CẤU TẠO DA
Giáo viên hướng dẫn: TS. Hoàng Thị Mỹ Nhung
Nhóm 2
MỤC LỤC
I. Chức năng của da
II. Lớp biểu bì ( epidermis)
III.Lớp hạ bì (dermis)
IV. Lớp dưới da (hypodermis)
V. Cấu trúc đặc biệt ở biểu bì
VI. Sự hóa sừng ở da
Giới thiệu
Ở người Việt Nam trưởng thành diện tích
da khoảng 1,8 - 2m2 , chiếm 15-17%
trọng lượng cơ thể, dày nhất ở vùng bàn
tay,bàn chân và mỏng nhất ở vùng mí
mắt, môi.
Nguồn gốc: 2 nguồn gốc phát sinh
›
Ngoại phôi bì: các tế bào biểu bì
›
Trung phôi bì: các tế bào thuộc mô liên kết
•
Bao phủ bảo vệ nội quan bên trong
•
Chống ngấm nước, thoát nước
•
Chống tác nhân gây bệnh từ bên ngoài
Bảo vệ
•
Bài tiết 1 số chất thải ( tuyễn bã, mồ hôi)
Bài tiết
•
Nhận kích thích từ môi trường ngoài
•
Cảm nhận sự thay đổi môi trường
Cảm ứng
CHỨC NĂNG
Cấu tạo
Lớp sừng
Lớp sáng
Lớp hạt
Lớp gai
Lớp đáy (tầng sinh trưởng)
Trong lớp biểu bì không có mạch máu, mạch bạch huyết. Các tế
bào được nuôi dưỡng theo cơ chế khuếch tán. Xen giữa tế bào có
các đẫu mút thần kinh trần, 1 số phát triển thành tế bào cảm
giác phụ đóng vai trò thể xúc giác
I. Biểu bì (epidemis)
Lớp đáy (stratum germinativum)
Là 1 hàng tế bào khối vuông hay trụ thấp nằm
trên màng đáy.
Có khả năng phân chia liên nên gọi là lớp sinh
sản,những tế bào mới sinh ra sẽ di chuyển dần
lên phía trên.Do vậy biểu bì luôn được đổi mới.
Các tế bào được gắn với nhau nhờ các phân tử
fibronectin do nguyên bào sợi của lớp hạ bì tiết
ra.
Nằm rải rác trong lớp này còn có các loại tế bào
khác nhau: hắc tố bào melanocyte, Langerhans
và Merkel.
Tế bào Melanocytes
Nằm rải rác trong tế bào
sừng, có nguồn gốc từ
mào thần kinh
Tế bào đuôi gai chứa
melanin hình thành sắc
tố da bảo vệ da khỏi tác
hại của tia UV.
Melanin có màu nâu đen
được hình thành khi aa
bị oxi hóa
Màu của da do 3 thành phần:
•
màu vàng của caroten
•
chất oxyhemoglobin của hệ
mạch tạo màu hơi đỏ
•
sắc tố đen melanin
Tế bào Langerhans
•
Nguồn gốc tủy xương theo máu
xâm nhập vào da.
•
Có cấu trúc dạng tế bào bạch
tuộc, bào tương chứa nhiều sợi tơ
trung gian vimentin, hạt hình que
gọi là các hạt
•
Liên quan đến hệ thống miễn
dịch không đặc hiệu của tế bào.
Tế bào này còn gọi là Tế bào
trình diện kháng nguyên
Tế bào Langerhans có chức năng phá
huỷ và trình diện các kháng nguyên
(xâm nhập ở da ) cho các lympho bào
có mặt trong biểu bì. Có khả năng ẩm
bào và thực bào mạnh.
Tế bào Langerhans cũng đựoc tìm
thấy trong biểu mô niêm mạc
miệng,biểu mô niêm mạc âm đạo và
trong tuyến ức.
Cơ chế bảo vệ
Tế bào Merkel
Là tế bào biểu mô đã biệt hoá thành
thụ thể cảm giác đau, tế bào Merkel
liên kết với các tế bào hoá sừng nằm
bên cạnh bởi những thể liên kết. Ở
đáy tế bào tạo xynap với đầu thần
kinh cảm giác bề ra như hình đĩa.
Các tế bào này có khuynh hướng tập
trung ở da lòng bàn tay, bàn chân.
Lớp gai (stratum spinosum)
Tập hợp của 5-20 tầng
tế bào đa diện, nhân
hình cầu nằm giữa tế
bào liên kết chặt chẽ với
nhau nhờ cầu nối liên
bào phân nhánh.
Có các hạt sắc tố đen
thu nhận từ hắc tố bào
Có khả năng phân chia
cao -> tb biểu bì được
đổi mới nhanh (20–30
ngày)
Lớp hạt (stratum glanulosum)
•
Bao gồm 3-5 lớp tế bào
đa diện dẹp
•
Tế bào chứa nhiều hạt
sắc tố và nhân phân
thùy bào tương chứa
nhiều hạt keratohyalin
bắt màu bazơ đậm liên
quan đến hiện tượng
thoái hóa sừng của biểu
bì.
Lớp bóng ( lớp sáng)
Nằm trên lớp sợi, bắt màu nhạt hoặc
không bắt màu.
Các tế bào thoái hóa không còn hình
dạng tế bào: tế bào dài và dẹt hơn,
nhân và các bào quan bị phân giải
biến mất dần
Lớp sừng
Là những lá sừng mỏng nằm ở ngoài sát nhau
ở phía ngoài cùng của da.
Trong bào tương chứa nhiều chất sừng
(keratin) -> bảo vệ thoát hơi nước, thoát
nhiệt, các yếu tố xâm nhập từ bên ngoài.
Keratin
Là 1 protein có mặt ở trong
tế bào sừng, cấu tạo nên
lông, móng, tóc…
Là 1 phần của sợi trung gian
được mã hóa bởi 70 gen
trong cơ thể người.
Rối loạn keratin gây nên
bệnh ở da
VD:
›
Bệnh bong biểu bì bọng nước
(epidermolysis) do đột biến
keratin K5 hay K14 nằm ở tầng
đáy của da
›
Thay đổi keratin k14 gây hội
chứng rối loạn dấu vân tay.
Lớp nhú: có cấu trúc mô
liên kết thưa
Lớp lưới: sợi collagen họp
thành bó song song và xen
giữa những sợi chun
Màng nền là chỗ nối giữa
biểu bì và hạ bì, có cấu trúc
mô xơ liên kết
Chức năng : là lớp mang lại cho da sự toàn vẹn về
cấu trúc, độ chun giãn và đàn hồi
II. LỚP HẠ BÌ ( DERMIS)
Lớp hạ bì
Các nếp nhăn thường phát sinh và
phát triển ở lớp bì. Do đó, việc
điều trị chống nhăn chỉ có thể
thành công nếu nó tới được lớp bì.
Ví dụ, các loại kem collagen và
elastin thông thường không bao
giờ tới được lớp bì vì phân tử
collagen và elastin quá lớn nên
không thể thấm qua lớp biểu bì.
Do vậy, trái với quảng cáo của một
số nhà sản xuất, nhưng loại kem
này có rất ít tác dụng đối với nếp
nhăn.
III. Lớp dưới da (hypodermis)
Lớp dưới da
Lớp dưới da (hypodemis)
Tạo thành từ mô liên kết thưa nối hạ bì với các cơ
quan bên dưới
Loại tế bào chiếm đa số trong mô dưới da là tế bào
mỡ. Độ dày lớp mỡ thay đổi theo vị trí trong cơ
thể, theo lứa tuổi, chế độ dinh dưỡng, giới tính
Chức năng: Mỡ dưới da đóng vai trò như lớp đệm
hấp thu va chạm và cách nhiệt, bảo vệ mô bên
dưới khỏi lạnh và chấn thương.
Lớp dưới da
Khi có tuổi thì lớp
mô mỡ mất dần đi
khiến da mặt bị
chảy xệ và nếp
nhăn nổi rõ
Biện pháp: tiêm mỡ
lấy từ các cơ quan
khác
IV.Cấu trúc đặc biệt của biểu bì
1. Lớp dải bịt
•
Các khoảng gian bào ( 20-30nm) được lấp kín bởi lớp glycocalyx có bản
chất là glicoprotein tạo thành những dải bịt
•
Vai trò: gắn kết các tế bào với nhau, ngăn chặn các chất dịch không cần
thiết nhưng lại linh động trong quá trình miễn dịch, lưu chuyển các chất
Khe liên kết
Các đơn vị kết nối là các hình ống nối xuyên
giữa 2 tế bào, lòng ống cho phép các ion các
phân tử có kích thước nhỏ đi qua
Đây chính là xynap điện, cơ sở truyền thông
tin giữa các tế bào biểu mô da