QUỸ DỰ PHÒNG
1. Lịch sử hình thành và phát triển
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
I.2. Khái niệm
2. Đặc điểm
3. Nguồn hình thành và mục đích sử dụng Quỹ dự phòng
3.1. Nguồn hình thành
3.2. Mục đích sử dụng Quỹ dự phòng
4. So sánh Quỹ dự phòng với các chế độ khác trong An sinh xã hội
1. Lịch sử hình thành và phát triển
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Để đảm bảo An sinh xã hội (ASXH), các nước trên thế giới đều xây dựng
cho mình những chương trình ASXH nhất định, mỗi chương trình thường
hướng tới một đối tượng nào đó trong xã hội. Trong đó, BHXH là một chương
trình quan trọng và chủ yếu, bảo vệ cho nhóm đối tượng là người lao động. Tuy
nhiên, trước đây và cho đến nay vẫn còn một số nước thay vì sử dụng hệ thống
BHXH lại sử dụng một hình thức ASXH khác, để bảo vệ cho người lao động,
đó là Quỹ dự phòng.
Mục đích thiết lập Quỹ dự phòng cũng tương tự như mục đích thiết lập
quỹ BHXH. Khởi đầu, hình thức QDP được sử dụng ở hầu hết các nước là
thuộc địa của Anh trước đây. Sau đó, các nước mới độc lập ở châu Phi, châu Á,
vùng Caribe và Thái Bình Dương đã sử dụng hình thức này khi xây dựng hệ
thống ASXH quốc gia. Hiện nay có một số nước đã chuyển đổi từ hình thức
Quỹ dự phòng sang hình thức BHXH như Ga-na, Ni-giê-ria, Ấn Độ. Còn một
số vẫn duy trì dưới dạng Quỹ dự phòng như Ma-lai-xia, Xin-ga-po, U-gan-
na.
Như vậy, việc thiết lập Quỹ dự phòng ở một số nước không nằm ngoài
mục đích ASXH. Các nước này sử dụng Quỹ dự phòng quốc gia tương tự như
Quỹ BHXH nhằm hướng tới diện bảo vệ là người lao động và gia đình họ.
1.2 Khái niệm
Quỹ phòng xa hay Quỹ dự phòng là các Quỹ tiết kiệm bắt buộc nhất định
theo Luật định nhằm đảm bảo sự ổn định về mặt tài chính cho các cá nhân đóng góp
vào Quỹ dự phòng khi gặp phải rủi ro bất ngờ.
Diện bảo vệ đối với Quỹ dự phòng là các địa phương, tổ chức cá nhân không
may gặp thiên tai, mất mùa… hậu quả nghiêm trọng. Đối với các Quỹ hưu trí, Quỹ
bảo hiểm trọn đời cá nhân và tập thể đóng góp nên quỹ đó.
2. Đặc điểm
Quỹ dự phòng có một số đặc điểm chủ yếu sau:
- Quỹ dự phòng không phải là một quỹ tài chính tập trung dùng để chia sẻ rủi
ro giữa các thành viên với nhau. Toàn bộ tiền đóng góp của từng thành viên được
quản lý theo từng tài khoản cá nhân riêng rẽ của thành viên đó.
- Mức hưởng của thành viên từ Quỹ dự phòng hoàn toàn phụ thuộc vào mức
đóng góp của bản than thành viên đó không có sự bảo trợ từ phía Nhà nước.
- Trong một số trường hợp có nhu cầu tài chính, các thành viên có thể rút tiền
từ tài khoản Quỹ dự phòng của mình trước thời hạn, mặc dù chưa gặp các rủi ro xã
hội. Tuy nhiên, cũng chính từ đặc điểm này đã khiến Quỹ dự phòng đôi khi mất đi
mục đích bảo vệ dài hạn ban đầu đặt ra.
- Quỹ dự phòng rất đơn giản về mặt quản lý và cân đối Quỹ vì tiền hưởng
hoàn toàn được tích lũy trên tài khoản cá nhân từng thành viên. Tuy nhiên, đặc điểm
này cũng khiến Quỹ dự phòng mất đi phần nào tính tương trợ và san sẻ rủi ro.
- Do Quỹ dự phòng sử dụng tài khoản cá nhân để tích lũy tiền đóng góp và lãi
trong nhiều năm như tiền tiết kiệm nên chịu tác động rất lớn của lạm phát. Đã có
những trường hợp do lạm phát xảy ra ở mức cao, dẫn đến tiền tích lũy của các thành
viên bị mất giá trị rất nhiều, không đủ đảm bảo nhu cầu của họ khi cần thiết.
3. Nguồn hình thành và sử dụng Quỹ dự phòng
3.1 Nguồn hình thành
Mặc dù Quỹ dự phòng không phải là một Quỹ tài chính tập trung để chia sẻ
giữa những thành viên với nhau mà được chia theo tài khoản cá nhân của từng
thành viên, nhưng nguồn tài chính hình thành trên từng tài khoản đều bao gồm:
- Từ sự đóng góp của bản thân các thành viên theo nguyên tắc có đóng có
hưởng và đóng bao nhiêu hưởng bấy nhiêu.
- Từ tiền lãi đầu tư của số tiền tích lũy trên từng tài khoản.
Tùy vào đặc điểm kinh tế xã hội của từng nước, mức đóng góp của các thành
viên vào tài khoản Quỹ dự phòng là khác nhau và được tính dựa trên mức tiền
lương, tiền công người sử dụng lao động trả cho người lao động.
Quỹ dự phòng ở một số nước trên thế giới
Nước Năm thiết
lập
Tỷ lệ đóng
góp của
NSDLĐ
(%)
Tỷ lệ đóng
của NLĐ
(%)
Năm chuyển
sang BHXH
Châu Phi
Gam-bia 1981 10 5 1991
Ke-ni-a 1965 5 5 1994
Soa-zi-lan 1964 5 5 Chưa
Tan-za-nia 1967 10 10 Chưa
U-gan-da 1965 10 15 Chưa
Zam-bia 5 5 Chưa
Châu Á
In-do-ne-xia 1951 4 2 Chưa
I-rac 1956 12 10 1964
Xin-ga-po 1953 20 20 Chưa
Sri-lan-ka 1959 12 8 Chưa
Vùng Ca-ri-be
Mong-se-rat 1972 5 5 Chưa
Thái Bình Dương
Fi-ji 1976 7 7 Chưa
Ki-ri-ba-ti 1980 5 5 Chưa
Pa-puaniu 1986 5 Chưa
Ghi-ne 7.5
Tu-va-lu 1986 5 5 Chưa
Va-nu-a-tu 1986 3 3 Chưa
Tay-sa-moa 1972 5 5 Chưa
Nguồn: ILO, Các chương trình hưu, Bản dịch.
- Tỷ lệ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động là khác nhau
ở mỗi nước. Nhưng nhìn chung, mức đóng góp giữa hai bên là bằng nhau hoặc ở
một số nước người sử dụng lao động đóng góp cao hơn ngươi lao động.
3.2 Mục đích sử dụng
Quỹ dự phòng được sử dụng vào các mục đích như sau:
- Trả cho chi phí hoạt động của bộ máy quản lý hoạt động hệ thống Quỹ dự
phòng. Việc quản lý thu nộp, đầu tư và chi trả Quỹ dự phòng do một Cơ quan hành
chính công thực hiện. Chi phí hoạt động cho bộ máy này được trích ra từ tài khoản
dự phòng cá nhân.
- Chi trả cho người lao động khi gặp các rủi ro xã hội như tuổi già, mất sức lao
động, mất người nuôi dưỡng. Toàn bộ số tiền tích lũy trong tài khoản phòng xa sau
khi trừ đi chi phí quản lý sẽ được trả cho người lao động hay người thụ hưởng. Ở
một số nước, còn cho phép chi trả tài khoản phòng xa theo định kỳ hoặc chi trả cho
một số mục đích khác như mua nhà hay vay tạm thời từ quỹ khi có khó khăn về tài
chính.
4. So sánh Quỹ dự phòng với các chế độ khác trong An sinh xã hội
Giống nhau:
Đều là những chính sách nằm trong hệ thống an sinh xã hội nhằm thực hiện
mục tiêu của an sinh xã hội, đó là tạo ra mạng lưới bảo vệ các thành viên trong xã
hội thoát khỏi tình trạng khốn khó trong cuộc sống.
Khác nhau:
BHXH ƯĐXH CTXH XĐGN QPX
Đối
tượng
được
BH
Những người
lao động
không phân
biệt trong tất
cả các ngành
nghề
Tất cả những
người có cống
hiến đặc biệt
cho xã hội
trong công
cuộc xây dựng
và bảo vệ tổ
quốc
Những thành
viên trong xã
hội gặp rủi ro
dẫn đến không
có khả năng tự
lo liệu được
cuộc sống của
bản thân và gia
đình hoặc nếu
có thể lo liệu
được thì lo liệu
ở mức rất thấp
Những người
trong xã hội có
thu nhập thấp
hơn mức chuẩn
nghèo không
đảm bảo được
nhu cầu sống
thiết yếu
Chỉ là những
người làm
công ăn lương
trong xã hội
Đối
tượng
BH
Phần thu nhập
bị giảm hoặc
mất của người
lao động
Phần vật chất
và tinh thần
cho người lao
động, nói
chung là mọi
mặt của cuộc
sống
Thu nhập và
điều kiện sinh
sống của người
lao động khi
rơi vào hoàn
cảnh yếu thế
Thu nhập và
điều kiện phát
triển sản xuất
gia tăng thu
nhập
Thu nhập và
điều kiện sống
cho người lao
động
Mục
tiêu
- Đảm bảo nhu
cầu thiết yếu
của người lao
động.
- Nhằm phân
phối và phân
phối lại thu
nhập giữa
những người
- Đảm bảo
cuộc sống trên
mức tối thiểu
cho những
người có công
- Nhằm đền
đáp và thể hiện
trách nhiệm
của cộng đồng
- Chuyển
nhượng nguồn
lực cho các cá
nhân gặp yếu
thế trong xã
hội
- Giảm khoảng
cách giàu
nghèo trong xã
Trợ giúp
những gia đình
nghèo đói
trong xã hội về
tiền vốn, về ưu
đãi thuế, về
khoa học kỹ
thuật … để họ
tự vươn lên và
Giúp người
dân tự bảo
hiểm cho bản
thân và gia
đình khi không
may gặp phải
các rủi ro trong
cuộc sống