Tải bản đầy đủ (.pdf) (65 trang)

NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯỢNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (430.73 KB, 65 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM






LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ





NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
TRONG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯNG CAO
CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010






Chuyên ngành : Quản Trò Kinh Doanh
Mã ngành : 5.02.05
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thanh Hội
MỤC LỤC

Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1


CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CỦA
TỈNH CẦN THƠ NHỮNG NĂM QUA


3
1.1 VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT LÚA GẠO TRONG PHÁT TRIỂN KINH
TẾ XÃ HỘI TỈNH CẦN THƠ

3
1.1.1 Vò trí đòa lý tỉnh Cần Thơ trong Đồng bằng sông Cửu Long
3
1.1.2 Giải quyết vấn đề lương thực
5
1.1.3 Giải quyết việc làm
5
1.1.4 Hình thành nhiều hợp tác xã
6
1.1.5 Vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Cần Thơ
7
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO CỦA TỈNH CẦN THƠ
7
1.2.1 Sơ lược tình hình sản xuất lúa gạo của Đồng bằng sông Cửu Long
7
1.2.2 Tình hình nông nghiệp của tỉnh Cần Thơ trong những năm qua
9
1.2.3 Tình hình sản xuất lúa gạo của tỉnh Cần Thơ
12
1.2.3.1 Sự biến động về diện tích và sản lượng
12

1.2.3.2 Hệ thống canh tác
13
1.2.3.3 Cơ cấu và phân bổ giống
14
1.2.3.4 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
14
1.2.3.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp, nông thôn
14
1.3 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GẠO CỦA TỈNH CẦN THƠ NHỮNG
NĂM QUA

15
1.3.1 Số lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo
15
1.3.2 Thò trường xuất khẩu gạo của Cần Thơ
16
1.3.3 Giá gạo xuất khẩu
17
1.3.4 Hệ thống lưu thông phân phối gạo xuất khẩu
17
1.3.5 Đầu mối xuất khẩu gạo
Tóm tắt chương 1
17
18

1
CHƯƠNG 2
KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU
LÚA GẠO CHẤT LƯNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ



19
2.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT LÚA GẠO CHẤT
LƯNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ

19
2.1.1 Diện tích và sản lượng
19
2.1.2 Hiện trạng sử dụng giống lúa trong những năm qua và hiện tại.
20
2.1.3 Thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch
21
2.2 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH XUẤT KHẨU GẠO
CỦA TỈNH CẦN THƠ

23
2.2.1 Phân tích môi trường xuất khẩu gạo
23
2.2.1.1 Môi trường bên ngoài
23
2.2.1.2 Môi trường bên trong
26
2.2.1.3 Phân tích ma trận SWOT
28
2.2.2 Những thò trường tiềm năng
32
2.3 NHẬN XÉT CHUNG
33
Tóm tắt chương 2
35

CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CHẤT LƯNG CAO
CỦA TỈNH CẦN THƠ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010




36
3.1 DỰ BÁO NHU CẦU THỊ TRƯỜNG
36
3.1.1 Dự báo về khả năng sản xuất
36
3.1.2 Dự báo về nhu cầu gạo
37
3.2 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
37
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO KHẢ NĂNG
CẠNH TRANH

38
3.3.1 Giải pháp về quy hoạch và đầu tư vào vùng chuyên canh lúa
gạo xuất khẩu

38
3.3.1.1 Quy hoạch vùng chuyên canh lúa gạo xuất khẩu
38
3.3.1.2 Đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở vùng chuyên canh lúa gạo xuất



2
khẩu
41
3.3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng lúa trong khâu canh tác
42
3.3.2.1 Giải pháp sinh học
42
3.3.2.2 Giải pháp phân bón
43
3.3.3 Giải pháp về thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch
43
3.3.4 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
44
3.3.5 Giải pháp các chính sách hỗ trợ cho người nông dân
45
3.3.6 Giải pháp phát triển thò trường trong nước
46
3.3.7 Giải pháp mở rộng thò trường xuất khẩu.
46
3.4 KIẾN NGHỊ
49
3.4.1 Đối với chính phủ
49
3.4.2 Đối với tỉnh Cần Thơ
50
3.4.3 Đối với ngành nông nghiệp của tỉnh
51
Tóm tắt chương 3
53
KẾT LUẬN

55


3
LỜI MỞ ĐẦU

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, hơn 15 năm qua
(1986 – 2002), nền kinh tế nước ta nói chung và nông nghiệp nói riêng đã đạt
được những thành tựu to lớn. Từ chỗ thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành
nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. Thành tựu này không chỉ đảm bảo
an ninh lương thực mà còn góp phần tăng đáng kể nguồn thu ngoại tệ quốc gia và
giữ vững sự ổn đònh chính trò, kinh tế xã hội đất nước.
Tuy nhiên, sự phát triển của nông nghiệp nói chung và lúa gạo nói riêng
những năm qua còn có nhiều bất cập, yếu kém như: việc ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật vào sản xuất còn hạn chế, công nghệ sau thu hoạch còn lạc hậu Do vậy
chất lượng sản phẩm hàng hoá chưa cao đã làm cho gạo xuất khẩu của Việt Nam
giảm khả năng cạnh tranh trên thò trường gạo thế giới. Thêm vào đó là hệ thống
thò trường tiêu thụ của ta còn hạn hẹp, phần lớn sản phẩm chỉ xuất sang các nước
nghèo, đời sống kinh tế và mặt bằng dân trí thấp như các nước Đông nam và
châu Phi chứ chưa có gạo chất lượng cao xuất sang các nước giầu như Trung
Đông, châu Âu…
Trước tình hình này, tìm những giải pháp hữu hiệu đồng thời phải phù hợp
với mỗi đòa phư là một yêu cầu cấp bách đối với tất cả các nhà quản lý. Tỉnh Cần
Thơ là một tỉnh có khối lượng gạo hàng hóa lớn lại là một trong những tỉnh trọng
điểm sản xuất lúa xuất khẩu của cả nước. Do đo,ù tôi đã chọn đề tài “Nâng cao
khả năng cạnh tranh sản xuất và xuất khẩu lúa gạo chất lượng cao của tỉnh
Cần Thơ từ nay đến năm 2010”, nhằm mục đích phân tích, đánh giá thực trạng
sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của tỉnh trong thời gian qua. Trên cơ sở đó đề xuất
các giải pháp mang tính chiến lược dài hạn và đồng bộ để nâng cao chất lượng
hàng hoá xuất khẩu, tăng hiệu quả cho người nông dân sống bằng nghề sản xuất

lúa gạo góp phần vào công cuộc “xoá đói giảm nghèo” mà Đảng và Nhà nước ta
đang cùng toàn dân thực hiện.
Trong quá trình thực hiện tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp: Phương
pháp mô tả; phương pháp thống kê; phương pháp phân tích và tổng hợp. Sử dụng
các nguồn số liệu từ Sở Thương mại, Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Cần Thơ,
Viện lúa ĐBSCL và đặc biệt là ý kiến của những chuyên gia trong ngành.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Tìønh hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo
của tỉnh Cần Thơ chủ yếu từ năm 1998 đến 2002.

4
Kết cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của tỉnh Cần
Thơ những năm qua.
Chương 2: Khả năng cạnh tranh sản xuất và xuất khẩu lúa gạo chất lượng
cao của tỉnh Cần Thơ.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản xuất và
xuất khẩu lúa gạo chất lượng cao của tỉnh Cần Thơ từ nay đến năm 2010.
Vì thời gian có hạn nên luận văn chỉ nêu được một số điểm chính của vấn
đề, tôi rất mong nhận được những đóng góp của thầy, cô và bạn bè để bổ sung và
hoàn chỉnh luận văn này được tốt hơn.
Xin chân thành cảm ơn.



5
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO
CỦA TỈNH CẦN THƠ NHỮNG NĂM QUA

1.1. VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT LÚA GẠO TRONG PHÁT TRIỂN KINH

TẾ XÃ HỘI TỈNH CẦN THƠ
1.1.1. Vò trí đòa lý tỉnh Cần Thơ trong Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là châu thổ sông Mêkông bao gồm 12
tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vónh Long, Trà Vinh, Cần Thơ,
An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Diện tích tự nhiên gần
39.000km
2
chiếm 12% diện tích cả nước. Dân số theo thống kê năm 2001 là
16.519.400 triệu người, chiếm khoảng 21% dân số cả nước. Đây là một trong
những vùng có tiềm năng về tài nguyên đất, nước, rừng ngập mặn, thủy hải sản
đa dạng và phong phú nhất Đông Nam Châu Á.
Đồng bằng sông Cửu Long có bờ biển dài trên 700km, có hai con sông lớn
là sông Tiền Giang và sông Hậu Giang. Đây là vùng tiếp giáp với khu kinh tế
trọng điểm phía Nam thành phố Hồ Chí Minh với hệ thống giao thông đường thủy
và đường bộ rộng lớn và thuận lợi.
Cần Thơ là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Nam bộ ở vò trí trung tâm
ĐBSCL, phía Bắc giáp tỉnh An Giang và Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Bạc
Liêu và Sóc Trăng, phía Đông giáp tỉnh Vónh Long, phía Nam giáp tỉnh Kiên
Giang. Với diện tích 2.986 km
2
(Nguồn: Số liệu của Cục Thống kê năm 2002), Cần
Thơ chiếm 0,9% diện tích cả nước.
Tỉnh có 9 đơn vò hành chính gồm:
+ Thành phố Cần Thơ là đô thò loại II được chính phủ xác đònh là trung
tâm kinh tế, văn hóa và khoa học – kỹ thuật của Đồng bằng sông Cửu Long.
+ Thò xã Vò Thanh
+ 7 huyện: Thốt Nốt, ÔMôn, Châu Thành, Châu Thành A, Phụng Hiệp,
Long Mỹ, Vò Thủy.
Tỉnh Cần Thơ có vò trí và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi:
Về đường bộ: là trung tâm các tuyến giao thông ở ĐBSCL


6
Quốc lộ 1 nối liền Thành phố Cần Thơ và Cà Mau đi qua Thò xã Sóc Trăng
và Thò xã Bạc Liêu.
Quốc lộ 91 nối liền cảng Cần Thơ, sân bay Trà nóc, khu công nghiệp Trà
Nóc với Quốc lộ 1 đi Kiên Giang.
Về đường thủy: Cần Thơ có cảng biển (cảng Cần Thơ) được công nhận là
cảng Quốc Tế, có hệ thống kênh rạch chằng chòt, trong đó có 3 tuyến đường thủy
quan trọng là kênh Cái Sắn, kênh Xà No và kênh Quản lộ thuộc huyện Phụng
Hiệp.
Về đường hàng không: Sân bay Trà Nóc đang được sửa chữa, cải tạo, xây
dựng lại, có nhiều triển vọng trong việc vận chuyển hành khách, hàng hóa, nối
liền tỉnh Cần Thơ với các tỉnh khác kể cả trong nước và nước ngoài.
Cần Thơ nằm ở khu vực bồi tụ phù sa nhiều năm của sông Mêkông, đặc
trưng cho dạng đòa hình đồng bằng. Hệ thống sông ngòi nhỏ chằng chòt, nước ngọt
quanh năm, rất thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống thủy lợi và cải tạo đất.
Cần Thơ có khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng tháng 11 hàng năm.
- Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 hàng năm.
Sự phân chia này có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp.
Về dân số, theo số liệu của Cục thống kê năm 2002, dân số của tỉnh là
1.878.226 người (trong đó 956.062 là nữ, chiếm 50,91%). Dân cư nông thôn là
1.417.722 người chiếm 78,72%. Mật độ dân số trung bình 629 người /km
2
. Lực
lượng lao động trong độ tuổi chiếm 54,18%. Cơ cấu lao động tham gia các ngành
kinh tế bao gồm nông nghiệp 80,06%, công nghiệp 8,38 %, xây dựng và dòch vụ
14,56%.
Tỉnh Cần Thơ có trường Đại học Cần Thơ và Viện nghiên cứu Lúa ĐBSCL
là hai trung tâm văn hóa lớn nhất của vùng ĐBSCL và đặc biệt Viện nghiên cứu

lúa ĐBSCL hiện là một Viện nghiên cứu có tầm cỡ Quốc tế. Đây là một lợi thế
của tỉnh trong công tác đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh nói riêng và cho cả vùng
nói chung.
Nhờ có cơ sở hạ tầng tương đối tốt bao gồm hệ thống giao thông, điện,
nước, bưu chính viễn thông, dòch vụ, khu công nghiệp, lực lượng lao động… Cần
Thơ đã hội tụ đầy đủ tiềm năng kinh tế, khoa học kỹ thuật và thương mại lớn ở vò

7
trí trung tâm, và có lẽ nhờ đó mà từ trước đến nay nó được mệnh danh là “Tây
Đô”, thủ phủ của các tỉnh miền Tây Nam bộ.
1.1.2. Giải quyết vấn đề lương thực
Trong mọi thời đại, lương thực bao giờ cũng là sản phẩm thiết yếu, là nhu
cầu cơ bản của con người, được chú trọng hàng đầu. Từ buổi bình minh của loài
người đến nay, lương thực luôn là vấn đề cấp bách nhất. Để có cái ăn, tổ tiên loài
người đã phải săn bắn hái lượm, sau đó biết thuần hóa những sản phẩm thiên
nhiên từ cây và con bằng những công cụ thô sơ và dần dần đã biết sản xuất lương
thực, thực phẩm bằng cách trồng trọt và chăn nuôi. Như vậy, lương thực chính là
những sản phẩm đầu tiên của con người làm ra để nuôi sống họ. Ngày nay, ngũ
cốc được coi là nguồn lương thực chính của các quốc gia trên thế giới, trong đó
lúa gạo và lúa mì là hai loại lương thực cơ bản nhất dùng cho con người, còn các
loại khác như ngô, kê, lúa mạch chủ yếu phục vụ cho chăn nuôi gia súc và công
nghiệp chế biến bia, rượu, chế biến dược phẩm…Theo tính toán của Tổ chức
Lương thực và nông nghiệp của liên hiệp quốc (FAO) sản lượng lúa gạo hiện nay
có thể duy trì sự sống cho hơn 53% dân số thế giới, số còn lại được đảm bảo bằng
lúa mì và các loại lương thực khác. Điều này cho thấy vò trí của lúa gạïo trong cơ
cấu lương thực thế giới và trong đời sống kinh tế quốc tế là rất quan trọng.
Việt Nam cũng là một trong những quốc gia tiêu dùng lúa gạo là chính hay
nói cách khác lúa gạo là nguồn lương thực cơ bản của nước ta. Thấy rõ tầm quan
trọng của lương thực đối với con người, nhà nước đã có những chiến lược đầu tư
cho lónh vực nông nghiệp đồng thời vấn đề an ninh lương thực luôn được Đảng và

chính phủ quan tâm. Chính vì vậy, từ những thập niên 90, chúng ta đã đáp ứng cơ
bản nhu cầu lương thực và thực phẩm trong nước, an ninh lương thực quốc gia
được đảm bảo. Từ một nước phải nhập khẩu gạo do hậu quả của chính sách thực
dân xâm lược, chỉ sau một thời gian ngắn sau giải phóng miền Nam, Việt Nam đã
trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới.
ĐBSCL nói chung và tỉnh Cần Thơ nói riêng đã đạt được mục tiêu là giải
quyết an ninh lương thực của vùng và đòa phương. Thành công trong chương trình
mang tính quốc gia này phải kể đến những đóng góp to lớn của lónh vực nông
nghiệp, đặc biệt là hoạt động sản xuất lúa gạo của tỉnh nhà.
1.1.3. Giải quyết việc làm
Việt Nam có số dân gần 80 triệu người trong đó khu vực nông thôn chiếm
80% và trên 70% lực lượng lao động xã hội hầu hết tập trung vào nghề trồng lúa.

8
Những năm trước đây, chúng ta phải đối mặt với một thực trạng đó là đời sống
của người nông dân khó khăn, thu nhập từ nông nghiệp thấp, không có việc làm…
điều đó đã góp phần làm tăng tỷ thất nghiệp của Việt Nam lên tới đỉnh điểm là
7,4% vào năm 1999. Chính vì vậy, tìm một lối đi cho người nông dân, đồng thời
hạn chế sự di dân từ nông thôn ra thành thò cần phải có sự quan tâm của Đảng và
Nhà nước. Giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều và đạt được kết
quả ngay mà cần phải có thời gian. Hiện nay, chính phủ đã ban hành một số chính
sách nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa như cho nông dân vay vốn dưới mọi hình thức bao gồm đầu tư tiền
mặt, phân bón, máy móc, hoặc sử dụng các loại giống mới có hiệu quả kinh tế
cao hơn … Kết quả là đã giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống còn 5,85% (năm 2002), đã
giải quyết được phần lớn công ăn việc làm cho lao động ở nông thôn và tăng thu
nhập trung bình của người lao động .
Cần Thơ là một tỉnh nông nghiệp, để giải quyết việc làm cho số đông
người lao động, hiện nay tỉnh đang cố gắng chuyển dòch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp trên nền tảng là cây lúa. Những vùng không có điều kiện thay đổi cơ cấu

cây trồng thì tăng vụ là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho số
đông người sống bằng nghề nông. Bằng cách đó, kết quả là thu nhập bình quân
đầu người sản xuất nông nghiệp tăng từ 1,96 triệu đồng/người/ năm năm 1996 lên
2,66 triệu đồng /người/năm năm 1998 và năm 2002 khoảng 4,0 triệu/người/năm;
giảm tỷ lệ số hộ nghèo xuống còn 7%.
1.1.4. Hình thành nhiều hợp tác xã
Phát triển sản xuất lúa gạo trong cơ chế thò trường như hiện nay, người
nông dân đã chủ động hơn trong việc tìm cho mình một giải pháp hữu hiệu nào đó
để tận dụng nguồn lực sản xuất hiện có cũng như đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm.
Đầu tiên chỉ là những tổ hợp tác với quy mô nhỏ nhưng phần nào đã giải quyết
được những khó khăn trước mắt như vốn sản xuất, thò trường đầu ra cho việc tiêu
thụ sản phẩm… Thấy được nhận thức tiến bộ của nông dân, Đảng và Nhà nước đã
khuyến khích phát triển những tổ hợp này thành các hợp tác xã (HTX) với quy
mô hoạt động rộng hơn và đa dạng hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh của họ
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Qua đó, ngày càng nhiều hộ nông dân gia
nhập vào HTX. Đối với xã hội, hoạt động của HTX còn góp phần giải quyết các
tệ nạn xã hội, đồng thời thông qua tổ chức này để tuyên truyền những tư tưởng
chính trò và nâng cao dân trí.


9
1.1.5. Vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Cần Thơ
Nếu như sản xuất lúa gạo phát huy được cả ba vai trò đã nêu trên thì chắc
chắn tình hình kinh tế xã hội của bất kỳ một quốc gia nào đó cũng sẽ nhanh
chóng được cải thiện. Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu từ lúa gạo hàng năm
đem lại một nguồn thu ngoại tệ đáng kể và đóng góp không nhỏ vào phát triển
kinh tế xã hội của đất nước. Trong những năm gần đây, Việt Nam được biết đến
như một trong số ít nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới. Lượng gạo xuất
khẩu tăng từ 1,48 triệu tấn năm 1990 đến 3,8 triệu tấn năm 1998 với kim ngạch
xuất khẩu đạt 1.024 triệu USD; 3,55 triệu tấn năm 2001 với kim ngạch xuất khẩu

đạt 625 triệu USD và 3,2 triệu tấn năm 2002 với kim ngạch xuất khẩu đạt 700
triệu USD, chiếm tỷ trọng cao nhất trong nhóm hàng xuất khẩu chủ lực. Ngoài ra
phát triển sản xuất lúa gạo còn đóng góp tích cực vào ngân sách nhà nước như lợi
tức từ các đơn vò kinh doanh, chế biến và kinh doanh lương thực, đồng thời tăng
thu nhập cho người nông dân (tổng thu qua 12 năm xuất khẩu gạo là 7 tỷ USD).
Trong nhiều năm qua ĐBSCL đã đóng góp phần quan trọng đối với kinh tế
của vùng và đặc biệt đối với an ninh lương thực của đất nước. Hàng năm vùng
đóng góp khoảng 50% tổng sản lượng lương thực và 95% tổng lượng gạo xuất
khẩu của cả nước. Không chỉ đảm bảo tốt vấn đề an ninh lương thực đòa phương,
mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông
thôn ngày càng phát triển; cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn ngày càng
chuyển dòch theo hướng tích cực.
Đối với Cần Thơ, ngành nông nghiệp – phát triển nông thôn giữ vai trò rất
quan trọng trong nền kinh tế tỉnh nhà. Mức tăng trưởng kinh tế hàng năm trung
bình là 10%, trong đó sản xuất và xuất khẩu lúa gạo đóng góp rất lớn.
Ngoài những đòa vò kinh tế xã hội trên, lúa gạo còn có ý nghóa chính trò khá
sâu sắc. Việt Nam nói chung và tỉnh Cần Thơ nói riêng, gạo có thể coi là “ nông
phẩm chính trò” quan trọng phục vục đắc lực cho chính sách đối ngoại của chính
phủ Việt Nam từ những năm đất nước còn chiến tranh.
1.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO CỦA TỈNH CẦN THƠ
1.2.1. Sơ lược tình hình sản xuất lúa gạo của Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên 4 triệu ha trong đó 3,8
triệu ha canh tác lúa (trong đó 1 triệu ha là vùng sản xuất lúa chất lượng cao), là
vựa lúa lớn nhất của nước ta. Với diện tích và sản lượng lúa lớn gấp khoảng ba
lần diện tích và sản lượng lúa Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) nên có ưu thế về

10
sản xuất và xuất khẩu gạo. Những năm gần đây sản lượng lúa ở ĐBSCL luôn
chiếm gần 50% tổng sản lượng lúa, trên 50% sản lượng lúa hàng hóa và 90% sản
lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Năm 1976, diện tích lúa toàn vùng chỉ đạt 2.62

triệu ha, với sản lượng 4.665 triệu tấn, năng suất bình quân 20 tạ/ha; đến năm
1999 các chỉ tiêu tương ứng là 3.986 triệu ha, với sản lượng 16.281 triệu tấn và
năng suất 40,8 tạ/ha. Như vậy sản lïng tăng gấp 4 lần, diện tích tăng gấp 2 lần,
năng suất tăng hơn gấp 2 lần). Năm 2002 đạt hơn 18 triệu tấn, với năng suất 44,4
tạ/ha (Bảng 1 ).
Bảng 1 : Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Đồng bằng sông Cửu Long
Chỉ tiêu 1976 1999 2000 2001 2002
Diện tích GT (triệu ha) 2.062 3.986 3.862 3.921 3.994
Năng suất (tạ/ha) 20 40.8 39.2 40.0 44.4
Sản lượng (triệu tấn) 4.665 16.280,8 15.757,20 16.443,27 18.778,99
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam qua các năm)
Nhận xét:
- Sự gia tăng sản lượng lúa trong vùng là do tăng về diện tích và năng suất,
bên cạnh đó không thể không kể đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong
nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu giống, các giống lúa đòa phương năng suất thấp,
chống chòu sâu bệnh kém được thay bằng các giống cao sản, ngắn ngày, năng
suất cao, chống chòu sâu bệnh tốt hơn, khả năng thích ứng rộng, phẩm chất tốt đạt
tiêu chuẩn xuất khẩu (xem phụ lục 1, 2).
- Thay đổi phương pháp gieo sạ từ sạ lan sang sạ hàng, ít tốn giống, giảm
chi phí về thuốc bảo vệ thực vật do đó chất lượng lúa gạo được đảm bảo. Những
giống lúa ngắn ngày là tiền đề cho việc thâm canh tăng vụ từ 2 đến 3 vụ/năm,
đảm bảo tránh được và không bò thất thu do lũ lụt, điều này có ý nghóa rất lớn đối
với vùng ĐBSCL .
Việc nông dân trong vùng sử dụng giống mới ngày càng nhiều và ứng
dụng rộng rãi các biện pháp kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất lúa là điều kiện rất
thuận lợi cho việc phát triển và tăng diện tích sản xuất lúa làm tăng thu nhập cho
nông dân/ một đơn vò diện tích. Kết quả là tốc độ sản lượng lúa toàn vùng 25 năm
qua tăng bình quân 11% trong khi đó tốc độ tăng bình quân cả nước 7% - 8%
(trong thời gian tương ứng). Các tỉnh có năng suất lúa tăng mạnh nhất là An
Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng (xem phụ lục 3)


11
Mục tiêu phát triển chiến lược của Việt Nam vào năm 2010 là 40 triệu tấn
lương thực và 38 triệu tấn lúa gạo trong điều kiện diện tích canh tác lúa cả nước
chỉ duy trì ở khoảng 4 triệu ha (3,2 triệu ha ở ĐBSCL). Điều này đặt ra cho
ĐBSCL một nhiệm vụ mới, với sự phấn đấu cao hơn, làm sao vừa tiếp tục nâng
cao năng suất/ha, vừa tăng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người nông dân,
vốn rất nghèo như hiện nay.
1.2.2. Tình hình nông nghiệp của tỉnh Cần Thơ trong những năm qua
Cần Thơ là một trong những tỉnh sản xuất lương thực lớn của ĐBSCL, và
cũng là tỉnh có số lao động nông thôn cao (75,48%). Thực hiện mục tiêu chuyển
đổi cơ cấu kinh tế theo hướng Công Nghiêïp Hóa – Hiêïn Đại Hóa mà Đảng và nhà
nước đã đề ra, cơ cấu kinh tế của Tỉnh đã và đang từng bước chuyển dòch theo
hướng giảm tỷ trọng trong nông nghiệp (nông nghiệp chiếm khoảng 27,2%) tăng
tỷ trọng công nghiệp và dòch vụ (cơ cấu kinh tế năm 2001 là 29,74% - 32,19% -
38,07%; cơ cấu kinh tế năm 2002 là 28,59% - 31,92% - 39,49%). Mặc dù giảm tỷ
trọng nông nghiệp nhưng phải tăng trò giá cả về kinh tế lẫn xã hội. Trên cơ sở đó
Cần Thơ đã đạt được một số kết quả như sau:
• Sản xuất nông nghiệp
Đất nông nghiệp chiếm 85% tổng diện tích đất được khai thác và sử dụng.
Trong đó, diện tích gieo trồng các loại cây tăng không nhiều qua mỗi năm, số
liệu được nghi nhận ở bảng 2 dưới đây:
Bảng 2 : Diện tích và sản lượng của các loại cây trồng của tỉnh Cần Thơ
từ năm 2000 –2002

Năm 2000 2001 2002
Diện tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)

Diện tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)
Diện tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)
Lúa 413.368 1.882.869 441.172 1.954.390 456.599 2.216.219
Màu 1.068 3.596 964 3.300 1.514 6.151
Loại khác 72.714 69.988 77.113
Tổng 487.150 512.124 535.226
(Nguồn:Niên giám thống kê năm 2002- Cục Thống Kê Cần Thơ)
Nhận xét:
Năm 2002, với tổng diện tích gieo trồng lúa cả năm là 456.599 ha (chiếm
trên 85% tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh), sản lượng trung bình đạt 4,5 tấn/ha

12
và đạt 2.216.219 tấn/ năm đã góp phần chiếm tỷ trọng 83% giá trò sản xuất ngành
trồng trọt và khoảng 70% giá trò sản xuất ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, trong
những năm gần đây do thu nhập từ cây lúa không cao, nông dân đã chuyển sang
trồng cây màu như cây bắp, cây rau đậu, cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả
do vậy diện tích gieo trồng những loại cây này có xu hướng tăng hơn qua mỗi
năm.
Như đã nêu, với tình hình sử dụng đất và năng suất đạt được như trên, mỗi
năm giá trò sản xuất nông nghiệp đem lại từ trồng trọt là rất cao.
Bảng 3 : Giá trò sản xuất nông nghiệp
Đơn vò tính: triệu đồng
Thành phần sản xuất
Năm Tổng số

Trồng trọt Chăn nuôi Dòch vụ
2000 4.164.292 3.557.732 371.446 235.751
2001 4.351.436 3.590.003 515.125 246.308
2002 5.838.572 4.788.778 771.767 278.027
(Nguồn:Niên giám thống kê năm 2002- Cục Thống Kê Cần Thơ)
Từ số liệu bảng 3 cho thấy giá trò ngành trồng trọt chiếm đa số và giữ vai
trò chủ đạo trong thành phần sản xuất của ngành nông nghiệp. Giá trò sản xuất
ngành trồng trọt có tăng nhưng không đáng kể từ năm 2000 đến năm 2002. Một
trong những nguyên nhân là do năm 2000 và 2001 giá trò xuất khẩu của các nông
sản xuống thấp trên đòa bàn cả nước.
• Công tác khuyến nông và hợp tác xã
Trong những năm qua, công tác khuyến nông của tỉnh hoạt động khá
mạnh. Các phương thức hoạt động và các hình thức khuyến nông chủ yếu là:
- Tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho cán bộ cơ sở, nông dân bao gồm
kỹ thuật nhân giống và sản xuất giống lúa mới, phòng trừ sâu bệnh và công
tác bảo quản sau thu hoạch.
- Xây dựng các mô hình trình diễn ở tất cả các huyện.
- Thành lập câu lạc bộ khuyến nông …
Ngoài công tác khuyến nông, hoạt động của các HTX trên đòa bàn tỉnh
cũng đang được khơi dậy. Như chúng ta đã biết, trước đây nước ta cũng đã có tổ
chức hợp tác xã trong nông nghiệp (HTXNN). Nhưng HTXNN những năm đó
không phải là tự nguyện của nông dân mà do bò thúc ép, áp đặt của nhà nước. Do

13
vậy đã làm cho sản xuất bò đình trệ, đời sống nông dân ngày càng khó khăn.
Người nông dân lao động trên đồng ruộng của họ nhưng không phải theo tinh
thần cần cù “một nắng hai sương” vốn có của họ, mà họ chỉ làm theo mệnh lệnh
của chủ nhiệm HTXNN, mà vò chủ nhiệm này không phải do họ thật sự dân chủ
bầu ra.
Những năm gần đây thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về phát

triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp, số lượng hợp tác xã nông nghiệp
ở tỉnh Cần Thơ được xây dựng và phát triển nhanh chóng. Các hợp tác xã này
được thành lập, trên cơ sở tự nguyện từ tổ đoàn kết sản xuất, từ câu lạc bộ
khuyến nông, tổ hợp tác xã. Chính vì vậy, việc thành lập đều phù hợp với luật
hợp tác xã theo nghò đònh mới của Chính phủ, có điều lệ hợp tác xã, có sự bầu
chọn dân chủ, có phương án kinh doanh phục vụ cho xã viên và nông dân quanh
vùng, hoạt động vì nhiều mục đích như cung cấp tín dụng, hỗ trợ sản xuất. Đây
thực sự là mô hình tập thể làm ăn có hiệu quả. Con số về số lượng HTX được
phản ánh qua bảng 4.
Bảng 4: Tình hình xây dựng HTX Nông nghiệp của tỉnh Cần Thơ qua các năm

Chỉ tiêu ĐVT 1997 1999 2000 2001 2002
Số HTX được thành lập HTX 12 85 99 107 118
Tổng hộ xã viên hộ 1.914 5.146 5.565 5.734 6.060
Diện tích ha 1.491 5.198 6.810,9 7.648,9 8.235,6
Vốn điều lệ 1000đ 996.139 3.370.000 3.140.937 7.868.264 8.219.764
(Nguồn: Sở nông nghiệp và PTNT Cần Thơ)
Nhận xét: Từ năm 1996, sau khi luật HTX được Quốc hội thông qua và bổ
sung sửa đổi liên tục cho đến nay, số HTX được thành lập liên tục tăng nhanh ở
tất cả các tỉnh trên cả nước. Riêng đối với Cần Thơ, qua số liệu ở bảng 6, nếu như
năm 1997 cả tỉnh chỉ có 12 HTX với diện tích đất sử dụng là 1.491 ha, thì đến
năm 1999 những chỉ số này tăng nhanh, lên đến 85 HTX với diện tích 5.198 ha và
năm 2002 là 118 HTX với diện tích là 8.219,764 ha. Số HTX được thành lập ngày
càng tăng, và phải chăng lợi ích đem lại từ tổ hợp này thực sự đang được phát huy
và người nông dân đã chấp nhận mô hình mới có hiệu quả này. Tuy nhiên, trong
tổng số HTX được thành lập đến năm 2002 mới chỉ có 27 HTX hoạt động được
đánh giá loại khá (chiếm 25%), 49 HTX hoạt động trung bình (chiếm 46%), còn
lại là yếu hoặc chưa được xếp loại vì mới bắt đầu đi vào hoạt động.

14

Bên cạnh các HTXNN, toàn tỉnh Cần Thơ hiện nay còn có 5.979 tổ đoàn
kết tương trợ sản xuất, 342 câu lạc bộ khuyến nông, 46 chi hội làm vườn. Hầu hết
các tổ chức có hình thức hợp tác xã này đã đáp ứng được nhu cầu của người nông
dân trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kể cả trồng trọt,
chăn nuôi, thủy sản…Trong đó nổi bật là các hoạt động xây dựng hệ thống thuỷ
lợi nội đồng, tưới tiêu, giao thông nông thôn.
1.2.3. Tình hình sản xuất lúa gạo của tỉnh Cần Thơ
1.2.3.1. Sự biến động về diện tích và sản lượng
Nhiều thập niên trước đây, cùng với ĐBSCL việc tăng diện tích đất làm 2
vụ lúa trong một năm quả là khó hình dung, nhưng từ sau ngày miền Nam giải
phóng đến nay những thành tựu phát triển nông nghiệp tỉnh Cần Thơ đạt được rất
đáng tự hào. Nếu như năm 1976, Cần Thơ chỉ có thể làm một vụ lúa trong năm và
sản lượng chỉ đạt hơn nửa triệu tấn, thì đến năm 1990 cơ cấu diện tích tăng từ 2
đến 3 vụ lúa trong năm. Đồng thời sản lượng đạt được cũng liên tục được nâng
cao hơn qua mỗi năm như số liệu dẫn ra trong bảng 5.
Bảng 5 : Sản lượng lương thực cả năm theo vụ qua các năm
Đơn vò tính: tấn
Chia ra
Năm Tổng số
Mùa Đông xuân Hè Thu Thu Đông
1990
1998
1999
2000
2001
2002
1.798.400
1.918.402
2.007.639
1.882.869

1.954.390
2.216.219

22.587
-
-
-
-

973.330
961.646
1.029.126
1.018.796
1.151.235

613.215
667.953
675.193
663.964
712.254

309.207
378.040
178.550
217.630
352.730
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2002- Cục Thống Kê Cần Thơ)
Nhận xét:
Qua số liệu bảng trên cho thấy: trong khoảng thời gian 5 năm (1998 –
2002) sản lượng lúa có xu hướng tăng đều và khá ổn đònh. Năm 2002 đã thực sự

lập kỷ lục với mức tăng trên 2,2 triệu tấn so với năm 1999, mặc dù năm 1999 đã
đạt trên 2 triệu tấn so với năm 1998 (trong thời kỳ này chỉ có 3 tỉnh An Giang,
Đồng Tháp và Kiên Giang có sản lượng vượt con số 2 triệu tấn). Như vậy, tốc độ
tăng trung bình hàng năm về sản lượng lúa đạt 3,8%. Nếu so với các thời kỳ trước
trong lòch sử, mức tăng trưởng này là thành tích đáng khích lệ.

15
Sự biến động về diện tích lúa không lớn qua các năm, từ năm 1998 đến
năm 2002, diện tích lúa chỉ tăng thêm 2.441 ha. Bên cạnh đó, cơ cấu về diện tích
gieo trồng lúa hàng năm đã có sự thay đổi rõ rệt từ 2 vụ lúa tăng lên 3 vụ trong
năm, thậm chí có những nơi nông dân đã sản xuất 2 năm 7 vụ. Từ năm 1999 trở đi
diện tích lúa mùa đã hầu như không còn nữa. Diện tích lúa vụ 3 tuy có giảm ở
năm 2000 (điều này là do lúa bò rớt giá, nông dân không muốn đầu tư cho sản
xuất lúa vụ 3) nhưng sang năm 2001 và 2002 diện tích lúa vụ 3 lại tăng lên, góp
phần đáng kể vào sản lượng lương thực của tỉnh, giải quyết việc làm cho lao động
nhàn rỗi trong khi các ngành nghề phụ ở nông thôn chưa được phát triển. Tình
hình biến động về diện tích tròng lúa của tỉnh được ghi nhận trong bảng 6.
Bảng 6 : Diện tích gieo trồng lúa cả năm theo vụ của tỉnh Cần Thơ
Đơn vò tính: ha
Chia ra
Năm Tổng số
Mùa Đông xuân Hè Thu Thu Đông
1998 438.731 8.467 167.408 165.084 97.772
1999 466.606 - 175.158 169.334 122.114
2000 413.368 - 180.254 175.143 57.971
2001 441.172 - 181.923 175.441 83.808
2002 456.599 - 180.882 172.877 102.840
(Nguồn:Niên giám thống kê năm 2002- Cục Thống Kê Cần Thơ)
Nhận xét: Qua số liệu bảng 6 cho thấy, nông dân Cần Thơ từ năm 1999 đã
hoàn toàn không sản xuất lúa mùa trên đồng ruộng của mình nữa, thay vào đó là

sử dụng các giống cao sản ngắn ngày để gieo trồng cho ba vụ. Đông xuân và Hè
thu là 2 vụ sản xuất chính, diện tích và sản lượng ở 2 vụ này luôn tăng đều và khá
ổn đònh trong các năm.
1.2.3.2. Hệ thống canh tác
Được chia theo các vùng sau:
Khu vực ven sông Hậu: chủ yếu là đất phù sa bồi, thành phần cơ giới nhẹ,
hệ thống canh tác gồm 2 lúa + 1 màu
+ Lúa Đông xuân – màu Hè thu – lúa Hè thu muộn
+ Hoặc 3 vụ lúa Đông xuân – Hè thu – Thu đông
Vùng Tây sông Hậu: gồm bắc Ô Môn – Thốt Nốt, đây là vùng trồng lúa
mùa nổi trước đây, hệ thống canh tác chủ yếu là lúa Đông xuân – Hè thu. Một số
nơi thường trồng rẫy như đậu Đông xuân, bắp Hè thu

16
Khu vực Ô môn – Châu Thành: Đây là vùng trước kia trồng lúa mùa cao
sản, nhưng hiện nay đã làm 2 vụ lúa Đông Xuân và Hè thu, một số nơi ở khu vực
này và các vùng ven các thò trấn trồng 3 vụ lúa.
Khu vực Phụng Hiệp: hệ thống canh tác chính là 2 vụ lúa Đông Xuân và
Hè Thu, đất rẫy thường trồng một vụ lúa cộng một vụ mía.
Vùng Long Mỹ, Vò Thanh, Vò Thủy: thường canh tác 2 vụ lúa Đông xuân và
Hè Thu. Phần lớn diện tích trồng cây công nghiệp chủ yếu là mía đường.
Trong những năm trở lại đây với chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng
trong sản xuất nông nghiệp, một phần diện tích trồng lúa của Tỉnh đã chuyển
sang cây màu bao gồm bắp và một số cây ngắn ngày khác, theo cục thống kê Cần
Thơ năm 2002, trong năm 2002 diện tích trồng bắp là1.514 ha tăng nhanh nhất so
với mấy năm gần đây (tăng 550 ha) trong đó diện tích bắp lai 752 ha, bên cạnh
đó, cây đậu nành, dưa hấu…, cây khóm được trồng khá phổ biến ở vùng Vò Thanh.
1.2.3.3. Cơ cấu và phân bổ giống
Các giống lúa chủ yếu được sử dụng trong những năm gần đây là: OM
1490, OMCS 2000, OM 2031, MTL 250, VNĐ 95-20, IR 64. Những giống này có

năng suất cao, chống chòu tốt với sâu bệnh hại, chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất
khẩu, là những giống được nhà nước khyến cáo sản xuất để phục vụ xuất khẩu.
Năm 2002 cơ cấu giống của tỉnh như sau: OMCS 2000 (19,56%); OM1490
(16,74%); IR 64 (15,89%); MTL-250 (8,47%); Jasmine (5,21%); OM576 (4,73%);
AS996 (4,71%); IR50404 (2,55); OM2031 (1,65%); VNĐ 95-20 (1,065) còn lại là
các giống khác (Nguồn: Báo cáo hiệu quả ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản
xuất lúa vùng ĐBSCL, 3/2003, trang 11)
1.2.3.4. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Tỉnh Cần Thơ hiện có diện tích tự nhiên là 2.968 km
2
, trong đó diện tích
đất nông nghiệp là 2.502 km
2
(chiếm 84,4%) và diện tích đất chưa được khai thác
là 135,6 km
2
(chiếm 6.57%). So với diện tích đất nông nghiệp những năm 80
giảm đi khoảng hơn 5%. Tuy diện tích giảm nhưng hệ số sử dụng đất được tăng
lên là 2,03 lần do có sự đầu tư về thủy lợi, về quy hoạch tổng thể, sử dụng giống
mới, bố trí hệ thống canh tác hợp lý hơn.
1.2.3.5. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp, nông thôn
Tỉnh đã và đang tích cực thực hiện mục tiêu cải tiến và xây dựng cơ sở hạ
tầng nông thôn nhằm xóa bỏ sự cách biệt giữa nông thôn và thành thò: xây dựng

17
đường nông thôn, xóa bỏ hàng ngàn cây cầu khỉ… Đặc biệt, công tác thủy lợi đang
được triển khai nhanh chóng theo mô hình thủy lợi khép kín. Ước tính tổng diện
tích thủy lợi khép khín đến hết năm 2002 khoảng 131.000 ha, trong đó có khoảng
92.000 ha chủ động tưới tiêu (lúa, mía, vườn cây ăn trái) (Nguồn: Báo cáo Tổng
kết công tác năm 2002 của Sở Nông nghiệp và PTNT). Hệ thống thủy lợi chủ yếu

là đào đắp, nạo vét kênh mương. Tuy chưa hoàn thiện nhưng đã hạn chế đáng kể
những thiệt hại trong mùa mưa lũ.
Bên cạnh đó, máy móc phục vụ nông nghiệp cũng được trang bò. Theo
thống kê của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tính đến năm 2002 toàn tỉnh
hiện có 700 máy sấy lúa SRR trong đó có 614 máy có công suất 4 – 8 tấn/mẻ,
9.014 máy sạ hàng, 170 máy cắt lúa cải tiến cầm tay, 6 máy gặt các loại… Ngòai
ra một số máy móc khác như máy bơm nước, máy kéo, máy suốt lúa được bà con
nông dân tự bỏ vốn đầu tư ngày càng nhiều.
1.3. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GẠO CỦA TỈNH CẦN THƠ NHỮNG NĂM
QUA
1.3.1. Số lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo
Gạo là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, mang tính chiến lược của tỉnh. Kim
ngạch xuất khẩu gạo hàng năm luôn có tỷ trọng cao, trò giá trên 50% tổng kim
ngạch xuất khẩu của toàn ngành. Bên cạnh đó, Cần Thơ cũng là một trong 12 tỉnh
ĐBSCL có số lượng gạo xuất khẩu hàng năm khá lớn (từ năm 1998 đến nay
chiếm khoảng trên 20% lượng gạo xuất khẩu của cả vùng). Bảng 7 thống kê tình
hình xuất khẩu gạo trong 5 năm từ 1998 đến 2002.
Bảng 7 : Tình hình xuất khẩu gạo của tỉnh Cần Thơ từ năm 1998 đến 2002

Số lượng (triệu tấn) Kim ngạch (triệu USD)

Năm
Số lượng
% thay đổi so với
năm trước
Kim ngạch
% thay đổi so
với năm trước
1998 505.613 - 129.930.156 -
1999 631.532 24,90 137.164.299 5.56

2000 412.185 -32,82 73.871.786 -46,14
2001 381.034 -7,56 58.054.688 -21.41
2002 270.545 - 28,99 52.775.729 -9.19
(Nguồn: Sở Thương Mại tỉnh Cần Thơ)
Nhận xét:

18
Nhìn vào bảng số liệu ta nhận thấy, năm 1999 đã đạt một con số kỷ lục về
xuất khẩu gạo (cao nhất cả về số lượng và cả về kim ngạch xuất khẩu trong 5
năm). Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, thò trường tiêu thụ phải kể
đến chất lượng của gạo xuất khẩu đã được cải thiện. Trong tổng số lượng gạo
xuất khẩu, gạo phẩm chất cao (5 –10% tấm) chiếm tỷ trọng lớn (trên 50%). Đây
là một thành tựu nổi bật nhất trong năm 1999 thuộc về lónh vực sản xuất nông
nghiệp của tỉnh Cần Thơ. Tuy nhiên những năm sau đó số lượng và kim ngạch
xuất khẩu giảm, năm 2002 chỉ xuất khẩu được 270.545 tấn do vậy kim ngạch xuất
khẩu gạo chỉ chiếm 20,15% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.
Nguyên nhân là do thò trường gạo thế giới biến động mạnh, kim ngạch
nhập khẩu của những khách hàng quen thuộïc giảm, giá gạo xuất khẩu tăng do
khan hiếm gạo nguyên liệu… cho nên đã dẫn đến lượng gạo xuất khẩu trong năm
2002 giảm đáng kể (28,99% so với năm 2001). Do vậy các doanh nghiệp gặp khó
khăn trong việc cạnh tranh ký kết các hợp đồng thương mại. Bên cạnh đó Bộ tài
chính giải quyết thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo theo hợp đồng
chính phủ thường chậm hơn so với hợp đồng thương mại, nên dẫn đến tình trạng
các doanh nghiệp thiếu vốn để tiếp tục thực hiện các hoạt động kinh doanh.
1.3.2. Thò trường xuất khẩu gạo của Cần Thơ
Thò trường xuất khấu gạo chủ yếu của Việt Nam là châu Á (chiếm 50%
tổng xuất khẩu) và châu Phi (chiếm 49%), còn châu Mỹ chỉ chiếm 0,9% và châu
Âu chiếm 0,01%. Hiện tại thò trường châu Á là bạn hàng lớn nhất của Cần Thơ
(chiếm 90%), còn lại là các thò trường khác.
Biểu đồ 1: Cơ cấu thò trường gạo xuất khẩu của Việt Nam

Tính đến nay, gạo của Cần Thơ hiện diện tại hơn 10 nước trên thế giới, chủ
yếu vẫn là các nước châu Á, nhiều nhất là Malaysia và một số nước châu Âu,
đặc biệt là khối SNG (Xem phụ lục 4). Một trong những cố gắng của tỉnh là đã
dần giảm tỷ trọng xuất khẩu qua môi giới trung gian mà đó là một trong những
hạn chế chung của xuất khẩu gạo của Việt Nam những năm 1990 – 1996. Cho
châu Phi
49.0%
châu khác
1.0%
châu Á
50.0%

19
đến nay, tại các thò trường lớn như Malaysia và Philippin, Cần Thơ đã chủ động
được mà không phải thông qua môi giới trung gian như trước đây nữa.
1.3.3. Giá gạo xuất khẩu
Khi tham gia vào thò trường gạo thế giới, Việt Nam phải căn cứ vào giá
gạo quốc tế làm cơ sở để đònh giá gạo xuất khẩu của mình. Từ những thập kỷ 60
trở lại đây thò trường gạo thế giới thường dựa vào giá xuất khẩu gạo của Thái Lan
(điều kiện giao hàng FOB – Bangkok) làm giá quốc tế cho mặt hàng gạo vì Thái
lan là nước xuất khẩu gạo đứng đầu trên thế giới.
Trong những năm qua, chất lượng gạo của Việt Nam nói chung và Cần Thơ
nói riêng thấp hơn chất lượng gạo của các nước xuất khẩu lớn như Thái Lan, Mỹ.
Bên cạnh đó việc tiếp câïn nắm bắt thông tin thò trường còn nhiều hạn chế và giá
gạo cùng loại thường bằng hoặc cao hơn so với các nước xuất khẩu khác. Do vậy
gặp không ít khó khăn trong công tác tiếp thò và ký kết các hợp đồng.
1.3.4. Hệ thống lưu thông phân phối gạo xuất khẩu
Hệ thống phân phối lúa gạo đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
của các tỉnh gần như là giống nhau. Thực tế hiện nay trước khi xuất khẩu, hành
trình lúa gạo phải trải qua nhiều khâu. Có thể minh họa qua sơ đồ sau:

Hình 1 : Sơ đồ hệ thống lưu thông phân phối gạo cho xuất khẩu



Nông
dân
Hàng
xáo
thu
g
om
Thương
lái
đường
dài
Nhà
máy
xay
xát
Công ty
chế biến
cung ứng
Xuất
khẩu
Qua sơ đồ trên cho thấy:
- Từ người nông dân đến nhà máy xay xát phải qua 2 khâu thu gom và chế biến.
- Khâu xay xát chế biến lặp lại hai lần.
Đó là nhưng bất cập mà hiện nay chưa được khắc phục.
1.3.5. Đầu mối xuất khẩu gạo
Trước năm 2000, tỉnh Cần Thơ chỉ có một đầu mối xuất khẩu gạo duy nhất

đó là Nông trường Sông Hậu, đây là một trong những doanh nghiệp có hoạt động
xuất khẩu vững mạnh nhất cả nước. Chuyển sang năm 2001, trước những đòi hỏi
khách quan của cả trong và ngoài nước. Chính phủ đã cho phép các thành phần
kinh tế khác nhau được tham gia xuất khẩu gạo, bãi bỏ cơ chế hạn ngạch và đầu
mối trong xuất khẩu gạo, tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng hơn theo xu

20
hướng thương mại hoá hiện nay. Tiến trình vận động này đã tăng thêm số doanh
nghiệp tham gia xuất khẩu gạo trên đòa bàn tỉnh đó là: Nông trường Cờ Đỏ, Công
ty Mê Kông, Công ty chế biến lương thực Thốt Nốt. Tuy nhiên những doanh
nghiệp xuất khẩu gạo trực tiếp chưa nhiều mà chủ yếu xuất khẩu theo hợp đồng
của chính phủ hoặc theo hợp đồng ủy thác (xem phụ lục 5).
Tóm tắt chương 1
Với hệ thống sông ngòi chằng chòt, nguồn nước phù sa sông Hậu phong
phú tưới cho đồng ruộng. Với hệ thống đường giao thông thủy, bộ và đường hàng
không đã, đang và phát triển với các “Khu Công Nghiệp”đang hoạt động có sự
giúp sứccủa các cơ quan khoa học đầu ngành, từ Viện nghiên cứu đến các trường
đại học, cao đẳng… đã đưa Cần Thơ trở thành một tỉnh công nghiệp ngày càng
hiện đại. Cần Thơ đang cùng cả nước tiến nhanh tiến mạnh trên con đường CNH,
HĐH đặc biệt trong lónh vực sản xuất lúa và xuất khẩu gạo của tỉnh.
Nghiên cứu khái quát về tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của Cần
Thơ những năm qua cho thấy sản xuất lúa gạo của Tỉnh từ trước đến nay luôn là
một nơi sản xuất ra một khối lượng lương thực hàng hoá lớn nhất ở vùng
ĐBSCL.Và, ở thời điểm hiện tại hơn 70% dân số Cần Thơ nguồn gốc chính vẫn
là sản xuất lúa gạo. Thật đúng với đúng cái tên gọi được cả nước dành cho một
cách trìu mến: “ Cần Thơ thủ phủ của miền Tây”;”Cần Thơ gạo trắng nước
trong”…
Đất nước đang trên con đường CNH,HĐH đời sống của người nông dân
Cần Thơ theo đó cũng ngày càng được cải thiện nhờ có sự sáng suốt của Đảng và
Chính Phủ, nhiều chủ trương chính sách ngày càng sát với thực tế, đã mang lại lợi

ích thiết thực cho người nông dân, như chủ trương đưa TBKT vào đồng ruộng; tích
cực giúp đỡ người nông dân thông qua các hình thức và tổ chức khuyến nông,
các câu lạc bộ sản xuất giống, các HTXNN hình thành ngày càng nhiều và hoạt
động có hiệu quả trên tinh thần tự nguyện của người người sản xuất. Nhờ vậy mà
trong thời gian qua diện tích và sản lượng lúa không ngừng tăng lên. Tỉnh không
những đảm bảo an toàn lương thực mà còn dư thừa để xuất khẩu với khối lượng
lớn.
Bạn hàng mua gạo truyền thống của Việt Nam, trong đó có tỉnh Cần Thơ
chủ yếu là các nước quanh vùng Đông nam châu Á , các nước châu Phi, hai thò
trường này chiếm tới 90%, còn lại là các nước tại các châu lục khác. Giá cả gạo
trên thò trường luôn biến động, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu do vậy mà kim

21
ngạch xuất khẩu thu về cùng ảnh hưởng. Nhưng dù biến động như thế nào thì gạo
vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh trong những năm tiếp theo.

22
CHƯƠNG 2
KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU
LÚA GẠO CHẤT LƯNG CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ

2.1. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT LÚA GẠO CHẤT LƯNG
CAO CỦA TỈNH CẦN THƠ
2.1.1. Diện tích và sản lượng
Từ đầu thập niên 90 trở về trước, tình hình kinh tế của cả nước nhìn chung
là rất khó khăn, nhất là đối với người nông dân - gạo không đủ ăn, áo không đủ
mặc. Mặc dù Cần Thơ là một vùng đất trù phú, nông nghiệp phát triển từ những
năm 80, nhưng lương thực làm ra cũng không đủ để đáp ứng nhu cầu của đòa
phương. Trước tình hình này, chương trình an ninh lương thực quốc gia được triển
khai rộng khắp cả nước dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Đây chính làø một

trong những lý do tại sao diện tích đất nông nghiệp nói chung và diện tích đất
được sử dụng để gieo trồng lúa nói riêng của tỉnh Cần Thơ liên tục tăng và đã có
chiều hướng chững lại ở diện tích như hiện nay (bảng 6). Do mục tiêu của Đảng
và Nhà nước đưa ra chỉ dừng lại ở chỗ chúng ta có khả năng tự cung tự cấp được
lương thực, không còn nạn đói; cộng với nỗi lo thiếu lương thực nên bà con nông
dân chỉ chọn sử dụng những giống lúa có năng suất càng cao càng tốt, không
quan tâm chất lượng của lúa gạo đó ra sao. Bởi vì cái họ cần là khối lượng chứ
không phải là chất lượng. Chính vì vậy, tại thời điểm này ở hầu hết các tỉnh trong
cả nước chưa hoặc có rất ít diện tích sản xuất lúa có chất lượng cao. Nhưng cho
đến khi Việt Nam tiến tới hội nhập nền kinh tế thế giới và đã trở thành nước xuất
khẩu gạo lớn thứ 3 (năm 1996) sau đó vươn lên hàng thứ 2 như hiện nay thì quan
điểm sản xuất lúa gạo không chỉ là khối lượng mà phải có chất lượng cao mới đủ
khả năng thích ứng được với thò trường lúa gạo trong nước và thế giới. Một trong
những giải pháp được Đảng và Nhà nước đưa ra là phải nhanh chóng thực hiện
quy hoạch vùng lúa chất lượng cao và đã đang được triển khai ở cả hai vùng
ĐBSCL và ĐBSH. Theo báo cáo của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn,
đến năm 2001 ngành nông nghiệp và các đòa phương đã quy hoạch xong vùng lúa
chất lượng cao với diện tích từ 110.000 – 140.000 ha. Bước đầu triển khai đạt kết
quả như trong bảng 8:



23
Bảng 8 : Diện tích gieo trồng lúa chất lượng cao và sản lượng tăng thêm của
tỉnh Cần Thơ từ 2001 -2003
Năm 2001 2002 2003 (kế hoạch)
Diện tích chuyển sanng lúa
chất lượng cao (ha)
30.000 40.000 60.000
Năng suất tăng lên (tấn) 71.521 261829 -

So với năm trước 2001/2000 2002/2001
(Nguồn: Báo cáo tiến độ triển khai thực hiện các chương trình đề án nông nghiệp-
Sở NN & PTNN)
Nhận xét: Năm 2001 đã triển khai thực hiện được 30.000 ha và tăng lên
40.000 ha vào năm 2002, dự kiến năm 2003 là 60.000 ha đạt 100% tiến độ như đã
đề ra (xem phụ lục 6). Điều đó làm cho sản lượng lúa tăng nhanh rõ rệt (năm
2001/2000 sản lượng tăng hơn 70.000 tấn; 2002/2001 sản lượng tăng hơn 250.000
tấn. So sánh với năm 1990, tỉnh Cần Thơ cũng như những tỉnh khác trong cả nước
chưa triển khai quy hoạch vùng chuyên canh và sử dụng những giống lúa tốt nên
trong vòng 8 năm (từ năm 1990 đến 1998) sản lượng tăng thêm chỉ trên dưới
200.000 tấn) (bảng 5). Điều đó cho ta thấy, bước đầu thực hiện vùng lúa chất
lượng cao chúng ta đã thu được kết quả rất đáng mừng và là điều kiện thuận lợi
để thực hiện hết diện tích như tỉnh đã quy hoạch.
2.1.2. Hiện trạng sử dụng giống lúa trong những năm qua và hiện tại.
Trước đây Cần Thơ có những giống lúa mùa có chất lượng cao, thuộc
nhóm giống đặc sản như Nàng Hương, Một Bụi, Trắng Phước, Trắng Tép…, nhưng
các giống này có tính cảm quang nên thời gian sinh trưởng dài chỉ gieo cấy được
một vụ/năm. Cộng thêm vào đó là những nhược điểm như cây cao, dễ đổ ngã,
năng suất thấp, khả năng chống chòu sâu bệnh kém nên không thể thâm canh
tăng vụ. Ngày nay hầu hết diện tích trồng lúa của tỉnh đã được gieo trồng bằng
các giống mới, năng suất cao và ngắn ngày, nhờ vậy mà sản lượng không ngừng
tăng lên.
Cũng giống như các tỉnh khác ở ĐBSCL, Cần Thơ trong những năm gần
đây còn có rất nhiều giống đang cùng tồn tại trên đồng ruộng. Trong số này có
nhiều giống năng suất cao, dễ canh tác và gieo trồng rộng rãi trong nông dân
nhưng chất lượng gạo hàng hoá thì không thể chấp nhận được như giống IR50404,
OM576, và hàng loạt giống đã và đang thoái hoá khác. Chính vì lý do đó đã làm

24

×