của artemisinin, chương
trình thay đổi cấu trúc hóa học của artemisinin được đưa ra năm 1976 dẫn đến các chất
mới như artemether, artesunate đã được phê duyệt ở Trung Quốc 1987. Nhưng bệnh
sốt rét không chỉ là căn bệnh khó trị mà còn rất dễ tái phát. Hiện nay, khả năng tái phát
bệnh đang diễn ra trong diện rộng. Và, dẫn xuất azaartemisinin đang được nghiên cứu
rộng rãi để đáp ứng một loại thuốc có hiệu lực kháng bệnh cao.
1.2. Ethanolamine
H
2
N OH

Hồ Quốc Trinh
10
Đề cương luận văn thạc sĩ
Ethanolamine, còn được gọi là 2-aminoethanol hoặc Monoethanolamine
(thường được viết tắt là ETA hoặc MEA), là một hợp chất hữu cơ chứa một amin nhất
cấp (do một nhóm amin ) và một nhóm rượu (do một nhóm hydroxyl). Giống như các
amin khác, Monoethanolamine hoạt động như là một base yếu. Ethanolamine là một
chất lỏng nhớt, không màu, dễ cháy và độc với một mùi tương tự như của amoniac .
MEA được điều chế bằng phản ứng của ethylene oxide với amoniac
O
+ NH
3
NH
2
HO
HO
H
N
OH
HO
N
OH
OH
++
MEA được sử dụng trong các dung dịch nước để lọc một số khí có tính axít.
Chẳng hạn như loại bỏ carbon dioxide trong khí thải. Nó còn được sử dụng làm
nguyên liệu trong sản xuất chất tẩy rửa, chất nhũ hoá, chất đánh bóng, dược phẩm, các
chất ức chế ăn mòn, chất trung gian hóa học, Ví dụ, ethanolamine phản ứng với
amoniac thu được ethylenediamine :
NH

2
HO
NH
3
cat.
H
2
H
2
O
+
NH
2
H
2
N
+
Trong công thức dược phẩm, MEA chủ yếu được sử dụng làm chất đệm hoặc
tạo nhũ.
1.3. Hydroxylamine
N O
H
H
H
Hồ Quốc Trinh
11
Đề cương luận văn thạc sĩ
Hydroxylamin là một hợp chất vô cơ với công thức NH
2
OH. Chất tinh khiết có

một màu trắng, tinh thể không ổn định, dễ hút ẩm. Tuy nhiên, hydroxylamine hầu như
luôn luôn được cung cấp và sử dụng như một dung dịch. Nó được sử dụng để điều chế
oximes, một nhóm chức quan trọng. Đây cũng là một trung gian trong quá trình nitrat
hóa sinh học.
NH
2
OH có thể được điều chế thông qua một số con đường. Các con đường
chính là thông qua tổng hợp Raschig. Hydroxylamin cũng có thể được điều chế bởi sự
khử axit nitric hoặc kali nitrit với bisulfite.
Hydroxylamine và các muối của nó thường được sử dụng như chất khử trong
vô số các phản ứng hữu cơ và vô cơ. Chúng cũng có thể hoạt động như chất chống oxy
hóa acid béo. Muối nitrat, hydroxylammonium nitrat đang được nghiên cứu như là một
nhiên liệu tên lửa cả dạng lỏng và dạng rắn.
9. Phương án tiến hành tổng hợp
Thay thế vị trí O-11 thành N-11 theo cơ chế chung như sau:
N
O
H
3
C
O
CH
3
H
CH
3
H
R
O
O

H
3
C
O
CH
3
H
CH
3
H
OH
O
H
3
C
O
CH
3
H
CH
3
H
H
2
N
O
O
CH
3
H

CH
3
H
HO O
H
2
N
O
H
RNH
2
MeOH
SiO
2
H
O
O
O
O
O
O
Áp dụng cụ thể đối với N-(2-hydroxyethyl)-11-azartemisininin và
N- hydroxyl-11-azaartemisinin theo sơ đồ phản ứng sau. Đồng thời, cố gắng thay đổi
những điều kiện phản ứng để nâng cao hiệu suất phản ứng.
1. NH
2
CH
2
CH
2

OH
MeOH, CHCl
3,
rt, 1h
2. SiO
2
/ 20%H
2
SO
4
BHT,CHCl
3,
O
0
C-rt, 12h N
O
H
3
C
O
CH
3
H
CH
3
H
HO
O
O
O

O
H
3
C
O
CH
3
H
CH
3
H
O
O
Hồ Quốc Trinh
12
Đề cương luận văn thạc sĩ
1. NH
2
CH
2
CH
2
OH
MeOH, CHCl
3,
rt, 1h
2. SiO
2
/ 20%H
2

SO
4
BHT,CHCl
3,
O
0
C-rt, 12h
N
O
H
3
C
O
CH
3
H
CH
3
H
HO
O
O
O
O
H
3
C
O
CH
3

H
CH
3
H
O
O
D. KẾT LUẬN
Dự kiến kết quả đạt được:
- Tổng hợp được ít nhất một dẫn xuất azaartemisinin đã nêu trên.
- Khảo sát, tối ưu hóa các điều kiện phản ứng để cho hiệu suất và
chất lượng cao.
- Khảo sát độ tan trong nước và hoạt tính của các dẫn xuất đó.
- Xác định hàm lượng các dẫn xuất.
Hồ Quốc Trinh
13
Đề cương luận văn thạc sĩ
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt
[1] PGS.TS. Lê Hồng Hinh, PGS.TS. Phạm Văn Thân (2005), Vi Sinh – Ký Sinh
Trùng, Bộ Y Tế, Vụ Khoa Học Và Đào Tạo, NXB Y Học Hà Nội.
[2] Nguyễn Thị Phượng (2011), Nghiên cứu tổng hợp nano Chitosan-Alginate làm
chất mang thuốc Artemisinin, Luận văn thạc sĩ hóa học, Trường đại học Cần thơ.
Hồ Quốc Trinh
14
Đề cương luận văn thạc sĩ
[3] PGS.TS. Phạm Văn Thân (2001), Ký Sinh Trùng Y Học, Bộ môn ký sinh trùng
trường Đaị học Y Hà Nội, NXB Y Học
Tài liệu tiếng Anh
[4] Ajit Shankar Singh, Ved Prakash Verma, Mohammad Hassam, Naikade Niraj

Krishna, Sunil K. Puri, and Chandan Singh*, Amino- and Hydroxy-Functionalized 11-
Azaartemisinins and Their Derivatives, Organic Letters, 2008, vol.10, No.23
[5] Jorge F.S. Ferreira, Ph.D., ARTEMISIA ANNUA L.: THE HOPE AGAINST
MALARIA AND CANCER, Medicinal and Aromatic Plants: Production, Business &
Applications, 2004, 56 – 58
[6] J.S.Yadav, R.Satheesh Babu và G. Sabitha, Total synthesis of (+) Artemisinin,
Organic Chemical Sciences, 2003
[7] Mai M. Al-Oqail, Ahmed M. Galal 1, Mohamed S. Ahmad, Ahlam
M. Al-Fishawi và Farouk S. El-Feraly, New Bioactive Azaartemisinin Derivatives,
Molecules, 2003, 8, 901–909
[8] Quality Requirements For Artemisinin As A Starting Material In The
Production Of Antimalarial Active Pharmaceutical Ingredients (Apis), 2010, World
Health Organization, Working document QAS/10.349/Rev.1
[9] Rutendo Kuwana, Stability of Antimalarial Preparations, world Health
Organization, 2009
[10] S. R. MESHNICK, T. E. TAYLOR, S. KAMCHONWONGPAISAN,
Artemisinin and the Antimalarial Endoperoxides: from Herbal Remedy to Targeted
Chemotherapy, MICROBIOLOGICAL REVIEWS, 1996, Vol. 60, No.2
[11] Ying Li,* Yuan-Ming Zhu, Hong-Jian Jiang, Jian-Ping Pan, Guang-Shao Wu,
and Jin-Ming Wu, Synthesis and Antimalarial Activity of Artemisinin Derivatives
Containing an Amino Group, Brief Articles, 2000, 43, 1635-1640
Hồ Quốc Trinh
15

×