MỤC LỤC
Mục lục 1
Danh sách các hình 4
Danh sách các bảng 5
Mở đầu 6
PHẦN I- TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Chương một – Đặc điểm địa lý tự nhiên - kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 7
1.1- Vị trí địa lý 7
1.1.1- Toạ độ 7
1.1.2- Phạm vi thăm dò 7
1.2- Đặc điểm tự nhiên tỉnh Cà Mau 7
1.2.1- Đặc điểm khí tượng 7
1.2.2- Đặc điểm về đất 9
1.3- Đặc điểm kinh tế - xã hội 10
1.3.1- Dân số 10
1.3.2- Giáo dục 10
1.3.3- Y tế 10
1.3.4- Giao thông 11
1.3.5- Tình hình sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội 11
1.4- Sơ lược lịch sử nghiên cứu địa chất và khoáng sản khu vực 12
1.4.1- Giai đoạn trước năm 1975 12
1.4.2- Giai đoạn sau năm 1975 12
Chương hai - Đặc điểm địa chất khu vực 13
2.1- Đặc điểm chung 13
2.1.1- Đồng bằng rìa 13
2.1.2- Châu thổ ngầm 13
2.2- Đặc điểm địa chất trầm tích khu vực 16
2.2.1- Trầm tích Pleistocen 16
2.2.2- Trầm tích Holocen 16
2.3- Đặc điểm một số khoáng sản liên quan 23
Chương ba - Phương pháp nghiên cứu - công tác thăm dò và khối lượng thực hiện 26
3.1- Phương pháp nghiên cứu, thăm dò 26
3.1.1- Phương pháp nghiên cứu, thăm dò địa chất 26
3.1.2- Phương pháp nghiên cứu, thăm dò địa vật lý về địa chấn biển 28
3.2- Công tác tổ chức thăm dò và khối lượng thực hiện 30
3.2.1- Công tác bố trí và xác định mạng lưới lỗ khoan thăm dò 30
3.2.2- Công tác khảo sát, khoan đào, lấy mẫu 32
3.2.3- Công tác phân tích mẫu 39
3.2.4- Công tác thăm dò địa chấn biển 39
3.2.5- Khối lượng công tác đã thực hiện 40
1
PHẦN II- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương bốn- Đặc điểm địa chất các bãi cát ven biển 41
4.1- Một số đặc điểm khí tượng thủy văn liên quan đến sự hình thành các bãi cát
ven biển khu vực nghiên cứu 41
4.1.1- Hải lưu do gió 41
4.1.2- Sóng do gió 42
4.1.3- Thủy triều 44
4.1.4- Kết luận chung về đặc điểm thủy văn 45
4.2- Đặc điểm địa chất bãi thủy triều khu vực nghiên cứu 45
4.2.1- Chiều dày 45
4.2.2- Thành phần cấp hạt 46
4.2.3- Thành phần khoáng vật 46
4.2.4- Thành phần hóa học 47
4.2.5- Di tích động thực vật 47
4.2.6- Tính chất cơ lý 48
4.3- Đặc điểm địa chất bãi cát ngầm của khu vực nghiên cứu 50
4.3.1- Chiều dày 50
4.3.2- Thành phần cấp hạt 51
4.3.3- Thành phần khoáng vật 51
4.3.4- Thành phần hóa học 52
4.3.5- Tính chất cơ lý 52
Chương năm- Đặc điểm chất lượng 53
5.1- Bãi cát ven bờ 54
5.1.1- Khu vực Giá Lồng Đèn 55
5.1.2- Khu vực Giá Cao 61
5.1.3- Khu vực Hố Gùi 66
5.1.4- Chất lượng chung của các bãi cát khu vực ven bờ 69
5.2- Bãi cát ngầm 70
5.2.1- Khu A 70
5.2.2- Khu B 72
5.2.3- Khu C 73
5.2.4- Khu D 75
5.2.5- Đánh giá chung chất lượng cát khu vực bãi ngầm 78
5.3- Khu triển vọng của bãi cát ngầm 84
5.4- Nhận xét, so sánh chất lượng cát đã thăm dò đối với cát sử dụng san lấp 87
Chương sáu- Tính trữ lượng 88
6.1- Phương pháp tính trữ lượng 88
6.1.1- Phương pháp khối địa chất 88
6.1.2- Phương pháp trung bình số học 88
6.1.3- Ranh giới tính trữ lượng 89
6.2- Trữ lượng cát của các bãi cát ven bờ 89
6.2.1- Trữ lượng khu vực Giá Lồng Đèn 90
6.2.2- Trữ lượng khu vực Giá Cao 92
6.2.3- Trữ lượng khu VIII (khu vực Hố Gùi) 94
6.2.4- Trữ lượng chung của bãi cát ven bờ từ Giá Lồng Đèn đến Hố Gùi 94
2
6.3- Trữ lượng bãi cát ngầm 94
6.3.1- Cơ sở tài liệu tính trữ lượng 94
6.3.2- Trữ lượng cát Khu A 99
6.3.3- Trữ lượng cát Khu B 99
6.3.4- Trữ lượng cát Khu C 100
6.3.5- Trữ lượng cát Khu D 100
6.3.6- Trữ lượng chung của bãi cát ngầm 101
6.4- Trữ lượng cát khu vực triển vọng của bãi cát ngầm 101
Chương bảy - Đề nghị khai thác và sử dụng bãi cát ven bờ từ Giá Lồng Đèn đến Hố Gùi và
bãi cát ngầm 125
7.1- Nhận định chung cho việc đề xuất khai thác sử dụng các bãi cát vùng nghiên
cứu
7.1.1- Nhận định 125
7.1.2- Hiện trạng và định hướng sử dụng 125
7.2- Đề xuất giải pháp khai thác sử dụng 128
7.2.1- Khai thác sử dụng cho cát san lấp 128
7.2.2- Khai thác sử dụng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản 130
7.2.3- Khai thác sử dụng trong lĩnh vực giải trí, du lịch 131
7.2.4- Phục vụ công tác quản lý tài nguyên môi trường 132
Kết luận 133
Tài liệu tham khảo 136
3
DANH SÁCH CÁC HÌNH
H1- Sơ đồ ảnh vị trí khu vực nghiên cứu, thăm dò 8
H2- Sơ đồ các bộ phận châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long 14
H3- Sơ đồ trầm tích đáy biển 15
H4- Sơ đồ Địa chất trầm tích vùng nghiên cứu tỷ lệ 1/50.000 25
H5- Sơ đồ mạng lưới khoan thăm dò dự kiến khu vực Giá Lồng Đèn - Hố Gùi 33
H6- Sơ đồ mạng lưới khoan thăm dò thực tế khu vực Giá Lồng Đèn – Hố Gùi 34
H7- Sơ đồ mạng lưới khoan thăm dò khu vực Cửa Bồ Đề 35
H8- Sơ đồ mạng lưới khoan thăm dò dự kiến bãi cát ngầm 36
H9- Sơ đồ mạng lưới khoan thăm dò thực tế bãi cát ngầm 37
H10- Sơ đồ phân bố chất lượng cát khu vực Giá Lồng Đèn tỷ lệ 1/10.000 79
H11- Sơ đồ phân bố chất lượng cát khu vực Giá Cao tỷ lệ 1/10.000 80
H12- Sơ đồ phân bố chất lượng cát khu vực Hố Gùi tỷ lệ 1/10.000 81
H13- Sơ đồ phân bố chất lượng cát khu A và khu B của bãi cát ngầm tỷ lệ 1/25.000 82
H14- Sơ đồ phân bố chất lượng cát khu C và khu D của bãi cát ngầm tỷ lệ 1/25.000 83
H15- Sơ đồ phần bố chất lượng cát khu triển vọng 86
H16- Sơ đồ tính trữ lượng cát của khu vực Giá Lồng Đèn tỷ lệ 1/10.000 119
H17- Sơ đồ tính trữ lượng cát của khu vực Giá Cao tỷ lệ 1/10.000 120
H18- Sơ đồ tính trữ lượng cát của khu vực Hố Gùi tỷ lệ 1/10.000 121
H19- Sơ đồ tính trữ lượng khu A và khu B của bãi cát ngầm tỷ lệ 1/25.000 122
H20- Sơ đồ tính trữ lượng khu C và khu D của bãi cát ngầm tỷ lệ 1/25.000 123
H21- Sơ đồ tính trữ lượng khu vực triển vọng 124
4
DANH SÁCH CÁC BẢNG
B1- Bảng đặc điểm kỹ thuật chung của bộ xử lý trên 3200-XS 29
B2- Bảng chỉ tiêu kỹ thuật của thiết bị SB-216S 29
B3- Bảng khối lượng công tác đã thực hiện 40
B4- Bảng chất lượng cát của bãi cát ven bờ 69
B5- Bảng chất lượng cát của bãi cát ngầm 78
B6- Bảng so sánh chất lượng cát ở một số khu vực 87
B7- Bảng tính trữ lượng cát của bãi cát ven bờ 105
B8- Bảng tính trữ lượng cát của bãi cát ngầm 108
B9- Bảng tính trữ lượng cát của khu triển vọng 115
B10- Bảng tóm tắt trữ lượng cát của các khu và các bãi cát đã thăm dò 118
5
MỞ ĐẦU
Trong sự phát triển về kinh tế - xã hội, nhu cầu về khai thác sử dụng các bãi cát ven
biển phục vụ cho các nhu cầu: cát san lấp, du lịch, nuôi trồng, … ngày càng gia tăng nhất
là những khu vực khan hiếm các bãi cát này như tỉnh Cà Mau. Để đánh giá đầy đủ các bãi
cát ven biển cần thiết phải có thăm dò, tìm kiếm xác định về phân bố, đặc điểm, chất
lượng, trữ lượng,… của bãi cát. Trước nhu cầu trên, Viện Địa lý Tài nguyên TP.HCM
(trước đây là Phân Viện Địa Lý Tại TP.HCM) được Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh Cà
Mau dưới sự chỉ đạo của UBND Tỉnh, yêu cầu chủ trì thực hiện đề tài “Khảo sát, đánh giá
trữ lượng, chất lượng bãi cát ven biển từ khu vực Giá Lồng Đèn đến khu vực cửa Rạch
Gốc và đề xuất giải pháp khai thác sử dụng hợp lý, bền vững”.
Mục tiêu của đề tài nhằm:
- Xác định trữ lượng, chất lượng các bãi cát ven biển từ khu vực Giá Lồng Đèn đến
khu vực cửa rạch Gốc. Trong đó, cụ thể là bãi cát ven bờ từ cửa Giá lồng Đèn đến cửa Bồ
Đề và bãi cát ngầm phía đông Hòn Khoai.
- Đề xuất giải pháp khai thác sử dụng các bãi cát hợp lý, hiệu quả và bảo vệ môi
trường.
Để đáp ứng các mục tiêu trên, đề tài đã tiến hành thực hiện nhiều nội dung. Trong
đó, các nội dung chủ yếu, gồm:
- Thực hiện mạng lưới khoan thăm dò, lấy mẫu,… để đánh giá trữ lượng cát.
- Đo địa chấn nông trên biển để xác định chiều dày, cấu trúc lớp cát nơi bãi cát
ngầm.
- Phân tích mẫu vật để đánh giá chất lượng cát ở các khu vực, gồm: thành phần cấp
hạt, thành phần khoáng vật, thành phần hóa học, tính chất cơ lý,…
- Lập báo cáo tổng kết, gồm 7 chương, 138 trang, 21 hình, 10 biểu bảng và phụ lục
đính kèm tài liệu và số liệu phân tích. Trong báo cáo gồm hai phần chính: Phần I (Tổng
quan về khu vực nghiên cứu, gồm chương 1, chương 2 và chương 3); Phần II (Kết quả
nghiên cứu, gồm các chương 4, chương 5, chương 6 và chương 7).
- Các sản phẩm bản đồ, sơ đồ được thực hiện đầy đủ nhưng do tỉ lệ lớn nên được
đính kèm riêng. Trong báo cáo chỉ có các bản đồ và sơ đồ chính thu nhỏ kèm theo để dễ
theo dõi.
Trong quá trình thực hiện, tập thể tác giả chân thành cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ
chân tình của:
- Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Cà Mau.
- Sở Khoa Học & Công Nghệ tỉnh Cà Mau.
- Sở Tài Nguyên Môi trường và các Sở, Ban ngành khác có liên quan, Ủy Ban Nhân
Dân huyện Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển, đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của Bộ Đội
Biên Phòng tỉnh Cà Mau, Trạm Biên phòng Hố Gùi. Ngoài ra, chúng tôi cũng chân thành
cảm ơn đến những người dân địa phương đã tham gia giúp đỡ nhiệt tình trong công tác
khảo sát thực địa.
Chúng tôi chân thành cảm ơn Viện Địa Lý Tài Nguyên TP.HCM và các đồng
nghiệp đã tham gia hoặc tư vấn, ủng hộ trong quá trình thực hiện đề tài.
6
CHƯƠNG MỘT
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
VÙNG NGHIÊN CỨU
1.1- VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
1.1.1- Tọa độ
Vùng nghiên cứu chủ yếu nằm ở các huyện ven biển và thuộc bờ biển Đông của tỉnh
Cà Mau, gồm các huyện: Đầm Dơi, Năm Căn và Ngọc Hiển. Tọa độ địa lý các khu vực
khảo sát thăm dò: (H1)
+ Khu vực bãi cát ven bờ:
- Từ 8
o
49'30" đến 8
o
58'24" vĩ độ bắc.
- Từ 105
o
19'04" đến 105
o
23'14" kinh độ đông.
+ Khu vực bãi cát ngầm phía đông Hòn Khoai:
- Từ 8
o
27'35" đến 8
o
34'23" vĩ độ bắc.
- Từ 104
o
54'08" đến 105
o
18'34" kinh độ đông.
1.1.2- Phạm vi thăm dò
- Khu vực tiến hành thăm dò bãi cát ven bờ (từ Giá Lồng Đèn đến Hố Gùi) thuộc
trầm tích bãi thủy triều. Chiều dài khu vực thăm dò khoảng 15 km, chiều rộng từ bờ ra phía
biển khảng 500 m trở lại. Tuy nhiên, trong quá trình thăm dò thực tế cho thấy bãi cát ven
bờ có diện phân bố rộng hơn (có nơi từ bờ ra biển rộng khoảng 700 m, chiều dài chung
16.030 m). Do đó, chúng tôi đã mở rộng thêm phạm vi thăm dò để nghiên cứu và đánh giá
bãi cát đầy đủ hơn.
- Khu vực thăm dò bãi cát ngầm thuộc trầm tích biển. Chiều dài khu khảo sát thăm
dò khoảng 25 km, chiều rộng trung bình khoảng 2 km diện tích khoảng 50 km
2
. Bãi cát
ngầm phân bố ở độ sâu 5-10 m dưới mực biển, có phương gần song song và cách bờ biển
Bồ Đề - Rạch Gốc khoảng 15-20 km về phía đông nam.
1.2- ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN TỈNH CÀ MAU
1.2.1- Đặc điểm khí tượng
Tỉnh Cà Mau nằm ở vĩ độ thấp, có hai mặt giáp với biển, địa hình - địa mạo tương
đối bằng phẳng. Vùng ven biển được bao phủ bởi rừng ngập mặn rộng lớn. Chế độ khí hậu
của Cà Mau nói chung tương đối đồng nhất, thể hiện tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Vùng nghiên cứu từ Giá Lồng Đèn đến Rạch Gốc cũng nằm trong chế độ khí hậu này.
7
H1- SƠ ĐỒ VỊ TRÍ KHẢO SÁT
8
1.2.1.1- Phân mùa
Trên cơ sở số liệu thu thập nhiều năm của Trạm Khí Tượng Cà Mau cho thấy hàng
năm khu vục tỉnh Cà Mau được phân chia thành hai mùa rõ rệt.
+ Mùa khô: gió mùa Đông, bắt đầu trong khoảng thời gian từ giữa tháng 11 tới đầu
tháng 12 và kết thúc vào tháng 4 năm sau. Mùa này, thời tiết hầu như không mưa. Trung
bình cả thời kỳ có khoảng từ 7 đến 15 ngày mưa và có lượng tập trung chủ yếu vào tháng
đầu và tháng cuối mùa khô. Thời gian không mưa có thể kéo dài cả tháng, thậm chí có năm
kéo dài đến ba, bốn tháng. Mùa khô là mùa có thời gian nắng khá cao, tổng số giờ nắng
trong các tháng đều trên 200 giờ, nghĩa là trung bình mỗi ngày có trên 6,5 giờ nắng. Tháng
2 và tháng 3 nắng nhiều nhất, trung bình có trên 8 giờ.
+ Mùa mưa: gió mùa Mùa Hạ, bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào khoảng giữa tháng
11. Khu vực phía tây nam của Tỉnh, mùa mưa thường bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn
hơn. Tổng lượng mưa năm tập trung chủ yếu vào mùa mưa. Lượng mưa trung bình hàng
năm trên 2000 mm, chiếm đến 90 % tổng lượng mưa cả năm. Tổng số giờ nắng trong mùa
mưa giảm đi rõ rệt do lượng mây tăng lên, mỗi tháng chỉ có 120 - 200 giờ, trung bình mỗi
ngày chưa tới 5 giờ nắng.
1.2.1.2- Nhiệt độ
Cà Mau có một nền nhiệt độ cao, ít thay đổi trong năm và cũng ít biến động. Nhiệt
độ không khí trung bình năm ở hầu hết các nơi nói chung đều đạt từ 26,5 - 27,0
o
C . Nhiệt
độ cao nhất thường xảy ra lúc 13 giờ, trung bình đạt từ 30 - 34
o
C. Nhiệt độ thấp nhất
thường xảy ra vào trước lúc mặt trời mọc, trung bình từ 21 - 25
o
C. Dao động ngày đêm
của nhiệt độ cũng khá lớn và thay đổi theo mùa. Mùa khô, biên độ nhiệt trung bình ngày
dao động khoảng từ 8 - 10
o
C. Mùa mưa, do thời tiết nhiều mây, mưa nhiều, đặc biệt phổ
biến kiểu mưa dông nhiệt đới xảy ra vào sau trưa làm giảm đáng kể nhiệt độ cao nhất trong
ngày nên biên độ nhiệt trung bình ngày chỉ còn 6 - 7
o
C.
1.2.1.3- Gió
Gió là chuyển động theo phương nằm ngang của không khí. Hai đặc trưng cơ bản
của gió mà ta thường chú ý là hướng gió và tốc độ gió. Diễn biến của chế độ gió trong năm
thể hiện rõ nét theo hai mùa: mùa khô và mùa mưa. Mùa khô thịnh hành là hướng gió đông
bắc. Mùa mưa thịnh hành là hướng gió tây và tây nam. Tốc độ gió trung bình năm trong
đất liền chỉ từ 1,5 đến 2,0 m/s. Ngoài khơi gió mạnh hơn cũng chỉ từ 2,5 - 3,5 m/s và ít
biến động.
Thường thường về đêm, gió nhẹ hoặc lặng gió. Ngược lại ban ngày gió lại khá
mạnh, nhất là vào buổi chiều tốc độ gió thường đạt trên 2 m/s. Tốc độ gió trung bình lúc 13
giờ ở hầu hết các tháng đều đạt trên 2,5 m/s, ở vùng ven biển trên 4 m/s.
1.2.2- Đặc điểm về đất
Trong khu vực khảo sát ven bờ biển bao gồm một số các loại đất chính:
- Đất phèn tiềm tàng nông, dưới rừng ngập mặn (Sp
1
Mm): chiếm diện tích chủ yếu.
9
- Đất phèn tiềm tàng sâu, dưới rừng ngập mặn (Sp
2
Mm): phân bố thành dải hẹp dọc
bờ biển Đông.
Hiện trạng sử dụng đất khu vực ven bờ cho thấy loại hình chủ yếu là rừng ngập
mặn. Kế đến là loại hình sử dụng đất kết hợp của rừng ngập mặn và nuôi tôm. Ngoài ra còn
có một diện tích rất nhỏ đất thổ canh - thổ cư ven các bờ sông rạch lớn trong vùng.
1.3- ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI
Theo các tài liệu niên giám thống kê năm 2010 của cục thống kê tỉnh Cà Mau (xuất
bản 4/2011), các đặc điểm về kinh tế xã hội khu vực khảo sát thăm dò, bao gồm:
1.3.1- Dân số
- Huyện Đầm Dơi gồm 15 xã, 01 thị trấn, có dân số 182.332 người, mật độ dân số
222 người/km
2
, bao gồm 41.167 hộ dân. Số cơ sở kinh tế cá thể phi nông, lâm nghiệp và
thủy sản là 6.676 cơ sở; số lao động là 11.525.
- Huyện Năm Căn gồm 07 xã, 01 thị trấn, có dân số 66.261 người, mật độ dân số
134 người/km
2
, bao gồm 16.611 hộ dân. Số cơ sở kinh tế cá thể phi nông, lâm nghiệp và
thủy sản là 3.531 cơ sở; số lao động là 6.051.
- Huyện Ngọc Hiển gồm 06 xã, 01 thị trấn, có dân số 78.418 người, mật độ dân số
107 người/km
2
, bao gồm 19.571 hộ dân. Số cơ sở kinh tế cá thể phi nông, lâm nghiệp và
thủy sản là 2.621 cơ sở; số lao động là 6.064.
1.3.2- Giáo dục
- Huyện Đầm Dơi có 3 trường THPT, 15 trường THCS, 39 trường tiểu học và 14
trường mẫu giáo (công lập). Số giáo viên phổ thông là 1.438; số học sinh phổ thông là
29.605.
- Huyện Năm Căn có 1 trường THPT, 9 trường THCS, 17 trường tiểu học và 9
trường mẫu giáo (công lập). Số giáo viên phổ thông là 592; số học sinh phổ thông là
10.653.
- Huyện Ngọc Hiển có 5 trường THCS, 20 trường tiểu học và 5 trường mẫu giáo
(công lập). Số giáo viên phổ thông là 538; số học sinh phổ thông là 11.003.
1.3.3- Y tế
- Huyện Đầm Dơi có các cơ sở y tế Nhà nước, gồm: 1 bệnh viện (120 giường). Cán
bộ ngành y, gồm: 36 bác sĩ, 117 y sĩ, 37 y tá, 32 trình độ khác.
- Huyện Năm Căn có các cơ sở y tế Nhà nước, gồm: 1 bệnh viện (160 giường). Cán
bộ ngành y, gồm: 52 bác sĩ, 191 y sĩ, 9 y tá, 38 trình độ khác.
- Huyện Ngọc Hiển có các cơ sở y tế Nhà nước, gồm: 1 bệnh viện (50 giường), 1
phòng khám khu vực (10 giường). Cán bộ ngành y, gồm: 22 bác sĩ, 77 y sĩ, 23 y tá, 19
trình độ khác.
10
1.3.4- Giao thông
Với đặc thù của địa phương là sông rạch chằng chịt, có nhiều cửa sông rạch thông
ra biển. Người dân chủ yếu đi lại bằng xuồng, đò dọc, xe gắn máy,… Hiện nay, tuyến đi lại
giữa Xã - Huyện - TP.Cà Mau đã có một số tuyến tàu cao tốc, bình quân mất khoảng hơn 2
giờ để đi từ TP. Cà Mau đến cửa Hố Gùi. Riêng những tuyến chưa có lộ nông thôn, việc đi
lại của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn.
- Huyện Đầm Dơi có 4 xã có đường nhựa, bê tông; 12 xã chưa có đường dành cho ô
tô.
- Huyện Năm Căn có 3 xã có đường nhựa, bê tông; 5 xã chưa có đường dành cho ô
tô.
- Huyện Ngọc Hiển chưa có xã nào có đường nhựa, bê tông dành cho ô tô. Người
dân đi lại chủ yếu bằng đường thủy.
1.3.5- Tình hình sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội
- Huyện Đầm Dơi có diện tích cây lương thực có hạt là 106 ha, sản lượng 379 tấn.
Diện tích các loại hoa màu (bắp, khoai, mì, khoai lang) khoảng 118 ha. Diện tích cây công
nghiệp hàng năm là 66 ha. Diện tích rừng trồng mới tập trung 50 ha; tổng diện tích rừng
7.624 ha. Giá trị sản xuất lâm nghiệp là 5.289 triệu đồng. Diện tích mặt nước nuôi trồng
thủy sản là 65.717 ha, có 65.583 ha nuôi tôm. Sản lượng thủy sản 78.093 tấn, trong đó khai
thác là 13.547 tấn và nuôi trồng là 64.546 tấn. Giá trị sản xuất thủy sản là 3.850.198 triệu
đồng. Thực trạng đường dây điện (lưới quốc gia) đã xây dựng đến 16 phường, xã, thị trấn.
- Huyện Năm Căn có diện tích cây lương thực có hạt là 96 ha, sản lượng 335 tấn.
Diện tích các loại hoa màu (bắp, khoai, mì, khoai lang) khoảng 85 ha. Diện tích cây công
nghiệp lâu năm là 5 ha. Diện tích rừng trồng mới tập trung 430 ha; tổng diện tích rừng
13.647 ha. Giá trị sản xuất lâm nghiệp là 36.892 triệu đồng. Diện tích mặt nước nuôi trồng
thủy sản là 25.673 ha, có 25.661 ha nuôi tôm. Sản lượng thủy sản 20.725 tấn, trong đó khai
thác là 3.510 tấn và nuôi trồng là 17.215 tấn. Giá trị sản xuất thủy sản là 1.445.033 triệu
đồng. Thực trạng đường dây điện (lưới quốc gia) đã xây dựng đến 8 phường, xã, thị trấn.
- Huyện Ngọc Hiển có diện tích cây lương thực có hạt là 34 ha, sản lượng 128 tấn.
Diện tích các loại hoa màu (bắp, khoai, mì, khoai lang) khoảng 105 ha. Diện tích cây công
nghiệp hàng năm là 14 ha. Diện tích rừng trồng mới tập trung 1.112 ha; tổng diện tích rừng
37.073 ha. Giá trị sản xuất lâm nghiệp là 34.843 triệu đồng. Diện tích mặt nước nuôi trồng
thủy sản là 24.901 ha, có 24.469 ha nuôi tôm. Sản lượng thủy sản 46.009 tấn, trong đó khai
thác là 24.685 tấn và nuôi trồng là 21.324 tấn. Giá trị sản xuất thủy sản là 1.905.027 triệu
đồng. Thực trạng đường dây điện (lưới quốc gia) đã xây dựng đến 7 phường, xã, thị trấn.
11
1.4- SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN KHU VỰC
1.4.1- Giai đoạn trước năm 1975
Trước năm 1975, nhà địa chất Pháp E. Saurin (1962) đã thành lập tờ bản đồ địa chất
và khoáng sản tờ Vĩnh Long tỉ lệ 1/500.000, trong đó có khu vực tỉnh Cà Mau. Tài liệu này
chỉ thể hiện đến vùng nghiên cứu bởi một đơn vị là phù sa mặn.
1.4.2- Giai đoạn sau năm 1975
- Năm 1975-1978, tác giả Nguyễn Xuân Bao và nnk đã thành lập bản đồ địa chất và
khoáng sản miền Nam Việt Nam tỉ lệ 1/500.000. Tài liệu này thể hiện ở vùng nghiên cứu
bởi một đơn vị địa chất là trầm tích Holocen.
- Năm 1980-1989, Tổng Cục Địa chất đã thành lập bản đồ địa chất và khoáng sản
vùng Đồng bằng Nam bộ tỉ lệ 1/200.000 (Nguyễn Ngọc Hoa chủ biên). Năm 1996, Cục
Địa Chất Việt Nam xuất bản "Địa chất và khoáng sản, Tờ Cà Mau - Bạc Liêu" trên cơ sở
hiệu đính loạt tờ Đồng bằng Nam bộ tỉ lệ 1/200.000. Các tài liệu này thể hiện khu vực
nghiên cứu gồm các đơn vị : Trầm tích biển - đầm lầy (mbQ
2
3
) và trầm tích biển (mQ
2
3
).
Các tài liệu liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài, bao gồm:
- Năm 1998, Trung Tâm Địa chất khoáng sản biển thành lập báo cáo "Địa chất và
khoáng sản vùng biển nông ven bờ (0-30 m nước) Cà Mau - Bạc Liêu tỉ lệ 1/500.000
(Nguyễn Biểu chủ nhiệm dự án). Tài liệu này đã cung cấp một số thông tin về địa chất cho
vùng rộng lớn và chủ yếu là dưới đáy biển qua các tài liệu khảo sát bằng các phương pháp
địa vật lý biển (địa chấn nông độ phân giải cao, lấy mẫu, đo đạc dòng chảy,…).
- Năm 1999, Công Ty Địa Chất và khoáng sản (Geosimco) báo cáo thông tin "Kết
quả điều tra khảo sát cát san lấp (đoạn từ cửa Bồ Đề đến Mũi Cà Mau), tỉnh Cà Mau". Tài
liệu này cung cấp một số thông tin sơ bộ về đặc điểm chất lượng và trữ lượng dự đoán
của các thân cát phân bố dọc ven biển từ của Bồ Đề đến Mũi Cà Mau. Báo cáo đã nêu một
số nhận xét ban đầu rất đáng quan tâm và tham khảo cho đề tài đang tiến hành của chúng
tôi.
- Tài liệu Bản đồ địa hình tỉ lệ 1/25.000 năm 2003 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường, gồm các tờ Tân Long A (C-48-79-B-a), tờ Kênh 17 (C48-79-A-d), và tờ Vàm Đầm
(C-48-79-B-c). Đều là cơ sở để lập mạng lưới khoan dự kiến cho các bãi cát ven bờ.
- Tài liệu “Bản đồ địa hình khu vực biển tỉnh Cà Mau” của Cục đo đạc Bản đồ Nhà
nước năm 2003. Dựa trên cơ sở địa hình đáy biển của khu vực nghiên cứu, đặc biệt là Bãi
cát ngầm, đã phát hiện và khoanh vùng “dải cồn cát ngầm” phân bố song song và cách bờ
biển Bồ Đề - Rạch Gốc” khoảng 15-20 km. Dải cồn này phân bố theo phương đông bắc -
tây nam.
Tất cả những thông tin từ các tài liệu thu thập kể trên và tài liệu của chính nhóm tác
giả thực hiện là cơ sở chủ yếu để lập đề cương nghiên cứu và thăm dò của đề tài.
12
CHƯƠNG HAI
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC
2.1- ĐẶC ĐIỂM CHUNG
Châu thổ sông Cửu Long có nhiều bộ phận (H2), trong đó liên quan đến các đối
tượng nghiên cứu thăm dò của đề tài, gồm:
2.1.1- Đồng bằng rìa (marginal plain)
Đồng bằng rìa là một bộ phận lớn nằm về phía tây nam và dưới dòng của sông Hậu.
Nó nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của sông Hậu và chịu ảnh hưởng của quá trình
biển. Ranh giới tự nhiên ở phía bắc là từ Rạch Giá đến Thạnh Trị rồi ngoặt về Bạc Liêu;
phía tây là biển Tây; phía đông và đông nam là biển Đông.
Móng đá nằm dưới đồng bằng rìa không sâu lắm vì có dấu hiệu các điểm lộ của đá
gốc ven biển. Đó là Hòn Khoai, Hòn Buông, Hòn Chuối, Hòn Đá Bạc,…
Điểm nổi bật trong quá trình phát triển là sự vận chuyển của vật liệu trầm tích từ các
cửa sông xuôi về phía tây nam. Mũi Cà Mau là kết quả của quá trình vận chuyển này. Với
tốc độ lấn biển từ 60 - 80 m/năm.
Các trầm tích của đồng bằng rìa là đồng thủy triều cao, đồng thủy triều thấp, giồng
cát, giồng bùn, đầm lầy ven biển ở U Minh, Phước Long và đầm lầy ven biển mới, bãi thủy
triều. Trong đó, bãi thủy triều là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài.
Phía biển Đông, bờ biển chủ yếu tiếp giáp với rừng ngập mặn của đầm mặn mới.
Ngoại trừ một vài đoạn, bờ biển tiếp cận với giồng hoạt động.
Các bãi cát ven bờ từ Giá Lồng Đèn đến Hố Gùi phân bố trong bãi thủy triều của
đồng bằng rìa.
2.1.3- Châu thổ ngầm (Subaqueous deltaic plain)
Châu thổ ngầm hay châu thổ dưới nước hay còn gọi là tiền châu thổ. Châu thổ ngầm
là một dải hẹp ôm lấy đường bờ kéo dài từ Vũng Tàu đến Mũi Cà Mau với chiều rộng từ
25-30 km. Ranh giới ngoài trùng với đường đẳng sâu 20-22 m.
Châu thổ ngầm của hệ thống sông Cửu Long có thể chia thành 2 vùng nhỏ từ trong
ra ngoài:
- Phần trong là một bề mặt bằng phẳng rộng khoảng 5-10 km, phân bố từ bờ biển
đến độ sâu 3 m. Bề mặt phân cắt yếu, độ dốc nhỏ, thường < 2’. Vật liệu trầm tích chủ yếu
là cát mịn.
13
- Phần ngoài nằm xa bờ hơn, rộng khoảng 10 km, phân bố ở độ sâu 5-20 m, dốc hơn
phần trong, trung bình 10’ - 15’. Vật liệu trầm tích chủ yếu là bùn sét. Cả hai phần đều
nằm trong vùng vật liệu mịn, gồm bùn lẫn cát.
Bãi cát ngầm đã thăm dò phân bố trong phạm vi của châu thổ ngầm.
14
15
Vật liệu thuộc hệ thống sông Cửu Long mang từ lục địa ra phần lớn lắng đọng trong
vùng châu thổ ngầm, chỉ có một phần rất nhỏ mang ra ngoài. Điều này dễ nhận ra trên bản
đồ phân bố.
Dưới các tác nhân của biển, đặc biệt là sóng biển, vật liệu được phân bố lại để hình
thành nên các dạng địa hình như mũi tên cát, doi cát ven bờ. Về lâu dài, các doi cát ngầm
có thể lộ ra ngoài và nằm song song với bờ biển hoặc giồng cát trên lục địa.
Châu thổ ngầm được hình thành sau biển tiến Flandrian có thể có tuổi Holocen
muộn (Q
2
3
).
2.2- ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT TRẦM TÍCH KHU VỰC
Khu vực nghiên cứu chủ yếu liên quan đến các huyện ven bờ biển phía nam tỉnh
Cà Mau. Trong đó, chủ yếu là các huyện: Đầm Dơi, Năm Căn và Ngọc Hiển. Trong phần
địa chất khu vực, chúng tôi chủ yếu tập trung vào các đơn vị địa chất phân bố bề mặt thuộc
Phù sa mới (trầm tích Holocen) và nhất là các đơn vị có liên quan đến bãi cát thăm dò.
Ngoài ra, cũng đề cập một số đặc điểm về Phù sa cổ (trầm tích Pleistocen) phân bố ở độ
sâu đến vài chục mét trong khu vực.
2.2.1- Trầm tích Pleistocen (Phù sa cổ)
Phù sa cổ hay trầm tích Pleistocen muộn thuộc Hệ tầng Long Mỹ, mQ
1
3
lm (Cục
Địa chất Việt Nam, 1996). Hệ tầng Long Mỹ bị phủ bất chỉnh hợp bởi các trầm tích
Holocen. Chiều dày thay đổi từ 20 – 30 m. Bề mặt Phù sa cổ thường phân bố khá sâu: ở
Năm Căn là 41,3 m (lỗ khoan 216 Năm Căn); ở Cà Mau là 34m (lỗ khoan 215A Cà Mau),
…
Trước đây, ở bãi cát thủy triều Khai Long, chúng tôi có thực hiện một lỗ khoan sâu
40 m để tìm hiểu chung về cấu trúc địa chất và địa chất công trình chung của khu vực.
Trong lỗ khoan này, cho thấy bề mặt Phù sa cổ nằm ở độ sâu 33 m; một lỗ khoan tham
khảo khác ở Rạch Tàu là 28 m.
Đây là lớp sét bột, bị laterit hóa nhẹ có màu vàng, nâu hoặc loang lổ đỏ vàng, dẻo
chặt. Phù sa cổ có độ dẻo cao, rất dễ phân biệt với lớp sét mặn, mềm nhão nằm bên trên. Ở
ĐBSCL, lớp sét Phù sa cổ lộ ra dọc theo biên giới Việt nam - Campuchia hoặc nằm gần
mặt đất dọc theo bờ biển Rạch Giá - Hà Tiên. Trong phạm vi thuộc tỉnh Cà Mau, chưa phát
hiện được lớp sét Phù sa cổ nằm lộ ra trên mặt đất ngay cả trên các hải đảo. Sét Phù sa cổ
là nguyên liệu phong phú cho sản xuất gạch ngói và nền móng thuận lợi cho các công trình
xây dựng.
2.2.2- Trầm tích Holocen (Phù sa mới)
Phù sa mới chiếm toàn bộ diện tích bề mặt vùng nghiên cứu, chiều dày chung
khoảng vài chục mét và được hình thành từ 10.000 năm trở lại đây. Các trầm tích của phù
sa mới bao gồm: (H4)
16
- Trầm tích Holocen giữa (Q
2
2
): chủ yếu là trầm tích biển hình thành trong giai đoạn
biển tiến (cực đại khoảng 6.000 năm cách đây).
- Trầm tích Holocen trên (Q
2
3
): gồm các trầm tích có nhiều nguồn gốc khác nhau,
hình thành trong giai đoạn biển lùi (sau 6.000 năm cách đây).
Dựa vào các kết quả nghiên cứu về nguồn gốc, thời gian thành tạo, thành phần vật
chất, cơ chế trầm tích, di tích cổ sinh, tuổi tuyệt đối,… có thể chia các trầm tích của Phù sa
mới nơi vùng nghiên cứu thành nhiều đơn vị khác nhau. Phù sa mới là các trầm tích trẻ phủ
ở trên mặt đất hiện nay của khu vực. Các trầm tích này bao gồm: Sét biển Holocen giữa
(mQ
2
2
), bãi thủy triều (mQ
2
3
), giồng cát hay giồng (mvQ
2
3
), sông-biển hay đồng thủy triều
(amQ
2
3
), đầm lầy ven biển mới hay đầm mặn mới (mbQ
2
3
).
2.2.2.1- Trầm tích biển Holocen giữa (mQ
2
2
)
Trầm tích này do biển tiến Holocen giữa để lại. Lúc bấy giờ, biển phủ hầu hết vùng
nghiên cứu. Vật liệu do biển để lại khá đều đặn và khá liên tục. Các lỗ khoan nông vài
thước thì gặp ngay nhóm trầm tích này. Đây là lớp bùn xám xanh giàu di tích sinh vật, đặc
biệt là nhóm Trùng Lỗ. Các đại biểu sống bám đáy thuộc biển nông chiếm ưu thế. Mức độ
bảo tồn các giống loài tốt và thường phân bố theo một qui luật nhất định về không gian lẫn
thời gian (Nguyễn Ngọc, 1980). Bên cạnh các di tích động vật, trầm tích này còn chứa
những di tích thực vật, đặc biệt là các giống loài thuộc thực vật rừng ngập mặn.
Các kết quả phân tích Foraminifera (Trùng lỗ), cho thấy các thành phần giống loài
bao gồm:
- Rotalia trispinosa; Rotalia ozawai; Rotalia takanabensis; Rotalia
schroentheriana; Rotalia japonica; Rotalia nipponica; Ammonia indopacifica; Eponides
concameratus; Gyroidina cf. soldanii; Cancris auriculus; Elphidium craticulatum;
Elphidium advenum; Elphidium jenseni; Elphidium subincertum; Elphidium fax
barbaense; Nonion grateloupi; Pseudononion kanbaraense; Quinqueloculina curta;
Quinqueloculina seminular; Quinqueloculina polygona; Quinqueloculina parkeri;
Quinqueloculina aknariana; Quinqueloculina costata; Quinqueloculina bicostata;
Biloculinella natukawa; Triloculina trigonula; Triloculina tricarinata; Triloculina
sotunda; Milionella circularis; Milionella sublineata; Hauerina fragilissima;
Spiroloculina communis; Spiroloculina corrugata; Spiroloculina albatrossi; Spiroloculina
communis incisa; Reussella aculeata; Virgulina bradgi; Fissurina faciata; Glandulina
nipponica; Loxostomum limbatum; Bolivina argentea; Lagena laevis; Lagena semistriata;
Bulimina acanthia; Hastigerina pelagica; Hastigerina siphonifera; Globigerinoides
immaturus; Globigerinoides bulloides.
Ngoài ra, còn có nhiều Molusques và khá nhiều rong biển.
Sét biển có đặc tính địa chất công trình rất kém qua đặc điểm tính chất cơ lý, như
sau:
- Các mẫu hầu hết là bùn sét kẹp ít cát hạt nhỏ màu xám xanh, trạng thái chảy. Đến
độ sâu nghiên cứu 4,0 m chưa gặp đáy của lớp này, đây là lớp đất với hàm lượng hạt sét và
bụi chiếm chủ yếu và chưa cố kết.
17
- Thành phần hạt: hạt sét (37 %); hạt bụi (38 %); hạt cát (25 %).
- Dung trọng thiên nhiên = 1,591 g/cm
3
- Độ ẩm thiên nhiên W = 65,47 %
- Chỉ số dẻo Id = 25,2 %
- Độ sệt B = 1,40
- Hệ số rỗng thiên nhiên = 1,716
- Chỉ tiêu cường độ: góc ma sát trong (5
o
30'); lực dính (C = 0,10 kg/cm
2
).
- Biến dạng: hệ số nén lún (a
1-2
=0,169 cm
2
/kg); mođun biến dạng (E=6,3 kg/cm
2
)
- Cường độ chịu tải cho phép qui ước: R
o
< 0,2 kg/cm
2
- Hệ số thấm K = 5,79.10
-3
cm/gy
2.2.2.2- Trầm tích doi cát ven bờ (mQ
2
3
)
Bãi cát ngầm của khu vực nghiên cứu phân bố dưới mực biển, cách bờ biển Đông
khoảng hàng chục km về phía biển. Bãi cát này phân bố ở châu thổ ngầm hay tiền châu
thổ, thuộc trầm tích doi cát ven bờ (longshore bar). Gọi đơn giản là bãi cát ngầm.
Đặc điểm của trầm tích này sẽ được trình bày thêm trong chương bốn.
2.2.2.3- Trầm tích bãi thủy triều (mQ
2
3
)
+ Sự hình thành và phát triển
Bãi thủy triều là dải trầm tích nằm bọc quanh châu thổ và nằm giữa mực thủy triều
cao và thủy triều thấp vì vậy còn gọi là vùng giữa triều (intertidal zone). Về phía lục địa,
vùng giữa triều tiếp cận với vùng trên triều (supertidal zone) và về phía biển là vùng dưới
triều (subtidal zone). Vùng trên triều nằm trên mực thủy triều cao bình thường, nhưng có
thể bị ngập triều trong những trận bão lớn. Vùng dưới triều là vùng nước ngập thường
xuyên.
Tiền châu thổ là phần thấp hay phần chìm của đồng bằng sông Cửu Long. Do đó,
địa hình địa mạo của tiền châu thổ không khác mấy so với đồng bằng trên đất liền. Chiều
rộng của tiền châu thổ kéo dài từ ranh ngập nước cho đến đường đẳng sâu - 20 m
(McIntire, 1968), tức vào khoảng 25 - 30 km chiều rộng. Tiền châu thổ có địa hình tương
đối bằng phẳng mặc dù có nơi nông-sâu không đều và độ dốc hơi nghiêng về phía biển.
Nguồn vật liệu chủ yếu của sông Cửu Long mang ra biển phần lớn lắng đọng trong
vùng tiền châu thổ. Vai trò thủy động lực biển có ảnh hưởng quan trọng trong sự phân
phối và tái phân phối các vật liệu nói trên.
Sự tích tụ dồi dào các vật liệu trầm tích dọc theo bờ của rìa đồng bằng và sự yếu
kém các vật liệu trầm tích mang về phía đông bắc cho thấy có một lịch sử lâu dài về sự
vận tải các vật liệu trầm tích về phía tây nam do sông mang lại trong quá trình hình
thành và phát triển đồng bằng sông Cửu Long. Rõ ràng đặc điểm này liên quan mật thiết
đến các điều kiện thủy văn vùng ven biển. Đó là hải lưu do gió, sóng do gió và thủy triều.
Trong suốt thời kỳ gió mùa tây nam (mùa mưa) mà cao điểm là tháng 7 và 8, vật
liệu do sông đưa ra chủ yếu được mang về phía đông bắc và phần lớn tích tụ ở tiền châu
18
thổ. Trong mùa này, có thể trên ảnh vệ tinh quan sát được các lưỡi nước đục đổ ra biển kéo
dài đến hàng chục cây số. Ngược lại trong mùa này, ở phía biển tây do tác động mạnh của
sóng và hải lưu, có sự xâm thực xảy ra. Có lẽ chính sự xâm thực này đóng góp một phần
trong sự hình thành bãi thủy triều hẹp dọc theo một đường thẳng tắp chạy từ sông Bảy Háp
cho đến sông Cái Lớn và từ Rạch Giá cho đến Hà Tiên.
Ngược lại, trong suốt thời kỳ gió mùa đông bắc mà cao điểm là tháng 1 và 2, hải lưu
do gió và sóng do gió đều dịch chuyển theo hướng từ đông bắc xuống tây nam dọc theo bờ
biển. Dòng biển cũng di chuyển theo hướng này. Đây cũng là thời kỳ mà sự chênh mực
nước giữa biển đông và biển tây lớn nhất. Sóng ở bờ biển Đông trở nên mạnh, trung bình
khoảng 1m nhưng cũng có thể đến 3 m khi gió mùa đông bắc thổi mạnh. Đây là thời kỳ
phía bờ biển đông bị xâm thực mạnh nhất. Các vật liệu ở tiền châu thổ bị phá hủy, được
sàng lọc và được sắp xếp lại. Các vật liệu thô như cát được dòng nước đưa vào bờ và tích
tụ ở đó để hình thành bãi cát thủy triều. Các vật liệu còn lại chủ yếu là bùn (sét, bột) thì
tiếp tục được vận chuyển đi xa theo đường biển về phía tây nam đến mũi Cà Mau hay biển
Tây hoặc theo đường băng từ biển Đông sang biển Tây qua các hệ thống sông Mỹ Thanh,
Gành Hào, Bồ Đề để đổ ra sông Cái Lớn, sông Cửa Lớn, sông Ông Đốc. Các vật liệu từ bờ
biển Đông được mang lại như vậy sẽ được bồi tích ở bờ biển Tây và đặc biệt là ở đầu mũi
Cà Mau để tạo nên những bãi bùn thủy triều. Ngoài ra đối với bờ biển Tây, dưới ảnh
hưởng của gió mùa tây nam hướng sóng đi vào bờ thường tạo nên sự phá hủy của rừng
ngập mặn. Các sản phẩm của rừng ngập mặn như sản phẩm hữu cơ, sét bột từ rừng ngập
mặn được bồi đắp trở lại dọc theo bờ biển để đóng góp thêm trong sự hình thành các bãi
bùn thủy triều.
Như vậy, các vật liệu do sự xâm thực từ bờ biển Đông sang bờ biển Tây hoặc mũi
Cà Mau hoặc các vật liệu do sự phá hủy của rừng ngập mặn ở bờ biển Tây là nguyên nhân
chính trong sự hình thành các bãi bùn thủy triều.
+ Đặc điểm chung của bãi thủy triều
Bãi thủy triều có một số đặc điểm như sau:
- Bãi thủy triều tạo thành một vành đai bọc quanh và song song với bờ biển, kéo dài
trên nhiều cây số và chỉ bị gián đoạn ở các cửa sông hoặc lạch triều. Đặc điểm cơ bản nhất
là bãi thủy triều có một địa mạo rất bằng phẳng.
- Bãi thủy triều thường không ổn định. Hình thái địa mạo thay đổi theo biên độ
triều và triền dốc. Ở bờ biển Đông, từ Vũng Tàu đến mũi Cà Mau, biên độ triều là 3,5 m,
nên bề rộng của bãi thủy triều là lớn, có nơi rộng đến 10 km khi triều thấp. Ở bờ biển Tây,
ngoại trừ mũi Cà Mau, biên độ triều là < 1,0 m nên bề rộng của bãi thủy triều là hẹp, đôi
nơi bề rộng không đáng kể.
- Dòng chảy hai chiều là đặc trưng của bãi thủy triều và do thủy triều tạo nên. Biên
độ triều tạo nên dòng triều và đến lượt dòng triều tạo nên các lạch triều (channel) và rạch
triều (gullies). Dòng triều có liên quan chặt chẽ đến sự xâm thực nơi các bãi thủy triều.
Dòng triều có biên độ triều lớn sự xâm thực tạo nên các lạch triều sâu hơn các dòng triều
có biên độ triều thấp.
19
- Về phía lục địa, bãi thủy triều thường tiếp giáp bờ biển, giồng cát hoặc đầm lầy
rừng ngập mặn. Do thuộc đầm lầy mặn mới nên bãi thủy triều rất giàu di tích thực vật rừng
ngập mặn.
- Trên bãi thủy triều có nhiều động vật sinh sống đặc biệt là các động vật đáy
(benthonic organisms). Sự hoạt động của các động vật này chủ yếu là đào hang làm cho bề
mặt của bãi thủy triều trở nên sần sùi nham nhở được gọi là cấu trúc do sinh vật
(Bioturbation structure). Đôi nơi đầy ngập vỏ của các sinh vật biển. Trên các bãi bùn thủy
triều, hiện tượng hang lỗ mạnh và rõ nét hơn trên các bãi cát thủy triều. Ngoài ra, trên bãi
thủy triều cũng rất phổ biến các dạng Trùng Lỗ và Tảo nước mặn.
- Do tiếp cận thường xuyên với biển nên bãi thủy triều chịu ảnh hưởng thường
xuyên của sóng và dòng triều. Dưới các tác động đó, các vật liệu bở rời như cát, bột, sét
của bề mặt bãi thủy triều dễ tạo nên những nếp nhăn rất dễ quan sát ngoài hiện trường cũng
như trên ảnh hàng không hoặc ảnh vệ tinh.
- Môi trường cát thủy triều hay bùn thủy triều như đã đề cập có sự khống chế hoặc
có sự chọn lọc về cỡ hạt. Trong cát thủy triều, cát là ưu thế; trong bùn thủy triều sét và bột
là ưu thế.
+ Bãi cát thủy triều (tidal sand flat)
Bãi cát thủy triều chủ yếu phân bố dọc theo bờ biển Đông. Nó có mặt nơi các vùng
ven biển từ bờ phải của sông Hậu đến Gành Hào, từ cửa Tiểu cho đến cửa Soài Rạp, nơi
các thùy của các nhánh sông nằm giữa sông Tiền và sông Hậu.
Kích thước của bãi cát thủy triều là đa dạng. Bãi cát thủy triều tiêu biểu nhất là bãi
cát thủy triều từ cửa sông Hậu đến cửa sông Gành Hào. Bãi cát thủy triều này kéo dài liên
tục gần 100 km. Chiều rộng trung bình từ 1500 - 3000 m. Bãi cát thủy triều từ cửa Tiểu
cho đến cửa Soài Rạp chạy liên tục và kéo dài trên 20 km. Chiều rộng từ 500 m ở cửa Soài
Rạp đến 5.000 m ở cửa Tiểu. Từ cửa Gành Hào về phía Cà Mau, cát thủy triều rất hạn chế.
Thay vào đó là sự phong phú của bùn thủy triều.
Nơi các thùy của các nhánh sông, do các cửa sông lớn, chiều dài của bãi cát thủy
triều rất hạn chế từ 5 - 10 km và bị ngắt khoảng bởi các cửa sông hoặc các lạch triều. Bề
rộng trung bình từ 100 - 200 m nhưng cũng có thể đến 500 m hoặc hơn tùy theo khu vực.
Ở đầu các cửa sông, chiều rộng lớn hơn nhiều vì sự bồi tích ở đây tương đối nhanh chóng.
Chiều rộng có nơi đến 10 km.
Bãi cát thủy triều được cấu tạo chủ yếu là cát. Trong cát, thành phần cát mịn chiếm
ưu thế. Khi đới cát thủy triều tiếp cận với bờ biển đang hoạt động hoặc giồng cát, vật liệu
cát trong bãi thủy triều thường sạch, chọn lọc tốt và có độ ròng cao. Ngược lại, dọc theo
các khu vực mà bãi thủy triều tiến ra khơi nhanh, nơi đó bãi cát thủy triều thường rộng và
thành phần cát ít ròng hơn.
Cát thủy triều thường nằm trên bùn thủy triều hoặc sét biển. Chiều dày khoảng 3
m trở lại.
20
Các bãi cát thủy triều phân bố dọc ven bờ biển từ cửa Giá Lồng Đèn đến cửa Bồ Đề
là đối tượng thăm dò chính của đề tài và được gọi đơn giản là bãi cát ven bờ.
+ Bãi bùn thủy triều (tidal mud flat)
Ngược với bãi cát thủy triều, bãi bùn thủy triều phân bố chủ yếu ở bờ biển Tây: khu
vực mũi Cà Mau, dọc theo bờ biển thẳng tắp từ cửa sông Bảy Háp đến cửa sông Cái Lớn
và vùng ven biển từ Rạch Giá đến Hà Tiên (vịnh Rạch Giá, vịnh Cây Dương, vịnh Ba Hòn,
vịnh Hòn Heo).
Bãi bùn thủy triều được cấu tạo chủ yếu là bùn (sét và bột). Một số mẫu phân tích
bãi bùn thủy triều cho thấy thành phần bùn chiếm ưu thế. Ngoài bùn, bãi bùn thủy triều còn
chứa một số khoáng vật nặng, các mảnh vỡ của vỏ sò ốc và các di tích hữu cơ.
Ngoài ra, do tiếp giáp hoặc phát triển của rừng ngập mặn, trong bãi thủy triều rất
phổ biến các bào tử phấn hoa của nhóm thực vật rừng ngập mặn: Đước (Rhizophora sp.),
Mắm (Avicenia sp.), Vẹt (Bruguirera sp.), Bần (Sonneratia sp.), Dừa Nước (Nipa
fructicans), Dương xỉ biển (Acrostichum aureum).
Bãi bùn thủy triều thường có chiều dày khoảng 4 m trở lại và nằm trên sét biển màu
xám xanh nhão.
Trầm tích bãi thủy triều là một trong các đối tượng nghiên cứu chính của đề tài.
2.2.2.4- Giồng cát (mvQ
2
3
)
+ Ở ĐBSCL, giồng cát là tên gọi quen thuộc của nhân dân địa phương. Đây là
những gờ cao, nằm sau bờ biển và do vật liệu của bờ biển đưa lên dưới tác động của sóng
và các tác động khác. Giồng được cấu tạo chủ yếu là cát. Độ cao của giồng thường khoảng
vài mét, nhưng giồng cao hơn các khu vực đầm lầy vây quanh. Giồng tạo thành những dải
đất hẹp nằm song song với nhau và song song với bờ biển hiện tại. Sự chênh lệch giữa
chiều dài và chiều rộng là đặc điểm nổi bật nhất của giồng. Nơi khu vực thăm dò ven bờ từ
Giá Lồng Đèn đến Bồ Đề, chưa phát hiện thấy giồng cát. Ở bãi biển Khai Long, giồng
phân bố khá rõ.
Tại Khai Long (xã Đất Mũi) có hai loại giồng: giồng hoạt động và giồng không hoạt
động. Giồng hoạt động còn gọi là giồng mới hay giồng hiện tại. Giồng mới đang phát triển
và đang chịu ảnh hưởng của quá trình biển. Khác với giồng hoạt động là giồng không hoạt
động hay còn gọi là giồng cổ. Giồng cổ đã nằm sâu trong đất liền và không còn chịu ảnh
hưởng của quá trình biển. Khu vực các giồng này chính là nơi đang xây dựng và phát triển
khu du lịch Khai Long.
2.2.2.5- Trầm tích sông-biển hay đồng thủy triều (amQ
2
3
)
+ Phân bố:
Trầm tích có nguồn gốc sông-biển hay đồng thủy triều chiếm diện tích khá lớn ở
các huyện Đầm Dơi. Trầm tích sông-biển nằm trên mực thủy triều trung bình và còn chịu
ảnh hưởng của biển.
21
Trầm tích sông-biển có địa hình tương đối cao trong khu vực. Lỗ khoan tiêu biểu
của trầm tích sông-biển cho thấy trên cùng là lớp sét hữu cơ mỏng (vài tấc) màu xám đen;
kế đến là lớp sét màu xám trắng, xám ngà, xám hồng, nâu hồng có đặc tính dẻo chặt đến
hơi chặt (có nơi khai thác làm gạch ngói) và dày khoảng 1,5 m trở lại. Trầm tích sông-biển
nghèo chất hữu cơ, không chứa sunfit nên không có phèn. Đây là đặc điểm thuận lợi cho
sản xuất nông nghiệp như đã được khai thác trồng lúa trước nay. Tuy nhiên, hiện nay đất
đai thuộc trầm tích này được canh tác phổ biến là tôm hoặc lúa-tôm. Giới hạn dưới của
trầm tích này thường là lớp sét màu xám xanh nhão của trầm tích biển hoặc lớp sét hữu cơ
màu xám đen, xám xanh sậm của trầm tích biển - đầm lầy.
Trầm tích sông-biển là lớp sét, sét pha, trạng thái dẻo mềm đến dẻo cứng. Độ thấm
của lớp sét này rất kém. Đây là một yếu tố thuận lợi cho việc đào đắp các đê đập và bờ
bao, nhất là đối với các vuông tôm. Bờ bao bằng loại sét này thường chắc chắn, chứa và
giữ nước tốt.
2.2.2.6- Đầm lầy ven biển mới (mbQ
2
3
)
Trầm tích đầm lầy ven biển mới thực sự được gọi dưới nhiều tên khác nhau: phù sa
mặn, đầm mặn, đầm lầy rừng ngập mặn. Đây là những nơi có địa hình thấp, trũng, bị ngập
triều hàng ngày và đặc trưng bởi sự phát triển của rừng ngập mặn và một hệ thống lạch
triều chằng chịt.
Thoạt đầu, rừng ngập mặn phát triển nơi các phần cao của bãi thủy triều như cát
thủy triều hoặc bùn thủy triều. Sau đó là sự phát triển tối đa nơi các phần thấp. Ở các khu
vực thấp, nước tương đối yên tĩnh và sự bồi tích chủ yếu là các vật liệu mịn như sét, bột.
Hệ thống bộ rễ của thảm thực vật rừng ngập mặn như Đước, Mắm, Bần,… đã bẫy
lại các chất trầm tích như sét, bột hoặc các vật liệu hữu cơ di chuyển qua rừng ngập mặn
khi thủy triều lên hoặc xuống và làm cho các trầm tích nơi đầm lầy trở thành một loại trầm
tích giàu hữu cơ. Phần lớn các chất hữu cơ như rễ, thân, lá, trong đầm lầy đều do thảm thực
vật của rừng ngập mặn cung cấp. Đôi nơi, sự tích lũy dồi dào chất hữu cơ đã hình thành
các vỉa than bùn.
Khi châu thổ phát triển ra phía biển, phần xa nhất của đầm lầy kể từ bờ biển về phía
lục địa, độ mặn giảm dần. Các khu vực đầm lầy lúc bấy giờ dần dần nằm sâu trong đất liền,
thảm thực vật rừng ngập mặn bị thoái hóa dần đi kèm theo với công tác cải tạo khai thác
đất, đầm lầy ven biển mới trở thành đầm lầy ven biển cổ (loại này không có trong vùng
nghiên cứu).
Di tích sinh vật trong trầm tích đầm lầy, đặc biệt là di tích thực vật rất phong phú.
Cũng vì lý do này, nhiều tác giả đã sử dụng thực vật này để đặt tên cho môi trường trầm
tích (C. Marius, 1982; J.H.W. Jansan, M.A.C. Dam, 1985). Kết quả phân tích bào tử phấn
hoa có mặt trong trầm tích cho thấy nhóm bào tử và nhóm hạt kín chiếm ưu thế. Các dạng
tiêu biểu của nhóm bào tử dương xỉ phổ biến là: Dương Xỉ Biển (Acrostichum aureum),
Choại (Stenochlaena palustris), Dương Xỉ Mộc (Cyathea), Ráng Bòng Bong (Lygodium
minophyllum),… Đây là nhóm thực vật thuộc vùng nhiệt đới ẩm ven biển.
22
Các dạng tiêu biểu của nhóm hạt kín chủ yếu là thực vật của rừng ngập mặn: Đước
(Rhizophora sp.), Vẹt (Bruguiera sp.), Bần (Sonneratia sp.), Mắm (Avicennia sp.), Dừa
Nước (Nipa fruticans), Giá (Excoecaria azallocha),…
Ngoài các di tích bào tử phấn hoa trên đây, trong trầm tích biển - đầm lầy còn có
mặt nhiều thân cây, rễ, lá của thực vật rừng ngập mặn và các vỉa than bùn xấu.
Một điểm đáng lưu ý là di tích thực vật trong trầm tích đầm lầy ven biển mới tương
đương với thảm thực vật đang phát triển hiện nay trên bề mặt của đầm lầy. Đây là một đặc
điểm quan trọng để phân biệt đầm lầy ven biển mới và đầm lầy ven biển cổ. Đối với đầm
lầy ven biển cổ thì thảm thực vật rừng ngập mặn bề mặt đã hoàn toàn bị thoái hóa và thay
vào đó là thảm thực vật thứ sinh tạo thành những đồng cỏ rộng lớn như: Đưng (Scleria),
Năng (Heleocharis), Bàng (Lepiromia), Lác (Cyperrus), Sen (Nelumbium), Súng
(Nymphaceae), Sự tồn tại của thảm thực vật rừng ngập mặn trên bề mặt đầm lầy ven biển
mới cho thấy môi trường trầm tích này đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của điều kiện biển.
Bên cạnh các di tích thực vật, di tích động vật mà cụ thể là Trùng Lỗ cũng khá
phong phú. Có thể liệt kê các giống loài bao gồm:
- Rotalia trispinosa; Rotalia ozawai; Rotalia schroentheriana; Rotalia japonica;
Rotalia tochigiensis; Rotalia takanabensis; Eponides concameratus; Gyroidina cf.
soldanii; Ammonia indopacifica; Divavulineria sadonica; Discopulvinulina cf. nitida;
Cibicides aknerianus; Anomalina glabrata; Elphidium craticulatum; Elphidium jenseni;
Elphidium advenum; Elphidium fax. Barbarense; Elphidium subincertum; Nonion
japonicum; Pseudononion kanbaraense; Quinqueloculina seminula; Quinqueloculina
costata; Quinqueloculina bicostata; Quinqueloculina curta; Quinqueloculina akneriana;
Quinqueloculina elongata; Triloculina trigonula; Triloculina tricarinata; Triloculina
rotunda; Miliolinella circularis; Miliolinella sublineata; Spiroloculina communis;
Spiroloculina albatrossi; Spiroloculina communis incisa; Glandalina nippinica; Lagena
laevis; Loxostomum limbatum; Bulimina acanthia; Bolivina argentea; Globigerinoides
immaturus; Globigerinoides bulloides;…
Một đặc điểm quan trọng khác là sự có mặt của pyrit (S
2
Fe) trong trầm tích đầm lầy
ven biển mới. Khi có sự thoát thủy hoặc dao động của thủy triều, pyrit bị oxyt hóa để cho
jarosit. Jarosit có màu vàng tươi của lưu huỳnh rất đặc trưng và nằm trên tầng pyrit hay còn
gọi là tầng sinh phèn. Sự oxyt hóa này kèm theo sự sản sinh H
2
SO
4
và làm cho đất trở nên
chua. Sự có mặt của pyrit trong đầm lầy ven biển mới có một ý nghĩa quan trọng trong
canh tác. Do sự hiện diện của pyrit và một tỉ lệ lượng muối trong trầm tích đầm mặn mới là
nguồn gốc của các loại đất vừa phèn vừa mặn.
Trong đầm lầy ven biển mới, thảm thực vật rừng ngập mặn đang phát triển vẫn có
thể hình thành các vỉa than bùn mỏng, chất lượng kém, thường có độ tro rất lớn (> 50 %).
2.3- ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ KHOÁNG SẢN LIÊN QUAN
Theo tài liệu báo cáo "Địa chất và khoáng sản vùng biển nông ven bờ (0 - 30 m
nước) Cà Mau - Bạc Liêu" của Trung Tâm Địa Chất và Khoáng Sản Biển năm 1998, cho
thấy:
23
+ Vùng biển khảo sát ít có triển vọng về sa khoáng, khoáng vật nhưng có triển vọng
về các loại vật liệu xây dựng.
+ Có 2 dải cát hiện đại ở phía đông đảo Hòn Khoai chạy song song với đường bờ
theo hướng đông bắc - tây nam dạng cồn cát dài 23 km và 45 km, rộng từ 3 - 4 km, trung
bình 3,5 km. Chiều dày theo mặt cắt trung bình 3 m, tài nguyên dự báo khoảng 0,7 tỉ m
3
.
Cát có màu xám, xám đen, hàm lượng thạch anh thấp hơn so với nhiều nơi khác, lẫn nhiều
mảnh đá và khoáng vật màu, độ hạt nhỏ đến vừa. Kết quả phân tích cấp độ hạt một số mẫu
cho thấy cát chiếm 85 - 90 %, bùn sét chiếm 10 - 15 %. Cát ở đây có thể sử dụng để san
lấp nền đường, điều kiện khai thác thuận lợi. Trong khi khắp dải ven biển Cà Mau - Bạc
Liêu, rất hiếm cát xây dựng thì các dải cát nói trên rất có ý nghĩa.
+ Về khoáng sản sét Phù sa cổ, báo cáo cũng đề cập đến loại sét loang lổ có độ chặt
sít, dính kết tốt có thể dùng đắp đê đập. Đây chính là loại sét Phù sa cổ, thường có chiều
dày và trữ lượng lớn, chiều dày nơi Mũi Cà Mau khoảng 25 - 27 m. Tuy nhiên, tầng sét
này lại phân bố rất sâu từ 20 - 30 m dưới mực nước biển, LK sâu của chúng tôi nơi bờ biển
bãi Khai Long cho thấy độ sâu tầng sét này khoảng 33m.
+ Ngoài ra, trong khu vực nghiên cứu còn có sét của trầm tích sông-biển. Chiều dày
lớp sét này trung bình khoảng 1,0 - 2,0 m, diện phân bố khá rộng ở huyện Đầm Dơi. Đây là
nguồn gốc của loại đất tốt cho sản xuất nông nghiệp, nhất là trong các vùng ven biển ảnh
hưởng mặn. Đất thuộc trầm tích sông-biển có thể sử dụng cho sản xuất gạch ngói phục vụ
xây dựng. Hiện nay đất này đang được sử dụng cho canh tác nuôi tôm, trồng lúa hoặc lúa-
tôm.
+ Đặc điểm về nước sinh hoạt trong vùng:
- Mẫu nước ngầm nơi giếng UBND xã Đất Mũi: Kết quả phân tích 13 chỉ tiêu thành
phần hóa học của một mẫu nước giếng (độ sâu khoảng 80m) nơi UBND xã Đất Mũi cho
thấy đều đạt tiêu chuẩn nước ăn uống sinh hoạt (theo TC 505/BYT).
- Các mẫu nước ở đảo Hòn Khoai: Qua kết quả phân tích 2 mẫu nước ở Bãi Lớn
(tháng 4/2001) và ở Bãi Nhỏ (tháng 8/2001), cho thấy :
Mẫu nước ở Bãi Lớn: hầu hết các chỉ tiêu đạt yêu cầu về hóa học theo TC 505/BYT,
nhưng không đạt tiêu chuẩn về vi sinh.
Mẫu nước ở Bãi Nhỏ (Bể Bà Đầm): hầu hết đều đạt tiêu chuẩn hoá học về nước
uống theo TCVN 5901-1991; nhưng không đạt tiêu chuẩn vi sinh (TCVN 5502/91) và cần
lưu ý là 2 chỉ tiêu tổng số vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn kỵ khí sinh H
2
S.
+ Về cát, sét: Một số mẫu phân tích thành phần cấp hạt cát ở đảo Hòn Khoai, cho
thấy thành phần cát thủy triều, gồm: cát (71-92 %); bột-sét (8-29 %). Trong cát có thành
phần cát hạt nhỏ là chủ yếu hàm lượng khoáng vật thạch anh chiếm tỉ lệ khoảng 50-60 %.
Một mẫu phân tích cát bờ biển ven chân núi Hòn Khoai, thành phần cấp hạt, gồm:
cát (98,08 %); bột-sét (1,92 %). Loại cát này có thành phần hạt thô chiếm chủ yếu gồm
54,48 % cỡ hạt 0,5-1,0 mm và 11,3% cỡ hạt 1-2 mm. Đặc biệt là hàm lượng Thạch anh rất
cao, có thể đến 90 %. Đây là loại cát có chất lượng tốt cho san lấp và có thể nghiên cứu
24
cho xây dựng. Tuy nhiên, trữ lượng cát này thường không lớn, chỉ phân bố thành đới hẹp
ven các chân núi ven bờ biển của các đảo.
25