Y học thực hành (8
6
4
)
-
số
3/2013
99
TáC DụNG ứC CHế VậN ĐộNG Và ảNH HƯởNG HUYếT ĐộNG
CủA MAGNEIUM SULPHATE TRUYềN TĩNH MạCH TRONG GÂY TÊ TủY SốNG
BằNG BUPIVACAIN Và FENTANYL TRONG Mổ CHI DƯớI
Trần Thị Kiệm - Bệnh viện Bạch Mai
TóM TắT
Mục tiêu: đánh giá tác dụng tác dụng ức chế vận
động, giảm đau và một số tác dụng không mong
muốn khác của magnesium sulphate truyền tĩnh
mạch với gây tê tủy sống bằng bupivacain kết hợp
fentanyl trong mổ chi dới. Phơng pháp nghiên
cứu: thử nghiệm lâm sàng, tiến cứu, ngẫu nhiên, mù
đơn, đối chứng, can thiệp lâm sàng có so sánh. Kết
quả và bàn luận: độ tuổi trung bình ở nhóm 1:
33,4713,16 tuổi, nhóm 2: 34,8711,56 tuổi; chiều
cao TB của nhóm 1: 163,84,4 (cm); nhóm
2:165,55,6 (cm). Thời gian yêu cầu liều thuốc giảm
đau đầu tiên: 180,2 43,3 (phút) kéo dài hơn nhóm
chứng là 155,042,5 phút, khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p<0,05. Sự thay đổi về huyết áp trung bình
giữa hai nhóm theo các mốc thời gian không có sự
khác biệt với p>0,05. Không có sự khác biệt về tỷ lệ
bệnh nhân có tác dụng không mong muốn nh: nôn,
buồn nôn, bí đái, ngứa, đau đầu, run, rét run, suy hô
hấp và tụt huyết áp ở hai nhóm nghiên cứu (p>0,05).
Kết luận: thời gian khởi phát ức chế vận động và
phục hồi vận động ở nhóm truyền MgSO
4
tơng
đơng với nhóm chứng; thời gian yêu cầu liều thuốc
giảm đau đầu tiên ở nhóm truyền MgSO
4
dài hơn so
với nhóm chứng; thuốc không gây biến đổi tần số tim,
huyết áp động mạch, tần số hô hấp và độ bão hòa
oxy. Tỷ lệ bệnh nhân bí đái, nôn, buồn nôn, đau đầu,
run, rét run và ngứa ở nhóm truyền MgSO
4
không
khác biệt so với nhóm không truyền MgSO
4
.
Từ khóa: ức chế vận động, giảm đau.
SUMMARY
Objective: The study was done to evaluate of
pospective analgegic effect of Magnesium sulphat
intravenous and spinal anesthesia with Bupivacain
combination fentanyl for under limb surgery and
unwanted efects. Material and method: clinicaltrials,
prospective, randomiszed, single-blind, controlled,
clinicel intervention compared. They were 60 patients,
divided in two groups, spinal anesthesia for under
limb surgery and Magnesulphat intravenous 50
mg/kg/h; at Viet Duc hospital, from 2-2012 to 10
2012. Result and discussion: the average old:
33.4713.16 (group 1) and 34.8711.56 (group 2);
average height: 163.84.4 cm (group 1);
165.55.6cm (group 2). The onset of motor paralys
and paraly recorvery time was the same in two
groups, The times of the first anelgesic dose:
180.243.3 min (group 1) and 155.042.5 min (group
2). p<0.05. It isnt altered to change the motor
inhibition, pressure blood and SpO
2
. They havent
different in two groups about undesirable effects:
nausea, vomiting, chills, urinary retention
Conclussion: Magne sulphat shoud be have
analgesia post-operation for under limb surgery and
no grave complication which realatived to the used to
propofol.
Keywords: Magnesium sulphat, Bupivacain,
fentanyl.
ĐặT VấN Đề
Gây tê tủy sống (GTTS) bằng bupivacain phối hợp
với fentanyl để vô cảm trong mổ và kết hợp giảm đau
sau mổ bằng PCA morphin cho phẫu thuật chi dới
đang đợc áp dụng khá phổ biến ở Việt Nam, song
còn có những mặt hạn chế. Ngoài tác dụng giảm đau
nó còn có các tác dụng khác nh ức chế vận động,
hạ huyết áp trong mổ Vì vậy, việc phối hợp các
thuốc nh thế nào để có tác dụng hợp đồng giảm đau
tốt và giảm bớt các tác dụng không mong muốn luôn
đợc các nhà gây mê quan tâm và nghiên cứu.
Magnesium sulphate (MgSO
4
) là thuốc đã đợc biết
đến nh dùng để điều trị tiền sản giật, chống loạn
nhịp và điều trị các trờng hợp thiếu hụt ion Mg
+
Hiện nay trên thế giới đã có các nghiên cứu sử dụng
MgSO
4
tiêm vào khoang dới nhện hay truyền tĩnh
mạch để giảm đau sau phẫu thuật. ở Việt Nam cha
có nghiên cứu nào về sử dụng MgSO
4
để giảm đau
sau mổ trên bệnh nhân (BN) phẫu thuật chi dới. Vì
vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Đánh giá
tác dụng ức chế vận động, giảm đau và ảnh hởng
huyết động của magnesium sulphate truyền tĩnh
mạch với gây tê tủy sống bằng bupivacain và fentanyl
trong mổ chi dới với hai mục tiêu sau:
1. Đánh giá tác dụng tác dụng ức chế vận động và
giảm đau của magnesium sulphate truyền tĩnh mạch
với gây tê tủy sống bằng bupivacain và fentanyl trong
mổ chi dới.
2. Đánh giá tác dụng không mong muốn khác của
phơng pháp này.
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
- Phơng pháp nghiên cứu: nghiên cứu thử
nghiệm lâm sàng, tiến cứu, ngẫu nhiên, mù đơn, đối
chứng, can thiệp lâm sàng có so sánh. Gồm 60 bệnh
nhân chia 2 nhóm; ASA I, ASA II; tuổi từ 18 đến 60,
chỉ định gây tê tủy sống (GTTS) phẫu thuật chi dới
tại khoa Phẫu thuật Gây mê hồi sức Bệnh viện Việt
Đức từ tháng 3/2012 đến tháng 9/2012.
- Kỹ thuật tiến hành: Tê tủy sống giống nhau ở
cả hai nhóm bệnh nhân, với liều marcain 7mg +
fentanyl 0,05mcg. Truyền tĩnh mạch MgSO
4
: sau khi
gây tê huyết động ổn định và đảm bảo đủ vô cảm để
bắt đầu phẫu thuật thì tiến hành truyền MgSO
4
liều
Y học thực hành (8
64
)
-
số
3
/201
3
100
50mg/kg/giờ cho nhóm 1 (nhóm nghiên cứu), tiếp tục
duy trì cho đến khi kết thúc cuộc mổ thì ngừng truyền
MgSO
4
.
- Xử lý số liệu: phần mềm SPSS 16.0.
KếT QUả NGHIÊN CứU
1. Các đặc điểm về tuổi, chiều cao và trọng
lợng cơ thể
Bảng 1. Phân bố tuổi, chiều cao, cân nặng (cả hai
nhóm)
Thông số Nhóm I (n=30) NhómII (n=30)
p
Tuổi
(năm)
X SD
33,4713,16 34,8711,56
>0,05
Min
-
Max
18
-
60
18
-
58
Chiều
cao (cm)
X SD
163,834,41 165,535,616
>0,05
Min - Max 152-170 150 - 176
Cân
nặng (kg)
X SD 55,54,52 58,06,31
>0,05
Min - Max 47 - 65 45 - 65
Nhận xét: Giữa hai nhóm nghiên cứu không có sự
khác biệt về tuổi, chiều cao và cân nặng (p>0,05).
Bảng 2. Phân loại sức khỏe theo ASA
Nhóm
Loại ASA
Nhóm I (n=30) Nhóm II (n=30)
Giá trị p
n Tỷ lệ (%)
n Tỷ lệ (%)
ASA I
25
83,3
26
86,7
p>0,05
ASA II 5 16,7 4 13,3
Tổng số: 30 100 30 100
Nhận xét: Phẫu thuật gồm kết hợp xơng đùi, cơ
đùi và kết hợp xơng cẳng chân. Không có sự khác
nhau về vị trí và phân loại, tình trạng sức khỏe và thời
gian phẫu thuật giữa hai nhóm nghiên cứu (p>0,05).
2. Tác dụng ức chế vận động ở mức M
1
(phút)
2.1. Thời gian khởi phát liệt vận động ở mức M
1
(phút). Bảng 3.
Thông số Nhóm I (n=30) Nhóm II (n=30) Giá trị p
X SD
4,370,51 4,350,54
p>0,05
Min - Max 3,5 - 5,5 3,5 - 5,5
Nhận xét: Không có sự khác nhau về thời gian
khởi phát liệt vận động ở mức M
1
của hai nhóm
(p>0,05)
2.2. Thời gian phục hồi vận động ở mức M
1
(phút). Bảng 4.
Thông số Nhóm I (n=30) Nhóm II (n=30) Giá trị p
X SD
94,823,5 87,215,2
p>0,05
Min - Max 50 170 65 - 120
Nhận xét: Không có sự khác nhau về thời gian
phục hồi vận động ở mức M
1
của hai nhóm (p>0,05)
3. Tác dụng giảm đau sau mổ
Bảng 5.Thời gian yêu cầu liều thuốc giảm đau đầu
tiên sau mổ
Thời gian Nhóm I (n=30) Nhóm II (n=30) Giá trị p
X SD
180,243,3 155,042,5 p>0,05
Min - Max 110 350 110 280
Nhận xét: Có sự khác biệt về thời gian yêu cầu
dùng liều thuốc giảm đau đầu tiên sau mổ của hai
nhóm có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
4. Thay đổi về huyết áp trung bình giữa hai
nhóm theo mốc thời gian. Bảng 6.
Thời gian
Nhóm I(n=30)
X SD
Nhóm II(n=30)
X SD
Giá trị p
T0 90,016,22 89,735,81 p>0,05
T1 89,645,94 88,375,76 p>0,05
T2 82,454,92 81,256,78 p>0,05
T3 83,606,11 84,435,14 p>0,05
T4 85,376,17 86,175,71 p>0,05
T5
84,256,08
85,255,58
p>0,05
T6 85,366,16 86,505,37 p>0,05
T
mx
88,516,22 89,735,81 p>0,05
H0 92,035,75 92,234,20 p>0,05
H1 89,645,94 90,104,78 p>0,05
H3
88,205,05
89,425,12
p>0,05
H6 88,965,27 89,704,93 p>0,05
H12
86,264,77
87,404,85
p>0,05
H24 85,103,78 86,364,78 p>0,05
H36 84,934,68 85,105,94 p>0,05
H48 86,704,05 87,404,85 p>0,05
Nhận xét: Sự thay đổi về huyết áp trung bình giữa
hai nhóm theo các mốc thời gian không có sự khác
biệt với p>0,05.
5. Tác dụng không mong muốn khác trong và
sau mổ. Bảng 7.
Các tác dụng
không mong muốn
Nhóm I (n=30) Nhóm II (n=30)
Giá trị p
SL (%) SL (%)
Nôn, buồn nôn
2
6,7
3
10
>0,05
Bí đái 1 3,3 2 6,7
Ngứa 1 3,3 2 6,7
Đau đầu 1 3,3 1 3,3
Run, rét run 1 3,3 2 6,7
Suy hô hấp
0
0
0
0
Tụt huyết áp 0 0 0 0
Nhận xét: Không có sự khác biệt về tỷ lệ bệnh
nhân có tác dụng không mong muốn nh: nôn, buồn
nôn, bí đái, ngứa, đau đầu, run, rét run, suy hô hấp và
tụt huyết áp ở hai nhóm nghiên cứu (p>0,05).
BàN LUậN
1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu:
(Bảng 1)
1.1. Giới: sự phân bố giữa nam và nữ ở hai nhóm
khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Nhóm
1 (nhóm nghiên cứu) và nhóm 2 (nhóm chứng) đều có
27 nam (tỷ lệ 90%) và 3 nữ (tỷ lệ 10%). Trong nghiên
cứu này, tỷ lệ BN nam (90%) cao hơn nữ (10%), kết
quả này cao hơn so với nghiên cứu của Đặng Thị
Châm[1] và Võ Thị Tuyết Nga [2] là 70%. Tỷ lệ nam
và nữ ở hai nhóm trong nghiên cứu của chúng tôi
tơng đơng nhau, điều này góp phần loại bỏ các yếu
tố gây nhiễu ảnh hởng đến đánh giá tác dụng giảm
đau sau mổ của MgSO
4
.
1.2. Tuổi: độ tuổi trung bình ở nhóm 1
(33,4713,16) và nhóm 2 (34,8711,56), khác biệt
không có ý nghĩa thống kê với p> 0,05. Kết quả này
tơng tự nh của Đặng Thị Châm[1], Võ Thị Tuyết
Nga[2] và Dabbagh.A[3], nhng thấp hơn kết quả của
Nguyễn Bá Tuân[4] và Mentes.O[5]. Tuổi trung bình
Y học thực hành (8
6
4
)
-
số
3/2013
101
của 2 nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng
tôi tơng đơng nhau, đây là điều kiện thuận lợi để
đánh giá chính xác hiệu quả giảm đau sau mổ của
MgSO
4
.
1.3. Chiều cao: chiều cao BN ở hai nhóm nghiên
cứu thấp nhất là 150cm và cao nhất là 176cm. Chiều
cao trung bình của nhóm 1 (163,84,4 cm) và của
nhóm 2 (165,55,6 cm). Sự khác biệt về chiều cao
trung bình giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê
(với p>0,05). Kết quả này tơng đơng với kết quả
của Đặng Thị Châm là 163cm [1], thấp hơn nghiên
cứu của Dabbagh.A[3] và Mentes.O[5]. Trong hai
nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt về chiều cao
nên đảm bảo thuốc khuếch tán trong dịch não tủy sau
GTTS là tơng đơng nhau về mặt thời gian.
1.4. Trọng lợng cơ thể: cân nặng trung bình của
nhóm 1 là 55,54,5 (kg) và nhóm 2 là 58,06,3 (kg);
khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Kết
quả này tơng đơng với nghiên cứu của Đặng Thị
Châm[1] nhng thấp hơn kết quả của Dabbagh[3].
Trong nghiên cứu này, chiều cao và cân nặng của
bệnh nhân ở 2 nhóm là tơng đơng nhau (p>0,05),
do đó ít ảnh hởng tới lợng thuốc tê và kết quả giảm
đau sau mổ.
2. Phân loại sức khỏe theo ASA (bảng 2): Trong
nghiên cứu này, tình trạng sức khỏe của 2 nhóm
nghiên cứu khác nhau không có ý nghĩa thống kê
(p>0,05). Nhóm 1: ASA I có 25 trờng hợp (83,3%),
ASA II có 5 trờng hợp (16,7%) và nhóm 2: ASA I có
26 trờng hợp (86,7%), ASA II có 4 trờng hợp
(13,3%). Tình trạng sức khỏe của BN ở 2 nhóm là tốt
và không ảnh hởng tới kết quả nghiên cứu.
3. Tác dụng ức chế vận động
3.1. Thời gian khởi phát liệt vận động ở mức
M
1
: thời gian khởi phát liệt vận động ở mức M
1
(theo
thang chia độ liệt vận động của Bromage) của hai
nhóm không có sự khác biệt (p>0,05). Kết quả này
của chúng tôi tơng đơng với nghiên cứu dùng
bupivacainfentanyl của Phạm Minh Đức [6] là
4,241,08 phút.
3.2. Thời gian phục hồi vận động ở mức M
1
: kết
quả ở bảng 3 cho thấy, thời gian phục hồi vận động ở
mức M
1
của 2 nhóm khác nhau không có nghĩa thống
kê (p>0,05). Thời gian phục hồi vận động ở mức M
1
của chúng tôi là 94,823,5 tơng đơng với nghiên cứu
của Nguyễn Ngọc Khoa [7] ở nhóm dùng bupivacain
fentanyl là 95,630,01 phút. Theo nghiên cứu của
Dabbagh. A[3] thấy truyền MgSO
4
kết hợp GTTS
không ảnh hởng đến quá trình phục hồi vận động của
BN. Nh vậy, truyền MgSO
4
tĩnh mạch trong mổ kết
hợp GTTS không ảnh hởng tới quá trình phục hồi vận
động của bệnh nhân trong và sau mổ.
4. Thời gian yêu cầu liều thuốc giảm đau đầu
tiên: Thời gian yêu cầu liều thuốc giảm đau đầu tiên
sau phẫu thuật ở nhóm truyền tĩnh mạch MgSO
4
trong mổ (180,243,3 phút) kéo dài hơn so với nhóm
chứng (155,042,5 phút), sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p<0,05). Thời gian yêu cầu liều thuốc giảm
đau đầu tiên sau mổ trong nghiên cứu này ngắn hơn
so với kết quả của Đặng Thị Châm (335,215,71
phút)[1]. Apan A và cộng sự[8] cũng cho kết quả
tơng tự nh nghiên cứu của chúng tôi, khi GTTS kết
hợp truyền tĩnh mạch MgSO
4
trong và sau mổ thấy
thời gian yêu cầu liều thuốc giảm đau đầu tiên của
nhóm đợc truyền MgSO
4
kéo dài hơn một cách có ý
nghĩa thống kê (p<0,05).
5. ảnh hởng lên HATB: Theo bảng 6, tơng tự
nh tần số tim, HATB cũng không có sự khác biệt
giữa hai nhóm ở tất cả các thời điểm nghiên cứu
(p>0,05). Sau gây tê, HATB của hai nhóm giảm dần
trong khoảng 10 phút đầu. Sau mổ, tại thời điểm H0
(thời điểm VAS 4), HATB của hai nhóm đều cao hơn
thời điểm trớc gây tê. Nh vậy, truyền MgSO
4
trong
mổ không ảnh hởng tới tần số tim và HATB. Kết quả
của chúng tôi tơng tự kết quả của Dabbagh.A[3],
việc truyền MgSO
4
không ảnh hởng đến tần số tim
và huyết áp của bệnh nhân.
4.6. Các tác dụng không mong muốn (bảng 7)
6.1. Buồn nôn, nôn: tỷ lệ BN có buồn nôn, nôn
giữa hai nhóm khác nhau không có ý nghĩa thông kê
(p>0,05). Nhóm 1 có 2/30 BN (6,7%), nhóm 2 có 3/30
BN (10%) xuất hiện buồn nôn, những trờng hợp
buồn nôn đều có biểu hiện sau khi lắp máy PCA; sau
GTTS và trong suốt quá trình phẫu thuật, cả hai
nhóm không có BN nào bị nôn, buồn nôn; sau GTTS
kết hợp truyền MgSO4, BN ở hai nhóm có tụt huyết
áp nhng không đáng kể nên trong mổ không có BN
biểu hiện nôn, buồn nôn. Kết quả tơng tự kết quả
của Đặng Thị Châm[1] nghiên cứu trên các BN giảm
đau bằng PCA sau phẫu thuật chi dới. Nghiên cứu
của Apan.A[8], Dabbagh.A[3] cho thấy không có sự
khác biệt về tỷ lệ nôn, buồn nôn khi phối hợp truyền
MgSO
4
và GTTS để dự phòng sau mổ giữa nhóm
nghiên cứu và nhóm chứng.
6.2. Bí đái: tỷ lệ BN bí đái sau mổ ở nhóm 1 là
3,3%, khi chờm nóng có kết quả tốt, không có BN
phải đặt sonde bàng quang. Tỷ lệ bí đái chung của cả
hai nhóm trong nghiên cứu tơng đơng kết quả của
Đặng Thị Châm[1] sử dụng PCA morphin để giảm
đau sau mổ. Tuy nhiên, do dùng bupivacain - fentanyl
GTTS nên chúng tôi khó phân biệt nguyên nhân gây
bí đái là do morphin hay do tê tủy sống.
6.3. Ngứa: tỷ lệ BN bị ngứa trong và sau mổ của
hai nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê
(p>0,05); chủ yếu ngứa ở mặt và cổ. Ngứa là tác
dụng phụ thờng gặp khi dùng fentanyl GTTS và
cũng do tác dụng phụ của morphin. Kết quả này thấp
hơn so với nghiên cứu của Lê Toàn Thắng[9].
6.4. Đau đầu: tỷ lệ BN có biểu hiện đau đầu ở hai
nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê. Nhóm 1 có
1 BN(3,3%), nhóm 2 có 1 BN(3,3%), kết quả này thấp
hơn nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Khoa[3] là 7,5%.
Những BN đau đầu trong nghiên cứu này đều ở mức độ
nhẹ, thoáng qua và tự mất, không phải dùng thuốc.
6.5. Run, rét run: tỷ lệ BN có biểu hiện run, rét
run của hai nhóm khác nhau nhng không có ý nghĩa
Y học thực hành (8
64
)
-
số
3
/201
3
102
thống kê (p>0,05). Nhóm 1 có 1 BN (3,3%) và nhóm
2 có 2 BN (6,7%). Có nhiều ý kiến khác nhau về
nguyên nhân gây run - rét run, nhiều tác giả cho rằng
đó là quá trình mất nhiệt do truyền dịch lạnh, nhiệt độ
phòng mổ thấp, thể trạng BN yếu, huyết áp tụt.
Những BN có biểu hiện run, rét run, chúng tôi xử lý
bằng ủ ấm và truyền dịch ấm, do vậy các BN này đều
ổn định.
KếT LUậN
- MgSO
4
liều 50mg/kg truyền tĩnh mạch trong và
sau mổ làm tăng hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật
chi dới mà không gây ức chế vận động. Thời gian
khởi phát liệt vận động và phục hồi vận động ở 2
nhóm tơng đơng nhau. Thời gian yêu cầu liều thuốc
giảm đau đầu tiên ở nhóm truyền MgSO
4
dài hơn so
với nhóm không truyền MgSO
4
.
- MgSO
4
không gây biến đổi huyết áp độngmạch
và độ bão hòa oxy. Tỷ lệ bệnh nhân bí đái, nôn, buồn
nôn, đau đầu, run, rét run và ngứa ở nhóm truyền
MgSO
4
không khác biệt so với nhóm không truyền
MgSO
4
.
TàI LIệU THAM KHảO
1. Đặng Thị Châm (2005), Đánh giá tác dụng giảm
đau sau mổ của nefopam trong phẫu thuật chấn thơng
chỉnh hình chi dới, Luận văn thạc sĩ y học. Trờng Đại
học Y Hà Nội.
2. Võ Thị Tuyết Nga (2003), Đánh giá hiệu quả
giảm đau sau mổ của meloxicam trong phẫu thuật chấn
thơng chỉnh hình chi dới, Luận văn thạc sĩ y học.
Trờng Đại học Y Hà Nội.
3. Dabbagh A, H. Elyasi, S.S. Razavi M. Fathi, et al
(2009), Intravenous Magnesium sulphate for post-
operative pain in patients undergoing lower limb
orthopedic surgery, Journal compilation, The Acta
Anaesthesiologica Scandinavica Foundation.
4. Nguyễn Bá Tuân (2011), Nghiên cứu tác dụng dự
phòng đau sau mổ của gabapentin trên bệnh nhân phẫu
thuật ổ bụng tại Bệnh viện Việt Đức, Luận văn tốt
nghiệp bác sĩ nội trú. Trờng Đại học Y Hà Nội.
5. Mentes.O, A.Harlak, T.Yigit, et al (2008), Effect
of intraoperatipve magnesium sulphate infustion on pain
relief after laparoscopic cholesystectomy, Acta
Anaesthesiol Scand; 52:1353-1359 Printed in Singapore
6. Phạm Minh Đức (2003), Nghiên cứu sử dụng
bupivacain kết hợp fentanyl gây tê tủy sống trong phẫu
thuật cắt tử cung, Luận văn thạc sĩ y khoa. Trờng Đại
học Y Hà Nội.
7. Nguyễn Ngọc Khoa (2008), Đánh giá hiệu quả vô
cảm của gây tê tủy sống bằng hỗn hợp bupivacain-
fentanyl so với bupivacain-sufentanil để phẫu thuật vùng
bụng dới và chi dới, Luận văn thạc sĩ y học. Trờng
Đại học Y Hà Nội.
8. Apan A, Buyukkocak U, Ozcan S, et al (2004),
Postoperative magnesium sulphate infusion reduces
analgesic requirements in spinal anaesthesia, Eur J
Anaesthesiol, Oct; 21(10):766-9.
9. Lê Toàn Thắng (2006), Nghiên cứu tác dụng
giảm đau dự phòng sau mổ bụng trên của nefopam
truyền tĩnh mạch trớc mổ ở các bệnh nhân có dùng
PCA morphin tĩnh mạch, Luận văn thạc sĩ y học. Trờng
Đại học Y Hà Nội
KIếN THứC Và THựC HàNH CủA CáC Bà Mẹ Về CHĂM SóC SứC KHỏE TRẻ EM
ở MộT Số TỉNH VùNG DUYÊN HảI NAM TRUNG Bộ
NGUYễN ĐứC THANH - Trờng Đại học Y Thái Bình
NGUYễN THANH Hà - TT Nghiên cứu Dân số và Sức khỏe Nông thôn
TóM TắT
Nghiên cứu điều tra cắt ngang mô tả đánh giá kiến
thức và thực hành của các bà mẹ đang nuôi con nhỏ
dới 2 tuổi trên địa bàn 3 tỉnh duyên hải Nam Trung bộ
về một số kiến thức chăm sóc sức khỏe trẻ em. Kết
quả: Hiểu biết của các bà mẹ về các dấu hiệu của trẻ
bị NKHH cấp còn hạn chế: dấu hiệu sốt và ho chỉ
đợc trên dới 55% số bà mẹ nhắc tới. Kiến thức của
các bà mẹ về cách phòng bệnh nhiễm khuẩn hô hấp
cấp cho trẻ cũng còn hạn chế; biện pháp quan trọng
và phổ cập nhất là Giữ ấm đờng thở cũng chỉ đợc
44,2% bà mẹ kể đến. Về các dấu hiệu bất thờng của
trẻ bị tiêu chảy cấp cần đợc đa đi khám ngay,
ngoài dấu hiệu "Đi ngoài liên tục" đợc đa số đối
tợng phỏng vấn kể đến (71,3%), các dấu hiệu khác
có không quá 32,3% đối tợng phỏng vấn nhắc tới.
Thực hành cân trẻ và theo dõi trẻ bằng biểu đồ tăng
trởng của các bà mẹ còn cha tốt và cha đồng đều
giữa các tỉnh: chỉ có 52,6% bà mẹ có con nhỏ nhất
của họ đợc cân và theo dõi bằng biểu đồ tăng
trởng, cao nhất ở Phú Yên (67,7%) và thấp nhất ở
Khánh Hòa (41,7%). Khi trẻ bị ho hoặc sốt, phần lớn
các bà mẹ đều đa con đến khám và điều trị tại cơ sở
y tế (77,7% và 75,6% theo thứ tự).
Từ khóa: kiến thức, thực hành, chăm sóc sức khỏe
trẻ em.
SUMMARY
The descriptive cross-sectional survey aims to
access the knowledge and practice of mothers raising
children under 2 years old on child health care in the
three coastal provinces of the South Central Region of
Viet Nam.
Results: The knowledge of the mother on
ideificaiton of the sign of acute respiratory infections in
children was weak: the signs of fever and cough were
reported by around 55% of them. The knowledge of
mothers on prevention of acute respiratory infections in