Tải bản đầy đủ (.pdf) (130 trang)

Nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thuế hải quan qua ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Luận văn thạc sĩ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 130 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  





NGUYỄN VIẾT BẢO




NÂNG CAO SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG
ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THU THUẾ HẢI QUAN
QUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI






LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ








TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

  




NGUYỄN VIẾT BẢO



NÂNG CAO SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG
ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THU THUẾ HẢI QUAN
QUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI


Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 60340201




LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ





Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG




TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014

LỜI CAM ĐOAN

Để thực hiện luận văn “Nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ
thu thuế hải quan qua Ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”, tôi đã tự
mình nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề, vận dụng kiến thức đã học và trao đổi với giảng
viên hướng dẫn, bạn bè, đồng nghiệp, …
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu và kết quả trong luận văn này là những thông tin xác thực.

TP. Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 10 năm 2014
Người thực hiện luận văn


Nguyễn Viết Bảo





MỤC LỤC

TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1.1. Dịch vụ ngân hàng 6
1.1.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng 6
1.1.2. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng 6
1.1.3. Ý nghĩa đối với việc phát triển dịch vụ ngân hàng 7
1.1.3.1. Đối với ngân hàng thương mại 7
1.1.3.2. Đối với nền kinh tế - xã hội 7
1.2. Khái niệm về thu Ngân sách Nhà nước 8
1.2.1. Thu thuế hải quan 9
1.2.2. Các hình thức thu NSNN 10
1.3. Dịch vụ nộp thuế hải quan cho khách hàng tại NHTM 10
1.3.1. So sánh hình thức nộp thuế qua KBNN và NHTM 11
1.3.2. Quy trình nộp thuế hải quan qua NHTM 11
1.3.2.1. Trường hợp NHTM chưa ký Thỏa thuận hợp tác tổ chức phối hợp thu
NSNN, bảo lãnh thuế đối với hàng hóa XNK bằng phương pháp điện tử 11
1.3.2.2. Trường hợp NHTM đã ký Thỏa thuận hợp tác tổ chức phối hợp thu
NSNN, bảo lãnh thuế đối với hàng hóa XNK bằng phương pháp điện tử 13
1.4. Lợi ích của việc nộp thuế qua NHTM có ký kết Thỏa thuận phối hợp thu
NSNN với TCHQ 15
1.4.1. Lợi ích về phía khách hàng 15
1.4.2. Lợi ích về phía cơ quan hải quan 16
1.4.3. Lợi ích về phía các NHTM 16
1.5. Các hình thức nộp thuế qua NHTM đang được áp dụng 17
1.5.1. Nộp thuế qua thẻ ATM 17
1.5.2. Nộp thuế qua Internet Banking 18
1.5.3. Nộp thuế qua dịch vụ thu NSNN tại các điểm giao dịch của NHTM có ký

Thỏa thuận phối hợp thu NSNN với KBNN và TCHQ 19
1.6. Một số hình thức nộp thuế của một số nước trên thế giới 20
1.6.1. Nộp thuế tại Vương quốc Anh 20
1.6.2. Nộp thuế tại Singapore 22
1.7. Sự hài lòng của khách hàng 23
1.7.1. Khái niệm sự hài lòng 23
1.7.2. Phân loại sự hài lòng 24
1.7.3. Các nhân tố quyết định sự hài lòng của khách hàng 25
1.8. Chất lượng sản phẩm dịch vụ và mối quan hệ với sự hài lòng 27
1.9. Một số mô hình nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng 29
1.9.1. Mô hình chất lượng dịch vụ 29
1.9.2. Mô hình SERVQUAL 30
1.9.3. Mô hình SERVPERF 32
1.9.4. Mô hình FSQ và TSQ (mô hình FTSQ) 33
1.9.5. Mô hình chỉ số hài lòng của khách hàng (CSI model) 34
1.9.6. Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (American Customer
Satisfaction Index - ACSI) 34
1.9.7. Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU (European Customer
Satisfaction Index – ECSI) 35
1.10. Các mô hình nghiên cứu trước đây 36
1.11. Mô hình nghiên cứu đề nghị 37
Kết luận chương 1 39
Chương 2: KHẢO SÁT SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH
VỤ THU THUẾ HẢI QUAN QUA NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 40
2.1. Tổng quan về Đề án phối hợp thu NSNN, bảo lãnh thuế đối với hàng hóa XNK bằng phương th
2.1.1. Mục tiêu 40
2.1.2. Cơ sở pháp lý 41
2.1.3. Tình hình thực hiện 42
2.2. Tổng quan việc triển khai Đề án phối hợp thu NSNN, bảo lãnh thuế đối với
hàng hóa XNK bằng phương thức điện tử qua NHTM trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 43

2.2.1. Số tiền nộp thuế hải quan qua NHTM 45
2.2.2. Số lượng tờ khai nộp thuế 46
2.2.3. Cơ cấu số tiền thuế thu qua NHTM phân theo sắc thuế 47
2.2.4. Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân làm ảnh hưởng đến sự hài lòng
của khách hàng sử dụng dịch vụ thu thuế hải quan qua NHTM tại tỉnh Đồng Nai 48
2.2.4.1. Những thành tựu đạt được 48
2.2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân 48
2.3. Khảo sát sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thu thuế hải quan qua
NHTM trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 49
2.3.1. Thiết kế mô hình 49
2.3.1.1. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 49
2.3.1.2. Thiết kế nghiên cứu 50
2.3.1.3. Phương pháp nghiên cứu 50
2.3.1.4. Xây dựng thang đo 51
2.3.1.5. Kích thước mẫu 53
2.3.1.6. Thông tin mẫu nghiên cứu 54
2.3.2. Phân tích thang đo 55
2.3.2.1. Thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng 55
2.3.2.1.1. Độ tin cậy Cronbach’s alpha 55
2.3.2.1.2. Phân tích nhân tố EFA 56
2.3.2.2. Thang đo sự hài lòng 58
2.3.2.2.1. Độ tin cậy Cronbach’s alpha 58
2.3.2.2.2. Phân tích nhân tố EFA 59
2.3.3. Hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 59
2.3.4. Phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính 59
2.3.4.1. Xác định biến độc lập, biến phụ thuộc 59
2.3.4.2. Phân tích tương quan 60
2.3.4.3. Phân tích hồi quy tuyến tính bội 60
2.3.4.3.1. Kiểm định ý nghĩa các biến trong mô hình 60
2.3.4.3.2. Kiểm định các giả định hồi quy 61

2.3.4.3.3. Đánh giá độ phù hợp, kiểm định độ phù hợp của mô hình và hiện
tượng đa cộng tuyến 62
2.3.4.3.4. Phương trình hồi qui 63
2.3.4.3.5. Tổng kết kết quả kiểm định các giả thuyết 63
Kết luận chương 2 65
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG
ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THU THUẾ HẢI QUAN QUA NHTM TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐỒNG NAI 66
3.1. Định hướng hiện đại hóa quy trình thu nộp NSNN và thủ tục hải quan 66
3.1.1. Sự cần thiết để phát triển dịch vụ nộp thuế hải quan tại Việt Nam 66
3.1.2. Định hướng hiện đại hóa quy trình thu nộp NSNN và thủ tục hải quan 68
3.2. Giải pháp nâng cao sự hài lòng và phát triển dịch vụ nộp thuế hải quan cho
khách hàng tại các NHTM 70
3.2.1. Giải pháp đối với các NHTM 70
3.2.1.1. Nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên thực hiện dịch vụ 70
3.2.1.2. Phát triển thêm các hình thức nộp thuế mới, đồng thời đẩy mạnh quảng
bá dịch vụ 72
3.2.1.3. Đẩy mạnh hoạt động bảo lãnh thuế hải quan 72
3.2.1.4. Phát triển gói sản phẩm dành cho doanh nghiệp XNK 74
3.2.1.5. Tăng cường hợp tác để KBNN mở tài khoản tại NHTM 75
3.2.2. Giải pháp về phía các cơ quan Nhà nước 76
3.2.2.1. Cơ quan hải quan cho phép NHTM được thực hiện bảo lãnh chung tại
nhiều Chi cục 76
3.2.2.2. Nghiên cứu triển khai nhiều hình thức nộp thuế 76
3.2.2.3. Xác định thời điểm tiền vào NSNN 78
3.2.2.4. KBNN mở tài khoản ở nhiều NHTM hơn 79
3.2.2.5. Ban hành Thông tư cho phép cơ quan hải quan mở tài khoản tại Ngân
hàng thương mại 79
3.2.2.6. Bộ Tài chính có hướng dẫn về việc sử dụng giấy nộp tiền tại NHTM để
thực hiện thông quan cho doanh nghiệp 81

3.2.2.7. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 83
Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KBNN: Kho bạc Nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
NSNN: Ngân sách Nhà nước
TCHQ: Tổng cục Hải quan
TCT: Tổng cục Thuế
TMCP: Thương mại cổ phần
XNK: Xuất nhập khẩu
VNACCS: Vietnam Automated Cargo And Port Consolidated System (Hệ thống
thông quan hàng hóa tự động của Hải quan Việt Nam)
VCIS: Vietnam Customs Intelligent System (Hệ thống thông tin tình báo của Hải
quan Việt Nam)





DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU
BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: So sánh hình thức nộp thuế qua KBNN và NHTM.
Bảng 2.1: Số tiền thuế khách hàng nộp thuế qua dịch vụ thu thuế hải quan qua

NHTM trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Bảng 2.2: Số lượng tờ khai nộp thuế qua dịch vụ thu thuế tại NHTM trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai.
Bảng 2.3: Cơ cấu số tiền thuế hải quan nộp qua NHTM phân theo sắc thuế
Bảng 2.4: Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng.
Bảng 2.5: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Phương tiện hữu hình.
Bảng 2.6: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Mức độ tin cậy.
Bảng 2.7: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Mức độ đảm bảo.
Bảng 2.8: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Mức độ đáp ứng.
Bảng 2.9: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Sự cảm thông.
Bảng 2.10: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Quy trình thực hiện.
Bảng 2.11: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Chính sách quy định của cơ
quan Nhà nước.
Bảng 2.12: Kiểm định KMO và Bartlett's lần 1.
Bảng 2.13: Kết quả phân tích EFA lần 1.
Bảng 2.14: Ma trận xoay nhân tố lần 1.
Bảng 2.15: Kiểm định KMO và Bartlett's lần 2.
Bảng 2.16: Kết quả phân tích EFA lần 2
Bảng 2.17: Ma trận xoay nhân tố lần 2
Bảng 2.18: Kiểm định KMO và Bartlett's lần 3.
Bảng 2.19: Kết quả phân tích EFA lần 3.
Bảng 2.20: Ma trận xoay nhân tố lần 3.
Bảng 2.21: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Chính sách quy định của cơ
quan Nhà nước.
Bảng 2.22: Kiểm định KMO và Bartlett's Thành phần Sự hài lòng.
Bảng 2.23: Kết quả phân tích EFA của Thành phần Sự hài lòng.
Bảng 2.24: Hệ số tải nhân tố của Thành phần Sự hài lòng.
Bảng 2.25: Hệ số tương quan lần 1.
Bảng 2.26: Tóm tắt các hệ số hồi qui lần 1.
Bảng 2.27: Hệ số tương quan lần 2.

Bảng 2.28: Kiểm định Spearman của các nhân tố với trị tuyệt đối của phần dư.
Bảng 2.29: Độ phù hợp của mô hình.
Bảng 2.30: Bảng phân tích phương sai ANOVA.
Bảng 2.31: Kết quả kiểm định các giả thuyết.
Bảng 3.1: Bảng thống kê thời gian và số lần nộp thuế tại Việt Nam.
HÌNH VẼ
Hình 1.1: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (American Customer
Satisfaction Index - ACSI)
Hình 1.2: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU (European Customer
Satisfaction Index – ECSI)
Hình 2.1: Biểu đồ phân tán scatter.
Hình 2.2: Biểu đồ tần số Histogram.
1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để đảm bảo nguồn lực tài chính cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Nhà
nước đã đặt ra các khoản thu do mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ
của mình. Thực chất, thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập
trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các
nhu cầu của Nhà nước.
Ở Việt Nam, xét về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền
Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Xét về
mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội
phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên
quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình. Thu
NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị
ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Theo Luật NSNN hiện
hành, các khoản thu về thuế chiếm một tỷ lệ lớn trong thu NSNN của Việt Nam.
Với vai trò là một cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính và một trong hai Tổng cục

trực tiếp quản lý việc thu thuế, Tổng cục Hải quan đã và đang đóng vai trò quan trọng
thực hiện nhiệm vụ thu NSNN trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, nhập khẩu của mình.
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính, thu thuế từ hoạt động xuất khẩu,
nhập khẩu luôn chiếm 20% trong tổng số thu của NSNN hàng năm. Trong đó năm
2013, số thuế Tổng cục Hải quan đã thu là 221.400 tỷ đồng, chiếm 26,61 % trong tổng
thu NSNN năm 2013 (832.000 tỷ đồng).
Dự toán thu NSNN năm 2014, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính đã giao số
thu thuế năm 2014 của Tổng cục Hải quan là 154.000 tỷ đồng, chiếm 20% trong tổng
dự toán thu NSNN năm 2014 (787.700 tỷ đồng).
Với số thu thuế hải quan nộp NSNN rất lớn như vậy, việc thu nộp thuế là một
nội dung mang tính mấu chốt, quan trọng. Trước đây, doanh nghiệp chỉ có thể nộp thuế
bằng tiền mặt tại cơ quan hải quan hoặc KBNN. Điều này làm mất nhiều thời gian phát
2

sinh thêm chi phí, không đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp. Do đó giải pháp đưa ra là
cần có một kênh thu nộp thuế an toàn, nhanh chóng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của
Chính phủ trong việc thanh toán không dùng tiền mặt. Xuất phát từ nhu cầu đó, hình
thức nộp thuế qua NHTM là một giải pháp hiệu quả để đáp ứng các yêu cầu trên.
Trên thực tế, hình thức nộp thuế qua NHTM cũng tương tự hình thức nộp bảo
hiểm qua ngân hàng đã được phát triển trước đây. Bancassurance (banca + assurance)
là một hình thức ngân hàng và Công ty bảo hiểm hợp tác với nhau để phát triển và
phân phối một cách hiệu quả các sản phẩm ngân hàng và bảo hiểm thông qua việc cung
cấp các sản phẩm cho cùng một cơ sở khách hàng. Bancassurance được xem là hình
thức hợp tác mà các bên: công ty bảo hiểm, ngân hàng và khách hàng đều có lợi. Đối
với ngân là tăng thêm thu nhập do hưởng phí hoa hồng từ việc bán bảo hiểm, cho thuê
mặt bằng giao dịch, thu phí các dịch vụ ngân hàng… Đối với công ty bảo hiểm là có
thêm nguồn khách hàng mới đó là khách hàng của ngân hàng, giảm chi phí phân phối
sản phẩm, đa dạng hóa các kênh phân phối, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống đại lý và
môi giới bảo hiểm…Đối với khách hàng là được thêm kênh mua sản phẩm, tiết kiệm
chi phí, thủ tục đơn giản, thuận tiện, có thể sử dụng được trọn gói các sản phẩm tài

chính…
Để nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN và tăng cường cải cách thủ tục hành
chính, giảm thiểu thời gian và thủ tục nộp tiền cho người nộp thuế, Bộ Tài chính ban
hành Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày 17/06/2011 hướng dẫn và triển khai “Dự án
hiện đại hóa thu, nộp ngân sách nhà nước giữa Kho bạc Nhà nước - Tổng cục Thuế -
Tổng cục Hải quan và các ngân hàng thương mại”.
Dự án triển khai và đi vào hoạt động đem lại nhiều lợi ích, giúp cho người nộp
thuế có thể thực hiện nghĩa vụ thuế nhanh chóng dễ dàng; hiện tại ở một số địa bàn,
ngành Thuế - Hải quan - Kho bạc cùng với các NHTM tham gia dự án tổ chức phối
hợp thu ngân sách, bổ sung thêm kênh phục vụ tổ chức cá nhân, người nộp thuế có thể
lựa chọn, làm thủ tục nộp tiền vào NSNN tại các địa điểm phù hợp nhất. Đó là KBNN
hoặc chi nhánh, điểm giao dịch của các NHTM tham gia dự án. Ngoài ra, người nộp
3

thuế có thể làn thủ tục nộp NSNN ngoài giờ hành chính, nộp vào ngày nghỉ thì được
các NHTM tra cứu, hỗ trợ thông tin để bổ sung hoàn thiện chứng từ nộp. Bên cạnh đó,
người nộp thuế có thể sử dụng các dịch vụ nộp thuế hiện đại đảm bảo kịp thời chính
xác như Internet Banking, Mobile Banking…
Nhằm thực hiện tốt chỉ đạo của chính phủ về tăng cường thanh toán không dùng
tiền mặt và thực hiện Dự án hiện đại hóa thu NSNN theo Thông tư số 85/2011/TT-
BTC của Bộ Tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng thực hiện nghĩa vụ
nộp NSNN được tiếp cận hình thức thu mới qua ngân hàng và tạo thuận lợi tối đa cho
các doanh nghiệp XNK, TCHQ đã triển khai và ký thỏa thuận hợp tác về việc tổ chức
phối hợp thu NSNN, bảo lãnh thuế đối với hàng hóa XNK bằng phương thức điện tử
qua NHTM. Trong thời gian đầu thực hiện, Tổng cục Hải quan đã ký thoản thuận với 4
ngân hàng tại 9 Cục Hải quan trọng điểm trong cả nước. Đến nay ngành hải quan đã
triển khai phối hợp thu NSNN đối với 17 ngân hàng tại 34 Cục Hải quan tỉnh, thành
phố trong cả nước.
Việc liên kết trên giữa cơ quan hải quan và các NHTM là một bước tiến lớn
giúp doanh nghiệp thuận tiện trong việc nộp thuế xuất nhập khẩu, rút ngắn thời gian đi

lại, chờ đợi nộp tiền thuế, đặc biệt những doanh nghiệp có số lượng tờ khai đăng ký
nhiều và đăng ký tại nhiều địa điểm khác nhau. Và đặc biệt tháo gỡ quy định phải nộp
thuế xuất khẩu, nhập khẩu hoàn toàn qua kho bạc như trước đây gây khó khăn nhiều
cho doanh nghiệp.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi quyết định chọn đề tài “NÂNG CAO SỰ
HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THU THUẾ HẢI QUAN
QUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI” làm
luận văn tốt nghiệp, nhằm tìm ra những yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng
đối với dịch vụ thu thuế xuất nhập khẩu tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai, từ đó đưa ra các biện pháp, kiến nghị đối với TCHQ, các ngân hàng để triển
khai tốt hơn dịch vụ này trong thời gian tới, đồng thời làm cơ sở để thực hiện các dịch
vụ thanh toán trực tuyến khi hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS được chính
4

thức triển khai từ tháng 4/2014 và Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN
sau này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng nộp thuế qua NHTM.
Sử dụng phân tích định tính nhằm làm rõ các yếu tố cá nhân và yếu tố trải
nghiệm của khách hàng nộp thuế có ảnh hưởng đến đo lường sự hài lòng thông qua
phương pháp thống kê mô tả.
Phân tích định lượng: xây dựng thang đo đánh giá sự hài lòng của khách hàng
nộp thuế khi nộp thuế hải quan vào NSNN thông qua các NHTM trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai, để từ đó rút ra những nhân tố nào đóng vai trò tích cực trong mô hình
nghiên cứu và những nhân tố nào cần chỉnh sửa bổ sung.
Dựa trên kết quả hồi quy để đánh giá sự hài lòng của khách hàng nộp thuế khi
sử dụng dịch vụ thu thuế hải quan vào NSNN thông qua các NHTM trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai. Qua đó đưa ra một số góp ý nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng nộp
thuế hải quan vào NSNN thông qua các NHTM trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ thu thuế hải
quan qua NHTM tại các ngân hàng trong tỉnh Đồng Nai mà Cục Hải quan Đồng Nai đã
ký thỏa thuận phối hợp thu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành thông qua hai giai đoạn chính là: (1) nghiên cứu
định tính nhằm xây dựng và hoàn thiện bản phỏng vấn; (2) nghiên cứu định lượng
nhằm thu thập, phân tích dữ liệu khảo sát, cũng như ước lượng và kiểm định các mô
hình.
Đề tài sử dụng nhiều công cụ phân tích dữ liệu: các thống kê mô tả, phân tích
nhân tố khám phá (EFA), kiểm định thang đo (Cronbach’s Alpha), t-test, ANOVA, hồi
quy bội với phần mềm SPSS.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
5

Đề tài xác định các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch
vụ thu thuế hải quan qua NHTM một cách đầy đủ và chính xác. Từ đó ngân hàng và cơ
quan Hải quan có những cải tiến thích hợp trong chiến lược phục vụ khách hàng, cải
tiến sản phẩm dịch vụ làm cho khách hàng hài lòng khi chọn dịch vụ thu thuế hải quan
qua NHTM.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc triển khai các sản phẩm dịch vụ mới đáp
ứng nhu cầu ngày một đa dạng và phong phú của khách hàng, từ đó làm cơ sở để thực
hiện các dịch vụ thanh toán trực tuyến khi hệ thống hải quan điện tử VNACCS/VCIS,
Cơ chế một cửa ASEAN và Cơ chế hải quan một cửa quốc gia chính thức đưa vào hoạt
động.
Với việc phân tích các nhân tố liên quan đến sự hài lòng của khách hàng, ngân
hàng và cơ quan Hải quan sẽ hiểu rõ hơn về nhu cầu của khách hàng cũng như chất
lượng dịch vụ mà ngân hàng đang cung cấp. Thực hiện đề tài mang ý nghĩa thực tiễn
khách quan và thiết thực nhằm đánh giá lại chất lượng của dịch vụ này trong thời gian
qua.
6. Kết cấu của luận văn

- Phần mở đầu: Trình bày lý do chọn đề tài, các mục tiêu nghiên cứu, phạm vi
nghiên cứu, giới thiệu phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài, điểm
nổi bật của đề tài.
- Phần nội dung gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu.
Chương 2: Khảo sát hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thu thuế hải quan
qua NHTM trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thu
thuế hải quan qua NHTM trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
- Phần kết luận: Tóm lược lại các kết quả nghiên cứu đã thực hiện cũng các
giải pháp then chốt của tác giả trong việc thực hiện đề tài.
6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Dịch vụ ngân hàng
1.1.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng
Cho đến nay, ở nước ta vẫn chưa có một khái niệm nào được nêu cụ thể về dịch
vụ ngân hàng. Có không ít quan niệm cho rằng dịch vụ ngân hàng không phụ thuộc
phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của
một trung gian tài chính (huy động tiền gửi, cho vay), chỉ những hoạt động ngân hàng
không thuộc nội dung nói trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng như dịch vụ chuyển tiền,
thu hộ ủy thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh chứng khoán… một số khác lại cho
rằng tất cả hoạt động của ngân hàng phục vụ cho khách hàng là cá nhân và doanh
nghiệp đều gọi là dịch vụ ngân hàng.
Khi nói đến lĩnh vực dịch vụ ngân hàng đối với nền kinh tế, các nước đều quan
niệm dịch vụ ngân hàng theo nghĩa rộng. Trên thực tế, một ngân hàng bán lẻ thường có
nhiều dịch vụ khác nhau cho khách hàng cá nhân hay doanh nghiệp, dịch vụ ngân hàng
càng hiện đại và không có giới hạn khi nền kinh tế ngày càng phát triển, xã hội ngày
càng văn minh, nhu cầu của con người ngày càng cao và đa dạng.
1.1.2. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng

Dịch vụ ngân hàng được thể hiện dưới dạng dịch vụ nên có những đặc điểm sau:
- Tính vô hình: dịch vụ ngân hàng thường được thực hiện theo một quy trình
chứ không phải là các vật thể cụ thể có thể quan sát, nắm giữ được. Điều này đã làm
cho khách hàng gặp khó khăn trong việc đưa ra quyết định lựa chọn, sử dụng dịch vụ.
Vì vậy có thể kiểm tra, xác định được chất lượng dịch vụ ngân hàng trong và sau khi sử
dụng.
- Tính không thể tách rời: do quá trình cung cấp và quá trình tiêu dùng dịch vụ
ngân hàng xảy ra đồng thời, đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá
trình cung cấp dịch vụ ngân hàng. Hơn nữa, quá trình cung ứng dịch vụ ngân hàng
được tiến hành theo quy trình nhất định không thể chia cắt được như: quy trình thẩm
định, quy trình cho vay, quy trình chuyển tiền… điều này làm cho dịch vụ ngân hàng
7

không có tính dở dang, mà phải cung ứng trực tiếp cho người tiêu dùng, quá trình cung
ứng diễn ra đồng thời với quá trình sử dụng dịch vụ ngân hàng.
1.1.3. Ý nghĩa đối với việc phát triển dịch vụ ngân hàng
1.1.3.1. Đối với ngân hàng thương mại
- Nhằm thu hút khách hàng đến với ngân hàng: khi các ngân hàng hoàn thiện,
nâng cao chất lượng dịch vụ của mình cũng có nghĩa là khách hàng được phục vụ tốt
hơn, hay khi các dịch vụ mới được ngân hàng áp dụng thường sẽ mang lại sự tiện lợi,
an toàn và nhanh chóng hơn trong các giao dịch, đó là một trong những yếu tố thu hút
khách hàng đến với ngân hàng.
- Phát triển dịch vụ ngân hàng góp phần liên kết các ngân hàng với nhau, từ đó
tạo ra những tập đoàn tài chính có quy mô vốn lớn, vững mạnh, đảm bảo tính an toàn
trong hoạt động kinh doanh, giảm thiểu rủi ro đối với các hiện tượng khủng hoảng tài
chính, xóa bỏ tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng.
1.1.3.2. Đối với nền kinh tế - xã hội
Hệ thống các NHTM thông qua việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng, đã có
những đóng góp to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, có thể kể ra như sau:
- Đảm bảo cho các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra một cách trôi chảy, nhanh

chóng và thuận tiện. Điều đó thể hiện rõ qua các dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ huy
động vốn góp phần tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; dịch vụ cấp tín
dụng giúp đáp ứng nhanh chóng, kịp thời nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế; dịch
vụ thanh toán, nhất là các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần tiết kiệm
thời gian cho xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về mặt tiền tệ, kiểm soát các
hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, tham nhũng…
- Giảm chi phí cho xã hội: bằng việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng, xã hội đã
giảm được các chi phí như chi phí thanh toán, lưu thông tiền mặt (chi phí in ấn, kiểm
đếm, bảo quản, vận chuyển tiền…). Mặt khác, ngân hàng cũng là một kênh cung cấp
vốn với chi phí tương đối thấp cho nền kinh tế, nhất là khi ngân hàng phát triển tốt các
dịch vụ thanh toán, các dịch vụ ngân hàng hiện đại.
8

- Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế trong điều kiện hội
nhập: bằng việc cung cấp cho nền kinh tế một kênh huy động vốn với chi phấp thấp,
ngoài ra bằng các dịch vụ của minh, hệ thống NHTM giúp nền kinh tế - xã hội tiết
kiệm được thời gian, đó là một trong những yếu tố giúp nền kinh tế nâng cao được
năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế. Chính từ sự cạnh trang này mà
ngân hàng có thể đi sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp,
thông qua đó có thể kiểm soát, giám sát được những hoạt động của các đơn vị này, góp
phần làm cho sản xuất kinh doanh lành mạnh và hiệu quả hơn.
- Phát triển dịch vụ tài chính ngân hàng tạo điều kiện đào tạo nguồn nhân lực,
nhất là nguồn nhân lực cho các ngành mũi nhọn. Chính những đòi hỏi một nguồn nhân
lực giỏi, năng động, đủ điều kiện tiếp thu kiến thức mới, đáp ứng nhu cầu hội nhập mà
các cơ sở đào tạo sẽ có những chương trình sát với thực tế, kết hợp với các ngân hàng
để đào tạo nguồn nhân lực ngày càng tốt hơn.
1.2. Khái niệm về thu Ngân sách Nhà nước
Luật NSNN ban hành năm 2002 nhằm quản lý nền tài chính quốc gia để thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Trong đó thu NSNN là yếu tố tiên quyết đảm bảo

việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước
và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình
thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của
mình. Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách
mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Theo Luật
NSNN hiện hành, nội dung các khoản thu NSNN bao gồm:
- Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật;
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước;
- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân;
- Các khoản viện trợ;
9

- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Trong các nội dung trên, các khoản thu về thuế chiếm một tỷ lệ lớn trong thu
NSNN của Việt Nam. Theo Quyết định số 3016/QĐ-BTC ngày 04/12/2013 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính về việc công bố công khai số liệu dự toán NSNN năm 2014 thì thu
NSNN năm 2014 từ thuế dự kiến là 693.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 89% dự toán thu
NSNN năm 2014.
1.2.1. Thu thuế hải quan
Một trong những nguồn thu quan trọng của NSNN là thuế hải quan. Đây là tên
gọi chung để nói đến các khoản thuế liên quan đến việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa
tại cơ quan hải quan. Các loại thuế này bao gồm:
- Thuế nhập khẩu;
- Thuế xuất khẩu;
- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu;
- Thuế bảo vệ môi trường hàng nhập khẩu;
- Thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu;
Trong đó thuế giá trị gia tăng chiếm tỷ trọng cao nhất, khoảng 65% trong tổng
số thu thuế hải quan hàng năm, các loại thuế còn lại chiếm khoản 35% trong tổng số

thu thuế hải quan hàng năm.
Với vai trò là một cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính và một trong hai Tổng cục
trực tiếp quản lý việc thu thuế, TCHQ đã và đang đóng vai trò quan trọng trong nhiệm
vụ thực hiện thu NSNN. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính, thu thuế
từ hoạt động XNK luôn chiếm 20% trong tổng số thu của NSNN hàng năm. Trong đó
năm 2013, TCHQ đã thu về 221.421 tỷ đồng tiền thuế, chiếm 26,61 % trong tổng thu
NSNN năm 2013 (832.000 tỷ đồng).
Dự toán thu NSNN năm 2014, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính đã giao số
thu thuế năm 2014 của TCHQ là 154.000 tỷ đồng, chiếm 20% trong tổng dự toán thu
NSNN 2014 (782.700 tỷ đồng).

10

1.2.2. Các hình thức thu NSNN
Hiện tại có 2 hình thức thu NSNN chủ yếu đang được áp dụng, đó là thu tiền
mặt tại KBNN hoặc thông qua NHTM chuyển tiền tới KBNN. Hai hình thức trên đều
được quy định tại Thông tư số 128/2008/TT-BTC ngày 24/12/2008 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thu và quản lý các khoản thu NSNN qua KBNN và quy định tại Thông tư số
126/2014/TT-BTC ngày 28/08/2014 của Bộ Tài chính quy định một số thủ tục về kê
khai, thu nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các khoản thu khác đối với hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu. Bao gồm hai hình thức:
- Thu bằng chuyển khoản: thu bằng chuyển khoản bao gồm 2 hình thức:
+ Thu bằng chuyển khoản từ tài khoản của người nộp tại ngân hàng, ngân hàng
chuyển tiền vào tài khoản của KBNN để ghi thu NSNN;
+ Thu bằng chuyển khoản từ tài khoản của người nộp tại KBNN, KBNN thực
hiện trích tài khoản của người nộp để ghi thu NSNN;
- Thu bằng tiền mặt: thu bằng tiền mặt bao gồm 2 hình thức:
+ Thu bằng tiền mặt trực tiếp vào KBNN;
+ Thu bằng tiền mặt vào ngân hàng nơi KBNN mở tài khoản. Hình thức này áp
dụng đối với các ngân hàng có thoả thuận với KBNN về việc thu tiền mặt vào tài

khoản của KBNN mở tại ngân hàng.
1.3. Dịch vụ nộp thuế hải quan cho khách hàng tại NHTM
Nộp thuế hải quan qua NHTM là một dịch vụ nằm trong chức năng thanh toán
của NHTM. NHTM thực hiện yêu cầu của khách hàng trích tiền từ tài khoản thanh
toán của khách hàng hoặc nhận tiền mặt do khách hàng nộp tại quầy, sau đó chuyển
khoản vào tài khoản của cơ quan Hải quan mở tại KBNN để thanh toán cho số tiền
thuế hải quan của khách hàng.
Mặc dù thanh toán qua ngân hàng là một dịch vụ truyền thống, tuy nhiên dịch
vụ nộp thuế hải quan chỉ phát sinh từ khi các cơ quan chức năng cho phép NHTM được
tham gia vào quy trình thu nộp NSNN.
Trên thực tế khách hàng có thể yêu cầu NHTM trích tiền từ tài khoản thanh toán
11

hoặc nộp tiền mặt tại quầy giao dịch để nộp thuế hải quan cho cơ quan Hải quan. Tuy
nhiên trong phạm vi của bài luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu đến việc khách hàng
yêu cầu NHTM trích tiền từ tài khoản thanh toán để nộp thuế. Do đó khi nói đến việc
khách hàng nộp thuế hải quan qua NHTM thì được hiểu là khách hàng yêu cầu NHTM
trích tiền từ tài khoản thanh toán để nộp thuế.
1.3.1. So sánh hình thức nộp thuế qua KBNN và NHTM
Nội dung Nộp thuế tại kho bạc Nộp thuế tại ngân hàng
Hình thức
nộp thuế
Mang tiền mặt nộp trực tiếp tại
KBNN nơi cơ quan hải quan mở
tài khoản
Đề nghị ngân hàng trích tiền từ tài
khoản chuyển vào tài khoản của
cơ quan hải quan tại kho bạc mở
tài khoản
Thời gian

giao dịch
Chậm hơn do phải đợi cán bộ của
kho bạc thực hiện kiểm đếm tiền
và cập nhật chứng từ vào hệ thống
Nhanh chóng, tiết kiệm được thời
gian do thực hiện chuyển khoản
Rủi ro Rủi ro liên quan đến việc mang
tiền mặt đi nộp trực tiếp tại kho
bạc như: cướp giật, thất thoát,
Không phát sinh rủi ro do khách
hàng thực hiện chuyển khoản để
nộp thuế, không sử dụng tiền mặt.

Phí dịch vụ Không phát sinh chi phí liên quan
đến việc nộp thuế
Phí ngân hàng liên quan đến việc
thu NSNN
Lợi ích Tiền vào trực tiếp vào tài khoản
của cơ quan hải quan, tuy nhiên
khách hàng phải dùng giấy nộp
tiền có xác nhận của KBNN đến
cơ quan Hải quan để thông quan
hàng hóa do KBNN chỉ thực hiện
truyền dữ liệu nộp thuế tới cơ
quan Hải quan sau khi kết thúc
phiên giao dịch trong ngày
Tiền được chuyển vào tài khoản
của KBNN, dữ liệu về khoản tiền
thuế của khách hàng được ngân
hàng truyền trực tiếp qua Cổng

thông tin điện tử Hải quan, cơ
quan Hải quan thông quan hàng
hóa ngay khi nhận được dữ liệu
từ ngân hàng gửi về.
Bảng 1.1: So sánh hình thức nộp thuế qua KBNN và NHTM
1.3.2. Quy trình nộp thuế hải quan qua NHTM
1.3.2.1. Trường hợp NHTM chưa ký Thỏa thuận hợp tác tổ chức phối hợp thu
NSNN, bảo lãnh thuế đối với hàng hóa XNK bằng phương pháp điện tử
Quy trình nộp thuế hải quan qua NHTM chưa tham gia phối hợp thu NSNN với
TCHQ được quy định tại điều 8 Thông tư số 126/2014/TT-BTC ngày 28/08/2014 của
Bộ Tài chính. Cụ thể:
12

1. Người nộp thuế xác định số tiền thuế phải nộp cho từng loại thuế, kê khai đầy
đủ các thông tin về thu ngân sách trên giấy nộp tiền vào NSNN gửi tổ chức tín dụng để
nộp tiền hoặc yêu cầu trích chuyển tiền nộp thuế.
2. Tổ chức tín dụng chưa phối hợp thu căn cứ thông tin do người nộp thuế kê
khai, thực hiện chuyển tiền vào tài khoản thu NSNN của KBNN mở tại NHTM đảm
bảo đầy đủ các thông tin mà người nộp thuế kê khai.
3. Ngay sau khi nhận được thông tin chuyển tiền do tổ chức tín dụng chuyển
đến, tổ chức tín dụng đã ủy nhiệm thu với KBNN có trách nhiệm:
a) Kiểm tra thông tin người nộp thuế kê khai, đối chiếu với thông tin truy vấn
trên cổng thanh toán điện tử hải quan và thực hiện xử lý như sau:
a1) Trường hợp thông tin người nộp thuế kê khai phù hợp với thông tin truy vấn
trên cổng thanh toán điện tử hải quan, tổ chức tín dụng phối hợp thu thực hiện:
- Chuyển tiền ngay vào tài khoản thu NSNN của KBNN mở tại NHTM;
- Đồng thời truyền ngay dữ liệu thông tin thu ngân sách theo đúng định dạng
thống nhất đến cổng thanh toán điện tử hải quan cho cơ quan hải quan và truyền thông
tin tới kho bạc nhà nước.
a2) Trường hợp thông tin người nộp thuế kê khai chưa phù hợp với thông tin

truy vấn trên cổng thanh toán điện tử hải quan (chưa phù hợp về thông tin mã nội dung
kinh tế): thực hiện chuyển tiền và thông tin thu để cơ quan hải quan thông quan hàng
hóa kịp thời cho người nộp thuế, sau đó phối hợp với cơ quan hải quan kiểm tra và bổ
sung các thông tin cho phù hợp;
a3) Trường hợp kiểm tra thông tin người nộp thuế kê khai nhưng không có
thông tin trong cổng thanh toán điện tử hải quan (người nộp thuế nộp tiền trước khi hệ
thống có thông tin tờ khai), tổ chức tín dụng phối hợp thu căn cứ thông tin tờ khai theo
kê khai của người nộp thuế trên giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước và truy vấn
thông tin còn lại khác trong cơ sở dữ liệu trên cổng thanh toán điện tử hải quan (trường
hợp cổng thanh toán điện tử hải quan chưa đáp ứng thì lấy các thông tin khác từ trung
tâm dữ liệu của Bộ Tài chính) để thực hiện:
13

- Chuyển tiền ngay vào tài khoản thu NSNN của KBNN mở tại NHTM;
- Đồng thời truyền ngay dữ liệu thông tin thu ngân sách theo đúng định dạng
thống nhất đến cổng thanh toán điện tử hải quan cho cơ quan hải quan.
b) Sau khi nhận được thông tin do tổ chức tín dụng phối hợp thu gửi qua cổng
thanh toán điện tử hải quan, cơ quan hải quan cập nhật thông tin thu, hạch toán thanh
khoản nợ, thông quan hàng hóa cho người nộp thuế theo quy định.
c) Sau khi nhận được thông tin chuyển tiền do tổ chức tín dụng phối hợp thu
chuyển đến, KBNN thực hiện hạch toán kế toán số tiền phát sinh vào tài khoản thu
NSNN hoặc tài khoản tiền gửi của cơ quan hải quan.
Cuối ngày hoặc chậm nhất vào đầu ngày làm việc tiếp theo, KBNN truyền thông
tin hạch toán thu ngân sách nhà nước qua trung tâm dữ liệu của Bộ Tài chính và cổng
thanh toán điện tử hải quan.
d) Sau khi nhận được thông tin hạch toán thu ngân sách nhà nước do KBNN gửi
đến, cơ quan hải quan cập nhật thông tin và hạch toán kế toán thanh toán với NSNN
theo quy định.
1.3.2.2. Trường hợp NHTM đã ký Thỏa thuận hợp tác tổ chức phối hợp thu
NSNN, bảo lãnh thuế đối với hàng hóa XNK bằng phương pháp điện tử

Quy trình nộp thuế hải quan qua NHTM đã tham gia phối hợp thu NSNN với
TCHQ được quy định tại điều 7 Thông tư 126/2014/TT-BTC ngày 28/08/2014 của Bộ
Tài chính. Cụ thể:
1. Người nộp thuế xác định số tiền thuế phải nộp cho từng loại thuế, kê khai các
thông tin về thu ngân sách trên Bảng kê nộp thuế gửi tổ chức tín dụng ủy nhiệm thu để
nộp tiền hoặc yêu cầu trích chuyển tiền nộp thuế;
2. Tổ chức tín dụng phối hợp thu kiểm tra thông tin người nộp thuế kê khai, đối
chiếu với thông tin truy vấn trên cổng thanh toán điện tử hải quan và thực hiện xử lý
như sau:
a) Trường hợp thông tin người nộp thuế kê khai phù hợp với thông tin truy vấn
trên cổng thanh toán điện tử hải quan, tổ chức tín dụng phối hợp thu có trách nhiệm:

×