Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

SKKN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (639.8 KB, 29 trang )

PHÒNG GD& ĐT HUYỆN VĂN YÊN
TRƯỜNG THCS NGÒI A
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ ỨNG DỤNG CÔNG GH
THÔNG TIN VÀO GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN Ở
TRƯỜNG THCS
  
Họ và tên: Phùng Thị Thuần
Chức vụ: Giáo viên
1
PHÒNG GD& ĐT HUYỆN VĂN YÊN
TRƯỜNG THCS NGÒI A
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG
DẠY MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS
  
Họ và tên: Phùng Thị Thuần
Chức vụ: Giáo viên
Tổ chuyên môn: Khoa học xã hội
Trường: THCS Ngòi A- Văn Yên
Tổ chuyên môn: Khoa học xã hội
Trường: THCS Ngòi A- Văn Yên
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG
DẠY M ÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Lí do chọn SKKN :
Như chúng ta đã biết, tốc độ phát triển vũ bão của công nghệ làm cho việc luân
chuyển thông tin trở nên cực kỳ nhanh chóng và vai trò của thông tin ngày càng trở
nên quan trọng. Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của Công nghệ thông tin
(CNTT) đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư
duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người.


Trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo, chúng ta đang thực hiện việc tuyên truyền,
quảng bá khuyến khích giáo viên, học sinh học và sử dụng CNTT để nâng cao kỹ năng
dạy và học, từ đó cải thiện chất lượng giáo dục. Mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng
CNTT trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo
2
ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao.Với tác động của CNTT môi
trường dạy học cũng thay đổi, nó tác động mạnh mẽ tới mọi thành tố của quá trình
quản lý, giảng dạy, đào tạo và học tập dựa trên sự hỗ trợ của hệ thống các hạ tầng
CNTT và các phần mềm ứng dụng đi kèm. Việc ứng dụng CNTT vào phương pháp
giảng dạy đã thay đổi cả vai trò của học sinh và giáo viên.Nếu trước kia trong hệ thống
giáo dục truyền thống người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho học sinh nhớ
lâu, dễ hiểu, giáo viên thường là nguồn tài liệu duy nhất cho học sinh học tập, “thầy
đọc, trò chép” và học sinh phải đến trường để học. Thì ngày nay trong hệ thống giáo
dục hiện đại, giáo viên đã phải dần dần trở thành người hướng dẫn học sinh biết dùng
máy tính và Internet để tự tìm nội dung, hình thành và phát triển cho học sinh các
phương pháp học chủ động, giáo viên đóng vai trò tạo điều kiện thuận lợi và tháo gỡ
khó khăn cho học sinh, giúp học sinh xây dựng tư duy.
Xuất phát từ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của CNTT đối với sự nghiệp giáo
dục và đào tạo, năm học 2008 – 2009 là năm học đầu tiên triển khai thực hiện Chỉ thị
số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về tăng cường
giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012.
Năm học 2010 – 2011 tiếp tục thực hiện chủ đề “Năm học đẩy mạnh ứng dụng
CNTT, đổi mới quản lý tài chính và xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực”.
Trong nhà trường, tất cả các môn học đều có tầm quan trọng nhằm giáo dục
toàn diện cho học sinh, nhưng môn Ngữ văn là môn giáo dục nhân bản khá quan trọng,
bởi lẽ “ Văn học là nhân học”, nó có tác động mạnh trong việc hình thành nhân cách
thế giới quan khoa học và giúp phát triển tư duy cho học sinh. Không chỉ ở nước ta mà
hầu hết các nước trên thế giới, vấn đề chất lượng dạy và học văn ngày càng trở thành
mối quan tâm của các nhà sư phạm. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà

đặc biệt là do phương pháp giảng dạy truyền thống (thầy đọc,- thuyết giảng - học sinh
nghe - ghi và học thuộc lòng), cho nên việc giảng dạy văn học nói riêng và các bộ môn
khoa học xã hội khác nói chung chưa khơi gợi được hứng thú và vai trò chủ thể, tích
cực, chủ động của học sinh, dẫn đến hậu quả khá nghiêm trong là hiện nay hầu hết các
em rất ngại học môn ngữ văn mà chỉ học chiếu lệ, miễn sao có đủ cột điểm là được.
3
Xuất phát từ thực trạng trên, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn đáp
ứng sự phát triển con người toàn diện được đặt ra như một yêu cầu tất yếu mà mấy
năm nay toàn ngành Giáo dục đã quyết tâm làm sao cho hiệu quả.
Trường tôi công tác và giảng dạy là một trường miền núi. học sinh chủ yếu là
dân tộc thiểu số( Dao, Tày) trình độ nhận thức của các em không đều. Mặt khác do địa
bàn xã rộng, nhiều khe, suối, đường xá đi lại khó khăn. Nhiều em hay nghỉ học tự do,
cha mẹ các em lại không quan tâm. Nhiều phụ huynh còn giao khoán việc giáo dục
con cái cho nhà trường, hoặc không muốn cho con đi học. Một phần cũng do nhiều gia
đình có hoàn cảnh hết sức khó khăn, ở độ tuổi các em đã trở thành lao động chính
trong gia đình. Cũng vì những lí do trên mà việc học của các em bị ảnh hưởng rất
nhiều. Nhiều em coi việc học không quan trọng bằng các công việc khác. Đặc biệt đối
với môn văn các em thực sự lơ là, chưa yêu thích, học chỉ với mục đích chống đối
thầy cô.Chính vì thế với vai trò là một giáo viên dạy văn toi luôn trăn trở làm thế nào
để đa số các em yêu thích môn văn và các giờ dạy văn. Rất may mắn cho trường
THCS Ngòi A chúng tôi, năm học 2007- 2008 được nhà nước cấp cho nhà trường 14
máy tính, một máy chiếu. Học sinh và giáo viên có điều kiện tiếp cận với máy tính,
làm quen với máy tính, máy chiếu. Chúng tôi tự học hỏi nhau tìm mọi phương pháp
đổi mới phương pháp soạn giảng, phương pháp dạy học nhằm nâng cao hứng thú học
tập cho học sinh. Từ năm học 2008- 2009 với chủ đề năm học “Đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin vào nhà trường” chúng tôi tổ chức học tập, thiết kế giáo án trên
máy tính, soạn giảng giáo án điện tử đưa vào giảng dạy học sinh. Đối với môn Ngữ
văn học sinh thực sự hứng thú vì hình ảnh sinh động bài giảng rõ ràng. Đây cũng là
một cách chúng tôi sử dụng để dần nâng cao chất lượng ở một trường miền núi nhiều
đồng bào dân tộc. Cũng chính vì những lý do trên mà tôi tiến hành nghiên cứu vấn đề

này và mạo muội đưa ra một vài ý kiến về cách soạn giảng giáo án, ra đề thi trắc
nghiệm trên máy vi tính ứng dụng cho môn Ngữ văn trung học cơ sở.

2 - Thời gian thực hiện và triển khai SKKN :
Mấy năm trở lại đây việc soạn giáo án trên máy vi tính & giáo án điện tử được
khuyến khích sử dụng, và đó cũng là một bước tiến trong quá trình đổi mới phương
4
pháp. Với giáo án soạn trên máy vi tính và giáo án điện tử việc dạy học nêu vấn đề -
phương pháp giáo dục tích cực hiện nay - trở thành thuận lợi hơn và phát huy tối đa
những ưu điểm của phương pháp này. Mặt khác trong thời đại khoa học kỹ thuật phát
triển như hiện nay, việc ứng dụng những thành tựu công nghệ thông tin vào giảng dạy
trở thành một xu hướng phổ biến trên thế giới và đã chứng tỏ những ưu thế nhất định
của nó trong việc khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh, nhất là các em trong độ tuổi
từ 12 – 16. Cùng với các phương pháp tiến bộ, chúng ta ngày càng tiếp cận xu hướng
đưa công nghệ thông tin vào trường học, nhưng cũng do nhiều nguyên nhân chủ quan
lẫn khách quan nên việc vận dụng vào quy trình giảng dạy có phần chậm trễ và gặp
nhiều trở ngại nhất là đối với môn Ngữ văn.
Do vậy, với kinh nghiệm này, trong khả năng có hạn của mình, bản thân tôi
muốn hướng đến những mục tiêu:
- Giúp các thầy cô giáo một ít kinh nghiệm trong việc soạn giáo án trên máy vi
tính và giáo án điện tử, từ đó mang lại hiệu quả cho tiết dạy(và các em học sinh khi có
tiết học theo phương pháp mới có sự ham thích đối với các môn khoa học xã hội nói
chung và môn ngữ văn nói riêng.)
- Giúp các đồng nghiệp có những hiểu biết nhất định về tin học, về cách sử dụng
các phương tiện công nghệ thông tin để chuẩn bị một tiết dạy có hiệu quả.
Cũng chính vì điều này tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện SKKN này ở tổ
chuyên môn từ tháng 9-2009 đến nay.
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ:
Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay, việc ứng dụng những

thành tựu công nghệ thông tin vào giảng dạy trở thành một xu hướng phổ biến trên thế
giới và đã chứng tỏ những ưu thế nhất định của nó trong việc khơi gợi hứng thú học
tập cho học sinh, nhất là các em trong độ tuổi trung học cơ sở. Cùng với các phương
pháp tiến bộ, chúng ta ngày càng tiếp cận xu hướng đưa công nghệ thông tin vào
trường học, nhưng cũng do nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan nên việc vận
5
dụng vào quy trình giảng dạy có phần chậm trể và gặp nhiều trở ngại. Nhiều nơi vẫn
chưa được cung cấp các thiết bị hỗ trợ để giảng dạy. Đây cũng là một vấn đề nan giải
mà các nhà chức năng cần quan tâm.
Dạy học là dạy cho học sinh tự học. Muốn được như vậy, trước tiên phải tạo cho
học sinh một hứng thú học tập. Ngày nay các em đã rất quen với máy tính trong các
giờ tin học ở trường, các giờ lên mạng Internet ở nhà, ở các tụ điểm kinh doanh
mạng…
Hiện nay tin học đã được xem là một môn học trong nhà trường phổ thông. Tin
học cũng là một môn thi của những kì thi chọn học sinh giỏi các cấp, nhiều trường đã
trang bị được phòng máy tính phục vụ cho công việc học tập của học sinh, rất nhiều
em ham thích môn học mới này, điều đó cho thấy tin học ngày càng trở nên phổ biến,
hơn nữa việc trang bị cho mình một máy vi tính không còn là chuyện quá xa vời đối
với giáo viên có tâm huyết.
Việc soạn giáo án trên máy tính, giáo án điện tử đã được các cấp lãnh đạo
chuyên môn khuyến khích vì những ưu điểm của nó đem lại.
Tuy nhiên việc tiếp cận máy vi tính đối với nhiều giáo viên còn gặp nhiều khó
khăn. Về cơ bản những giáo viên trước đây không được đào tạo môn tin học trong nhà
trường Sư phạm hoặc chỉ được học lý thuyết mà không được thực hành bây giờ lại
phải mất nhiều thời gian học lại. Đây cũng là một trở ngại lớn cho việc tiếp nhận thông
tin. Cũng chính vì thế mà trong ngành xẩy ra không ít chuyện nực cười xung quanh
việc sử dụng giáo án vi tính. Nhiều giáo viên mới bập bõm vài chương trình trên vi
tính lên mạng cóp giáo án sẵn về chỉnh sửa, nhưng do không hiểu biết các phần ứng
dụng nhiều chỗ không chỉnh sửa được hoặc “quên” không sửa, dẫn đến khi cấp trên
kiểm tra mới thấy những thiếu sót hoặc những lỗi không đáng có. Cũng chính vì vậy

tôi mạo muội đưa ra một vài cách tự thiết kế giáo án cho riêng mình, các bạn đồng
nghiệp có thể tham khảo và tìm ra hướng soạn bài cho riêng mình vừa đảm bảo tính
khoa học vừa tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua bài giảng của mình.
II: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
- Vấn đề cách soạn giáo án vi tính, thiết kế đề thi trắc nghiệm, soạn giảng giáo
án điện tử đã được nhiều đồng nghiệp nghiên cứu và đưa ra những sáng kiến rất hay.
6
Cũng đã có nhiều tài liệu hướng dẫn cách soạn trên mạng Internet, những thông tin đó
rất hữu ích cho mỗi giáo viên. Tuy nhiên những thông tin đó rất rộng và nhiều nếu
ngồi nghiên cứu thì rất mất nhiều thời gian và công sức, nhiều tài liệu còn giới thiệu
chung chung nếu giáo viên là người mới học vi tính sẽ mất nhiều thời gian và khó tiếp
nhận. Đặc biệt tuỳ vào cách thiết kế giáo án của từng vùng miền khác nhau dẫn đến
việc các phần giáo án không thống nhất .Trong sáng kiến này, do thời gian có hạn tôi
chỉ đưa ra một vài ý kiến về cách soạn và cung cấp một vài địa chỉ, phần mềm ứng
dụng mà tôi biết để các bạn có thể tham khảo và tìm cho mình một cách soạn giảng
phù hợp với đơn vị mình, với học sinh mình.
III: CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1) Thiết kế và giảng dạy bằng giáo án điện tử:
Từ những bài học kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo thực hiện soạn giảng
bằng GAĐT của năm học trước, ngay từ đầu năm học chúng tôi đã tiến hành vận động
đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường thực hiện ứng dụng CNTT trong
giảng dạy cũng như trong công việc.Theo chúng tôi giảng dạy bằng GAĐT làm cho
bài dạy sinh động, hấp dẫn hơn đối với học sinh đồng thời giáo viên có thể tiết kiệm
thời gian để theo dõi, kèm cặp, giúp đỡ học sinh yếu kém. Sau khi “đả thông tư tưởng”
trong đội ngũ thì khó khăn mới lại nảy sinh. Lúc đầu hầu hết giáo viên chỉ mới tập
tành soạn thảo văn bản mà chưa hề biết làm thế nào để có một giáo án điện tử. Vậy là
với một ít tài liệu của đợt tập huấn năm học trước chúng tôi lại một lần nữa làm “phổ
cập” về Powerpoint cho đội ngũ. Những khái niệm “slide”, “hiệu ứng”, “trình
chiếu”…quá mới mẽ dần dần trở nên quen thuộc hơn với mọi người. Trong các buổi
sinh hoạt chuyên môn chúng tôi thường dành một khoảng thời gian nhất định cho việc

tập soạn GAĐT. . Đảng viên và giáo viên nòng cốt ở các tổ chuyên môn luôn nêu cao
tinh thần trách nhiệm gương mẫu thực hiện nên đã động viên, khuyến khích không nhỏ
đến đội ngũ giáo viên. Người biết hướng dẫn cho người chưa biết, người biết nhiều bổ
sung cho người biết ít. Sử dụng phương pháp này nên cùng với sự tiến bộ về kỹ năng
sử dụng phần mềm Powerpoint đội ngũ giáo viên ngày càng tự tin hơn trong việc thiết
kế GAĐT. Bên cạnh đó, chúng tôi thường xuyên quan tâm “lắng nghe” và đáp ứng
7
phần nào những băn khoăn, trăn trở của giáo viên trực tiếp soạn, giảng bằng phương
pháp hiện đại và khá mới mẻ này. Lúc đầu vì trình độ tay nghề còn thấp nên nhiều
giáo viên khá lúng túng và e ngại khi soạn bài. Nhưng càng về sau mọi người như đã
tìm thấy được niềm vui và sự say mê nên hiệu quả công tác soạn giảng ngày càng
được nâng cao. GAĐT đã trở thành chủ đề chung của nhiều “hội thảo” không chính
thức trong chúng tôi. Bên cạnh đó, chúng tôi còn động viên cán bộ, giáo viên kết nối
Internet tại gia đình để thuận lợi hơn trong cập nhật thông tin nói chung và tìm kiếm tư
liệu phục vụ soạn GAĐT nói riêng. Tính đến thời điểm cuối tháng 10 năm học này,
100% cán bộ giáo viên trong trường đã kết nối internet và truy cập thường xuyên
thông tin trên mạng. Những hoạt động bổ ích này đã giúp đội ngũ cán bộ, giáo viên
chúng tôi rút ngắn khoảng cách đối với đồng nghiệp và mạnh dạn, tự tin hơn trong
việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học.
Thông qua sinh hoạt chi bộ, họp Ban giám hiệu, Hội đồng sư phạm nhà trường
chúng tôi đã bàn bạc, thống nhất đưa vào tiêu chí thi đua đối với giáo viên trực tiếp
đứng lớp. Yêu cầu trong đợt hội giảng cấp trường mỗi GV đều phải tham gia ít nhất
một tiết dạy trêm máy chiếu. Phấn đấu đến cuối năm học này 93% GV biết soạngiảng
GAĐT. Quả thật, lúc đầu có một số giáo viên (nhất là các giáo viên lớn tuổi) không
khỏi chùn chân ngán ngại. Tuy nhiên, đã quyết là làm. Chúng tôi chủ trương “mưa
dầm thấm lâu” nên vừa động viên, khuyến khích chúng tôi vừa hỗ trợ, giúp đỡ giáo
viên một cách hết sức nhiệt tình. Chỉ cần giáo viên nêu “ý tưởng” của mình thì chúng
tôi – một số cán bộ, giáo viên có kỹ năng thực hành – sẵn sàng cùng giáo viên thiết kế
giáo án cho đến khi hoàn chỉnh. Lúc đầu chỉ thực hiện vì tinh thần, trách nhiệm lâu
dần lại trở nên làm việc một cách tự giác, say mê. Đã có không ít cô giáo thức đến 1, 2

giờ sáng để soạn bài mà vẫn thấy “mệt thì có mệt, nhưng vui”. Với phương châm “vừa
học, vừa làm” chúng tôi đã tổ chức Hội giảng cấp tổ, cấp trường với 93% GV có giờ
dạy GAĐT. Trong đó70% GV soạn, giảng thành thạo .Trong năm học này chúng tôi
vẫn tiếp tục tổ chức các chuyên đề hướng dẫn soạn giảng GAĐT để 100% GV trong
trường biết ứng dụng CNTT vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giảng dậy. Sau
đây tôi đưa một số lưu ý khi thiết kế GAĐT đối với Môn Ngữn văn để bạn bè đồng
nghiệp tham khảo.
8
2. Mt vi lu ý khi son ging GAT trong mụn Ng vn.
*. Phõn bit giỏo ỏn in t v bi ging in t
*. Phõn bit giỏo ỏn in t v bi ging in t



Giỏo
Giỏo
án điện tử :Là bản thiết kế kế hoạch tổ chức hoạt động dạy học cho một
án điện tử :Là bản thiết kế kế hoạch tổ chức hoạt động dạy học cho một
môn học hay bài hoc cụ thể ( Kịch bản của bài học)
môn học hay bài hoc cụ thể ( Kịch bản của bài học)
Bài giảng điện tử : Là bản trình diễn nội dung bài giảng đã đ
Bài giảng điện tử : Là bản trình diễn nội dung bài giảng đã đ


ợc ch
ợc ch


ơng trình
ơng trình

hoá trong giáo án điện tử
hoá trong giáo án điện tử
*.
Yờu cu i vi mt bi ging in t
Yờu cu i vi mt bi ging in t
- Yờu cu v ni dung
- Yờu cu v ni dung
+ Trỡnh by ni dung vi lớ thuyt cụ ng c minh ho sinh ng v cú tớnh
+ Trỡnh by ni dung vi lớ thuyt cụ ng c minh ho sinh ng v cú tớnh


tng tỏc cao m cỏc phng phỏp ging bng li khú din t.
tng tỏc cao m cỏc phng phỏp ging bng li khú din t.
- Yờu cu v phn cõu hi gii ỏp
- Yờu cu v phn cõu hi gii ỏp
+ Vi cõu tr li ỳng : Th hin s tỏn thng , c v nng nhit ca ngi hc.
+ Vi cõu tr li ỳng : Th hin s tỏn thng , c v nng nhit ca ngi hc.
+ Vi cõu tr li sai : Thụng bỏo li v gi ý tỡm ch sai bng cỏch nhc nh, a
+ Vi cõu tr li sai : Thụng bỏo li v gi ý tỡm ch sai bng cỏch nhc nh, a
ra mt gi ý hoc ch ra ch sai ngi hc suy ngh tỡm cõu tr li
ra mt gi ý hoc ch ra ch sai ngi hc suy ngh tỡm cõu tr li
+ Cui cựng a ra mt gii phỏp hon chnh
+ Cui cựng a ra mt gii phỏp hon chnh
* Yờu cu v phn th hin khi thit k
* Yờu cu v phn th hin khi thit k
- Phn thit k phi m bo 3 yờu cu sau :
- Phn thit k phi m bo 3 yờu cu sau :
+ y : yờu cu ni dung cỏc bi hc
+ y : yờu cu ni dung cỏc bi hc
+ Chớnh xỏc : m bo khụng cú thụng tin sai sút

+ Chớnh xỏc : m bo khụng cú thụng tin sai sút
+ Trc quan : Hỡnh v, õm thanh, bng biu sinh ng hp dn ngi nghe.
+ Trc quan : Hỡnh v, õm thanh, bng biu sinh ng hp dn ngi nghe.
*. Qui trỡnh thit k
*. Qui trỡnh thit k
-
Bc 1 : Son trờn giy
Bc 1 : Son trờn giy
+ Son bi trờn giy
+ Son bi trờn giy
+ Lp cng cho phn trỡnh by
+ Lp cng cho phn trỡnh by
+ Lp kch bn cho cỏc slide v d kin cỏc hiu ng
+ Lp kch bn cho cỏc slide v d kin cỏc hiu ng
- Bc 2 : Son trờn mỏy tớnh
- Bc 2 : Son trờn mỏy tớnh
+ Son ni dung trờn cỏc slide
+ Son ni dung trờn cỏc slide
+ To cỏc hiu ng theo kch bn ó d kin.
+ To cỏc hiu ng theo kch bn ó d kin.
+ Trỡnh din th v chnh sa
+ Trỡnh din th v chnh sa
9
*. Định hướng ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học Ngữ văn
*. Định hướng ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học Ngữ văn


* Với Tiếng Việt và tập làm văn:
* Với Tiếng Việt và tập làm văn:
- Nêu ví dụ

- Nêu ví dụ
- Sơ đồ bảng biểu
- Sơ đồ bảng biểu
- Dùng các hiệu ứng để phân tích ví dụ theo ý đồ của giáo viên
- Dùng các hiệu ứng để phân tích ví dụ theo ý đồ của giáo viên
+ Đổi màu chữ
+ Đổi màu chữ
+ Cho các chữ lần lượt xuất hiện
+ Cho các chữ lần lượt xuất hiện
+ Các đường dẫn
+ Các đường dẫn
- Chốt kiến thức
- Chốt kiến thức
- Hình ảnh minh hoạ khi cần thiết
- Hình ảnh minh hoạ khi cần thiết

* Với văn học :
* Với văn học :
- Sử dụng âm thanh, hình ảnh có lựa chọn để tránh làm loãng bài học
- Sử dụng âm thanh, hình ảnh có lựa chọn để tránh làm loãng bài học
Chỉ nên giới thiệu:
Chỉ nên giới thiệu:
+ Tác gia, tác phẩm, giọng đọc của tác gia hoặc nghệ sĩ
+ Tác gia, tác phẩm, giọng đọc của tác gia hoặc nghệ sĩ
+ Một vài hình ảnh minh hoạ cho nội dung bài học hoặc các tư liệu quý hiếm
+ Một vài hình ảnh minh hoạ cho nội dung bài học hoặc các tư liệu quý hiếm
- Kênh chữ : Nêu dẫn chứng và những nhận xét khái quát.
- Kênh chữ : Nêu dẫn chứng và những nhận xét khái quát.
Do tình hình thực tế nhà trường, và của các em học sinh, hơn nửa do yêu thích
khám phá Tin học, bản thân tôi luôn mày mò, tự học, đọc thêm tài liệu mà tôi đã sưu

tầm từ khắp các nguồn: Sách báo, nghe chương trình dạy Vi tính trên truyền hình,
sách tin học, lượm lặt từ Internet, học qua đồng nghiệp, bạn bè nên tôi đã lưu tâm đến
việc soạn giáo án điện tử, từ đó tôi dành nhiều thời gian cho việc soạn giảng, quan tâm
hơn đến giáo án điện tử bởi có thể coi đây là cách giảng tiên tiến nhất và học sinh
hứng thú hơn nhiều đối với môn Ngữ văn.
- Giáo án điện tử thường phải ngắn gọn, bao gồm 2 phần chính là hệ thống câu
hỏi và phần bài ghi, những vấn đề chính học sinh cần nắm. Ngoài ra còn có phần
giảng của giáo viên thì không cần hiển thị lên màn hình mà chỉ lướt qua ( bằng âm
thanh).
10
- Phần trực quan cho học sinh tham khảo rất đa dạng như: chân dung, hình ảnh
hoạt động của tác giả, phim tư liệu, phim chuyển thể từ tác phẩm, bài hát phổ thơ, diễn
ngâm tác phẩm.v.v…
- Chú ý xây dựng hệ thống câu hỏi, vì nó thể hiện rõ tích chất đổi mới phương
pháp dạy học nêu vấn đề ( câu hỏi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp có tác dụng
gợi mở, dẫn dắt học sinh nhằm hình thành kiến thức mới.Có thể dùng nhiều câu hỏi:
tái hiện, gợi mở, và nêu vấn đề, thảo luận nhóm, dùng phiếu học tập.v.v…
- Giáo viên phải lựa chọn được những ý tưởng, và biết cách sử dung từ, ngữ thật
cô động, hàm xúc.
3. Cách thiết kế giáo án điện tử ( PowerPoint):
Để thực hiện được loại giáo án này, chúng ta cần biết sử dụng một số chương
trình thông dụng để hổ trợ như:
- Microsoft PowerPoint Xp – Adobe Photoshop 7.0
- FotoCanvas – Flash Saver Maker – Flip Album – Ulead PhotoImpact 7.0
Các bước thực hiện:
- Bước 1: Khởi động chương trình PowerPoint, khi mở chương trình này ta sẽ có một
file hiện hành. Một file gồm nhiều Slide ( khung hình)
- Khi nhấp chữ file trên menu Bar, ta sẽ có các lệnh liên quan đến file.
- Ví dụ: File – New (mở một file mới).
- Bước 2: Tạo khung hình mẫu:

- Khi mở chương trình PowerPoint, ta đã có sẳn một Slide mẫu, trong đó có:
- Một khung nhỏ A (Click to add title).
- Một khung nhỏ B (Click to add Subtitle)
- Muốn chọn một khung hình khác ta nhấp vào chữ Format và chọn Silde
Layout, (Format - Silde Layout)
- Chọn cỡ giấy, chiều giấy, Fond chữ.
- Bước 3: Tạo nền bằng nền mẫu: Silde Layout
- Nếu muốn tạo một nền bằng nền mẫu cho khung hình ta nhấp vào Format và
chọn Silde Design, màn hình sẽ hiện ra Hộp Design Templates.
Format > Silde Design > Design Templates
11
Lưu ý: Nếu ta chưa nhấp mouse vào Silde mà ta đã tạo nền mẫu, thì nền mẫu này
mặc nhiên xuất hiện trong toàn bộ các Silde của tập tin giáo án điện tử ( nghĩa là sau
này mỗi khi tạo Silde mới, thì đã có nền mẫu này).
- Bước 4: Tạo nền bằng màu - Kiểu nền -Hình ảnh ( Format - Backgound)
- Muốn tạo một nền bằng hình mẫu, kiểu nền hoặc hình ảnh cho Silde, ta nhấp
vào Format và chọn Backgound, màn hình sẽ hiện ra hộp Backgound
Format > Backgound > Hộp Backgound
Lưu ý: Nếu ta chưa nhấp mouse vào Silde mà ta đã tạo nền mẫu, thì nền mẫu này
mặc nhiên xuất hiện trong toàn bộ các Silde của tập tin giáo án điện tử ( nghĩa là sau
này mỗi khi tạo Silde mới, thì đã có nền mẫu này).
- Bư ớ c 5 : Tạo hiệu ứng nền – SLIDE TRANSITION
- Hiệu ứng là kĩ xảo làm cho nền của Silde xuất hiện lạ mắt, gây hứng thú cho
học sinh.
- Muốn tạo một hiệu ứng cho nền, ta nhấp vào Silde Show ( trên thanh Menu Bar)
và chọn Silde Transition, màn hình sẽ hiện ra Hộp Silde transitionn.
Silde Show > Silde transition > Hộp Silde transition
-Bước 6: Tạo chữ - CHARACTER FORMAT FONT
- Muốn tạo loại chữ, kiểu chữ. cỡ chữ, ta nhấp vào chữ Format và chọn Font, màn
hình sẽ hiện ra Hộp Font:

Fomat > Font > Hộp Font.
- Nếu muốn tạo chữ nghệ thuật, ta nhấp vào Insert, chọn picture và chọn tiếp
WordArt, màn hình sẽ hiện ra Hộp WordArt Gallery:
Insert > Picture > WordArt > Hộp WordArt Gallery
- Bước 7: Tạo hiệu ứng chữ - ANIMATION SCHEES
- Hiệu ứng là kĩ xảo làm cho chữ của Silde xuất hiện lạ mắt, gây hứng thú cho
học sinh.
- Muốn tạo một hiệu ứng cho chữ, ta nhấp vào Silde Show (trên thanh Menu Bar)
và chọn Animation Schemes, màn hình sẽ hiện ra Hộp Silde Design (với chữ
Animation Schemes được in đậm).
Silde Show > Animation Schemes > Hộp Silde Design
12
- Bước 8: Tạo âm thanh – SOUND, Thu giọng nói, Bài hát minh hoạ- RECORD
NARRATION
- Nếu muốn tạo âm thanh, ta nhấp vào Silde Show và chọn Slide Trasition, màn
hình sẽ hiện ra hộp thoại Silde Transition, trong hộp này ta chọn SOUND
Silde Show> Silde Transition > Hộp Silde Transition > SOUND
- Nếu muốn thu giọng nói, bài hát ta nhấp vào Silde Show và chọn Record
Narration, màn hình sẽ hiện ra hộp thoại Record Narration.
Silde Show> Record Narration > Hộp Record Narration
-Bư ớ c 9 : Trình chiếu trên lớp –SIDESHOW
- Muốn trình chiếu (Dạy trên lớp), ta nhấp vào Silde Show và chọn View Show
( Hoặc nhấn phím F5) màn hình sẽ chuyển sang chế độ trình diễn.
Silde show > View Show ( hoặc phím F5)
- Sử dụng công cụ Pen khi đang trình chiếu.
- Lúc này giáo viên nên sử dụng Remode, thay cho mouse, vì như thế sẽ hạn chế
việc di chuyển của giáo viên trên lớp.
- Đóng gói tập tin ( Để tiết kiệm thời gian ta lưu với phần tên mở rộng là *pps
( powerpoint show) để mỗi khi ta kích chuột vào các tập tin này là nó sẽ tự động chạy
thẳng vào trình chiếu trên màn hình, bỏ qua được bước khởi động chương trình

Powerpoint)
4. Giới thiệu phần mềm Adobe Presenter:
Bên cạnh cách soạn trên Powerpoint thông thường, ngày nay còn nhiều phân
fmềm ứng dụng khác có thể hỗ trợ rất tốt trong giảng dạy nói chung và dạymôn Ngữ
văn nói riêng. Sau đây tôi xin giới thiệu phần mềm dùng để soạngiảng có tính năng
vượt trội, đó là phần mềm Adobe Presenter.
I. Nổi bật của Adobe Presenter so với Powerpoint
• Giúp dễ dàng tạo ra các bài trình chiếu từ các slide trên Powerpoint thành bài
giảng điện tử tương tác tuân thủ theo chuẩn e-learning và có thể dạy và học qua mạng.
• Cho phép chèn flash lên bài giảng
• Cho phép ghi âm thanh, hình ảnh, video và đưa lên bài giảng
13
• Cho phép chèn các câu hỏi tương tác (bao gồm cả câu hỏi trắc nghiệm) lên bài
giảng
• Cho phép xuất bài giảng (tuân thủ các chuẩn e-learning như SCORM, AICC) ra
nhiều loại định dạng khác nhau như là: website, đĩa CD và đưa lên hệ thống Adobe
Connect Pro để có thể dạy và học trực tuyến)
II. Quy trình tạo bài giảng bằng Presenter
- Xây dựng nội dung bài giảng
• Thiết kế bài soạn trên Powerpoint hoặc sử dụng những bài giảng đã soạn trên
Powerpoint
• Sử dụng các tính năng nâng cao của Presenter để chèn thêm nội dung vào bài
giảng như là: Flash, câu hỏi tương tác (trắc nghiệm), chèn lời giảng đồng bộ với các
slide,
- Xuất bản ra bài giảng e-learning
• Xuất bản bài giảng đã thiết kế thành bài giảng e-learning (dưới dạng website –
có thể ghi ra đĩa CD tự chạy và có thể dạy, học thông qua mạng máy tính.
Các bài giảng này tuân thủ chuẩn e-learning thông dụng SCORM và AICC
nên dễ dàng chia sẻ và phục vụ các hệ thống học trực tuyến
14

15
16
- Tổ chức các câu hỏi trong một bài giảng
• Cho phép kiểm tra nhiều lần trong một bài giảng, ví dụ: kiểm tra bài cũ, củng cố
kiến thức trước khi kết thúc bài, Mỗi lần kiểm tra như vậy gọi là một Quiz.
• Mỗi Quiz có thể có nhiều câu hỏi (Question)
• Mỗi câu hỏi có thể cho một điểm số (Score)
• Khi đó mỗi Quize sẽ có một thang điểm tối đa – Total points ( = tổng điểm của
các câu hỏi trong Quiz)
• Cho phép đánh giá chất lượng sau mỗi Quiz kiểm tra (ví dụ: được bao nhiêu điểm
thì đạt (Passing score), bao nhiêu điểm thì chưa đạt).
17
18
19
20

×