MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1986, nhà nước ta bắt đầu thực hiện chương trình cải cách kinh tế toàn
diện, Việt nam đã từng bước mở cửa và hội nhập quốc tế. Lần lượt gia nhập khối
ASEAN vào tháng 7/1995, gia nhập APEC vào tháng 11/1998, và gia nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO tháng 11/2006. Cùng với quá trình đổi mới, hội nhập của đất
nước, ngành Hải quan đứng trước thử thách rất lớn, đòi hỏi hiện đại hoá công tác quản
lý, bắt nhịp với tiến bộ không ngừng của Hải quan khu vực và thế giới. Trong những
năm gần đây, ngành Hải quan đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm đơn giản hóa thủ tục hải
quan cho phù hợp với thông lệ và tập quán thương mại quốc tế; tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp trong quá trình làm thủ tục hải quan góp phần cải cách thủ tục hành chính, cũng
là giải quyết bài toán khó khăn về quản lý và giải quyết thủ tục hải quan hàng ngày tại
các Chi cục Hải quan. Một trong các biện pháp có tính chất quyết định, làm thay đổi về
cơ bản tư duy quản lý hành chính là triển khai thủ tục hải quan điện tử.
Thủ tục hải quan điện tử là phương pháp quản lý hải quan hiện đại dựa trên nền
tảng ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng quản trị rủi ro. Việc áp dụng quản trị rủi
ro trong thủ tục hải quan điện tử đã làm thay đổi cơ bản về phương thức quản lý, tạo
thuận lợi cho các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật, rút ngắn thời gian thông quan,
giảm các thủ tục giấy tờ, hạn chế việc tiếp xúc giữa doanh nghiệp và công chức hải
quan và quan trọng hơn nữa là tạo ra một môi trường làm việc minh bạch, hiệu quả và
hiện đại hơn.
Quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan đã được các nước tiên tiến trên thế giới
như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Singgapore… áp dụng từ lâu, nhưng tại Việt Nam thì đây là
một kỹ thuật nghiệp vụ hoàn toàn mới mẻ, cần phải nghiên cứu tìm ra những giải pháp
phù hợp để triển khai thành công tại Việt Nam. Chính vì những lý do đó mà tác giả lựa
chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử tại Việt
Nam” để nghiên cứu.
1
2. Tình hình nghiên cứu
Rủi ro và quản trị rủi ro đã được nhiều tác giả kinh điển trên thế giới nghiên cứu
như Willett Allan với tác phẩm The economic theory of risk and insurance
(Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 1951), tác giả C.O.Hardy với tác
phẩm Risk and Risk Bearing (Chicago: The University of Chicago Press), tác giả
C.Arthur William với tác phẩm Risk management and insurance. Ở Việt Nam, rủi ro
và quản trị rủi ro cũng được nhiều tác giả nghiên cứu như GS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân,
Th.S Kim Ngọc Đạt và Th.S Hà Đức Sơn với tác phẩm Quản trị rủi ro & khủng hoảng
(NXB Lao động - xã hội, 2009), tác giả Dương Hữu Hạnh với tác phẩm Quản trị rủi ro
xí nghiệp trong nền kinh tế toàn cầu nguyên tắc và thực hành (NXB Tài Chính, 2009),
tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Quy với tác phẩm Quản trị rủi ro trong doanh
nghiệp(NXB Văn hóa thông tin, 2008), các tác giả TS. Lê Thanh Tâm và Phạm Bích
Liên với tác phẩm Quản trị rủi ro hoạt động: kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với
các ngân hàng thương mại Việt Nam (2009).
Tuy nhiên, về quản trị rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
thì mới chỉ có những bài viết nhỏ và chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ nào về lĩnh
vực này được công bố.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận có tính chung về quản trị rủi ro áp
dụng trong quy trình thủ tục hải quan điện tử, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong
quy trình thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam hiện nay, từ đó luận văn đề xuất những
giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan
điện tử tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập khu vực và thế giới.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích, trình bày khái niệm và những lý luận chung về rủi ro và quản trị rủi
ro trong quy trình thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam.
- Mô tả, phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan điện
tử ở Việt Nam. Chỉ ra những mặt đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục trong
hoạt động quản trị rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam.
2
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro
trong quy trình thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam.
5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những rủi ro mà ngành Hải quan gặp phải
trong quá trình hoạt động, điều hành và công tác quản trị rủi ro trong quy trình thủ tục
hải quan điện tử ở Việt Nam trong thời điểm hiện nay;
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn về mặt không gian là ngành Hải quan
Việt Nam, có học tập kinh nghiệm của các nước láng giềng; về mặt thời gian là giai
đoạn từ khi ban hành Luật Hải quan năm 2001 đến năm 2012, chủ yếu tập trung vào
giai đoạn 2007-2012, từ khi ban hành “Quy trình quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan
điện tử” của Tổng cục Hải quan.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này sử dụng phương pháp làm việc tại bàn. Trong luận văn, thông tin
thứ cấp đóng một vai trò quan trọng. Thông tin thứ cấp được lấy từ các nguồn như sách
(bao gồm cả sách tái bản), báo, tạp chí, website, …
Ngoài ra, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp và kỹ năng nghiên cứu
như phương pháp hệ thống hóa, phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin, phương
pháp phân tích và so sánh, … Các phương pháp này được kết hợp với nhau để rút ra
những kết luận phục vụ cho đề tài.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu thành ba chương:
Chương 1- Cơ sở lý luận chung về Quản trị rủi ro trong thủ tụ hải quan điện tử.
Chương 2- Thực trạng Quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam.
Chương 3 – Một số giải pháp nhằm hoàn thiện Quản trị rủi ro trong thủ tục hải
quan điện tử tại Việt Nam
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO
TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ
1.1Tổng quan về thủ tục hải quan điện tử
1.1.1 Khái niệm thủ tục hải quan điện tử
1.1.1.1Khái niệm thủ tục hải quan
Thủ tục hải quan được định nghĩa là “các công việc mà người khai hải quan và
công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật hải quan đối với hàng hoá,
phương tiện vận tải”
1
.
Thủ tục hải quan được hiểu một cách cụ thể là “những công việc mà người có
hàng hóa xuất, nhập khẩu phải làm theo một trình tự nhất định khi hàng hóa đi qua biên
giới quốc gia của nước xuất, nhập khẩu”
2
. Thủ tục hải quan thường bao gồm 3 công
việc chủ yếu, đó là: khai báo khải quan, xuất trình hàng hóa và thực hiện các quyết
định hải quan.
Đối với việc khai báo hải quan, chủ hàng khai báo các chi tiết về hàng hóa lên tờ
khai để cơ quan hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ. Nội dụng của tờ khai bao gồm
những mục như: loại hàng (hàng mậu dịch, hàng trao đổi tiểu ngạch biên giới, hàng
tạm nhập tái xuất,…), tên hàng, số, khối lượng, giá trị hàng, tên công cụ vận tải, xuất
khẩu hoặc nhập khẩu với nước nào,… tờ khai hải quan phải được xuất trình kèm theo
với một số chứng từ khác, mà chủ yếu là: giấy phép xuất nhập khẩu, hóa đơn, phiếu
đóng gói, bảng kê chi tiết.
Đối với việc xuất trình hàng hóa, hàng hóa xuất nhập khẩu phải được sắp xếp
trật tự, thuận tiện cho việc kiểm soát. Chủ hàng phải chịu chi phí và nhân công về việc
mở, đóng các kiện hàng. Yêu cầu của việc xuất trình hàng hóa cũng là sự trung thực
của chủ hàng. Để thực hiện thủ tục kiểm tra và giám sát, chủ hàng phải nộp phí thủ tục
hải quan.
4
Đối với việc thực hiện các quyết định của hải quan, sau khi kiểm soát giấy tờ và
hàng hóa, hải quan sẽ ra những quyết định như: cho hàng được phép đi qua biên giới
(thông quan), cho hàng đi qua một cách có điều kiện (như phải sửa chữa, phải bao bì
lại…), cho hàng đi qua sau khi chủ hàng đã nộp thuế; lưu kho ngoại quan (bonded
warehouse), hàng không được xuất (hoặc nhập) khẩu,… nghĩa vụ của chủ hàng là phải
nghiêm túc thực hiện các quyết định đó. Việc vi phạm các quyết định đó thuộc tội hình sự.
1.1.1.2Khái niệm thủ tục hải quan điện tử
Thủ tục hải quan điện tử được hiểu là những việc phải làm của người có hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu, có phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh hoặc của người
được ủy quyền theo quy định của Luật Hải quan và các luật khác có liên quan, được
thực hiện nhờ ứng dụng công nghệ thông tin thông qua việc sử dụng đường truyền
internet giúp tiết kiệm tối đa thời gian và chi phí.
Như vậy, “Thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp
nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp
luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý
dữ liệu điện tử hải quan”
3
.
1.1.2 Sự ra đời của thủ tục hải quan điện tử
1.1.2.1 Hải quan thế giới với nhu cầu hiện đại hóa
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, khi mà thách thức ngày càng
lớn, thương mại và đầu tư sẽ chảy vào những nơi được coi là hiệu quả và thuận lợi.
Đồng thời, thương mại và đầu tư sẽ rút khỏi những nơi bị coi là quan liêu, quản lý
không tốt và chi phí cao. Do đó, hệ thống và quy trình hải quan không được là một rào
cản đối với thương mại quốc tế và tăng trưởng. Thực hiện thủ tục hải quan hiệu quả và
hiệu lực có ảnh hưởng to lớn đến việc thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế nhờ môi
trường thương mại an toàn hơn. Để giải quyết những thách thức này hải quan thế giới
đã có những thay đổi căn bản nhằm hiện đại hóa hải quan, đó chính là cơ sở cho sự ra
đời và triển khai áp dụng thủ tục hải quan điện tử tại hàng loạt nước trên thế giới nhằm
vừa đảm bảo tạo thuận lợi thương mại vừa tăng cường thực thi pháp luật hải quan.
5
1.1.2.2 Hải quan thế giới với thương mại điện tử
Đặt nền móng cho sự ra đời của thủ tục hải quan điện tử còn là sự ra đời và phát
triển nhanh chóng của thương mại điện tử. Thương mại điện tử xuất hiện cùng với sự
phổ cập mạng internet và máy tính từ cuối những năm 1999 đầu những năm 2000.
Thương mại điện tử đề cập đến một phương pháp kinh doanh mới. Thương mại điện tử
tác động đến nhiều khía cạnh của kinh doanh hiện đại như hoạt động marketing, hoạt
động ngân hàng, hoạt động ngoại thương… Các cơ quan hải quan ngày nay đều phải
điều chỉnh để phù hợp với thông lệ kinh doanh mới. Đó là sự ra đời của hải quan điện
tử với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình thông quan hàng hóa.
Có thể nói, hải quan điện tử đã ra đời cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng của
thương mại quốc tế và sự ra đời của thương mại điện tử.
1.1.3 Vai trò của thủ tục hải quan điện tử
1.1.1 Đối với ngành hải quan
• Trong bối cảnh số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu cũng như số
lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tăng lên không ngừng, việc thực thi thủ tục hải quan
điện tử là một trong những bước đi tất yếu nhằm đáp ứng các yêu cầu về khối lượng
công việc, về cải cách hành chính và quản lý nhà nước.
• Việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử đồng thời còn đáp ứng các yêu cầu về
hội nhập quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam.
1.1.2 Đối với thương mại điện tử
• Với việc thực thi thủ tục hải quan điện tử, thông quan hải quan cho các lô hàng
quốc tế được tiến hành một cách kịp thời, tạo thuận lợi cho thương mại.
• Thực thi thủ tục hải quan điện tử giúp cho thống kê thương mại được chính xác
và kịp thời.
• Việc thực thi thủ tục hải quan điện tử giúp tạo ra một cộng đồng thương mại bao
gồm tất cả các bên liên quan được gắn kết với nhau qua mạng lưới điện tử.
6
1.1.3 Đối với khách hàng
• Việc thực thi thủ tục hải quan điện tử điều kiện tạo thuận lợi cho doanh nghiệp,
giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian làm thủ tục hải quan. Cụ thể khi ngồi tại văn
phòng doanh nghiệp vẫn có thể mở tờ khai hải quan mà không cần có mặt tại các chi
cục hải quan tiếp xúc trực tiếp với cán bộ hải quan. Doanh nghiệp cũng có thể gửi tờ
khai trong bất kỳ thời điểm nào trong ngày chứ không bó buộc trong giờ hành chính
như khai hải quan truyền thống. Kết quả phê duyệt và phản hồi của cơ quan hải quan
cũng được gửi trực tiếp cho doanh nghiệp mà không cần doanh nghiệp phải đến cơ
quan hải quan. Các công việc này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được rất nhiều thời gian
đi lại và chờ đợi. Đây là lợi ích lớn nhất đối với doanh nghiệp
4 .
• Nhờ tiết kiệm thời gian đi lại và chờ đợi doanh nghiệp cũng tiết kiệm được chi
phí. Nhờ hệ thống tự động phân luồng tờ khai và áp dụng quản trị rủi ro trong thủ tục
hải quan điện tử doanh nghiệp còn tiết kiệm được rất nhiều chi phí nhờ việc giảm kiểm
tra thực tế các lô hàng.
• Khai hải quan điện tử là phù hợp với thông lệ quốc tế nên các doanh nghiệp
trong nước làm việc với các doanh nghiệp nước ngoài sẽ thuận lợi hơn. Việc thực thi
thủ tục hải quan điện tử giúp tăng độ minh bạch của các quyết định quản lý đối với
doanh nghiệp, giảm cơ hội để cán bộ hải quan đưa ra những quyết định tùy ý.
1.2Tổng quan về Quản trị rủi ro
1.1 Khái niệm quản trị rủi ro
1.1 Khái niệm chung về rủi ro
Rủi ro được Allan H. Willett định nghĩa: “rủi ro là sự không chắc chắn về tổn
thất”
1
. Rủi ro cũng được định nghĩa là: “rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất”
5
. Đặc biệt
Fank H.Knight lại có một quan điểm hoàn toàn khác về rủi ro khi coi “rủi ro là sự
không chắc chắn có thể đo lường được”
6
. Như vậy có thể thấy rủi ro là sự kiện không
1
7
may xảy ra luôn gắn liền với hoạt động và môi trường sống của con người.
• Các kết quả của các nhà nghiên cứu về rủi ro đã chỉ ra một số thuộc tính của
rủi ro như sau:
- Thứ nhất, rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn không mang tính chắc chắn. Đó là một sự
việc, một hành động hoặc một hiện tượng… có thể xảy ra và có thể gây ra những thiệt
hại tuỳ thuộc vào các yếu tố làm nảy sinh, tác động đến nó;
- Thứ hai, rủi ro được cấu thành bởi hai yếu tố: tần suất xuất hiện rủi ro và hậu
quả của nó. Khi xem xét rủi ro người ta thường xem xét đến khả năng chắn chắn hay
không chắc chắn xảy ra của rủi ro và mức độ hậu quả khi rủi ro đó xảy ra;
- Thứ ba, rủi ro có tính chất động, luôn thay đổi theo môi trường và các yếu tố tác
động liên quan;
- Thứ tư, rủi ro có thể đo lường được thông qua việc đánh giá về mức độ tần suất
và hậu quả của rủi ro.
• Rủi ro được phân loại theo:
- Tính chất của rủi ro: rủi ro suy đoán và rủi ro thuần túy;
+ Rủi ro suy đoán hay còn gọi là rủi ro suy tính hay rủi ro đầu cơ, tồn tại cơ hội
kiếm lời cũng như nguy cơ tổn thất. Đây là loại rủi ro gắn liền với khả năng thành bại
trong hoạt động đầu tư, kinh doanh và đầu cơ. Ví dụ, mua cổ phiếu: khoản đầu tư này
có thể lãi, hòa, hoặc lỗ vốn;
+ Rủi ro thuần túy là loại rủi ro mà nếu xảy ra thì chỉ có thể dẫn đến tổn thất mà
không có cơ hội kiếm lời. Ví dụ: lụt bão, sóng thần, hỏa hoạn, động đất, khủng hoảng
kinh tế, đầu tư sai lầm v.v
- Phạm vi ảnh hưởng của rủi ro: rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt:
+ Rủi ro cơ bản là những rủi ro phát sinh từ nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát của
mọi người. Hậu quả của rủi ro cơ bản thường rất nghiêm trọng, khó lường, có ảnh
hưởng tới cộng đồng và toàn xã hội. Ví dụ: lạm phát, khủng hoảng kinh tế, động đất ;
8
+ Rủi ro riêng biệt là loại rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan và khách quan
của từng cá nhân, tổ chức. Loại rủi ro này chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của từng cá nhân
hoặc tổ chức. Nếu xét về hậu quả đối với một doanh nghiệp có thể rất nghiêm trọng,
nhưng không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế xã hội. Ví dụ: cháy nổ, rủi ro thanh toán,
đắm tầu v.v
- Nguyên nhân của rủi ro bao gồm do các yếu tố khách quan và chủ quan:
+ Rủi ro do các yếu tố khách quan là rủi ro xảy ra ngoài ý muốn của con người và
không thể lường trước hay kiểm soát được. Đây thường là những nguyên nhân xảy ra
từ môi trường tự nhiên như: động đất, cháy nổ, gió, mưa, bão lụt, hạn hán… rủi ro do
khủng hoảng kinh tế hoặc có nguồn gốc từ chính sách kinh tế và điều hành vĩ mô của
chính phủ;
+ Rủi ro do các yếu tố chủ quan là loại rủi ro do hành vi trực tiếp từ con người
hoặc từ các tổ chức kinh doanh. Ví dụ, hệ thống pháp luật luôn thay đổi, thể chế chính
trị không ổn định, quyết định một chính sách quản lý vĩ mô lệch hướng.
- Tác động môi trường vĩ mô gây nên rủi ro: rủi ro do điều kiện tự nhiên, rủi ro
chính trị, rủi ro kinh tế, rủi ro pháp luật, rủi ro văn hóa…
1.2 Khái niệm quản trị rủi ro
Rủi ro xuất hiện ở mọi nơi trong cuộc sống, luôn đe dọa cuộc sống của con
người. Do vậy con người luôn quan tâm và tìm cách đối phó với rủi ro nhằm ngăn
ngừa giảm thiểu rủi ro. Thuật ngữ “quản trị rủi ro” bắt đầu xuất hiện phổ biến từ những
năm 50 của thế kỷ trước, tuy nhiên khái niệm về nó đã từng được đề cập trước đó khá
lâu, vào năm 1916 trong tác phẩm của Henri Fayol, một nhà quản trị học nổi tiếng
người Pháp
7
. Tuy xuất hiện sớm như vậy, nhưng cho đến nay, quan niệm về quản trị
rủi ro vẫn chưa hoàn toàn thống nhất.
Quản trị rủi ro có thể hiểu một cách đơn giản là “quản trị các sự kiện không dự
đoán được, các sự kiện đã gây các hậu quả bất lợi”
8
.
9
Quản trị rủi ro theo quan điểm của Kloman, Haimes và các tác giả khác là việc
đối phó với những sự kiện bất lợi đối với mình hay nói cách khác đó là việc xử lý đối
với những nguy cơ rủi ro có thể xảy ra
9
.
Theo cách nhìn mới, với quan điểm “quản trị rủi ro toàn diện” thì quản trị rủi ro
được định nghĩa là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, liên tục và có
hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất
mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ
hội thành công
10
.
1.2 Nội dung quản trị rủi ro
1.1 Nhận dạng- phân tích-đo lường rủi ro
Để quản trị rủi ro trước hết phải nhận dạng được rủi ro. Nhận dạng rủi ro là quá
trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động của tổ chức. Hoạt động
nhận dạng rủi ro nhằm phát triển các thông tin về nguồn gốc rủi ro, các yếu tố mạo
hiểm, hiểm họa, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất. Nhận dạng rủi ro bao gồm các
công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt
động của tổ chức nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những loại rủi ro đã
và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với tổ
chức, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp. Phương
pháp nhận dạng rủi ro có thể là:
+ Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra;
+ Phân tích các báo cáo tài chính;
+ Phương pháp lưu đồ;
+ Thanh tra hiện trường/nghiên cứu tại chỗ;
+ Phân tích các hợp đồng.
Nhận dạng được các rủi ro và lập bảng liệt kê tất cả các rủi ro có thể đến với tổ
chức tuy là công việc quan trọng, không thể thiếu, nhưng mới chỉ là bước khởi đầu của
công tác quản trị rủi ro. Bước tiếp theo là phải tiến hành phân tích rủi ro, phải xác định
10
được những nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đó mới có thể tìm ra các biện pháp
phòng ngừa. Đây là công việc phức tạp, bởi không phải mỗi rủi ro chỉ là do một
nguyên nhân đơn nhất gây ra, mà thường do nhiều nguyên nhân, trong đó có những
nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân gần và nguyên nhân xa
Để tìm ra biện pháp phòng ngừa rủi ro một cách hữu hiệu thì cần phân tích rủi ro, tìm
ra các nguyên nhân, rồi tác động đến các nguyên nhân, thay đổi chúng, từ đó sẽ phòng
ngừa được rủi ro.
Nhận dạng được rủi ro là bước khởi đầu của quản trị rủi ro, nhưng rủi ro có rất
nhiều loại, một tổ chức không thể cùng một lúc kiểm soát, phòng ngừa tất cả mọi loại
rủi ro. Từ đó cần phân loại rủi ro, loại nào xuất hiện nhiều, loại nào xuất hiện ít, loại
nào gây ra hậu quả nghiêm trọng, còn loại nào ít nghiêm trọng hơn từ đó có biện
pháp quản trị rủi ro thích hợp. Để làm việc này cần tiến hành đo lường mức độ nghiêm
trọng của rủi ro đối với tổ chức. Để đo lường rủi ro, cần thu thập số liệu và phân tích,
đánh giá theo hai khía cạnh: Tần suất xuất hiện rủi ro và mức độ nghiêm trọng của rủi
ro. Trên cơ sở kết quả thu thập được, lập Ma trận đo lường rủi ro:
Bảng 1.1: Ma trận đo lường rủi ro
Tần suất xuất hiện
Mức độ nghiêm trọng
Cao Thấp
Cao I II
Thấp III IV
Trong đó:
− Tần suất xuất hiện rủi ro là số lần xảy ra tổn thất hay khả năng xảy ra biến cố
nguy hiểm đối với tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định, ( thường là năm, quý,
tháng, …)
− Mức độ nghiêm trọng của rủi ro đo bằng những tổn thất, mất mát, nguy hiểm,…
Trên hình 1.1, ta thấy:
11
− Ô I tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao và tần suất xuất hiện cũng cao;
− Ô II tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao, nhưng tần suất xuất hiện
thấp;
− Ô III gồm những rủi ro có mức độ nghiêm trọng thấp, nhưng tần suất xuất hiện cao;
− Ô IV bao gồm những rủi ro có mức độ nghiêm trọng thấp và tần suất xuất hiện
cũng thấp.
Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với tổ chức người ta sử dụng cả 2
tiêu chí: mức độ tổn thất nghiêm trọng và tần suất xuất hiện, trong đó mức độ tổn thất
nghiêm trọng đóng vai trò quyết định. Vì vậy, sau khi đo lường, phân loại các rủi ro sẽ
tập trung quản trị trước hết những rủi ro thuộc nhóm I, sau đó theo thức tụ mới đến
những rủi ro nhóm II, III và sau cùng là những rủi ro thuộc nhóm IV.
1.2 Kiểm soát-phòng ngừa rủi ro
Công việc trọng tâm của quản trị rủi ro là kiểm soát rủi ro. Kiểm soát rủi ro là
việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt
động… để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng
không mong đợi có thể đến với tổ chức. Các biện pháp cơ bản để kiểm soát rủi ro được
chia thành các nhóm:
- Các biện pháp né tránh rủi ro: đây là các biện pháp trong đó nhà quản trị sẽ tìm
cách phát hiện những dự án kinh doanh có nguy cơ xảy ra rủi ro cao để tránh cho
doanh nghiệp không tham gia vào, nhờ đó không phải chịu rủi ro.
- Các biện pháp ngăn ngừa rủi ro: đây là các biện pháp nhằm vào nguyên nhân
gây ra rủi ro khiến cho rủi ro không thể xảy ra. Chẳng hạn để ngăn chặn những rủi ro
do thiếu thông tin khi tham gia vào một thị trường mới, có thể sử dụng hình thức bán
hàng qua đại lý thay vì trực tiếp bán hàng.
- Các biện pháp giảm thiểu rủi ro: Một khi không thể né tránh rủi ro nhà quản trị
sẽ phải tìm cách giảm thiểu số lần xảy ra rủi ro. Ví dụ để giảm rủi ro bị đối tác lừa đảo,
doanh nghiệp cần thu thập đầy đủ thông tin đến mức có thể để nắm rõ về đối tác.
12
- Các biện pháp chia sẻ rủi ro: Để chia sẻ rủi ro, doanh nghiệp sẽ phải ký kết
những hợp đồng với những điều khoản đặc biệt. Ví dụ để tránh rủi ro giá cả biến động,
doanh nghiệp sẽ phải ký những hợp đồng dài hạn với giá cả cố định, hoặc doanh
nghiệp sẽ phải tham gia vào các hợp đồng ngoại tệ kỳ hạn để tránh rủi ro tỷ giá. Với
những hợp đồng như vậy rủi ro sẽ được chia sẻ với cả bên mua và bên bán.
1.3 Tài trợ rủi ro
Rủi ro có rất nhiều loại, rủi ro có thể xuất hiện ở mọi lúc mọi nơi, rủi ro có thể
đến với bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào. Do đó dù phòng bị kỹ đến đâu, dù kiểm soát rủi
ro chặt chẽ cách nào thì cũng không thể né tránh, ngăn chặn hết tất cả mọi tổn thất.
Vậy một khi tổn thất xảy ra thì phải giải quyết bằng cách nào ? Trước hết cần theo dõi,
giám định tổn thất, xác định được chính xác những tổn thất về tài sản, về nguồn lực, về
giá trị pháp lý. Tiếp đó cần có những biện pháp tài trợ rủi ro thích hợp. Các biện pháp
này được chia thành hai nhóm:
- Chấp nhận rủi ro và lập quỹ dự phòng để bù đắp tổn thất nếu rủi ro xảy ra.
- Chuyển giao rủi ro: chuyển tài sản hoặc hoạt động có rủi ro đến cho người khác,
tổ chức khác; chuyển rủi ro thông qua con đường ký hợp đồng với người khác, tổ chức
khác trong đó có quy định chỉ chuyển giao rủi ro.
1.3Công ước Kyoto về quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
1.1 Sự cần thiết của quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
1.3.1.1 Khái niệm quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
Trong thực thi kiểm soát biên giới, mỗi cơ quan Hải quan đều đưa ra những biện
pháp, quy định dựa trên sự hiểu biết, thông tin và kinh nghiệm nhằm phát hiện, ngăn
chặn những hành vi bất hợp pháp. Đây được hiểu là cách làm “truyền thống” của Hải
quan. Việc áp dụng này đã hình thành nên các hình thức kiểm tra rủi ro mang tính thủ
công, đáp ứng các yêu cầu nào đó trong nỗ lực kiểm soát của cơ quan Hải quan.
Thời gian gần đây, mức độ phức tạp, tốc độ và lưu lượng thương mại quốc tế
đang tăng lên do tác động bởi tiến bộ khoa học kỹ thuật đã làm cách mạng hoá các
13
thông lệ thương mại toàn cầu, làm ảnh hưởng một cách đáng kể đến phương pháp quản
lý của Hải quan. Các cơ quan Hải quan đã chuyển đổi phương thức quản lý trong các
lĩnh vực hải quan bằng cách áp dụng một loạt các kỹ thuật quản trị rủi ro, những kỹ
thuật tiên tiến của công nghệ thông tin, hướng các nguồn lực vào các lĩnh vực có nguy
cơ rủi ro, đồng thời qua đó hỗ trợ việc tối đa hoá tính hiệu quả và hiệu lực của công tác
hải quan nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho thương mại. Một phương pháp luận về quản
lý hải quan hiện đại, trong đó cách tiếp cận mang tính hệ thống, logic và dựa trên quan
điểm đặc biệt coi trọng kỹ thuật quản trị rủi ro được gọi là quản trị rủi ro. Hiện nay,
quản trị rủi ro được Tổ chức Hải quan thế giới phát triển thành những chuẩn mực
chung và khuyến nghị Hải quan các nước thành viên áp dụng, nhằm đạt đến sự hài hòa,
thống nhất và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển.
Như vậy, thuật ngữ quản trị rủi ro trong lĩnh vực hải quan có thể được tiếp cận ở
ba cấp độ:
− Thứ nhất, ngành Hải quan áp dụng một số biện pháp và quy định để phát hiện
và ngăn chặn rủi ro;
− Thứ hai, ngành Hải quan phát triển và áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro vào một
số lĩnh vực và theo một số cách thức nhằm xác định rủi ro liên quan tới các giao
dịch và hoạt động; qua đó tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực này để có thể đạt
kết quả tốt nhất;
− Thứ ba, ngành Hải quan áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro một cách có hệ thống
trong các lĩnh vực hải quan trên cơ sở chiến lược về quản lý rủi ro.
Từ ba cách tiếp cận nêu trên về quản trị rủi ro trong lĩnh vực hải quan có thể
định nghĩa “quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử là việc áp dụng một cách có
hệ thống các thủ tục và thông lệ với sự trợ giúp của công nghệ thông tin nhằm cung cấp
cho cơ quan Hải quan những thông tin cần thiết để tập trung vào xử lý các hoạt động
hoặc các chuyến hàng có dấu hiệu rủi ro”
11
.
14
Định nghĩa này có thể hiểu một cách cụ thể như sau: “Quản lý rủi ro là việc áp
dụng có hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ và thông lệ nhằm giúp cơ quan
hải quan bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để tập trung quản lý có hiệu quả đối với các
lĩnh vực, đối tượng được xác định là rủi ro”
12
.
Quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử được thực hiện theo một quy trình
mang tính chất logic và hệ thống từ thiết lập bối cảnh, xác định - phân tích - đánh giá -
xử lý cũng như gắn rủi ro với tác động của nó.
1.3.1.2 Sự cần thiết của quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
Quản trị rủi ro đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực nghiệp vụ hải quan nói
chung và thủ tục hải quan điện tử nói riêng. Quản trị rủi ro tạo ra định hướng giải pháp
duy nhất trước yêu cầu quản lý hải quan hiện nay là vừa phải đảm bảo tạo thuận lợi cho
thương mại vừa phải quản lý tốt, duy trì tốt kiểm soát hải quan.
Quản trị rủi ro trong Thủ tục hải quan điện tử giúp cơ quan hải quan thực hiện tốt
chức năng quản lý của mình, nhờ kỹ thuật quản trị rủi ro cơ quan hải quan có thể duy
trì tốt kiểm soát hải quan, nâng cao kết quả việc ngăn chặn trốn thuế, chống buôn lậu
và gian lận thương mại trong công tác quản lý hải quan.
Quản trị rủi ro trong Thủ tục hải quan điện tử giúp cơ quan hải đảm bảo được
thuận lợi cho thương mai nhờ giảm chi phí thông quan và tăng tốc độ thông quan, giảm
tắc nghẽn hàng hóa tại các cửa khẩu.
Việc cùng áp dụng kỹ thuật quản trị rủi ro trong nhiều nội dung nghiệp vụ khác
nhau mang đến lợi ích ở tất cả các cấp:
− Cấp chiến lược: Thông qua việc đánh giá các nguồn thông tin, dữ liệu toàn
diện, ngành Hải quan có thể xác định được nhiều lĩnh vực công việc có độ rủi ro thấp
và chỉ can thiệp tới khi xét thấy cần thiết nhờ vào sự xét đoán và kinh nghiệm thực tiễn
của mình, lấy đó làm căn cứ xây dựng kế hoạch, chiến lược của Ngành;
15
− Cấp chiến thuật: Áp dụng kỹ thuật quản trị rủi ro vào thực tiễn như việc xác
định mức độ kiểm tra một chủ hàng hoặc cách thức triển khai lực lượng và trang thiết
bị làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch ở qui mô cấp Cục, vùng;
− Cấp tác nghiệp: Vận dụng để quyết định, xử lý các tình huống tức thời trong
thực tiến quản lý. Như quyết định kiểm tra hàng hóa hoặc hành khách xuất nhập cảnh.
Quản trị rủi ro có mối quan hệ hết sức đặc biệt với các công tác nghiệp vụ hải quan
như công tác thông tin tình báo, qui trình xử lý thông quan hàng hóa, công tác kiểm tra
sau thông quan, công tác điều tra chống buôn lậu. Do đặc điểm của kỹ thuật quản trị rủi
ro là luôn phải kết hợp với những chu trình làm việc đan xen, kế tiếp nhau liên tục, mọi
thao tác của cán bộ đều được qui định sẵn và ghi nhận lại đầy đủ nên đây là một công cụ
quản lý, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ rất hiệu quả, khách quan, nhờ đó nâng cao được
ý thức tự giác, chấp hành nhiệm vụ, góp phần đảm bảo liêm chính của cán bộ hải quan là
yêu tố quyết định đối với hiệu quả của hệ thống quản lý hải quan.
Quản trị rủi ro đặc biệt cần thiết đối với các nước đã triển khai quá trình tự động
hóa, áp dụng quy trình thủ tục hải quan điện tử Quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan
điện tử có vai trò quan trọng trong việc gắn kết qui trình nghiệp vụ với công nghệ
thông tin, khai thác tối đa tính ưu việt của công nghệ thông tin phục vụ cho mọi yêu
cầu khác nhau của quản lý hải quan hiện đại.
Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy vai trò không thể thiếu, thậm chí sống còn
của quản trị rủi ro trong toàn bộ hệ thống quản lý hải quan nói chung và thủ tục hải
quan điện tử nói riêng.
1.2 Công ước Kyoto về quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
1.3.2.1 Giới thiệu chung về Công ước Kyoto
Công ước Kyoto là Công ước quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục
hải quan được Tổ chức hải quan thế giới thông qua năm 1973 tại Kyoto (Nhật Bản) và
có hiệu lực năm 1974. Đây là sự đáp ứng của hải quan thế giới đối với đòi hỏi của nền
kinh tế thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa. Công ước bao gồm Thân quy định các nội
16
dung về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan và 31 phụ lục quy định về từng
loại hình thủ tục hải quan cụ thể. Cho đến tháng 5/2005 tổng số có 63 quốc gia và vùng
lãnh thổ là bên tham gia Công ước. Tuy nhiên, Công ước Kyoto năm 1973 có nhiều
hạn chế như chỉ cần tham gia ở mức độ tối thiểu, mức độ ràng buộc không cao, không
tạo được chuyển biến mạnh mẽ về thủ tục hải quan ở các bên tham gia nên Tổ chức
Hải quan Thế giới đã quyết định sửa đổi Công ước Kyoto năm 1973 và thông qua
Nghị định thư sửa đổi vào tháng 6 năm 1999. Nghị định thư sửa đổi Công ước Kyoto
năm 1973 có hiệu lực vào ngày 3 tháng 2 năm 2006 sau khi có 40 bên tham gia Công
ước Kyoto đầu tiên gia nhập Công ước này. Từ đây Công ước Kyoto có tên gọi mới là
Công ước Kyoto sửa đổi. Hiện nay, Công ước Kyoto sửa đổi có 59 thành viên, Việt
Nam là thành viên thứ 56. Công ước Kyoto sửa đổi bao gồm: Nghị định thư sửa đổi,
Thân công ước, Phụ lục tổng quát, Phụ lục chuyên đề và Hướng dẫn thực hành
13
.
Những thay đổi căn bản trong Công ước sửa đổi so với Công ước năm 1973 bao
gồm: (I)Công ước quy định áp dụng tối đa công nghệ thông tin; (II) Công ước quy định
áp dụng kỹ thuật tiên tiến như quản lý rủi ro, kiểm tra trên cơ sở kiểm toán, các biện
pháp đảm bảo và trao đổi thông tin trước khi hàng đến cho phép giải quết được mâu
thuẫn giữa đảm bảo tăng cường kiểm soát hải quan và tạo thuận lợi thương mại; (III)
Công ước yêu cầu tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa hải quan và doanh nghiệp
nhằm tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và ngược lại doanh
nghiệp cam kết cộng tác chặt chẽ với hải quan trong lĩnh vực kiểm soát và tăng cường
pháp luật; (IV) Công ước có cấu trúc liên kết tạo ra hệ thống công cụ pháp lý logic và
gắn kết giữa Thân, Phụ lục tổng quát và 10 Phụ lục chuyên đề; (V) Công ước có mức
độ ràng buộc cao đối với các thành viên Công ước, quy định cơ chế bảo lưu chặt chẽ,
yêu cầu các bên tham gia tối thiểu phải chấp nhận Thân và Phụ lục tổng quát và không
được phép bảo lưu với chuẩn mực và chuẩn mực chuyển tiếp. Bảo lưu chỉ được phép
với khuyến nghị thực hành của phụ lục chuyên đề nhưng phải nêu lý do và phải xem
xét bảo lưu định kỳ 3 năm một lần; (VI) Cơ chế sửa đổi và bổ sung thông qua Ủy ban
quản lý Công ước bao gồm các bên tham gia giúp Công ước vận động linh hoạt và luôn
phù hợp với thực tiễn của thương mại; (VII) Công ước cho phép thời gian quá độ là 3
17
năm với chuẩn mực và 5 năm với chuẩn mực chuyển tiếp kể từ khi Công ước có hiệu
lực đối với bên tham gia.
Sau khi được sửa đổi, bổ sung, Công ước Kyoto được công nhận là cẩm nang
cho thủ tục hải quan hiện đại và hiệu quả trong thế kỷ 21. Công ước Kyoto sửa đổi
mang đến một bộ nguyên tắc toàn diện, thống nhất, đơn giản, hiệu quả và dễ dự đoán
về thủ tục hải quan. Công ước Kyoto sửa đổi hướng dẫn cho cơ quan Hải quan về cách
thức ứng dụng và triển khai công nghệ thông tin đối với quá trình thông quan, giúp họ
triển khai áp dụng thủ tục hải quan điện tử.
1.3.2.2 Công ước Kyoto hướng dẫn quy trình quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan
điện tử
Phụ lục tổng quát - Công ước KYOTO sửa đổi, bổ sung năm 1999 đã đưa ra quy
trình quản trị rủi ro trong lĩnh vực hải quan cũng như trong thủ tục hải quan điện tử
gồm 06 bước, mang tính logic và hệ thống (như hình 1.1), đó là: thiết lập bối cảnh; xác
định rủi ro; phân tích rủi ro; đánh giá, phân loại rủi ro; xử lý rủi ro; theo dõi, kiểm tra
thông qua đo lường tuân thủ.
Bước 1: Thiết lập bối cảnh
Bước này xây dựng nên bối cảnh của tổ chức và chiến lược được thực hiện trong
quản lý rủi ro.
Cuối bước 1, cần xây dựng được các tài liệu: Mục tiêu hay xác định mục đích của
dự án hay hoạt động; Thông tin về môi trường bên trong và bên ngoài; Danh sách đối
tượng trong và ngoài tổ chức; Chiến lược dự định sử dụng; Danh sách các nhóm thành
viên và phân công công việc; Chi tiết về bản yêu cầu các nguồn lực khác; Biểu đồ (ví dụ
biểu đồ Gantt) để chỉ ra thời điểm các sự kiện liên quan được dự đoán sẽ xảy ra.
Bước 2: Xác định rủi ro
Trong bước xác định rủi ro, điều quan trọng là cố gắng nhận biết các rủi ro nảy
sinh từ tất cả mọi khía cạnh của môi trường, như đã được xác định trong bước 1, dù nó
nhỏ như thế nào. Chúng ta sẽ kiểm tra ý nghĩa của các rủi ro trong bước kế tiếp, nhưng
18
bất kì loại rủi ro nào bị chệch ra khỏi bước này sẽ có rất ít cơ hội được xem xét trong
bước tiếp theo của quá trình. Cuối bước 2, cần xây dựng được các tài liệu sau:
− Danh sách rủi ro đã được nhận biết;
− Chi tiết các loại rủi ro, rủi ro bất ổn và bất ổn như thế nào;
− Bản kế hoạch dự án cập nhật (nếu việc cập nhật được yêu cầu).
Hình 1.1: Quy trình quản lý rủi ro
Bước 3: Phân loại rủi ro
Rủi ro được phân tích bằng các phương pháp tổng hợp của việc tính toán những
19
khả năng có thể xảy ra (độ thường xuyên hay độ có thể) và tính đến hậu quả (tác động
hay là tầm quan trọng của hậu quả) bằng những công cụ đo lường hiện tại. Việc phân
tích bao gồm:+) Phân tích những rủi ro đã được nhận biết ở bước 2 về mặt khả năng có
thể xảy ra và hậu quả;+) Xác định tỉ lệ rủi ro cho từng loại rủi ro trên;+) Tách riêng
những rủi ro có tỉ lệ thấp và có thể chấp nhận được ra khỏi những rủi ro có tỉ lệ cao; +)
Nắm bắt được những dữ liệu sẽ dùng cho việc đánh giá ở bước 4;
Cuối bước 3, cần xây dựng được các tài liệu sau:
− Định nghĩa, nhận xét về các loại rủi ro;
− Tỉ lệ khả năng có thể xảy ra và hậu quả của các loại rủi ro đã được nhận biết;
− Tỉ lệ cụ thể của tất cả các cấp độ cho từng loại rủi ro đã được nhận biết;
Bước 4: Đánh giá và xếp loại rủi ro
Tại bước này có 2 mục tiêu chính:+) Nhận biết rủi ro nào có thể và không thể
chấp nhận được;+) Ưu tiên cho những rủi ro không chấp nhận được.
Cần chú ý rằng, trong hầu hết các trường hợp, rủi ro ở mức “Trung bình” hoặc
“Cao” thường được xem như là không thể chấp nhận. Cũng như vậy, rủi ro ở mức
“Thấp” được xem như có thể chấp nhận và sẽ được xử lý theo nhiều cách.
Cuối bước 4 ta có được các tài liệu gồm:
− Rủi ro đã được phân loại thành “ Có thể chấp nhận” và “ Không thể chấp nhận”;
− Ưu tiên cho các rủi ro không thể chấp nhận;
− Lập kế hoạch cập nhật cho dự án ( nếu được yêu cầu);
Bước 5: Xử lý rủi ro
Sau khi tiến hành phân loại, đánh giá, và ưu tiên các loại rủi ro khác nhau có liên
quan đến các hoạt động, chúng ta cần xác định phương pháp phù hợp để xử lý rủi ro.
Cách xử lý rủi ro có thể bao gồm: Tránh rủi ro; Chấp nhận rủi ro; Giảm thiểu rủi ro;
Chuyển giao rủi ro; Chấp nhận và giữ lại rủi ro.
Cuối bước 5 cần làm rõ các vấn đề sau:
− Những cách xử lý đối với những rủi ro được ưu tiên và không thể chấp nhận nhất;
20
− Các cách xử lý giành riêng cho các rủi ro;
− Hoàn thành bản Kế hoạch xử lý rủi ro;
− Hoàn thành Kế hoạch hành động xử lý rủi ro, bao gồm cả việc thực hiện chỉ dẫn.
Bước 6: Theo dõi đánh giá lại và đo lường mức độ tuân thủ
Quá trình theo dõi đánh giá lại là những chức năng liên tục phát triển của quá
trình xử lý rủi ro. Quá trình này có 2 yếu tố chính:
*Kiểm tra
Trong suốt dự án, yêu cầu cần phải kiểm tra liên tục, có những rủi ro là tĩnh
nhưng đôi khi môi trường thay đổi làm quyền ưu tiên hết hiệu lực. Cụ thể là cần kiểm
tra một số nội dung như:
- Rủi ro mức độ cao có bị giảm xuống không;
- Rủi ro mức độ thấp có vẫn giữ nguyên hay đã thay đổi;
- Những giả định về khả năng có thể xảy ra và hậu quả là vẫn giữ nguyên hay
thay đổi;
- Xử lý rủi ro có đem lại được kết quả như mong muốn không.
*Tổng kết việc thực hiện
Một khi việc xử lý rủi ro đã được hoàn tất, quá trình còn lại là tổng kết. Chúng ta
học được gì từ quá trình này? Và liệu chúng ta đã có thể làm được tốt hơn nữa không? ở
bước này tất cả các quyết định, hành động, kết luận đều cần phải xem lại. Và ta sẽ học
được từ bất kì sai lầm nào, cũng như thành công nào. Các vấn đề cần quan tâm bao gồm:
- Sự phù hợp và tương xứng của việc thực hiện chỉ dẫn;
- Chúng ta đã đạt được mục tiêu một cách hiệu quả như thế nào;
- Chiến lược đã hiệu quả chưa? Rủi ro được giảm chưa;
- Xử lý rủi ro có đem lại được kết quả như mong muốn không;
- Chi phí tính trước có đúng không;
- Tính bền vững của các giả định;
21
- Liệu có sự dính líu nào trong việc xử lý rủi ro không;
- Phản ứng của dự án, cả trong và ngoài, là gì;
Tài liệu dẫn chứng
Cuối bước 6, cần xây dựng được các tài liệu sau:
- Kế hoạch kiểm tra và tổng kết dự án;
- Kết quả của các hành động.
1.4Kinh nghiệm quản trị rủi ro của một số nước trên thế giới
1.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của hải quan Hoa kỳ
1.4.1.1 Tình hình áp dụng quản trị rủi ro của hải quan Hoa Kỳ
Văn phòng liên lạc tình báo và điều tra (Office of Intelligence and Investigative
Liaison – OIIL) là đơn vị cấp Cục thuộc Cao ủy Hải quan Hoa kỳ. Đơn vị này đảm
nhận nhiệm vụ xác định trọng điểm và áp dụng QTRR trong phạm vi toàn ngành.
Thông qua việc công tác này OIIL hỗ trợ tất cả đối với các hoạt động trên các tuyến
vận tải: Hàng không, đường bộ và đường biển.
Cách tiếp cận của OIIL đối với vấn đề xác định trọng điểm và QTRR là phối
hợp đồng thời 3 cấu phần: thông tin điện tử gửi đến trước, phương pháp xác định trọng
điểm phân lớp và hợp tác với các đối tác.
- Thứ nhất, Thông tin điện tử gửi đến trước cơ quan Hải quan và Phòng vệ Biên
giới Hoa kỳ (CBP) nhận được (Tàu biển-24h trước khi cập cảng, Tàu hỏa-2h trước khi
đến, Xe tải-1h trước khi đến hoặc 30 phút đối với những đối tượng tham gia Chương
trình thương mại tự do và an toàn (FAST) và Hàng không là 4h trước khi hạ cánh hoặc
cất cánh tới địa điểm nước ngoài lân cận.
- Thứ hai, phương thức tiếp cận xác định trọng điểm phân lớp bao gồm sự tham
gia của Sáng kiến an ninh Công ten nơ (CSI) và Trung tâm xác định trọng điểm quốc
gia (NTC) và các đơn vị xác định trọng điểm tại địa phương.
- Thứ ba, bao gồm sự tham gia của các đối tác gồm các cơ quan quản lý như
Doanh nghiệp ưu tiên (AEO) và Chương trình cộng tác Hải quan-Doanh nghiệp chống
22
khủng bố (C-TPAT), các cơ quan của nhà nước như Bộ Năng lượng, cơ quan Phòng
chống Ma túy…và các đối tác nước ngoài.
Văn phòng liên lạc tình báo và điều tra có các nhiệm vụ sau:
- Quản lý, điều hành trung tâm xác định trọng điểm quốc gia (NTC) bao gồm:
điều phối và hỗ trợ tất cả các hoạt động chống khủng bố của Hải quan Hoa Kỳ; hỗ trợ
và đáp ứng các yêu cầu từ các hoạt động tác nghiệp; thực hiện xác định trọng điểm
theo chiến thuật để xác định các đối tượng cần xử lý; phát triển các nguyên tắc của Hệ
thống xác định trọng điểm tự động; hỗ trợ các chiến dịch dựa trên thông tin tình báo.
- Vận hành hệ thống xác định trọng điểm tự động (ATS): Là công cụ hỗ trợ
quyết định sử dụng thông tin từ các nguồn cơ sở dữ liệu để thực hiện việc phân tích
toàn diện hơn; sử dụng thông tin quá khứ và phân tích khuynh hướng, đánh giá các tập
hợp dữ liệu lớn- rà soát thông tin về tất cả các du khách và hàng hóa. Được áp dụng
cho mọi phương tiện vận chuyển bằng đường bộ, đường sắt và hàng không; sử dụng
các quy tắc và thuật toán đánh giá rủi ro dựa trên các thông tin tình báo mang tính
chiến lược về các mối đe dọa khủng bố để làm nổi bật các rủi ro tiền ẩn, các quy luật
và các đối tượng; sử dụng ATS để hoàn thiện việc thu thập, sử dụng và phân tích thông
tin nhằm xác định trọng điểm, phân biệt và ngăn chặn các đối tượng khủng bố và vũ
khí khủng bố tiềm ẩn xâm nhập vào Hoa Kỳ đồng thời phân biệt các hành vi vi phạm
luật pháp Hoa Kỳ.
1.4.1.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm quản trị rủi ro của hải quan Hoa Kỳ cho thấy muốn áp dụng
kỹ thuật rủi ro, cần bảo đảm thông tin đầy đủ, đồng bộ, cập nhật, nhất là hệ thống
thông tin cảnh báo trước, thông tin tình báo ở nước ngoài. Hệ thống đảm bảo thông
tin này đòi hỏi sự đầu tư lớn về phương tiện, tài chính và con người, nhất là những
người làm nhiệm vụ phân tích phải có trình độ cao. Muốn áp dụng kỹ thuật quản trị
rủi ro có hiệu quả, Việt Nam phải chú trọng đầu tư xây dựng hệ thống đảm bảo thông
tin ngay từ đầu, nhất là vấn đề tổ chức thu thập thông tin tình báo ở nước ngoài và tổ
chức hệ thống nối mạng hiệu quả trong nước.
23
1.4.2 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của hải quan Trung Quốc
1.4.2.1 Tình hình áp dụng quản trị rủi ro của hải quan Trung Quốc
Trong bối cảnh kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tăng nhanh (năm 2010 đạt
20% so với năm 2009), quản lý rủi ro là công cụ hữu hiệu giúp Hải quan Trung Quốc
tập trung nguồn lực để triển khai kiểm tra và kiểm soát hải quan, nâng cao hiệu quả và
hiệu lực quản lý.
Việc thu thập thông tin rủi ro được hỗ trợ bằng một hệ thống phần mềm chức
năng mà tất cả các công chức Hải quan ở các vị trí khác nhau đều được phân quyền và
có nhiệm vụ cập nhật thông tin tại chỗ. Do vậy, thông tin rủi ro trên hệ thống quản lý
rủi ro của Hải quan Trung Quốc có tính toàn diện và kịp thời, giúp nâng cao hiệu quả
phân tích rủi ro và có những hướng dẫn nghiệp vụ, chỉ định kiểm tra tập trung, chính
xác cao
Hệ thống quản lý rủi ro được thiết kế để xác định và phân tích các điểm rủi ro ở
cả ba giai đoạn thông quan, trong từng quy trình thủ tục hải quan, trong các thông tin
hồ sơ hải quan của hàng hóa. Đồng thời, việc phân tích rủi ro cũng được thực hiện theo
từng cấp, với từng phạm vi thông tin phù hợp là cấp Tổng cục, cấp vùng và cấp cửa
khẩu. Hải quan Trung Quốc sử dụng các phương pháp phân tích khác nhau, cùng với
sự hỗ trợ tối đa của các công cụ công nghệ thông tin, để đưa ra các kết quả có tính
trọng điểm và đạt hiệu quả cao.
Kiểm soát rủi ro cũng là một mắt xích quan trọng trong quản lý rủi ro của Hải
quan Trung Quốc. Bằng nghiệp vụ kiểm soát rủi ro, Hải quan sẽ áp dụng các biện pháp
phù hợp để ngăn ngừa hoặc kiểm soát các rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện các
thủ tục hải quan.
Nguyên tắc của kiểm soát rủi ro là: phân lớp để kiểm soát, tối thiểu hóa sự can
thiệp từ bên ngoài, phù hợp với thực tế, và ứng dụng công nghệ thông tin. Do đó, Hải
quan áp dụng các phương pháp kiểm soát phù hợp với từng đối tượng và từng loại rủi
ro, như: loại bỏ rủi ro, chuyển giao rủi ro, ngăn ngừa rủi ro…
24
Thông qua kiểm soát rủi ro, Hải quan Trung Quốc xây dựng các tiêu chí rủi ro
để đưa vào hệ thống thông quan điện tử (trong năm 2010, Hải quan Thượng Hải đã có
83 lần xem xét và đánh giá lại các tiêu chí rủi ro; điều chỉnh 102 nghìn tiêu chí; bổ
sung 61 nghìn tiêu chí; và loại bỏ 41 nghìn tiêu chí. Trên hệ thống thủ tục hải quan,
thường xuyên duy trì 22 nghìn tiêu chí rủi ro trực tuyến).
Bằng cách áp dụng các tiêu chí rủi ro trên hệ thống thông quan điện tử, Hải
quan Trung Quốc đã tiến hành tự động hóa nhiều nội dung kiểm tra và xây dựng các
chỉ dẫn nghiệp vụ cho công chức hải quan thực hiện trong khi làm thủ tục hải quan cho
doanh nghiệp. Dựa trên các chỉ dẫn, tùy trường hợp cụ thể, công chức hải quan sẽ buộc
phải thực thi theo đúng quy trình đã định (nếu là chỉ dẫn bắt buộc) hoặc tự quyết định
biện pháp nghiệp vụ phù hợp (nếu là chỉ dẫn định hướng).
Ngoài ra, Hải quan Trung Quốc quản lý trọng điểm trước hết theo đối tượng
doanh nghiệp. Mỗi đối tượng doanh nghiệp được phân loại và có quy định về chế độ
thủ tục hải quan hay hình thức – mức độ kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu.
Hệ thống quản lý rủi ro của Hải quan Trung Quốc thực hiện thu thập thông tin
về doanh nghiệp trên mọi mặt hoạt động: thời gian và lịch sử hoạt động, lĩnh vực đầu
tư, ngành hàng kinh doanh xuất nhập khẩu, địa điểm và khu vực hoạt động, quy mô
đầu tư, nhân thân người sở hữu và các nhà quản lý… Từ phân tích thông tin doanh
nghiệp, Hải quan Trung Quốc phân chia các doanh nghiệp thành 5 loại: Doanh nghiệp
AA, doanh nghiệp A, doanh nghiệp B, doanh nghiệp C và doanh nghiệp D
Về cơ bản, các doanh nghiệp loại AA và A đều là những doanh nghiệp có quy
mô đầu tư lớn, có lịch sử hoạt động tốt, kinh doanh xuất nhập khẩu các loại hàng hóa
không đánh thuế, có cam kết và bảo đảm bằng tiền (ký quỹ hoặc bảo lãnh của ngân
hàng) với Hải quan về tuân thủ pháp luật.
Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng là đối tượng được phân tích, đánh giá
trong quản lý rủi ro theo nhiều tiêu thức phân loại:
25