ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG VĂN TRÁNG
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU SINH KẾ HỘ TẠI XÃ MINH XUÂN
HUYỆN LỤC YÊN- TỈNH YÊN BÁI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khuyến Nông
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG VĂN TRÁNG
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU SINH KẾ HỘ TẠI XÃ MINH XUÂN
HUYỆN LỤC YÊN- TỈNH YÊN BÁI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khuyến Nông
Khoa : Kinh tế & PTNT
Lớp : 42 - KN
Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Lành Ngọc Tú
Thái Nguyên - 2014
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp là thành quả trong suốt quá trình học tập và rèn
luyện của mỗi sinh viên tại giảng đường Đại học, cùng với quãng thời gian
thực tập nghiên cứu tại cơ sở, đó là sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành,
giữa những gì được tiếp thu từ thầy cô, sách vở và thực tiễn tại cơ sở trong
suốt quãng thời gian thực tập.
Bằng cả tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cám ơn các thầy cô
giáo, đặc biệt là thầy giáo Th.S Lành Ngọc Tú đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
tạo mọi điều kiện cho em trong suốt quá trình thực tập để em hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp của mình.
Em xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên nói chung và Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn nói riêng và
UBND xã Minh Xuân đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho em trong suốt quá
trình thực tập.
Do thời gian có hạn cũng như năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên
trong khóa luận không thể tránh khỏi những sai sót. Em kính mong nhận được
sự giúp đỡ, góp ý của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn để khóa luận của
em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng năm 2014
Sinh viên
Nông Văn Tráng
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Minh Xuân 16
Bảng 4.2: Diện tích các cây trồng chủ yếu của xã Minh Xuân 17
Bảng 4.3: Thống kê vật nuôi của xã Minh Xuân năm 2014 20
Bảng 4.4: Dân số và lao động của xã Minh Xuân 22
Bảng 4.5: Thành phần dân tộc ở xã Minh Xuân 23
Bảng 4.6: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính năm 2014 25
Bảng 4.7: Thông tin chung về hộ điều tra 26
Bảng 4.8: Cấu trúc dân tộc trong các hộ điều tra 27
Bảng 4.9: Cấu trúc phân loại hộ điều tra theo các thôn 27
Bảng 4.10: Bình quân diện tích canh tác theo nhóm hộ (ha/hộ) 28
Bảng 4.13: Bình quân diện tích rừng và đất rừng phân theo thôn và dân tộc 30
Bảng 4.14: Bình quân thu nhập (%) về nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ 31
Bảng 4.15: Thu nhập (%) về phi nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ 33
Bảng 4.16: Số tháng giành toàn bộ (%) thời gian cho nông nghiệp của các
thành viên gia đình trong 12 tháng qua Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.17: Số tháng giành một phần(%) thời gian cho nông nghiệp của các
thành viên gia đình trong 12 tháng qua Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.18: Số tháng giành toàn bộ (%) thời gian cho phi nông nghiệp của các
thành viên gia đình trong 12 tháng qua Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.19: Số tháng giành một phần(%) thời gian cho phi nông nghiệp của
thành viên gia đình trong 12 tháng qua Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.20: Thu nhập (%) về trồng trọt theo thôn và nhóm hộ 34
Bảng 4.21: Số hộ trồng và thu nhập từ các cây trồng chủ yếu tại Error!
Bookmark not defined.
Bảng 4.23: Số hộ chăn nuôi và thu nhập từ các vật nuôi chủ yếu tại Minh Xuân 37
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Bản đồ huyện Lục Yên và xã Minh Xuân 15
MỤC LỤC
Phần 1. Mở đầu 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2.Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.2. Ý Nghĩa trong thực tiễn sản xuất 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở khoa học 3
2.1.1. Sinh kế, tiếp cận sinh kế và khung sinh kế 3
2.1.2. Hộ và kinh tế hộ 6
2.2 Tình hình nghiên cứ trong và ngoài nước 9
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 11
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu. 11
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 11
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 11
3.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 11
3.2. Nội dung nghiên cứu 11
3.3. Phương pháp nghiên cứu 12
3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin số liệu thứ cấp 12
3.3.2. Phương pháp thu thập thông tin số liệu sơ cấp 12
3.3.3. Phương pháp phân tích sử lý số liệu 14
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 15
4.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Minh Xuân có liên
quan đến sản xuất nông nghiệp 15
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 15
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 18
4.1.3. Cơ cấu cây trồng chính của xã Minh Xuân 24
4.2. Các hoạt động sinh kế và thu nhập của cộng đồng dân tộc xã Minh Xuân 26
4.2.1. Thông tin về hộ và phân loại hộ điều tra 26
4.2.2. Diện tích đất canh tác, rừng và đất rừng của các hộ điều tra 28
4.2.3. Thu nhập về nông nghiệp và phi nông nghiệp 31
4.2.4. Thu nhập về trồng trọt của các hộ điều tra 33
4.2.5. Thu nhập từ chăn nuôi của các hộ điều tra 35
4.2.6. các hoạt động sinh kế khác 38
4.3. Kết quả sinh kế của người dân 39
4.4. Các giả pháp phát triển sinh kế 41
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1. Kết luận 43
5.2. Kiến Nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
1
Phần 1
Mở đầu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và
gần 70% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Khu vực nông thôn
có khoảng 13 triệu hộ, trong đó có khoảng hơn 11 triệu hộ chuyên sản xuất
nông nghiệp. Với trình độ dân trí và tập quán canh tác còn hạn chế nên năng
suất lao động chưa cao, thu nhập của nông dân còn thấp, tình trạng đói nghèo
vẫn diễn ra rộng khắp các khu vực. Xây dựng các hoạt động sinh kế bền vững
và xóa đói giảm nghèo là những chính sách xã hội cơ bản hướng vào phát
triển con người, nhất là người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, để cho người nghèo có cơ hội và điều
kiện tiếp cận các nguồn lực để phát triển sản xuất tự vươn lên thoát khỏi
nghèo đói, có một cuộc sống ổn định hơn. Tuy nhiên thực tế hiện nay, người
dân nghèo còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực để
phát triển kinh tế. Họ ít có khả năng tiếp cận với các nguồn lực như tài
chính, thông tin, cơ sở vật chất để kiếm kế sinh nhai.
Để cải thiện sinh kế cho nông dân nghèo vùng cao, đặc biệt là các cộng
đồng dân tộc thiểu số và phụ nữ cần có sự quan tâm của Nhà nước và các tổ
chức xã hội, thông qua các hoạt động, thông qua hệ thống cây trồng/vật nuôi
tổng hợp, phát triển sản xuất bền vững và sử dụng các cây trồng lương thực,
thức ăn chăn nuôi cần được đầu tư cả về vốn, vật tư nông nghiệp, tiến bộ
khoa học kỹ thuật… để phát triển nông nghiệp nông thôn, phát triển các hoạt
động sinh kế, giúp người nông dân cải thiện cuộc sống. Qua đó ta thấy rằng
sinh kế bền vững đang là một mối quan tâm đặt lên hàng đầu hiện nay của
con người. Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao đời
sống của con người nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng môi
trường tự nhiên.
Xã Minh Xuân (huyện Lục Yên ,tỉnh Yên Bái) là một xã miền núi, điều kiện
kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn, dân trí của người dân còn thấp, các
điều kiện về cơ sở hạ tầng, giao thông khó khăn, diện tích đất canh tác ít,
thiếu nước, Sinh kế của các hộ gia đình địa phương chủ yếu dựa vào trồng
2
trọt, bao gồm: trồng lúa, ngô, sắn, lạc,… Chăn nuôi bao gồm: trâu, bò, lợn, gà
và một số gia cầm khác.
Điều tra, đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng như tìm
hiểu tình hình thực trạng về các hoạt động sinh kế của người dân nơi đây sẽ
là cơ sở cho việc xây dựng một mô hình phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho
người dân miền núi xã Minh Xuân nói riêng cũng như người dân trong địa
bàn Tỉnh nói chung, làm tiền đề cho các can thiệp của dự án phát triển nông
thôn, các chương trình xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế… để nâng cao
đời sống cho người dân.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề
tài:
“Nghiên Cứu Sinh Kế Hộ Tại Xã Minh Xuân- Huyện Lục Yên- Tỉnh Yên Bái”
1.2.Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương có liến quan
đến sản xuất nông nghiệp.
- Điều tra, đánh giá các hoạt động sinh kế và thu nhập của cộng đồng
các dân tộc địa phương để làm cơ sở cho các can thiệp
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu được điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội.
- Phân tích được thực trạng hoạt động sinh kế
- Nghiên cứu được cơ cấu thu nhập
- Đề xuất được giải pháp phát triển sinh kế
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Giúp sinh viên có cơ hội được tiếp xúc với thực tế để có thêm kinh
nghiệm, bổ sung những kiến thức còn thiếu, vận dụng những kiến thức về kỹ
thuật chuyên môn cũng như nghiệp vụ khuyến nông vào trong sản xuất
1.4.2. Ý Nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Đáp ứng mục đích ứng dụng nhân rộng mô hình xóa đói giảm nghèo, phát
triển nông thôn của người dân miền núi
- Đóng góp kiến nghị nhũng giải pháp khả thi cho cho chiến lược sinh kế của
người dân miền núi xã Minh Xuân
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Sinh kế, tiếp cận sinh kế và khung sinh kế
- Khái niệm sinh kế:
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sinh kế. Theo một số tác
giả, sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất
và xã hội như: cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, nước mặt, đường xá,…)
cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện để kiếm sống của con người
(Scoones, 1998).
Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể
hiện qua hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Hoạt động nông nghiệp bao gồm: (1)Trồng trọt: Lúa, ngô, khoai, sắn,
lạc, cây ăn quả, rau màu,…, (2) chăn nuôi: Lợn, gà, trâu, bò, cá,…, và (3)
Lâm nghiệp: Trồng cây keo, bạch đàn, mỡ, rừng,…
Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu bao gồm các dịch vụ,
buôn bán và các ngành nghề khác.
Như vậy, trong phạm vi báo cáo này, sinh kế của người dân nông thôn
được hiểu là các hoạt động sản xuất nông nghiệp để nuôi sống cho chính gia
đình họ. Vì vậy, xây dựng kế hoạch chiến lược cải thiện sinh kế chính là việc
xây dựng các thí nghiệm trình diễn hiện trường để góp phần cải thiện sinh kế
địa phương. Qua đó góp phần phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo.
- Tiếp cận sinh kế:
Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ. Nó phản ánh bức tranh
tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo
phương thúc truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như
nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp…) Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng
4
đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài cơ hội thoát nghèo, thích
nghi với điều kiện tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ
và cho các thế hệ tiếp theo.
- Khung sinh kế:
Có nhiều khái niệm về sinh kế như sau:
+ Sinh kế là sự kết hợp các hoạt động được thực hiện để sử dụng các
nguồn lực để duy trì cuộc sống. Các nguồn lực có thể bao gồm các khả năng và
kỹ năng cá nhân (nguồn lực con người), đất đai, tiền tích luỹ và các thiết bị
(nguồn lực tự nhiên, tài chính, và vật chất) và các nhóm trợ giúp chính thức hay
các hệ thống trợ giúp không chính thức tạo điều kiện cho các hoạt động được
diễn ra (nguồn lực xã hội).
+ Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài
nguyên, đất đai, đường xá) và các hoạt động cần có để kiếm sống.
+ Sinh kế của con người phụ thuộc vào khối lượng và chất lượng của
những nguồn vốn mà họ có hoặc có thể tiếp cận. Sự thành công của các chiến
lược và hoạt động sinh kế tùy thuộc và mức độ hiểu biết mà con người có
thể kết hợp cũng như quản lý những nguồn lực mà họ có. Vì thế, bàn về
sinh kế và sinh kế bền vững có rất nhiều ý kiến, cách tiếp cận khác nhau.
+ Có ý kiến cho rằng sinh kế là phương tiện/ cách thức để kiếm sống.
Có ý kiến cho rằng sinh kế của một hộ gia đình hay của một cộng đồng còn
được gọi là kế sinh nhai, là cách thức kiếm sống. Hoặc sinh kế là thu nhập ổn
định có được nhờ áp dụng các phương thức/ biện pháp khác nhau. Và có ý
kiến cho rằng sinh kế có thể được miêu tả như những quyết định, những hàng
động mà họ sẽ được thực hiện không những để kiếm sống mà còn để đạt được
những ước vọng của họ.
+ Ta có thể miêu tả một sinh kế như là sự kết hợp các hoạt động được
thực hiện để sử dụng các nguồn lực để duy trì cuộc sống. Các nguồn lực có
5
thể bao gồm các khả năng và kỹ năng cá nhân (nguồn lực con người), đất đai,
tiền tích luỹ và các thiết bị (nguồn lực tự nhiên, tài chính, và vật chất) và các
nhóm trợ giúp chính thức hay các hệ thống trợ giúp không chính thức tạo điều
kiện cho các hoạt động được diễn ra (nguồn lực xã hội).
+ Theo DFID sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: nguồn lực và khả năng
con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế. có quan niệm cho
rằng sinh kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi
ở. Mà nó còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kỹ năng,
các mối quan hệ,….(Wallmann, 1984). Sinh kế cũng được xem như là “sự tập
hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp với những
quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để sống cũng như để đạt được
các mục tiêu và ước nguyện của họ”(DFID). Về cơ bản các hoạt động sinh kế
là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng
của họ và đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và các mối quan
hệ xã hội và mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết lập trong cộng đồng.
- Khung sinh kế bền vững:
Khái niệm khung sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo
Brundland (1987) tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển. Một sinh
kế được cho là bền vững khi con người có thể đố phó và khắc phục được
những áp lực và cú sốc. Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và
tài sản ở cả hiện tại và trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các
nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái
niệm phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway
(1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm
con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản
của họ. Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như
6
dư nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa
phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh
kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi
sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai.
- Chiến lược sinh kế:
Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và
quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lí các nguồn vốn và
tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt
được mục tiêu nguyện vọng của họ.
2.1.2. Hộ và kinh tế hộ
- Một số khái niệm về hộ:
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về hộ gia đình. Hộ là một tổ
chức kinh tế - xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn phát triển khác
nhau của đất nước. Trong bất kỳ giai đoạn nào hộ luôn là đối tượng nghiên
cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới theo đó cũng có những khái niệm
khác nhau.
Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một
mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
Tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông
nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu
sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn
hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có
xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Tại cuộc thảo luận Quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan
năm 1980, các đại biểu nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có
liên quan đến sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”.
7
Theo Raul Ituna, một nhà nghiên cứu của trường Đại học Tổng hợp
Lisbon, khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số
nước Châu Á đã chứng minh: “Hộ là tập hợp những người có chung huyết
tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để
bảo tồn chính bản thân của họ và cộng đồng”.
Theo Dương Văn Sơn và Nguyễn Trường Kháng (2010): Hộ gia đình là
khái niệm chỉ một hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình
làm nền tảng. Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có chất hành chính
và địa lý. Còn gia đình là một nhóm người, một cộng đồng người mà các
thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, vừa
nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng tư của các cá nhân, vừa thoả mãn nhu cầu
xã hội về tái sản xuất dân cư theo cả nghĩa thể xác lẫn tinh thần. Gia đình là
một hệ thống phức tạp các vị trí và vai trò xã hội mà các thành viên chiếm giữ
và thực hiện, là những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của
con người, một thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và
phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi
dưỡng và giáo dục, giữa các thành viên.
- Hộ nông dân:
Theo ông Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ
yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá
và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.
Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “nông hộ là tế
bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông
thôn”.
Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông
nghiệp, tự kiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức
lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn,
8
nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có su
hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Theo Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2011
cho rằng: “hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động
thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt,
chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo
vệ thực vật…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông
nghiệp”.
- Kinh tế hộ nông dân:
Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ
gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của
mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm
trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục
bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo
cao”.
Tác giả T.G.Mc Gee (1989), Giám đốc Viện nghiên cứu Châu Á thuộc
trường Đại học Tổng hợp Britiah Columbia, cho rằng: “Ở các nước Châu Á
hầu hết người ta qua niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay
không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có
chung một ngân quỹ”.
“Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong
nông - lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức
lao động, tiền vốn, của gia đình mình là chính.
9
2.2 Tình hình nghiên cứ trong và ngoài nước
Từ trước đến nay, đã có nhiều công tình nghiên cứu khoa học, bài viết
đi sâu phân tích về hoạt động sinh kế của người dân, đặc biệt chú ý tới đời
sống của cư dân nghèo khổ. Ý tưởng nghiên cứ về sinh kế xuất hiện nhiều
trong các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Doward, F, Eliss,
Morrison Các tác giả đều cho rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến đời sống của cá nhân cũng như hộ gia đình. Hiện nay, các
đề tài liên quan đến hoạt động sinh kế và bàn về cách thức xây dựng mô
hình sinh kế bền vững cũng vô cùng phong phú. Những câu hỏi tại sao, phải
làm như thế nào vẫn đang tìm câu trả lời. Làm thế nào để lựa chọn một sinh
kế bền vững, hay nguyên nhân dẫn đến đói nghèo là gì v.v Trong giới hạn
đề tai cho phép, tôi xin tổng quan một số công trình nghiên cứu thu thập
được liên quan đến đề tài
• Nghiên cứu đặc điểm văn hóa kiến thức bản địa và chiến lược sinh kế
của đồng bào dân tộc thiểu số tại Đakrong- Quảng Trị của Hoàng
Mạnh Quân ( Đại Học Nông Lâm Huế)
Đề tài này nghiên cứu về kiến thức bản địa và mỗi liên hệ của nó với
chiến lược sinh kế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đề tài cũng đưa ra
những điểm được và chưa được trong việc vận dụng kiến thức bản địa vào
các hoạt động sinh kế, đề cập đến việc xây dựng một chiến lược sinh kế bền
vững đến người dân tự xây dựng và phát triển chiến lược sinh kế cho bản
thân và gia đình vừa đảm bảo điều kiện sống hiện tại vừa đảm bảo cho sự
phát triển vững chắc cho tương lai.
• Nghiên cứu phát triển nông thôn bền vững ở Việt Nam ( VS/RDE/01)
Trường Đại Học Nông Lâm, Đại Học Huế)
Đề tài này nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển nông thôn bằng cách xây
dựng mạng lưới hợp tác giữa các viện/ trường để cùng chia sẻ thông tin và
10
kinh nghiệm. Sự liên kết trong nước, khu vực và thế giới sẽ làm cơ sở phát
triển phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành đa lĩnh vực trong phát triển,
nhằm nâng cao năng lực cá nhân về nghiên cứu và đào tạo phát triển nông
thôn ở các trường đại học và các viện nghiên cứu ở Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra những kinh nghiệm nghiên cứu đa ngành
và liên kết giữa khoa học tự nhiên và xã hội trong quá trình tìm hiểu hệ
thống nông thôn bền vững. Đồng thời, phát huy kinh nghiệm tiếp cận chính
diện trong nghiên cứu như phân tích sinh kế và tư duy hệ thống phát huy
liên tục trong nghiên cứu đối với chính sách và thực thi chính sách phát triển
nông thôn và tình hình sinh kế ở nông thôn
• Nghiên cứu phát triển nông thôn bền vững tại xã Phong Mĩ miền
Trung Việt Nam của trường Đại Học Khoa Học Và Đời Sống Praha-
Czech
Nghiên cứu này được thực hiện ở xã Phong Mĩ huyện Phong Điền – tỉnh
Thừa Thiên Huế , đề tài này nghiên cứu lĩnh vực nông nghiệp phát triển
nông thôn, bảo tồn đa dạng sinh học. Đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu tìm
hiểu phương thức sinh kế của người dân, phân tích các nguồn vốn về con
người, và nguồn vốn tự nhiên, các khả năng sử dụng nguồn đất sẵn có và
những nguồn tài nguyên khác như: tài nguyên nước và tài nguyên rừng… tác
động đến hoạt động sinh kế của người dân. Ngoài ra, đề tài cũng vẽ nên một
bức tranh về cuộc sống của người dân qua các chỉ báo về thu nhập, cơ cấu
chi tiêu, tình hình giáo dục y tế, tình hình kinh tế- xã hội địa phương.
11
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu.
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Là các hộ gia đình nông dân cùng với các hoạt động sinh kế của của họ
tại xã Minh Xuân, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Các hoạt động sinh kế trong đề tài bao gồm hoạt động nông nghiệp
(trồng trọt, chăn nuôi) và hoạt động phi nông nghiệp. Thu nhập được tính trên
thu nhập của nông nghiệp và phi nông nghiệp
Nghiên cứu chọn mẫu 60 hộ trong địa bàn xã và lựa chọn thực hiên tại 4
thôn: thôn 3( Loong Cha), thôn 1(Nàng Khà) , thôn 4(Kéo quạng) và thôn
5(Bản Cố), thuộc xã Minh Xuân, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
3.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm thực hiện: Đề tài được nghiên cứu tại xã Minh Xuân, huyện
Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
Thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài:
Từ ngày 08/01/2014 đến hết ngày 30/04/2014
3.2. Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung các nội dung nghiên cứu sau đây:
- Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Minh Xuân, huyện
Lục Yên, Tỉnh Yên Bái.
+ Điều kiện tự nhiên
+ Điều kiện kinh tế xã hội
+ Cơ cấu cây trồng chính của địa phương
- Đánh giá và phân tích được thực trạng các hoạt động sinh kế của cộng đồng
các dân tộc địa phương
12
+ Thông tin về các hộ và phân loại hộ tại địa bàn nghiên cứu;
+ Diện tích đất canh tác, rừng và đất rừng;
-Nghiên cứu được cơ cấu thu nhập của người dân
+ Thu nhập về nông nghiệp và phi nông nghiệp;
+ Thu nhập về trồng trọt, chăn nuôi của cộng đồng địa phương tại địa bàn
nghiên cứu;
- Đề xuất được các giải pháp phát triển sinh kế
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin số liệu thứ cấp
Đây là phương pháp được sử dụng để thu thập các thông tin số liệu đã có
sẵn từ tất cả các nguồn có thể tiếp cận được. Đó là các số liệu, tài liệu được
thu thập từ văn phòng UBND xã Minh Xuân, từ thư viện của Khoa Kinh tế và
PTNT (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên), từ các trang mạng khai
thác trên Internet thông qua công cụ tìm kiếm Google,…
Đây là những nguồn tài liệu có giá trị để xây dựng tổng quan, cũng như
những thông tin cơ bản liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và
tình hình sản xuất nông nghiệp của địa phương.
3.3.2. Phương pháp thu thập thông tin số liệu sơ cấp
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Đây là phương pháp chủ yếu để thu
thập số liệu liên quan đến đề tài. Một bảng hỏi (xem phụ lục) được hình
thành, gồm nhiều bộ phận khác nhau, từ những thông tin cơ bản của chủ hộ,
an ninh lương thực, sinh kế và thu nhập nông hộ, những liên quan đến tác
động của can thiệp trong sản xuất, những tác động liên quan đến chăn nuôi và
phát triển chăn nuôi,…
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích và đánh giá
các hoạt động sinh kế, thu nhập (nông nghiệp và phi nông nghiệp) của cộng
13
đồng địa phương. Đây là cơ sở để có các tác động của can thiệp liên quan
nhằm cải thiện sinh kế của cộng đồng địa phương.
Số liệu được thu thập tại bốn thôn xác định là thôn 3 ( Loong Cha), thôn
1 (Nàng Khà) , thôn 4 (Kéo quạng) và thôn 5 (Bản Cố), thuộc xã Minh
Xuân, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Tổng số có 60 phiếu điều tra đã được thu
thập tại 60 hộ trong 4 thôn trên. Nghiên cứu chọn mẫu dựa trên phương
pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên có điều kiện
Đặc điểm tình hình chung 4 thôn nghiên cứu
* Thôn Loong Cha
Diện tích tự nhiên 95,7 ha. Dân số 455 người/ 119 hộ. Theo chuẩn hộ
nghèo, hộ cận nghèo mới của thủ tướng chính phủ áp dụng ở nông thôn giai
đoạn 2011-2015 toàn thôn có 10 hộ nghèo, 6 hộ cận nghèo còn lại là hộ khác.
* Thôn Nà Khà
Cả thôn có 98 hộ với 360 nhân khẩu với diện tích đất tự nhiên là 60,5 ha
các hộ trong thôn chủ yếu làm nông nghiệp và chăn nuôi nhỏ lẻ. Toàn thôn
có 9 hộ nghèo và 7 hộ cận nghèo còn lại là hộ khác.
* Thôn Kéo Quạng
Diện tích tự nhiên 71,8 ha; trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm
30,6 ha. Dân số là 379 người/ 105 hộ số hộ nghèo của thôn 8 hộ và 4 hộ cận
nghèo còn lại là hộ khác.
* Thôn Bản Cố
Là thôn nằm ở phía Nam của xã Minh Xuân diện tích đất tự nhiên là
82,3 ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 35,7 ha còn lại là đất rừng tự nhiên
được phủ bởi rừng nữa và vầu. Dân số toàn thôn có 413 người với 105 hộ,
thôn có 9 hộ nghèo và 4 hộ cận nghèo.
14
- Ngoài ra, để hoàn thành đề tài này, chúng tôi còn sử dụng phương pháp
quan sát trực tiếp để ghi nhận những hành vi của bà con nông dân và lý giải
những kết quả đánh giá liên quan đến đề tài.
3.3.3. Phương pháp phân tích sử lý số liệu
- Các thông tin số liệu thứ cấp được tổng hợp, phân tích và sử dụng theo
các phương pháp phân tích tài liệu thông dụng.
- Số liệu điều tra bảng hỏi được nhập vào máy tính trên Excel.
15
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Minh Xuân có liên
quan đến sản xuất nông nghiệp
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
Minh Xuân là xã miền núi nằm ở phía tây bắc của huyện Lục Yên, cách
thành phố Yên Bái 93 km về phía Đông Bắc.
Minh Xuân có vị trí địa lí tiếp giáp với:
- Phía Đông giáp xã Đồng Hương, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang;
- Phía Bắc giáp xã Mường Lai;
- Phía Tây giáp xa Mai Sơn;
- Phía Nam giáp xã Yên Thắng.
Hình 4.1: Bản đồ huyện Lục Yên và xã Minh Xuân
Với vị trí địa lý như vậy thì xã Minh Xuân có những điều kiện thuận lợi
và khó khăn như sau:
- Địa hình:
Địa hình của huyện bị chia cắt bởi 2 dãy núi chính chạy dọc theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam, tạo ra các thung lũng, bồn địa bằng phẳng là nơi dân
Xã Minh Xuân
16
cư tập trung sản xuất và sinh sống từ lâu đời. Có độ cao trung bình 300 –
400m, đỉnh cao nhất 1,148m, đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc trung bình 40
0
.
Địa bàn bị chia cắt tạo thành những thung lũng nhỏ và các khe suối. Toàn bộ
vùng này là đất đá cổ phong hóa mạnh, rừng tự nhiên còn 40% diện tích, có
khả năng phát triển lâm nghiệp, cây công nghiệp và nông nghiệp.
- Đất đai: Xã Minh Xuân gồm 21 thôn, với tổng diện tích 8.164,95 ha, trong đó:
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Minh Xuân
Loại đất
Năm 2014
Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 8.164,95 100
Đất sản xuất nông nghiệp 883,97 11,35
Đất ở 28,23 0,35
Đất trồng cây lâm nghiệp 6.130,53 80,09
Đất nuôi trồng thủy sản 34,6 0,87
Đất đồng cỏ dành cho chăn nuôi 40,7 0,87
(Nguồn: Địa chính xã Minh Xuân, 2014)
Diện tích đất còn lại là núi đá vôi, sông, suối hiện trạng không sử dụng được.
+ Đất nông nghiệp
- Đất sản xuất nông nghiệp: Chiếm phần lớn diện tích đất nông nghiệp.
Trong diện tích trồng cây hàng năm diện tích đất trồng lúa, ngô, sắn chiếm tỷ
lệ lớn, nhưng trong các loại cây trồng thì lúa vẫn là cây chiếm diện tích đất
trồng cây nông nghiệp lớn và là cây cây trồng chính của vùng.
17
Bảng 4.2: Diện tích các cây trồng chủ yếu của xã Minh Xuân
Cây trồng Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
Lúa 430,2 56,68
Ngô 230,2 27,62
Sắn 153,3 11,25
Lạc 8,0 5,05
Tổng số 821,7 100,0
(Nguồn: UBND xã Minh Xuân, 2014)
- Đất lâm nghiệp: Có diện tích 6.130,53 ha, chiếm 80,09% tổng diện
tích đất tự nhiên, 100% diện tích đất lâm nghiệp của xã là đất rừng sản xuất.
Nó mang lại kinh tế rất lớn cho địa phương và đất lâm nghiệp đã góp phần
quan trọng vào phòng hộ xung yếu tránh xói mòn, rửa trôi, cải thiện cảnh
quan môi trường và cân bằng sinh thái. Trong tương lai ngoài công tác tăng
cường, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng cần tập trung đẩy mạnh công tác
trồng và chăm sóc rừng.
- Đất nuôi trồng thủy sản: Có diện tích 34,6 ha, chiếm 0,87% diện
tích đất tự nhiên, phân bố đều trên địa bàn toàn xã. Diện tích này chủ yếu là
nuôi thả cá quy mô hộ gia đình, hiệu quả kinh tế thấp. Do đó cần tận dụng các
khe lách nhỏ có nhiều trên địa bàn, ngăn thành các ao thả cá kết hợp các biện
pháp kỹ thuật để nâng cao hiệu quả của ngành này.
+ Đất phi nông nghiệp
- Đất ở: Nhìn chung đất ở trên địa bàn phân bố không đồng đều. Một số
cụm dân cư nằm ở vùng sâu, vùng xa rất khó khăn cho việc đi lại và trao đổi
giao lưu kinh tế, văn hóa.
- Đất núi đá vôi, sông, suối hiện trạng không sử dụng được: Chiếm
diện tích lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã. Phần lớn diện tích
đất chưa sử dụng là đất đồi bạc màu rất khó để khai thác và sử dụng. Vì vậy
18
chính quyền địa phương cần có những chính sách và biện pháp cụ thể để
khuyến khích các hộ nông dân cải tạo đất để làm nông nghiệp.
- Khí hậu: Theo báo cáo của trạm khí tượng thủy văn huyện Lục Yên thì
thời tiết khí hậu của xã Minh Xuân cũng mang đặc điểm chung của tiểu khí
hậu trong vùng đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi cao phía Bắc Việt
Nam cụ thể diễn biến về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa trung bình qua các tháng
trong năm 2013 như sau:
Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến
tháng 10 nhiều nhất là tháng 6, 7, 8 lượng mưa trung bình 120mm/tháng. Mùa
này nóng, ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình tháng 25 – 28
0
C có tháng nhiệt
độ lên trên 30 độ
0
C. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa này nhiệt
độ thấp, mưa phùn, phù hợp với cây trồng ưa nhiệt độ thấp, mùa hè chịu ảnh
hưởng của gió Đông Nam kèm theo mưa (tập trung khoảng 90% lượng mưa
cả năm). Mùa đông có gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa phùn. Độ ẩm không
khí cao trung bình năm 84%, tháng cao nhất là tháng 2 độ ẩm 90% và thấp
nhất là tháng 10 độ ẩm 79%.
- Thuỷ văn: Xã Minh Xuân được cung cấp nước tưới nhờ những con
đập mà đắp ngăn những dòng suối phục vụ cho tưới tiêu
Khí hậu như vậy sẽ có sự ảnh hưởng nhất định đến sản xuất nông nghiệp
của huyện Lục Yên nói chung và của xã Minh Xuân nói riêng. Tuy nhiên nhìn
chung với điều kiện khí hậu đó rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển
của cây trồng.
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
* Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Minh xuân là một xã miền núi của huyện Lục Yên, đường giao thông đi
lại khó khăn cách xa trung tâm huyện nên nền kinh tế của vùng còn nhiều
hạn chễ. Người dân chủ yếu hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính