i
CHƯƠNG 1: CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG 1
Câu 1: Phân tích bối cảnh xuất hiện của chủ nghĩa trọng thương 1
Câu 2: Phân tích những quan điểm kinh tế của chủ nghĩa trọng thương. 1
Câu 3: Chủ nghĩa trọng thương tại các quốc gia. 2
Câu 4: Đánh giá câu nói của người Trung Quốc: “Phi thương bất phú” liên hệ thực tế Việt Nam. 4
Câu 5: Đánh giá câu nói của người Anh: “ Thương mại là hòn đá thử vàng đối vs sự phồn thịnh của 1 quốc gia,
không có phép lạ nào khác để kiếm tiền trừ thương mại” 4
Câu 6: Giải thích luận điểm của A. Montchretien: “ Nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm,
muốn tăng của cải phải nhập dẫn của cải qua ngoại thương” 5
Câu 7: Nhận xét vai trò, hạn chế của chủ nghĩa trọng thương. 6
Câu 8: Đặc điểm của chủ nghĩa trọng thương. 6
CHƯƠNG 2: CHỦ NGHĨA TRỌNG NÔNG (CỔ ĐIỂN PHÁP) 7
Câu 1: Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm chủ yếu của chủ nghĩa trọng nông ở Pháp. 7
Câu 2: Nêu sự giống nhau của 2 trường phái cổ điển Anh và Pháp 7
= Trình bày khái quát đặc điểm phương pháp luận của trường phái cổ điển. 7
Câu 3: Phân tích các nội dung lí thuyết: 8
Câu 4: Thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa trọng nông 12
CHƯƠNG 3: TRƯỜNG PHÁI CỔ ĐIỂN ANH 13
Câu 1: Phân tích đặc điểm phương pháp luận của trường phái cổ điển Anh. 13
Câu 2: So sánh đặc điểm phương pháp luận của trường phái cổ điển Anh và cổ điển Pháp (trọng nông). 13
A. Lí luận giá trị - lao động 14
Câu 1: Chứng minh W. Petty là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho nguyên lí giá trị lao động. 14
Câu 2: Nhận xét câu nói của W.Petty: “Lao động là cha, đất đai là mẹ của của cải”. 15
Câu 3: Nhận xét câu nói của W.Petty: “Giá trị của hàng hóa là sự phản ánh giá trị của tiền tệ cũng giống như ánh
sáng của mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời vậy”. 15
Câu 4: Dựa vào lí luận giá trị của W.Petty chứng minh ông là nhà kinh tế học phản ánh bước chuyển từ chủ nghĩa
trọng thương sang chủ nghĩa cổ điển Anh. 16
Câu 5: Dùng lí luận giá trị của A.Smith chứng minh nhận xét của C. Mác, phương pháp luận của A.Smith là phương
pháp 2 mặt trộn lân các yếu tố khoa học và tầm thường. 17
Câu 6: Chứng minh rằng A.Smith là nhà lí luận giá trị - lao động song những lí luận giá trị của ông còn chứa nhiều
mâu thuẫn và sai lầm. 18
Câu 7: Bình luận câu nói “ Tiền công – lợi nhuận – địa tô là 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập và do đó là 3
nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị”. 19
Câu 8: Tại sao nói Ricardo đã đưa trường phái cổ điển Anh tới đỉnh cao nhưng không thể tới tận cùng được. 19
Câu 9: A.Smith và D.Ricardo bàn luận như thế nào về cơ cấu giá trị hàng hóa. 20
Câu 10: Dựa vào lí luận giá trị - lao động của trường phái cổ điển Anh để CMR Trường phái cổ điển dù có nhiều
đóng góp trong việc xây dựng và phát triển lí luận giá trị song vẫn không thể phát triển lí luận đến cùng. 21
B. Lí luận tiền tệ. 22
Câu 1: Vì sao nói lí thuyết về tiền tệ của W.Petty là học thuyết quá độ từ chủ nghĩa trọng thương sang trường phái
cổ điển Anh. 22
ii
Câu 2: Chứng minh rằng: A.Smith đã phân biệt đươc tiền tệ với của cải, đã thấy được chức năng phương tiện lưu
thông của tiền song chưa hiểu bản chất của tiền. 23
Câu 3: Nhận xét câu nói của A.Smith: “Tiền là bánh xe vĩ đại của lưu thông là công cụ đặc biệt của trao đổi và
thương mại”. 23
Câu 4: Anh chị có sùng bái tiền tệ không? vì sao? 24
Câu 5: lí luận tiền tệ của D.Ricardo có gì phát triển so với các nhà kinh tế cổ điển Anh trước. 24
Câu 6: W.Petty, A.Smith, D.Ricardo đã đề cập ntn đến quy luật lưu thông tiền tệ? 24
Câu 7: Trình bày cống hiến và hạn chế của trường phái cổ điển Anh trong lí luận tiền tệ. 25
C. Lí luận khác 25
Câu 1: Lí luận tiền công của W.Petty, A.Simth, D.Ricardo. 25
Câu 2: Những thành tựu và hạn chế của Trường phái cổ điển Anh trong lí luận tiền công. 26
Câu 3: Chứng minh rằng, A.Smith là nhà tiên tri của chủ nghĩa tự do kinh tế. Những học thuyết kinh tế nào kế
thừa và phát huy tư tường tự do kinh tế của A.Smith. Rút ra ý nghĩa lí luận và thực tiễn của lí thuyết “bàn tay vô
hình”. 27
Câu 4: Lí luận về khủng hoảng kinh tế của Ricardo. 28
CHƯƠNG 4: CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA TP HẬU CỔ ĐIỂN (TƯ SẢN TẦM THƯỜNG) 29
Câu 1: Phân tích đặc điểm của trường phái tư sản tầm thường. 29
Câu 2: Lí luận nhân khẩu, giá trị và lợi nhuận khủng hoảng kinh tế của Th.R.Malthus. 29
Câu 3: Lí luận giá trị ích lợi, 3 nhân tố sản xuất, thất nghiệp và khủng hoảng kinh tế của J.B.Say. 30
CHƯƠNG 5: KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC MÁC - LÊNIN 32
Câu 1: C.Mác có cống hiến gì mới về lí luận tiền tệ. 32
Câu 2: C. Mác sau này có những đóng góp gì mới trong lí luận giá trị - lao động. 33
Câu 3: Lí luận của C.Mác về tiền công. 33
CHƯƠNG 6: TRƯỜNG PHÁI TÂN CỔ ĐIỂN 34
Câu 1: Trình bày lí luận ích lợi giới hạn và giá trị giới hạn của Áo, cho vài ví dụ để CMR tư tưởng giới hạn của
trường phái đã đc kinh tế học hiện đại kế thừa và phát triển ( = tư tường giới hạn đc những trường phái nào kế
thừa và phát triển). 34
Câu 2: CMR trường phái giới hạn ở Áo đã xa rời nguyên lí giá trị lao động của TP cổ điển Anh và đi theo nguyên lí
giá trị lợi ích của Say. 35
Câu 3: Dựa trên cơ sở nào mà J.B.Clark đề ra nguyên tắc trả lương cho công nhân theo sản phẩm giới hạn, theo
anh (chị) nguyên tắc trả lương đó có bóc lột hay không? vì sao? 35
Câu 4: CMR lí thuyết cân bằng thị trường của L.Walras thể hiện đặc trưng phương pháp luận của TP Tân cổ điển
(thể hiện sự kế thừa và phát triển bàn tay vô hình của A.Smith) 36
Dựa vào lí thuyết này có thể khắc phục các vấn đề khủng hoảng thất nghiệp không? Vì sao? 36
Câu 5: Chứng minh rằng Lí thuyết giá cả của A.Marshall thể hiện rõ đặc điểm phương pháp luận của trường phái
tân cổ điển ( kế thừa và phát triển bàn tay vô hình của A.Smith) 38
Câu 6: Trình bày nội dung lí thuyết giá cả của A.Marshall, rút ra ý nghĩa lí luận và thực tiễn từ việc nghiên cứu lí
thuyết này. 38
Câu 7: CMR lí thuyết kinh tế của TP Tân cổ điển là cơ sở hình thành kinh tế học vi mô. 41
Câu 8: So sánh đặc điểm phương pháp luận của trường phái cổ điển Anh với Tân cổ điển. 42
iii
Câu 9: Đánh giá trường phái tân cổ điển. 44
CHƯƠNG 7: TRƯỜNG PHÁI KEYNES 45
Câu 1: Đặc điểm phương pháp luận của lí thuyết Keynes. Vì sao nói trường phái này vừa kế thừa vừa đối lập
trường phái Tân cổ điển. 45
Câu 2: Phân tích lí thuyết việc làm của Keynes cho biết vì sao trong lí thuyết này lãi suất là công cụ quan trọng
điều tiết vĩ mô. ý nghĩa 46
Câu 3: Quan điểm của Keynes về thất nghiệp, vì sao nói vấn đề việc làm chiếm vị trí trung tâm trong toàn bộ lí
thuyết của Keynes. 48
Câu 5: Vì sao Keynes đc đánh giá là công trình sư của chủ nghĩa tư bàn độc quyền nhà nước. 49
Câu 6: Đặc điểm chủ yếu của lí thuyết Keynes. Những đặc điểm đó thế hiện trong lí thuyết về nhà nước và sự can
thiệp vào nền kinh tế ntn. 49
Câu 7: Đánh giá lí thuyết Keynes. 50
Câu 8: Dựa vào quan điểm kinh tế của Keynes, CMR ông là người sáng lập ra kinh tế học vĩ mô hiện đại. 51
Câu 9: Tại sao nói lí thuyết của Keynes là trọng cầu. quan điểm này được thể hiện ntn trong lí thuyết việc làm của
ông. 52
CHƯƠNG 8: CHỦ NGHĨA TỰ DO MỚI. 54
Câu 1: Cho biết nguyên nhân dẫn đến dự khôi phục lại và đặc trưng nổi bật của chủ nghĩa tự do mới. 54
Câu 2: Phân tích đặc điểm phương pháp luận của chủ nghĩa Tự do mới, so sánh những đặc điểm giống và khác
nhau của chủ nghĩa tự do mới và tự do cũ. 54
Câu 3: Làm rõ quan điểm của các nhà kinh tế học CHLB Đức về nền kinh tế thị trường xã hội. 55
Câu 4: Trình bày đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tự do mới. Đặc điểm đó đc thể hiện trong lí thuyết kinh tế thị
trường xã hội chủ nghĩa ntn. 58
Câu 5: Phân tích lí thuyết trọng tiền của Friedman. 59
Câu 6: So sánh sự giống và khác nhau cơ bản giữa lí thuyết trọng tiền Friedman và trọng cầu Keynes. 60
Câu 7: Trình bày lí thuyết trọng cung của Mĩ. 61
Câu 8: Phân biệt sự giống và khác nhau của trọng cung Mĩ và trọng cầu Keynes 62
CHƯƠNG 9: TRƯỜNG PHÁI CHÍNH HIỆN ĐẠI 63
Câu 1: Phân tích nguyên nhân xuất hiện và đặc điểm phương pháp luận của TP chính hiện đại. 63
Câu 2: So sánh đặc điểm phương pháp luận của Trường phái chính hiện đại và chủ nghĩa tự do mới. 63
Câu 3: Cơ chế thị trường đc P.Samuelson đề cập ntn trong lí thuyết về nền kinh tế hỗn hợp. 64
Câu 4: Theo P.Samuelson, tại sao trong nền kinh tế thị trường nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế. 65
Câu 5: Theo P.Samuelson: “Sau khi tìm hiểu kĩ về bàn tay vô hình chúng ta không nên quá say mê với vẻ đẹp của
cơ chế thị trường, coi nó là hiện thân của sự hoàn hảo, tinh túy của sự hài hòa, là ngoài tầm tay con người”. Phân
tích câu nói trên. 65
Câu 6: Theo P.Samuelson, điều hành 1 nền kinh tế không có chính phủ hoặc thị trường thì cũng như định vỗ tay
bằng 1 bàn tay. Nhận xét luận điểm. Rút ra ý nghĩa thực tiễn của luận điểm đó. 66
CHƯƠNG 10: TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 68
Câu 1: Sự phân loại các quốc gia. 68
Câu 2: Đặc trưng các nước đang phát triển 68
Câu 3: Các vấn đề ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. 68
iv
Câu 4: Nội dung các lí thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế. 69
CÂU HỎI TỔNG HỢP. 72
Câu 1: Trong lịch sử, những học thuyết của nhà kinh tế nào thừa nhận, nhà kinh tế nào phủ nhận khủng hoảng
kinh tế. Cụ thể. 72
Câu 2: Trong lịch sử, trường phái nào đề cao vai trò điều tiết của cơ chế thị trường, trường phái nào đề cao vai trò
nhà nước. Cụ thể. 73
Câu 3: Quan điểm của các nhà kinh tế trong lịch sử về các vấn đề: 75
1
CHƯƠNG 1: CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG
Câu 1: Phân tích bối cảnh xuất hiện của chủ nghĩa trọng thương.
Chủ nghĩa trọng thương là tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản, ra đời trước hết ở Anh vào
khoảng những năm 1450, phát triển tới giữa thế kỷ thứ XVII và sau đó bị suy đồi. Có thể nói, nó ra đời
trong bối cảnh hết sức thuận lợi khi mà phương thức sản xuất phong kiến bắt đầu tan rã, phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa mới ra đời:
+ Về mặt lịch sử:
Đây là thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản ngày càng tăng, tức là thời kỳ tước đoạt
bằng bạo lực nền sản xuất nhỏ và tích luỹ tiền tệ ngoài phạm vi các nước Châu Âu, bằng cách cướp bóc và
trao đổi không ngang giá với các nước thuộc địa thông qua con đường ngoại thương.
+ Về kinh tế:
Kinh tế hàng hoá phát triển, thương nghiệp có ưu thế hơn sản xuất, tầng lớp thương nhân tăng cường
thế lực Do đó trong thời kỳ này thương nghiệp có vai trò rất to lớn. Nó đòi hỏi phải có lý thuyết kinh tế
chính trị chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động thương nghiệp.
+ Về mặt chính trị:
Giai cấp tư sản lúc này mới ra đời, đang lên, là giai cấp tiên tiến có cơ sở kinh tế tương đối mạnh
nhưng chưa nắm được chính quyền, chính quyền vẫn nằm trong tay giai cấp quý tộc, do đó chủ nghĩa trọng
thương ra đời nhằm chống lại chủ nghĩa phong kiến.
+ Về phương diện khoa học tự nhiên:
Điều đáng chú ý nhất trong thời kỳ này là những phát kiến lớn về mặt địa lý như: Crixtốp Côlông tìm
ra Châu Mỹ, Vancôđơ Gama tìm ra đường sang Ấn Độ Dương… đã mở ra khả năng làm giàu nhanh chóng
cho các nước phương Tây.
+ Về mặt tư tưởng, triết học:
Thời kỳ xuất hiện chủ nghĩa trọng thương là thời kỳ phục hưng, trong xã hội đề cao tư tưởng tư sản,
chống lại tư tưởng đen tối của thời kỳ trung cổ, chủ nghĩa duy vật chống lại những thuyết giáo duy tâm của
nhà thờ…
Câu 2: Phân tích những quan điểm kinh tế của chủ nghĩa trọng thương.
Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa trọng thương bao gồm 4 quan điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, họ đánh giá cao vai trò của tiển tệ.
Họ đồng nhất tiền tệ với của cải, cho rằng tiền tệ mới là tài sản thực sự của một quốc gia, một nước
càng có nhiều tiền thì càng giàu có, sự giàu có tích lũy dưới hình thái tiền tệ là sự giàu có muôn đời vĩnh
viễn. Đồng thời coi hàng hóa chỉ là phương tiện nhằm gia tăng khối lượng tiền tệ, mục đích của mọi chính
sách kinh tế của một quốc gia là làm tăng khối lượng tiền tệ.
Chủ nghĩa trọng thương là trường phái đầu tiên coi trọng vai trò của tiền tệ trong lịch sử kinh tế.
Thứ hai, quan niệm về nghề nghiệp trong xã hội.
Họ cho rằng, nghề nghiệp nào trong xã hội làm gia tăng khối lượng tiền tệ mới là những ngành nghề
có ý nghĩa tích cực và ngược lại. Cụ thể:
- Nông nghiệp là ngành trung gian giữa tích cực và tiêu cực vì sản phẩm đầu ra sản phẩm vật chất
song không phải mua các yếu tố đầu vào như vậy tuy không tạo ra nhưng cũng k tiêu tốn tiền tệ.
- Công nghiệp là ngành nghề mang tính tiêu cực vì phải bỏ tiền ra mua các yếu tố đầu vào để sản
xuất ra sản phẩm vật chất.
- Thương nghiệp là ngành duy nhất trong xã hội có ý nghĩa tích cực và tạo ra của cải trong xã hội,
vì sản phẩm đầu vào là sản phẩm vật chất và thu lại tiền tệ.
2
Trường phái trọng thương k chỉ đánh giá cao vai trò của thương nghiệp cụ thể còn nhấn mạnh vai trò
của ngoại thương, khối lượng tiền tệ của một quốc gia chỉ có thể gia tăng bằng con đường ngoại thương, đặc
biệt là ngoại thương xuất siêu.
Thứ ba, họ giải thích nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp.
Họ giải thích rằng lợi nhuận của thương nghiệp là kết quả của hoạt động trao đổi không ngang giá
(mua rẻ bán đắt), là sự lừa gạt cướp bóc giống như trong chiến tranh. Họ cho rằng k một người nào thu đc
lợi nhuận mà không làm thiệt kẻ khác, trao đổi phải có một bên thua để bên kia đc. Dân tộc này làm giàu
bằng cách hi sinh lợi nhuận của dân tộc khác.
Thứ tư, chủ nghĩa trọng thương rất đề cao vai trò của nhà nước
Chủ nghĩa trọng thương chưa biết đến và không thừa nhận sự hoạt động của các quy luật kinh tế
khách quan do đó họ đánh giá rất cao vai trò của nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để phát triển kinh tế
vì tích luỹ tiền tệ chỉ thực hiện được nhờ sự giúp đỡ của nhà nước. Họ đòi hỏi nhà nước phải tham gia tích
cực vào đời sống kinh tế để thu hút tiền tệ về nước mình càng nhiều càng tốt, tiền ra khỏi nước mình càng ít
càng phát triển.
Câu 3: Chủ nghĩa trọng thương tại các quốc gia.
Chủ nghĩa trọng thương tại Anh:
Chủ nghĩa trọng thương ở Anh chia làm 2 giai đoạn phát triển:
- Giai đoạn 1 diễn ra trong thế kỉ XV-XVI gọi là giai đoạn học thuyết tiền tệ
- Giai đoạn 2 diễn ra trong thế kỉ XVI gọi là giai đoạn học thuyết về bảng cân đối thương mại.
Giai đoạn học thuyết tiền tệ.
Đại biểu của học thuyết tiền tệ của chủ nghĩa trọng thương thời kì này là William Stafford (1554-
1612).
Quan điểm trọng thương của ông được trình bày trong tác phẩm “ Trình bày tóm tắt một vài lời kêu
ca của đồng bào chúng ta” Trong tác phẩm này ông cho rằng nguyên nhân của sự đắt đỏ nằm ở vấn đề khối
lượng tiền trong nền kinh tế. Vì thế, Nhà Nước cần phải có các biện pháp hành chính tác động vào quá trình
lưu thông nhằm giữ khối lượng tiền khỏi bị hao hụt.
Nội dung chủ yếu là bảng cân đối tiền tệ: ngăn chặn không cho tiền chạy ra nước ngoài, khuyến
khích mang tiền vàng từ nước ngoài về.
Biện pháp:
- Quy định tiền của nước Anh là vàng
- Chống lại mọi hành vi đem tiền ra ngoài; các thương gia nước ngoài vào nước Anh đc khuyến
khích mang tiền vào nhưng không đc mang tiền ra khỏi nước Anh mà phải mua hàng hóa mang
ra.
- Cấm nhập khẩu những sản phẩm không cần thiết.
- Xâm chiếm, mở rộng thuộc địa để tìm kiếm thị trường xuất khẩu.
Đây chính là giai đoạn tích lũy tiền tệ của chủ nghĩa tư bản, nhà nước sử dụng nhiều biện pháp hành
chính để tối đa hóa tích lũy tiền tệ.
Giai đoạn học thuyết về bảng cân đối thương mại.
Đại biểu của học thuyết về bảng cân đối thương mại là Thomas Mun (1571-1641) “Của cải là số sản
phẩm dư thừa được sản xuất ra trong nước sau khi thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nội bộ được chuyển thành
tiền ở thị trường nước ngoài”.
Nội dung chủ yếu:
- Muốn giàu có phải tung tiền vào lưu thông, không được giữ tiền lại.
- Phải biết xuất khẩu tiền nhằm mục đích buôn bán : “ Vàng đẻ ra thương mại, thương mại làm phát
triển số tiền lên”.
3
- Phải đẩy mạnh hoạt động thương mại: “ Đó là hòn đá thử vàng đối với sự phồn thịnh của một
quốc gia”, “ Không có phép lạ nào khác kiếm tiền ngoài thương mại”.
- Trong thương mại “hàng năm, chúng ta cần giữ một nguyên tắc là bán cho người nước ngoài một
số lượng lớn hơn khối lượng hàng hóa mua vào”.
- Cần mở rộng cơ sở nguyên liệu cho công nghiệp bằng ngoại thương (nhập khẩu nguyên liệu từ
nước ngoài kết hợp với sức lao động trong nước nhằm phát triển sản xuất trong nước).
- Thu hẹp nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng.
- Đẩy mạnh cạnh tranh làm giá cả hàng hóa hạ xuống và nâng cao chất lượng hàng hóa nội địa.
- Trong ngoại thương, cần mở rộng thị trường bằng việc biết bán hàng với giá cả thấp.
Đây là giai đoạn chủ nghĩa trọng thương phát triển nhất, có tính chất thực tiễn, thể hiện rõ ràng khát
vọng của giai cấp tư sản Anh trong thời kì tích lũy tư bản
Chủ nghĩa trọng thương ở Pháp.
Quan điểm của nhà kinh tế Antoine de Montchretien (1575 – 1629).
Quan điểm:
Quan điểm mang màu sắc tiểu tư sản, thông cảm với quần chúng nhân dân, đặc biệt là nông dân bị đè
nặng dưới ách phong kiến, lên án sự xa hoa của giới quý tộc. Nông dân là chỗ dựa cho Nhà nước và Nhà
nước phải quan tâm đến nông dân. Ông khẳng định “tài sản của đất nước không chỉ là tiền tệ mà còn bao
gồm cả dân số đặc biệt dân số nông nghiệp”.
Ông cho rằng thương mại là mục đích chủ yếu của nhiều ngành nghề khác nhau. Thương nhân giữ
vai trò liên kết người sản xuất với nhau.
Lợi nhuận thương nghiệp là chính đáng vì nó bù đắp sự rủi ro thua thiệt trong việc giao dịch mua
bán.
Ông viết “hạnh phúc của người ta là ở sự giàu có mà sự giàu có là ở trong lao động” ông lên án sự
lười biếng, coi đây là nguồn gốc của mọi tội lỗi và cho rằng nếu cần thiết sẽ cưỡng chế những người trong
độ tuổi phải có việc làm.
Biện pháp:
Hàng hóa nước ngoài bị đẩy ra khỏi nước Pháp, tăng cường thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước
và ngành thương mại, để nước Pháp có thể tự cung tự cấp. Các nhà sản xuất vải lanh Hà Lan phải kết thúc
hoạt động ở Pháp, cấm nhập khẩu sản phẩm dệt của Anh. Thậm chí sách nước ngoài cũng bị cấm để ngăn
chúng “đầu độc tinh thần chúng tôi”.
Cho thành lập rất nhiều công trường thủ công sản xuất các sản phẩm theo mẫu của nước ngoài nhằm
tạo việc làm cho người dân lang thang thất nghiệp.
Quan điểm của nhà kinh tế Jean Baptiste Colbert (1619 – 1683).
Quan điểm:
Là bộ trưởng tài chính nước Pháp, ông đã xây dựng được cho nước Pháp một chính sách kinh tế
trong 100 năm. Chính sách kinh tế này phản ánh quan điểm trọng thương của ông trong khuôn khổ thúc đẩy
sự phát triển của công trường thủ công tư bản nhưng lại không quan tâm đúng mức sự phát triển của nông
nghiệp. Theo ông, ngoại thương có khả năng làm cho thần dân được sung túc và thỏa mãn được các nhu cầu
của vua chúa. Sự vĩ đại và hùng cường của một quốc gia là do số lượng tiền tệ quyết định.
Biện pháp:
Cũng giống như Antoine de Montchretien, mục tiêu của Jean Baptiste Colbert cũng là xây dựng một
nền kinh tế tự cung tự cấp cho nước Pháp.
- Ông khuyến khích hoạt động sản xuất thủ công nghiệp trong nước bằng các biện pháp trợ cấp và thuế
quan, quy định một cách rõ ràng chất lượng và giá cả của sản phẩm sản xuất ra. Ông cho thành lập
các ngành công nghiệp mới, khuyến khích và đãi ngộ các nhà khoa học, mời các nhà khoa học hoặc
công nhân có tay nghề nước ngoài sang Pháp.
4
- Đối với thương mại quốc tế, ông coi đây là con đường làm giàu cho đất nước vì thế đưa ra hàng loạt
các đặc quyền cho các chủ xưởng sản xuất hàng xuất khẩu. Dưới sự giám sát của ông, hàng hóa
muốn nhập khẩu vào nước Pháp phải chịu rất nhiều quy định về thuế quan và chất lượng hà khắc.
- Ông cho cải thiện chất lượng đường giao thông và hệ thống kênh mương trên khắp nước Pháp nhằm
tạo điều kiện tốt nhất cho lưu thông hàng hóa phát triển thương mại.
- Tuy nhiên, đối với ngành nông nghiệp, Colbert đã có nhiều sai lầm làm cho nông nghiệp bị sa sút
như chính sách hạ giá hàng nông phẩm, bắt bán lúa gạo vs bất kì giá nào, khi đã mang ra thị trường
thì không được chở về nhà.
Câu 4: Đánh giá câu nói của người Trung Quốc: “Phi thương bất phú” liên hệ thực tế Việt
Nam.
Câu nói trên thể hiện rõ quan điểm nghê nghiệp của chủ nghĩa trọng thương, đó là nghề nghiệp nào
trực tiếp đem lại khối lượng tiền tệ cho xã hội mới là nghề nghiệp “làm giàu” cho quốc gia và cho cá nhân.
Ở đây, họ đã quá xem trọng vai trò của thương nghiệp, xem thường các ngành sản xuất vật chất.
Điều này chỉ đúng trong bối cảnh tích lũy tư bản, chủ nghĩa trọng thương phồn thịnh mà thôi.
Bởi lẽ, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản nhất của con người, nó ảnh hưởng đến tốc độ
và quy mô của hoạt động thương nghiệp. Nếu nền sản xuất vật chất không phát triển thì sẽ không có hàng
hóa để bán và cũng không thu được tiền tệ để mua các hàng hóa khác.
Liên hệ thực tiễn:
Xuất phát từ một nền kinh tế của nước ta còn lạc hậu, thương mại không tăng (cả về nội thương lẫn
ngoại thương). Đã có thời kì chúng ta thực hiện c/s “bỏ quan trả cán” để kìm hãm sự phát triển kinh tế =)
làm cho kinh tế thụt lùi so với thế giới. Nếu kinh tế chỉ huy theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã làm
cho thương mại kém phát triển cả về nội thương và ngoại thương =) nền kinh tế yếu kém.
Đến đại hội Đảng VI (86) Nhà nước chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển sang nền kinh tế hàng hoá vận
động theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa =) đòi hỏi phải tăng mạnh thương mại cả về
nội thương lẫn ngoại thương =) có c/s n/thương của mình. Sau >25 năm thực hiện đổi mới đất nước đã thu
được nhiều thành tựu kinh tế quan trọng, chứng tỏ quản điểm trọng thương là đúng dắn, phải có giao lưu với
nước ngoài mới có điều kiện sản xuất trong nước, tăng tích luỹ vốn.
Bên cạnh đó chúng ta cũng không coi thương mại là con đường làm giầu duy nhất, vì quan điểm
trọng thương chỉ quan tâm đến một lĩnh vực của kinh tế trong sản xuất đó lá lưu thông mà thôi. Mà ta cần
phải biết kết hợp giữa tăng trọng thương với gia tăng nền sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Sau khi nước ta gia nhập WTO, việc phát triển thương mại nhất là ngoại thương là rất cần thiết. Nó
không chỉ là phương thức để phát huy lợi thế của nền Kinh tế mà còn là cầu nối giữa các nguồn lực trong và
ngoài nc, tạo đk cho sự tăng trưởng nhanh nền Kinh tế dân tộc. Ngoài ra, VN chúng ta đứng trước cơ hội và
thách thức rất lớn, đó là cơ hội phát triển mạnh mẽ thương nghiệp, mở rộng thị trường cả trong và ngoài
nước đồng thời các ngành sản xuất trong nước phải đối mặt vs sự cạnh tranh rất lớn của các doanh nghiệp
nước ngoài.Vì vậy, chúng ta phải làm tốt cả 2 nhiệm vụ là thúc đẩy lưu thông hàng hóa đồng thời củng cố
và phát triển mạnh mẽ nền sản xuất trong nước.
Câu 5: Đánh giá câu nói của người Anh: “ Thương mại là hòn đá thử vàng đối vs sự phồn
thịnh của 1 quốc gia, không có phép lạ nào khác để kiếm tiền trừ thương mại”
Giải thích
Thomas Mun(1571-1614) là nhà Kinh tế học Anh,giám đốc cty Đông Ấn-cty cổ phần đầu tiên trên
thế giới và lớn nhất nc Anh thời đó.
Theo ông, chỉ có thương mại mới là phương thức để kiếm tiền, tạo ra của cải, còn các hđộng khác
như công nghiệp, nông nghiệp ko tạo ra tiền mà chỉ là phương tiện để có nhiều tiền mà thôi. Thương mại
5
càng đc mở rộng thì càng có nhiều cơ hội kiếm tiền, quốc gia càng giàu có. Sự phát triển của thương mại là
thước đo duy nhất đo sự phồn thịnh của 1 quốc gia.
Thương mại đẻ ra tiền, tiền lại đẻ ra thương mại. Phải thực hiện bán nhiều hơn mua, phải mở rộng
xuất khẩu và phải xuất siêu. Ông đề nghị: “Chúng ta phải thường xuyên giữ vững nguyên tắc là hàng năm
bán cho ng nc ngoài vs số lượng HH lớn hơn số lượng mà chúng ta phải mua của họ”, tức là phải xuất siêu.
Tư tưởng cơ bản của luận điểm trên cho thấy, Thomas Mun đã tuyệt đối hóa vai trò của thương mại
trong hoạt động Kinh tế cũng như trong tích lũy tiền. Ông là 1 đại biểu của CNTT trong g/đoạn phát triển
thật sự của nó.
Đánh giá
Thomas Mun đã phát hiện ra vai trò của thương mại trong việc tạo ra của cải. Thật vậy, mục đích của
sản xuất hàng hóa là để bán.Nếu ko có thương mại (thực chất là lưu thông) thì hàng hóa ko thể thực hiện đc,
ko thể thu hồi chi phí sản xuất và tích lũy tiền tệ, do đó ko thể có tái sản xuất nói chung và tái SX mở rộng
nói riêng.
Trong đk toàn cầu hóa,hội nhập kinh tế quốc tế và khi VN đã gia nhập WTO như hiện nay, việc phát
triển thương mại, nhất là ngoại thương là rất cần thiết đối vs các nc nói chung và nc ta nói riêng. Nó ko chỉ
là phương thức để phát huy lợi thế của nền Kinh tế mà còn là cầu nối giữa các nguồn lực trong và ngoài nc,
tạo đk cho sự tăng trưởng nhanh nền Kinh tế dân tộc.
Tuy nhiên, vế thứ 2 “không có phép lạ…” của Thomas Mun có tính phiến diện. Trong khi đề cao vai
trò của thương mại, lại ko thấy đc vai trò quyết định của SX, ko thấy đc mối quan hệ giữa sản xuất và lưu
thông. Bởi vậy trong nhận thức và tổ chức thực tiễn, việc đề ra giải pháp phát triển thương mại nhất thiết
phải đc đặt trong mối quan hệ gắn bó vs SX.
Câu 6: Giải thích luận điểm của A. Montchretien: “ Nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoại
thương là máy bơm, muốn tăng của cải phải nhập dẫn của cải qua ngoại thương”
Chủ nghĩa trọng thương họ coi trọng tiền tệ, họ coi tiền tệ như là thước đo tiêu chuẩn của sự giàu có
và mọi sự hùng mạnh của một quốc gia. Do đó mục đich kinh tế của mỗi nước đó là phải tăng kl tiền tệ. Nhà
nước càng nhiều tiền thì càng giàu có; họ coi hàng hoá chỉ là phương tiện tăng khối lượng tiền tệ. Họ coi
tiền là đại biểu duy nhất của của cải, tiêu chuẩn để đánh giá mọi hinh thức hành nghề hoạt động nghề
nghiệp, những hoạt động nào mà không dẫn đến tích luỹ tập thể là hoạt động không có lợi, hoạt động tiêu
cực. Họ coi nghề nông là một nghề trung gian những hoạt động tích cực và tích cực vì nghề nông không làm
tăng hay giam của cải, hoạt động chủ nghĩa thì không thể là nguồn gốc của cải (trừ chủ nghĩa khai thác vàng
bạc).
Ngoại thương là động lực tăng kinh tế chủ yếu của một nước, không có ngoại thương không thể tăng
được của cải . Ngoại thương được ví như máy bơm đưa lượng tiền nước ngoài vào trong nước
Đối với ông, khối lượng tiền tệ chỉ có thể gia tăng bằng con đường ngoại thương cụ thể là xuất siêu.
Lợi nhuận từ ngoại thương chính là việc mua rẻ hàng hóa trong nước và bán đắt cho các quốc gia khác thu
về một lượng tiền tệ. Chính vì thế ngoại thương là máy bơm đưa tiền từ nước ngoài vào nền kinh tế trong
nước.
“Nội thương là ống dẫn” bởi nội thương chỉ có tác dụng làm di chuyển của cải và hàng hóa trong nước từ
người này sang người khác, từ ngành nghề này sang ngành nghề khác.
Quan điểm này đánh giá cao ngoại thương xem nhẹ nội thương vì ông chỉ chú ý đến lĩnh vực lưu
thông (T-H-T) mà chưa hiểu được toàn bộ quá trình sản xuất và bước chuyển của việc tạo ra lợi nhuận đó là
do gia tăng sản xuất =) giải pháp số một là tăng cả nội thương và ngoại thương.
Tích luỹ tiền tệ chỉ thực hiện được dưới sự giúp đỡ của Nhà nước. Nhà nước nắm độc quyền về ngoại
thương, thông qua việc tạo điều kiện pháp lí cho công ty thương mại độc quyền buôn bán với nước ngoài.
6
Câu 7: Nhận xét vai trò, hạn chế của chủ nghĩa trọng thương.
Về mặt thực tiễn:
Vai trò:
Những chính sách kinh tế của chủ nghĩa trọng thương đưa ra như đẩy mạnh ngoại thương, trợ giúp tài
chính tín dụng, bảo hộ thuế quan… tạo ra nguồn vốn ban đầu rất lớn cho sự hình thành phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa, đẩy nhanh quá trình tích lũy tư bản, rút ngắn thời kì quá độ từ phong kiến lên tư bản.
Hạn chế: k có hạn chế về mặt thực tiễn.
Về mặt lí luận:
Vai trò:
Trường phái trọng thương đã đặt nền móng cho các lí thuyết kinh tế sau này như: lí thuyết tiền tệ, lí
thuyết về sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế.
Những luận điểm của chủ nghĩa trọng thương so sánh với nguyên lý trong chính sách kinh tế thời kỳ
Trung cổ đã có một bước tiến bộ rất lớn, nó thoát ly với truyền thống tự nhiên, từ bỏ việc tìm kiếm công
bằng xã hội, những lời giáo huấn lý luận được trích dẫn trong Kinh thánh:
- Thời kì phong kiến giải thích các hiện tượng kinh tế bằng thần bí tôn giáo còn CNTT đã dựa vào
tài liệu lịch sử, sự kiện có thật để phân tích kinh tế;
- Thời kì phong kiến xem xét của cải nặng về mặt hiện vật còn CNTT đã xem xét của cải theo quan
niệm giá trị;
- CNTT còn thấy đc mục đích của sản xuất và trao đổi hàng hóa là lợi nhuận.
Hạn chế:
Những quan điểm của chủ nghĩa trọng thương rất ít tính lí luận mà nặng tính kinh nghiệm;
Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng thương mới chỉ dừng lại ở cái vỏ bên ngoài của các hiện
tượng và quá trình kinh tế, chỉ dừng lại xem xét trong lĩnh vực lưu thông mà chưa quan tâm đến các hoạt
động khác của nền kinh tế;
Quan niệm về lợi nhuận thương nghiệp tạo ra trong lưu thông là do mua rẻ bán đắt là không chính
xác;
Đánh giá sai lầm vai trò vị trí của các ngành nghề kinh tế trong xã hội (coi trọng quá cao thương
nghiệp, xem thường công nghiệp );
Chưa thấy được các quy luật kinh tế khách quan chi phối đời sống kinh tế.
Câu 8: Đặc điểm của chủ nghĩa trọng thương.
Chủ nghĩa trọng thương là những chính sách cương lĩnh của giai cấp tư sản (tầng lớp tư sản thương
nghiệp Châu Âu trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản. Những chính sách, cương lĩnh này
nhằm kêu gọi thương nhân tận dụng ngoại thương, buôn bán để cướp bóc thuộc địa và nhằm bảo vệ lợi ích
cho giai cấp tư sản đang hình thành.
- Những tư tưởng kinh tế chủ yếu của họ còn đơn giản, chủ yếu là mô tả bề ngoài của các hiện tượng
và quá trình kinh tế, chưa đi sâu vào phân tích được bản chất của các hiện tượng kinh tế.
- Chủ nghĩa trọng thương chưa hiểu biết các quy luật kinh tế, do đó họ rất coi trọng vai trò của nhà
nước đối với kinh tế.
- Chủ nghĩa trọng thương chỉ mới dừng lại nghiên cứu lĩnh vực lưu thông mà chưa nghiên cứu lĩnh vực
sản xuất.
- Chủ nghĩa trọng thương mặc dù có những đặc trưng cơ bản giống nhau, nhưng ở các nước khác nhau
thì có những sắc thái dân tộc khác nhau. Ví dụ: ở Pháp chủ nghĩa trọng thương kỹ nghệ Pháp, ở Tây
Ban Nha là chủ nghĩa trọng thương trọng kim, ở Anh là chủ nghĩa trọng thương trọng thương mại.
Tóm lại, chủ nghĩa trọng thương ít tính lý luận nhưng lại rất thực tiễn. Lý luận còn đơn giản thô sơ,
nhằm thuyết minh cho chính sách cương lĩnh chứ không phải là cơ sở của chính sách cương lĩnh. Mặt khác,
7
đã có sự khái quát kinh nghiệm thực tiễn thành quy tắc, cương lĩnh, chính sách. Có thể nói chủ nghĩa trọng
thương là hiện thực và tiến bộ trong điều kiện lịch sử lúc đó.
CHƯƠNG 2: CHỦ NGHĨA TRỌNG NÔNG (CỔ ĐIỂN PHÁP)
Câu 1: Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm chủ yếu của chủ nghĩa trọng nông ở Pháp.
1. Hoàn cảnh ra đời
Vào giữa thế kỷ thứ XVIII hoàn cảnh kinh tế - xã hội Pháp đã có những biến đổi làm xuất hiện chủ
nghĩa trọng nông Pháp:
Thứ nhất, quá trình tích lũy tư bản nguyên thủy đã kết thúc, xã hội bắt đầu bước vào quá trình sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa tư bản sinh ra trong lòng chủ nghĩa phong kiến, tuy chưa làm được cách
mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến, nhưng sức mạnh kinh tế của nó rất to lớn, đặc biệt là nó muốn cách
tân trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp… đòi hỏi phải có lý luận và cương lĩnh kinh tế mở đường cho lực
lượng sản xuất phát triển.
Thứ hai, sự thống trị của giai cấp phong kiến ngày càng tỏ ra lỗi thời mà mâu thuẫn sâu sắc với xu
thế đang lên của chủ nghĩa tư bản, đòi hỏi phải có lý luận giải quyết những mâu thuẫn đó.
Thứ ba, nguồn gốc của cải duy nhất là tiền, nguồn gốc sự giàu có của một quốc gia, dân tộc duy nhất
là dựa vào đi buôn… (quan điểm của chủ nghĩa trọng thương) đã tỏ ra lỗi thời, bế tắc, cản trở tư bản sinh lời
từ sản xuất… đòi hỏi cần phải đánh giá lại những quan điểm đó;
Thứ tư, ở Pháp lúc này có một tình hình đặc biệt, là lẽ ra đấu tranh chống chủ nghĩa trọng thương sẽ
mở đường cho công trường thủ công phát triển thì lại khuyến khích chủ nghĩa trọng nông ra đời. Sự phát
triển nông nghiệp Pháp theo hướng kinh tế chủ trại, kinh doanh nông nghiệp theo lối tư bản chứ không bó
hẹp kiểu phát canh thu tô theo lối địa chủ như trước. Đúng như Mác đánh giá: xã hội Pháp lúc bấy giờ là chế
độ phong kiến nhưng lại có tính chất tư bản, còn xã hội tư bản lại mang cái vỏ bề ngoài của phong kiến.
2. Đặc điểm chủ yếu
Trường phái trọng nông chuyển trọng tâm nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất,
đặc biệt đánh giá cao vai trò của nông nghiệp. Coi nó là lĩnh vực duy nhất tạo ra của cải cho xã hội, chỉ có
lao động nông nghiệp mới là lao động có ích và là lao động sinh lời, muốn giàu có phải phát triển nông
nghiệp.
Trường phái trọng nông đã đồng nhất sản xuất nông nghiệp với sản xuất vật chất, do đó đồng nhất địa
tô vs sản phẩm ròng, sản phẩm thuần túy (sản phẩm thặng dư).
Chủ nghĩa trọng nông với lí luận về sản phẩm thuần túy đã reo mầm mống cho lí luận về giá trị thặng
dư sau này.
Chủ nghĩa trọng nông là một trong những trường phái đầu tiên phân tích sự vận động của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa song vẫn chưa vượt qua khuôn khổ của xã hội phong kiến.
Về thể chế chính trị: phát triển trong xã hội phong kiến.
Về mặt kinh tế: Chủ nghĩa trọng nông đã đề xuất nhiều tư tưởng kinh tế mới theo phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa; phê phán một cách sâu sắc và toàn diện chủ nghĩa trọng thương; ủng hộ tư tưởng tự
do kinh tế ( học thuyết về Trật tự tự nhiên)
Câu 2: Nêu sự giống nhau của 2 trường phái cổ điển Anh và Pháp
= Trình bày khái quát đặc điểm phương pháp luận của trường phái cổ điển.
Trường phái cổ điển nói chung bao gồm 2 trường phái phát triển riêng biệt tại 2 quốc gia khác nhau,
đó là:
- Trường phái cổ điển Pháp hay còn gọi là chủ nghĩa trọng nông xuất hiện ở Pháp giữa thế kỉ
XVIII.
8
- Trường phái cổ điển Anh hay còn gọi là kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh ra đời cuối thế kỉ
XVII.
Mặc dù xuất hiện ở 2 quốc gia khác nhau tại các mốc thời gian khác nhau, đồng thời cũng có nhiều
sự khác biệt về nội dung, tuy nhiên, có thể thấy, giữa 2 trường phái có nhiều điểm tương đồng:
Về bối cảnh lịch sử ra đời:
Đều diễn ra khi quá trình tích lũy nguyên thủy kết thúc. Khi mà các nguồn tích lũy bằng con đường
trao đổi không ngang giá tỏ ra không hiệu quả, giai cấp tư sản bắt đầu chuyển lợi ích của họ vào lĩnh vực
sản xuất.
Đều là học thuyết kinh tế sinh ra nhằm thay thế cho chủ nghĩa trọng thương đã tỏ ra lạc hậu và bộc lộ
những sai lầm làm cho nền sản xuất các nước bị đình đốn.
Về chính trị, giai cấp tư sản phát triển trong lòng xã hội phong kiến một cách mạnh mẽ đòi hỏi có
những cương lĩnh, lí luận kinh tế riêng cho giai cấp mình.
Về đặc điểm phương pháp luận:
Đối tượng nghiên cứu: chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất,
nghiên cứu các quan hệ kinh tế trong quá trình sản xuất.
Nội dung: Ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế, chống lại sự can thiệp của Nhà nước, nghiên cứu sự vận
động của nền kinh tế đơn thuần do các quy luật tự nhiên điều tiết. (VD: tư tưởng của P.Quesney – trường
phái trọng nông, lí thuyết “bàn tay vô hình của A.Smith – cổ điển Anh)
Ý nghĩa: Đặt nền móng cho sự ra đời của các lí luận về giá trị thặng dư (VD: lí luận về sản phẩm
thuần túy – trọng nông, lí luận về giá trị lao động – cổ điển Anh) về tái sản xuất (VD: sơ đồ biểu kinh tế -
trọng nông, lí luận về tái sản xuất của A.Smith, của Ricardo – Cổ điển Anh) về tiền tệ (lí luận về tiền tệ - cổ
điển Anh, nội dung phê phán chủ nghĩa trọng thương – trọng nông)
Câu 3: Phân tích các nội dung lí thuyết:
1. Phê phán chủ nghĩa trọng thương.
Một là, theo quan điểm của Francois Quesney lợi nhuận của thương nhân có được chỉ là nhờ sự tiết
kiệm các khoản chi phí thương mại. Thực ra, đối với việc mua bán hàng hoá, cả bên mua và bên bán không
ai được và mất gì cả. Ông khẳng định tiền của thương nhân không phải là lợi nhuận của quốc gia. Còn
Turgot khẳng định: bản thân thương mại không thể tồn tại được nếu như đất đai được chia đều và mỗi người
chỉ có “số cần thiết để sinh sống”.
Hai là, quan niệm về đồng tiền: Boisguillebert đã phê phán gay gắt tư tưởng trọng thương đã quá đề
cao vai trò của đồng tiền, lên án gay gắt chính sách giá cả của bộ trưởng Colbert. Ông chứng minh của cải
quốc dân chính là những vật hữu ích và trước hết là sản phẩm của nông nghiệp cần phải được khuyến
khích.Nếu chủ nghĩa trọng thương quá đề cao tiền tệ, thì Boisguillebert cho rằng, khối lượng tiền nhiều hay
ít không có nghĩa lý gì, chỉ cần có đủ tiền để giữ giá cả tương ứng với hàng hoá. Tiền có thể là “một tên đao
phủ”, nó tuyên chiến với toàn thể nhân loại và nghệ thuận tài chính đã biến thành cái lồng của chiếc nồi sứt,
biến một số lượng của cải tư liệu sinh hoạt “thành hơi” để lấy cái chất cặn bã đó.
Ba là, Chủ nghĩa trọng thương muốn đưa ra nhiều thứ thuế để bảo hộ thương mại, tăng cường sức
mạnh quốc gia… còn chủ nghĩa trọng nông chủ trương tự do lưu thông, vì lưu thông của cải hàng hoá sẽ
kích thích sản xuất và sự giàu có của tất cả mọi người. Chủ nghĩa trọng nông chống lại tất cả những đặc
quyền về thuế và đòi hỏi thứ thuế thống nhất đối với địa chủ, tăng lữ, quý tộc cũng như những nhà tư sản có
của.
Bốn là, chủ nghĩa trọng thương coi tích luỹ vàng là nguồn giàu có, do đó đã đẻ ra những đội tầu buôn
chuyên đi cướp bóc. Ngược lại, chủ nghĩa trọng nông cho rằng, cần có một nền nông nghiệp giàu có tạo ra
thặng dư cho người sở hữu và thợ thủ công, ưu tiên cho nông nghiệp sẽ dẫn tới sự giàu có cho tất cả mọi
người. Tiền bạc không là gì cả, sản xuất thực tế mới là tất cả.
9
Năm là, chủ nghĩa trọng thương coi trọng ngoại thương, nhưng họ hạn chế nhập khẩu, khuyến khích
xuất khẩu, chủ trương xuất siêu để nhập vàng vào các kho chứa quốc gia, do đó dẫn tới một chủ nghĩa bảo
hộ không hiệu quả. Ngược lại, chủ nghĩa trọng nông chủ trương tụ do lưu thông , tự do thương mại tạo ra
nguồn lực là giàu, làm tăng trưởng kinh tế.
Sáu là, nếu chủ nghĩa trọng thương biến nhà nước thành nhà kinh doanh và mở đường cho nhà kinh
doanh tư nhân hoạt động. Chủ nghĩa trọng nông chủ trương “tự do hành động”, chống lại “nhà nước toàn
năng”, tính tự do của tư nhân không bị luật pháp và nghiệp đoàn làm suy yếu.
2. Cương lĩnh, chính sách kinh tế của chủ nghĩa trọng nông.
Về thực chất cương lĩnh là những quan điểm, những chiến lược và chính sách nhằm phát triển kinh
tế, trước hết và chủ yếu là phát triển nông nghiệp:
Quan điểm về nhà nước:
Chính quyền tối cao phải là chính quyền duy nhất đứng trên tất cả các thành viên khác trong xã hội.
Nhà nước có chức năng bảo vệ quyền sở hữu, việc đảm bảo quyền sở hữu là cơ sở tồn tại và phát
triển của toàn xã hội.
Quan điểm về giai cấp trong xã hội:
F.Quesney chia xã hội thành 3 giai cấp, đó là:
Giai cấp sở hữu – địa chủ, quý tộc, thầy tu, tăng lữ: thu sản phầm thuần túy.
Giai cấp sản xuất – những người làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp – công nhân nông nghiệp, chủ
đồn điền, chủ trang trại: tạo ra sản phẩm thuần túy
Giai cấp không sản xuất là những người làm việc trong lĩnh vực công nghiệp: không tạo ra sản phẩm
thuần túy.
Quan điểm ưu tiên cho sản xuất nông nghiệp: F.Quesney đề nghị tổ chức sản xuất tư bản chủ
nghĩa có ngành kinh tế chủ yếu làm chỗ dựa chính là là ngành nông nghiệp.
Họ quan niệm, chỉ có sản xuất nông nghiệp mới sản xuất ra của cải hàng hoá… do đó chi phí cho sản
xuất nông nghiệp là chi phí cho sản xuất, chi phí sinh lời, do vậy chính phủ cần phải đầu tư tăng chi phí cho
nông nghiệp.
Chính sách cho chủ trang trại được tự do lựa chọn ngành sản xuất kinh doanh, lựa chọn súc vật chăn
nuôi, có ưu tiên về cung cấp phân bón. Khuyến khích họ xuất khẩu nông sản đã tái chế, không nên xuất
khẩu nguyên liệu thô: tiêu thụ như thế nào thì phải sản xuất cái để xuất khẩu như thế ấy.
Chính sách đầu tư cho đường xá, cầu cống: Lợi dụng đường thuỷ rẻ để chuyên trở hàng hoá. Cần
chống lại chính sách giá cả nông sản thấp để tích luỹ trên lưng nông dân. Bởi vậy đã không khuyến khích
được sản xuất, không có lợi cho sản xuất và đời sống nhân dân. Cách quản lý tốt nhất là duy trì sự tự do
hoàn toàn của cạnh tranh.
Quan điểm về tài chính đặc biệt vấn đề thuế khóa và phân phối thu nhập:
Nhà nước không nên thu thuế quá nặng, chỉ thu theo tỉ lệ tương xứng với khối lượng kinh tế quốc
dân.
Theo F.Quesney, giai cấp địa chủ thu sản phẩm thuần túy nên là đối tượng cần phải thu thuế còn chủ
đồn điền và nông dân là những con gà đẻ trứng vàng cần được nuôi dưỡng và được hưởng ưu đãi.
Như vậy, cương lĩnh kinh tế của phái trọng nông đã vạch rõ một số quan điểm, chính sách mở đường
cho nông nghiệp phát triển theo định hướng mới. Cương lĩnh coi trọng và đề cao sản xuất nông nghiệp.
Song cương lĩnh có những điểm hạn chế: đó là chưa coi trọng vai trò của công nghiệp, thương mại, của kinh
tế thị trường, mà có xu thế thuần nông
3. Học thuyết trọng nông về sản phẩm thuần túy.
Học thuyết này là trung tâm của học thuyết kinh tế trọng nông, đây là bước tiến quan trọng trong lý
luận kinh tế của nhân loại, nội dung chính của lý luận có thể tóm lược thành những nội dung cơ bản sau:
10
Sản phẩm ròng (hay sản phẩm thuần tuý) là sản phẩm do đất đai mang lại sau khi trừ đi chi phí lao
động và chi phí cần thiết để tiến hành canh tác:
Sản phẩm ròng = Sản phẩm xã hội – Chi phí sản xuất
(Chi phí sản xuất là: chi phí về lao động như lương công nhân, lương của tư bản kinh doanh trong
nông nghiệp và chi phí cần thiết để tiến hành canh tác như: chi phí về giống, sức kéo, … ).
Sản phẩm ròng là quà tặng của tự nhiên cho con người, không phải do quan hệ xã hội, quan hệ giai
cấp mang lại.
Chỉ ngành sản xuất nông nghiệp mới tạo ra sản phẩm ròng các ngành khác như công nghiệp,
thương mại không thể sản xuất ra sản phẩm ròng.
Có hai nguyên tắc hình thành giá trị hàng hoá khác nhau giữa công nghiệp và nông nghiệp:
Nông nghiệp
Công nghiệp
Giá trị hàng hóa = chi phí sản xuất, bao gồm:
hạt giống, sức cày kéo, tiền lương của công
nhân nông nghiệp, tiền lương nhà tư bản, chi
phí bổ sung của tư bản thương nghiệp, sản
phẩm thuần túy.
Giá trị hàng hóa = chi phí sản xuất, bao gồm:
nguyên vật liệu, tiền lương của công nhân,
tiền lương nhà tư bản, chi phí bổ sung của tư
thương nghiệp.
Trong công nghiệp giá trị hàng hoá bằng tổng chi phí sản xuất như: tiền lương, nguyên vật liệu và sự
quản lý của các nhà tư bản…
Trong nông nghiệp giá trị hàng hoá bằng tổng chi phí sản xuất tương tự như trong công nghiệp nhưng
cộng thêm với sản phẩm ròng mà công nghiệp không có, bởi vì chỉ có nông nghiệp mới có sự giúp sức của
tự nhiên làm sinh sôi nẩy nở nhiều của cải mới.
Từ lý luận về sản phẩm ròng đi đến lý luận về giá trị lao động. Theo họ lao động tạo ra sản phẩm
ròng mới là lao động sản xuất, còn các lao động khác không sinh lời và không tạo ra sản phẩm ròng.
Lao động sản xuất tạo ra sản phẩm thuần túy cụ thể chỉ có nông nghiệp là loại lao động tạo ra sản
phẩm thuần túy còn công nghiệp là lao động không sinh lời.
4. Học thuyết về trật tự tự nhiên.
Theo F.Quesney có 2 loại quy luật tồn tại trong thế giới: quy luật vật lí và quy luật luân lí.
Quy luật vật lí chi phối tác động tới các vấn đề tự nhiên.
Quy luật luân lí chi phối tác động tới các vấn đề kinh tế.
Quy luật luân lí cũng tất yếu, khách quan và tồn tại vĩnh viễn như quy luật vật lí.
Thứ nhất, lý luận giá trị xuất phát từ năng suất của nông nghiệp, chu kỳ kinh tế và ảnh hưởng của chu
kỳ nông nghiệp. Có thể dùng ẩn dụ về tổ ong để định nghĩa sự thống trị của tự nhiên đối với kinh tế: “những
con ong tự tuân theo một thoả thuận chung và vì lợi ích riêng của chúng là tổ chức tổ ong”.
Thứ hai, quan niệm về tổ chức kinh tế báo trước một niềm tin vào cơ chế tự phát của thị trường: Họ
tin vào sự hài hoà tất yếu được nẩy sinh từ tự nhiên, như một trật tự tất yếu, chính quan điểm này làm cho
chủ nghĩa trọng nông khác xa với chủ nghĩa trọng thương: nếu chủ nghĩa trọng thương cho rằng kinh tế học
là khoa học buôn bán của nhà vua, thì chủ nghĩa trọng nông thì lại cho rằng: Phát triển kinh tế là một trật tự
tự nhiên, kinh tế học không chỉ phục vụ cho kẻ hùng mạnh mà còn phục vụ cho những người sản xuất và
cho các công dân.
Ngoài ra chủ nghĩa trọng nông cho rằng, quyền con người cũng có tính chất tự nhiên. Quyền của con
người phải được thừa nhận một cách hiển nhiên bằng ánh sáng của trí tuệ, không cần cưỡng chế của pháp
luật… Từ đó, họ phê phán chủ nghĩa phong kiến đã đưa ra pháp chế chuyên quyền độc đoán là làm thiệt hại
cho quyền con người.
Lý thuyết về trật tự tự nhiên còn đi đến khẳng định, cái quan trọng đối với quyền tự nhiên của con
người là quyền lao động, còn quyền sở hữu của con người đối với mọi vật thì hoàn toàn giống như “quyền
11
của con chim én đối với tất cả các con ruồi nhỏ đang bay trong không khí”.
Tóm lại, sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực được hưởng sự trợ giúp của tự nhiên, có sự sắp xếp của tự
nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên mà con người phải tôn trọng. Do đó cần tôn trọng sự tự do của nông
dân trong sản xuất nông nghiệp, nhà nước không nên can thiệp làm sai lệch trật tự tư nhiên được coi là hoàn
hảo.
Tuy vậy, lý thuyết về trật tự tự nhiên còn hạn chế ở chỗ, mặc dù luôn tôn trọng con người, đề cao
việc giải phóng con người, song chỉ phê phán đánh đổ phong kiến thì chưa đủ, chưa thoát khỏi giới hạn chật
hẹp của pháp quyền tư sản.
5. Sơ đồ biểu kinh tế.
Đây là một trong những phát minh rất lớn của CNTN: biểu kinh tế là sự mô hình hoá mối liên hệ phụ
thuộc lẫn nhau trong phạm vi toàn xã hội của các giai cấp hiện có, nó được coi là tổ tiên của bảng kinh tế
chung nổi tiếng của ngành kế toán hiện nay.
Để phân tích biểu kinh tế, Quesney đưa ra các giả định sau:
- Nghiên cứu tái sản xuất giản đơn;
- Trừu tượng hóa sự biến động của giá cả;
- Không xét đến ngoại thương.
Quesney chia xã hội thành 3 giai cấp cơ bản là: giai cấp sản xuất (hoạt động trong nông nghiệp, tạo ra
sản phẩm thuần túy); giai cấp không sản xuất (hoạt động trong lĩnh vực công và thương nghiệp); giai cấp sở
hữu (thu sản phẩm thuần túy).
Dựa vào tính chất hiện vật của sản phẩm, Quesney chia sản phẩm xã hội thành sản phẩm nông nghiệp
và sản phẩm công nghiệp.
Cụ thể, giá trị tổng sản phẩm xã hội bao gồm 7 tỉ chia thành: 5 tỉ sản phẩm nông nghiệp, 2 tỉ sản
phẩm công nghiệp.
Chi phí sản xuất nông nghiệp chia thành 3 bộ phận:
- Tiền ứng trước hàng năm (tiển lương, hạt giống): 2 tỉ
- Tiển ứng trước ban đầu (tư bản cố định): 1 tỉ
- Sản phẩm thuần túy tạo ra: 2 tỉ
Sản phẩm công nghiệp được tạo ra từ 2 bộ phận:
- Tư liệu tiêu dùng: 1 tỉ
- Nguyên vật liệu để tiếp tục sản xuất: 1 tỉ.
Giải thích:
Giai cấp sản xuất phải trả cho giai cấp sở hữu 2 tỉ tiền tô.
Hành vi 1: Giai cấp sở hữu dùng 1 tỷ tiền để mua nông sản tiêu dùng cho cá nhân, 1tỷ tiền được
chuyển vào tay giai cấp sản xuất.

-->