Tải bản đầy đủ (.doc) (109 trang)

Tiểu luận nghiên cứu phê bình thơ của đặng tiến (qua khảo sát tập thơ thi pháp chân dung)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (500.49 KB, 109 trang )

MỤC LỤC
Trang
Trang 1
MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
3. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 10
3. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 10
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
5. Phương pháp nghiên cứu 11
5. Phương pháp nghiên cứu 11
6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn 11
6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn 11
Chương 1 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH THƠ CỦA ĐẶNG TIẾN TRONG
BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 13
1.1. Tổng quan về nghiên cứu, phê bình trong văn học Việt Nam hiện đại 13
1.1. Tổng quan về nghiên cứu, phê bình trong văn học Việt Nam hiện đại 13
1.1.1. Ngành nghiên cứu, phê bình trong văn học Việt Nam hiện đại 13
1.1.1. Ngành nghiên cứu, phê bình trong văn học Việt Nam hiện đại 13
1.1.2. Nghiên cứu, phê bình thơ trong Văn học Việt Nam hiện đại 15
1.1.2. Nghiên cứu, phê bình thơ trong Văn học Việt Nam hiện đại 15
1.1.3. Những thành tựu và hạn chế của nghiên cứu, phê bình thơ trong văn học Việt
Nam hiện đại 19
1.1.3. Những thành tựu và hạn chế của nghiên cứu, phê bình thơ trong văn học Việt Nam
hiện đại 19
1.1.4. Một số nhà nghiên cứu, phê bình thơ tiêu biểu 23
1.1.4. Một số nhà nghiên cứu, phê bình thơ tiêu biểu 23
1.2. Đặng Tiến với các công trình nghiên cứu, phê bình thơ 32


1.2. Đặng Tiến với các công trình nghiên cứu, phê bình thơ 32
1.2.1. Đặng Tiến – Giáo sư đại học, nhà nghiên cứu phê bình “tài tử”, có uy tín 32
1.2.1. Đặng Tiến – Giáo sư đại học, nhà nghiên cứu phê bình “tài tử”, có uy tín 32
1.2.2. Hành trình nghiên cứu, phê bình thơ của Đặng Tiến và các công trình tiêu biểu
33
1.2.2. Hành trình nghiên cứu, phê bình thơ của Đặng Tiến và các công trình tiêu biểu 33
1.2.3. “Thơ - thi pháp & chân dung” trên hành trình nghiên cứu, phê bình thơ của
Đặng Tiến 35
1.2.3. “Thơ - thi pháp & chân dung” trên hành trình nghiên cứu, phê bình thơ của Đặng
Tiến 35
Chương 2 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH THƠ CỦA ĐẶNG TIẾN TRÊN
PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG, TƯ TƯỞNG 38
38
38
2.1. Về những vấn đề của thi pháp thơ 38
2.1. Về những vấn đề của thi pháp thơ 38
2.1.1. Những phân tích, luận giải và xác định của Đặng Tiến về đặc trưng của thơ
( tiểu luận: “Thơ là gì?”) 38
2.1.1. Những phân tích, luận giải và xác định của Đặng Tiến về đặc trưng của thơ ( tiểu
luận: “Thơ là gì?”) 38
2.1.2. Những giới thiệu và đánh giá của Đặng Tiến về các nhà thi pháp 40
2.1.2. Những giới thiệu và đánh giá của Đặng Tiến về các nhà thi pháp 40
2.1.3. Về Nguyễn Tài Cẩn và nền thi học Việt Nam 45
2.1.3. Về Nguyễn Tài Cẩn và nền thi học Việt Nam 45
2.1.4. Một số vấn đề khác về thơ ( ý thơ và lời thơ, mấy lối giảng thơ, v.v ) 47
2.1.4. Một số vấn đề khác về thơ ( ý thơ và lời thơ, mấy lối giảng thơ, v.v ) 47
2.1.5. Về một số tác gia, tác phẩm văn học, 50
2.1.5. Về một số tác gia, tác phẩm văn học, 50
2.2. Về chân dung một số nhà thơ Việt Nam tiêu biểu 51
2.2. Về chân dung một số nhà thơ Việt Nam tiêu biểu 51

2.2.1. Tản Đà 51
2.2.1. Tản Đà 51
2.2.2. Về một số nhà thơ mới ( Thế Lữ, Xuân Diệu, ) 52
2.2.2. Về một số nhà thơ mới ( Thế Lữ, Xuân Diệu, ) 52
2.2.3. Một số nhà thơ Việt Nam hiện đại (Quang Dũng, Văn Cao, Lê Đạt, Bùi
Giáng ) 56
2.2.3. Một số nhà thơ Việt Nam hiện đại (Quang Dũng, Văn Cao, Lê Đạt, Bùi Giáng ). 56
2.3. Một số vấn đề, hiện tượng của thơ ca Việt Nam thời trung đại, thời hiện đại 65
2.3. Một số vấn đề, hiện tượng của thơ ca Việt Nam thời trung đại, thời hiện đại 65
2.3.1. Ở thời trung đại 65
2.3.1. Ở thời trung đại 65
2.3.2. Ở thời hiện đại 71
2.3.2. Ở thời hiện đại 71
2.3.3. Một số vấn đề về dân ca vùng, miền trên đất nước Việt Nam 76
2.3.3. Một số vấn đề về dân ca vùng, miền trên đất nước Việt Nam 76
Chương 3 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH THƠ CỦA ĐẶNG TIẾN TRÊN
PHƯƠNG DIỆN THI PHÁP (CÁCH VIẾT) 78
3.1. Thi pháp của Đặng Tiến trong viết tiểu luận về thi pháp thơ 78
3.1. Thi pháp của Đặng Tiến trong viết tiểu luận về thi pháp thơ 78
3.1.1. Cách nêu vấn đề và triển khai bài viết 78
3.1.1. Cách nêu vấn đề và triển khai bài viết 78
3.1.2. Nghệ thuật lập luận 85
3.1.2. Nghệ thuật lập luận 85
3.1.3. Giọng điệu và ngôn ngữ 87
3.1.3. Giọng điệu và ngôn ngữ 87
3.2. Thi pháp của Đặng Tiến trong viết tiểu luận về các chân dung và hiện tượng thơ 91
3.2. Thi pháp của Đặng Tiến trong viết tiểu luận về các chân dung và hiện tượng thơ 91
3.2.1. Thi pháp viết tiểu luận nghiên cứu, phê bình về các chân dung thơ 91
3.2.1. Thi pháp viết tiểu luận nghiên cứu, phê bình về các chân dung thơ 91
3.2.2. Thi pháp viết tiểu luận nghiên cứu, phê bình về các hiện tượng thơ ca 93

3.2.2. Thi pháp viết tiểu luận nghiên cứu, phê bình về các hiện tượng thơ ca 93
3.3. Giọng điệu và ngôn ngữ của Đặng Tiến trong tiểu luận về các chân dung và các
hiện tượng thơ, ca 95
3.3. Giọng điệu và ngôn ngữ của Đặng Tiến trong tiểu luận về các chân dung và các hiện
tượng thơ, ca 95
3.3.1. Giọng điệu 95
3.3.1. Giọng điệu 95
3.3.2. Ngôn ngữ 97
2
3.3.2. Ngôn ngữ 97
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
104
[1]. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội 104
[2]. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội 104
[3]. Huỳnh Phan Anh (1968), “Nghĩ về phê bình”, Tạp chí Tin Văn Sài Gòn, số 4 104
[4]. Nguyễn Ngọc Ảnh (1969), “Nghệ thuật phê bình của Biêlinxki”, Tạp chí Văn học,
số 3 104
[5]. M.Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôttôiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội 104
[6]. Nguyễn Đình Chú (1987), “Văn học Việt Nam những năm 20 của thế kỉ”, Hợp
tuyển văn học Việt Nam, tập V, Nxb Văn học, Hà Nội 104
[7]. Trương Chính (1968), “Phê bình lí trí, phê bình tình cảm”, Tạp chí Văn học, số 1.
104
[8]. Hồng Chương (1949), “Hải Triều, một nhà lí luận, phê bình văn học xuất sắc”, Báo
Thép Mới, số 1 104
[9]. Nguyễn Văn Dân (1991), “Khoa học phê bình với tình hình đổi mới văn học”, Tạp
chí Văn học, số 2 104
[10]. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học - lý luận và ứng dụng, Nxb Giáo
dục, Hà Nội 104

[24]. Hoàng Ngọc Hiến (2009), “Phê bình thơ trong tập sách “thơ” Đặng Tiến”, Tạp chí
Nhà văn Việt Nam 105
[25]. Hoàng Ngọc Hiến (2012), Hoàng Ngọc Hiến… viết (tuyển những bài tiểu luận,
phê bình của Hoàng Ngọc Hiến do Đa Huyên biên soạn), Nxb Lao động, Hà Nội 105
[45]. Nguyễn Đăng Mạnh (2001), Nhà văn - tư tưởng và phong cách, Nxb 107
Đại học Quốc gia, TPHCM 107
[46]. M.Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôttôiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội 107
[47]. Phan Ngọc (1992), “Ảnh hưởng của văn học Pháp tới văn học Việt Nam trong giai
đoạn 1932 - 1940”, Tạp chí Sông Hương, số 2 107
[48]. Lã Nguyên (tháng 5/ 1987), “Phê bình - một nhân tố tổ chức quá trình văn học”,
Tạp chí Văn học 107
[49]. Phạm Xuân Nguyên (2005), “Phê bình văn học hiện nay - cái thiếu và cái yếu”,
Tham luận tại tọa đàm “Phê bình văn học- Bản chất và đối tượng” do Viện Văn học tổ
chức tại Hà Nội 107
[58]. Trần Đình Sử (2010), “Thi pháp học hiện đại trong nghiên cứu văn học ở Việt
Nam thế kỉ 20 - Qua góc nhìn của một người nghiên cứu”, Tạp chí Văn hóa, Nghệ An.
107
[65]. Đỗ Lai Thúy (2014), Vẫy vào vô tận, NXB Phụ nữ 108
[67]. Mai Anh Tuấn, “Khuynh hướng phê bình thi pháp trong phê bình văn học của
người Việt Nam ở nước ngoài”, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa 108
[69]. Lê Thí, “Nhà phê bình Đặng Tiến- Người đi tìm…một thoáng trần gian”,Tạp chí
Sông Hương 108
[70]. Hải Triều , (1935), “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh”, Báo
Đời mới, số tháng 3 ( 24/3/1935), số tháng 4 ( 7/4/1935) 108
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nghiên cứu, phê bình thơ - một lĩnh vực, một ngành vừa là khoa
học vừa là nghệ thuật, có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống văn học
hiện đại. Có biết bao nhiêu khó khăn và thử thách ở đây, đòi hỏi nhà nghiên

cứu, phê bình phải đảm bảo nhiều yếu tố: tài năng, tâm huyết, học vấn, khả
năng Nhưng hình như nền phê bình văn học Việt Nam còn thiếu nhiều yếu
tố để tạo ra một trào lưu hay một phong cách phê bình văn học đích thực.
Chính vì vậy mà mặc dù phê bình văn học Việt Nam có truyền thống từ lâu
đời, tuy nhiên tính chuyên nghiệp còn hạn chế. Nền phê bình văn học Việt
Nam còn thiếu việc đề xuất những tiêu chí phê bình tác giả, tác phẩm có căn
cứ khoa học, có sức thuyết phục, tránh sự tùy tiện chủ quan [26]. Trong phê
bình văn học, phê bình thơ hiện nay, tư tưởng cũng như bút pháp phê bình
còn lộn xộn, có trường hợp đề cao, xưng tụng quá đà, phản cảm, chưa chú
trọng chỉ ra cái độc đáo, cái hay của tác phẩm cả về nội dung (tư tưởng, hiện
thực) và thể hiện nghệ thuật, góp vào nhận diện phong cách và cá tính sáng
tạo vô song của một tác giả. Tiểu luận nghiên cứu phê bình thơ của Đặng Tiến
là những cố gắng đáng kể của tác giả mà chúng tôi thấy cần được khẳng định.
1.2. Đặng Tiến (bút danh Nam Chi, sinh 1940, quê: Đà Nẵng, hiện sống
tại Pháp) - Giáo sư, nhà nghiên cứu phê bình văn học có uy tín, đã có nhiều
công trình nghiên cứu, phê bình văn học có giá trị, nhất là về văn học Việt
Nam Đặng Tiến đã xa Việt Nam gần nửa thế kỉ, và hiện tại cũng không ở
Việt Nam, nhưng qua những bài viết của ông có thể thấy Đặng Tiến là một
cây bút phê bình thuần Việt, đậm chất Việt. Sự khác biệt là tuy trước 1975
Đặng Tiến sống ở chế độ khác và bây giờ ông sống ở hải ngoại nhưng vẫn
được mọi người chào đón và khẳng định. Điều gì đã làm nên sức hấp dẫn ấy,
tư tưởng, phong cách, hay ngôn ngữ?… Chúng tôi thấy cần tìm hiểu thêm để
khẳng định cho sự đóng góp của Đặng Tiến cho nền lí luận phê bình nước
nhà. Từ việc nghiên cứu lí luận phê bình thơ của Đặng Tiến có thể tìm đến
4
những đóng góp của các tác giả khác có hoàn cảnh tương tự. Theo chúng tôi,
đây cũng chính là cách làm giàu thêm, phong phú thêm lí luận phê bình của Việt
Nam.
1.3. Không ít tiểu luận nghiên cứu, phê bình thơ của Đặng Tiến, đặc
biệt các tiểu luận được tập hợp trong Thơ - thi pháp & chân dung, (Nxb Phụ

nữ, Hà Nội, 2009) đã gây được sự chú ý cao của giới nghiên cứu, phê bình và
đông đảo bạn đọc gần xa Mọi ý kiến đều giành những lời khẳng định cho
những đóng góp của Đặng Tiến. Chúng tôi thấy trong cách viết, ông có nhiều
nét độc đáo, từ quan niệm về thơ, cách nhìn nhận con người hay phân tích tác
phẩm Đấy là tài năng hay thái độ sống của Đặng Tiến với văn học, với con
người, với dân tộc Chúng tôi thấy cần thêm một lần được cắt nghĩa tường
minh hơn.
1.4. Thơ - thi pháp & chân dung là một tập lí luận phê bình mà ở đó
Đặng Tiến đã chứng tỏ bản lĩnh nghề nghiệp, kiến thức sâu rộng và sự tài hoa
khi viết về thơ Việt Nam qua các tác giả ở nhiều thế kỷ, hoàn cảnh, địa lý
khác nhau, trong nỗi nhớ thiết tha với quê Việt, tiếng Việt. Từ bài mở đầu
“Thơ là gì?”, cùng 2 bài viết về nhà ngữ học Roman Jakobson (1896 – 1982)
và nhà bác học Claude Lévi – Strauss (SN 1908) với kiến giải kỹ càng về thi
Pháp, Đặng Tiến đã đi sâu phê bình nhiều tác giả với xúc cảm và phương
pháp luận kỹ càng của một nhà khoa học, nghiên cứu sâu mà vẫn có nhiều câu
xuất thần, bất ngờ, khai thác nhiều vẻ đẹp, sâu và mới cho tác phẩm. Đặt sòng
phẳng chuyên môn với các nhà phê bình Việt Nam, bỏ yếu tố địa lý nơi sinh
sống, Thơ - thi pháp và chân dung là của hiếm của một sức viết đáng nể. Như
vậy nghiên cứu tiểu luận và phê bình của Đặng Tiến, đặc biệt với Thơ - thi
pháp & chân dung, (Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2009) là việc làm cần thiết và có ý
nghĩa khoa học sâu sắc trên nhiều phương diện
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu về Đặng Tiến và các công trình
nghiên cứu, phê bình văn học của tác giả
5
Đặng Tiến khởi đầu là nhà giáo, đi làm ngoại giao và cuối cùng lại trở
về dạy học. Ông đã nói về cuộc đời mình: “Tôi sinh 1940 tại xã Hòa Tiến, TP.
Đà Nẵng. Năm 1960, vào Sài Gòn học Đại học Văn Khoa – 1963 ra trường, đi
dạy tại trường cấp 3 A.Yersin (Đà Lạt). Tôi học trường Pháp từ nhỏ, nên có
điều kiện tiếp xúc nhiều sách báo Pháp, thuận lợi trong giao tiếp, mở mang.

Từ 1966, tôi sang Berne (Thụy Sĩ) làm ngoại giao. Từ 1968, tôi về Pháp, học
thêm ở Đại học Paris và bắt đầu công việc dạy Pháp văn 4 ngày (18 giờ)/tuần
cho một trường cấp 3 ở Orléans (cách Paris 100km) - nơi chúng tôi sống đến
nay và lập ra Ban Việt học tại ĐH Paris 7, giảng dạy ở đây từ 1969 - 2005, với
4 giờ/1 tuần”. Hiện nay Đặng Tiến đang nghỉ hưu tại Orléans (Pháp) và đã
nhiều lần về thăm quê. Ông là người có nhiều công trình nghiên cứu phê bình
văn học đăng trên các tạp chí Văn, Bách Khoa (trước 1975), Văn Học, Đoàn
Kết (sau 1975). Đã xuất bản Vũ trụ thơ (Giao điểm, 1972), Vũ trụ thơ II (Thư
ấn quán, Hoa Kì, 2008), Thơ - Thi pháp và chân dung (Nxb Phụ Nữ, 2009).
Đặng Tiến bộc lộ ông đã chọn thơ “vì nắm quy luật, đọc và giải mã
được. Thú thật là với tôi, thơ đọc nhanh, viết dễ hơn văn xuôi ("Gửi độc giả
niềm tin và tình yêu Việt Nam”). Và đến với phê bình thơ của Đặng Tiến
đúng như vậy, luôn đọc, dõi theo các tác giả phía Bắc, từ xưa Nguyễn Trãi,
Bà Huyện Thanh Quan, đến Tản Đà, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu,
Quang Dũng, Văn Cao, Tú Mỡ, Lê Đạt, Vũ Cao cùng các nhà thơ ở Sài Gòn.
Văn chương nói riêng và nghệ thuật nói chung không phân chia giới hạn.
Về Nghệ thuật, Đặng Tiến quan niệm: “Nghệ thuật không phát sinh từ
một dụng tâm, mà chỉ là thể hiện tiềm thức sáng tạo của con người, vai trò
của ý thức chỉ là sắp xếp”. “Thi ca sử dụng ngôn từ vào một đối tượng khác,
nghĩa là sáng tạo một nghĩa mới cho ngôn ngữ”.
Về tập sách Thơ – Thi pháp và chân dung của Đặng Tiến, có gần bốn
trăm trang bàn về những tác gia và tác phẩm thơ Việt. Đây là cách nhìn của
Đặng Tiến… Tác giả đề cập đến Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi Tập thơ
Việt Nam đầu tiên, Nữ tính trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, thi sĩ
6
của phôi pha, Đức tin trong hồn thơ Hàn Mặc Tử, Những đóng góp của Thế
Lữ vào phong trào Thơ mới, Hành trình Xuân Diệu, Thơ thời kỳ kháng chiến
chống Pháp, Quang Dũng, Một thoáng mơ phai, Văn Cao, Lá khát vọng, Lê
Đạt và Bóng chữ, Hoàng Trúc Ly - Nụ cười trong và đôi mắt sáng, Thi giới
Đinh Hùng, Bùi Giáng nguồn xuân, Đồng chí của Chính Hữu, Núi Đôi của

Vũ Cao, Trường Sơn của Phạm Tiến Duật… và nhiều thi sĩ, thi phẩm khác.
Để triển khai các nội dung này, Đặng Tiến đã trình bày một cách lược
quát nhất các ý kiến của các học giả nổi tiếng như: Mallarmé, Valéry, Breton,
Sartre, Lévi-Strauss, Jacobson Ngoài ra, ông cũng không quên liên hệ các ý
kiến của họ với cách phát biểu của một số học giả phương Đông xưa và nay,
chẳng hạn như Trang Tử, Nguyễn Văn Trung, Phan Ngọc để cuối cùng đi
tới việc khẳng định một định đề tiêu biểu "thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm
cứu cánh" hay "thơ là ngôn ngữ trong một ngôn ngữ" [tr.26, 64].
Thơ – Thi pháp và chân dung của nhà phê bình văn học Đặng Tiến là
các vấn đề của thơ Việt trong nửa thế kỷ qua, ở cả hai miền Bắc và Nam,
ngoài nước và trong nước, lần đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam, trong một
hình thức hợp tuyển độc đáo, gồm những bài phê bình đã đăng rải rác được
viết theo cách tiếp cận riêng để thấy thơ “như một ngôn ngữ tự lấy mình làm
đối tượng” (với Đặng Tiến).
2.2. Các ý kiến đã có về tiểu luận nghiên cứu, phê bình của Đặng Tiến,
đặc biệt về cuốn Thơ - thi pháp & chân dung
Lê Thí cho rằng: “Điểm đặc biệt nhất trong lối bình thơ của Đặng Tiến
là câu văn của lời bình luôn mới mẽ và đầy thi tính” [69]. Khi nhận định về
thơ, Đặng Tiến viết: “Nguồn thơ nào không mang ít nhiều nhan sắc của phôi
pha nếu bản chất của thơ không phải chính là di tích của phôi pha”. Khi bàn
về Truyện Kiều có nhiều nhận định mới: “Yêu một tác phẩm nghệ thuật như
yêu một người con gái, mỗi lần yêu là khám phá ở họ một trinh tiết mới.
Chúng ta yêu Kiều và Kim Trọng yêu Kiều bằng hai mối tình khác nhau”,
hoặc “Giá trị của Truyện Kiều không phải là thành tố mà là ánh sáng của nó.
7
Ánh sáng là niềm tin của con người vào ngôn ngữ bên trong vĩ tuyến của định
mệnh và bên ngoài kinh tuyến của lịch sử”.
Văn của Đặng Tiến bài nào cũng thuần chất hồn Việt đến nỗi người
chưa biết ông có thể sẽ nhầm tưởng ông là người chưa từng ra nước ngoài
bao giờ. Nếu quan sát từ cách lập ý đến cách triển khai các lời bình trong Thơ

- Thi pháp và chân dung, không khó khăn cũng nhận ra ở Đặng Tiến sự sâu
lắng trong cốt cách tư duy Á Đông, trong kiểu thẩm thơ tinh tế và mẫn tiệp,
một năng lực có lẽ là thiên bẩm mà ông được ban tặng. Vì thế, trong giữa
muôn vàn các bài viết về cùng nhà thơ ấy, về cũng tư tưởng ấy, Đặng Tiến
vẫn tạo cho mình được một cá tính riêng. Đó là lối bình văn bóng bảy, có hàm
ý và có sự uyên thâm trong dẫn liệu và quá trình chắp nối các mạch liên
tưởng.
Hoàng Ngọc Hiến đánh giá: “Đáng quý nhất trong tập sách này là
những ý kiến riêng của Đặng Tiến về thơ và phê bình thơ” [24]. “Đặng Tiến
là một “fan” của Jakobson. Ông có sự ráo riết trong đầu óc phân tích, sẵn sàng
đẩy tới mọi sự trừu xuất nhưng mặt nào đó ông gần với minh triết của Valéry
trong tư duy về thơ. Thuyết trình lý thuyết của Jakobson ông luôn có sự tỉnh
táo. Khẳng định luận điểm cơ bản của Jakobson: “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy
mình làm đối tượng” ông có sự rào trước: ở đây có “sự nói quá đi một chút”.
Về việc đưa luận điểm này vào sự phân tích thi ca ông có lời dè chừng: “…
chúng ta phải dè dặt, vì bài thơ là một mô hình phức tạp. Cái nhìn khoa học…
là cần nhưng chưa đủ để nắm bắt câu thơ”. Cần có sự “tổng hợp nhất quán”
nhiều ngữ cảnh, nhiều quan hệ mà trực giác mách bảo, trong thao tác này tư
duy suy lý xem ra bất lực”.
Hữu Đạt đã có bài phân tích khá cặn kẽ về Thơ – Thi pháp & chân dung
của Đặng Tiến và cho rằng cuốn sách không sáo rỗng, mà có sức hấp dẫn ở sự
sáng tạo, phát hiện: “Đặng Tiến đã trình bày một cách lược quát nhất các ý kiến
của các học giả nổi tiếng như: Mallarmé, Valéry, Breton, Sartre, Lévi-Strauss,
Jacobson Ngoài ra, anh cũng không quên liên hệ các ý kiến của họ với cách
8
phát biểu của một số học giả phương Đông xưa và nay, chẳng hạn như Trang
Tử, Nguyễn Văn Trung, Phan Ngọc để cuối cùng đi tới việc khẳng định một
định đề tiêu biểu “thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh" hay "thơ là
ngôn ngữ trong một ngôn ngữ". Sự cố gắng đáng ghi nhận của Đặng Tiến
chính là ở chỗ, khi viết về lý luận ông luôn chủ động tìm cách diễn đạt cho

thật dễ hiểu, tránh sử dụng xô bồ các thuật ngữ theo lối cầu kỳ kinh viện.
Đọc bình luận của Đặng Tiến, Hữu Đạt cho rằng Đặng Tiến đã cố găng
hết sức tìm mọi cách khai thác những giá trị ngữ nghĩa của từng con chữ hay
giá trị biểu đạt nôi dung họăc tình thái của mỗi âm thanh (của nguyên âm, phụ
âm, vần hay thậm chí của cả thanh điệu) để làm nổi bật tài nghệ của các thi sĩ,
vơi tư cách là "các nhà nghệ thuật của ngôn từ".
Mai Anh Tuấn trong Khuynh hướng phê bình thi pháp trong phê bình
văn học của người Việt Nam ở nước ngoài [67] chỉ ra điểm mạnh của Đặng
Tiến: “ông nhấn mạnh tính cách thẩm mĩ của ngôn ngữ qua hai điểm, nhạc
điệu và hình ảnh”. Chính vì vậy mà có được sự thành công khi khai triển đề
tài chất thơ trong văn xuôi Nguyễn Tuân, sau khi nhắc lại định nghĩa thơ là
một ngôn ngữ, một kĩ thuật, Đặng Tiến còn bổ sung thêm: “một là cái nhìn,
cách nhìn khám phá vẻ đẹp trong không gian và nhân ảnh; hai là niềm rung
động, nếp suy nghĩ đặc biệt để chắt lọc rồi biến hóa thành hình ảnh bên
ngoài”. Đặng Tiến phát hiện chất thơ trên trang văn từ âm thanh đến hình ảnh,
khi là “nhịp câu văn, những âm vận luyến láy” khi thì “âm hưởng một câu
đồng dao”, “âm điệu những câu tục ngữ, ca dao quen thuộc”, khi nhất quyết:
“những trang thi vị nhất của Nguyễn Tuân về sau, có lẽ là những trang tả
cảnh, gợi lên vẻ đẹp muôn màu của đất nước, nhất là những phong cảnh sơ
ngộ, trên một đất nước cố tri”. Và Mai Anh Tuấn biểu dương “Viết năm 1987,
có thể nói, giữa văn đàn lúc đó, lời tiễn biệt của Đặng Tiến giành cho bậc tài
tình Nguyễn Tuân đã chạm vào thi pháp, phong cách nhà văn này”. Nhưng
đồng thời Mai Anh Tuấn cũng chỉ ra nét hạn chế của Đặng Tiến: Phê bình thi
pháp thơ của Đặng Tiến chỉ tập trung vào khuynh hướng nghệ thuật mơ hồ,
9
đa nghĩa. Đặng Tiến chỉ viết hay về thơ “dòng nghĩa”, hoặc nằm trên ranh
giới dòng nghĩa - dòng chữ. Còn lại, dường như ông ít thành công với thơ
dòng chữ đích thực.
Trong suốt hơn ba thập niên cầm bút phê bình, Đặng Tiến duy trì tín
ngưỡng ngôn ngữ và không ngừng phát hiện nó trong nhiều tác giả, tác phẩm

nghệ thuật tiêu biểu, khiến có khi ông được coi là nhà phê bình duy mĩ mà lối
thẩm bình của ông như thể một vũ trụ riêng, sóng sánh giữa lí thuyết và trực
cảm, giữa ấn tượng và khoa học.
2.3. Luận văn có thể coi là công trình tìm hiểu tiểu luận nghiên cứu,
phê bình thơ (thi pháp và chân dung) của Đặng Tiến (được tập hợp trong Thơ
- thi pháp & chân dung) với cái nhìn tập trung và hệ thống
Như vậy có thể thấy Tiểu luận phê bình của Đặng Tiến là một công
trình nghiên cứu thuần Việt, đậm chất Á Đông, hơn thế nữa có tư tưởng riêng,
có phong cách riêng không bị ràng buộc bới ý thức hệ chính trị trong nội dung
tư tưởng của mỗi tác phẩm và tác giả.
Đề tài nghiên cứu Tiểu luận nghiên cứu phê bình thơ của Đặng Tiến sẽ
tiếp tục đi sâu khám phá, làm rõ hơn những nét phong cách trên, ngõ hầu
khẳng định những đóng góp của tác giả cho nền lí luận phê bình của Việt
Nam hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Tiểu luận nghiên cứu, phê bình
thơ của Đặng Tiến (Qua khảo sát tập Thơ - thi pháp & chân dung)
3.2. Giới hạn của đề tài:
- Đề tài bao quát các bài tiểu luận nghiên cứu, phê bình thơ của Đặng
Tiến được tập hợp trong Thơ - thi pháp & chân dung
- Văn bản tác phẩm dùng để khảo sát, luận văn dựa vào cuốn: Thơ - thi
pháp & chân dung, (Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2009).
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
10
4.1. Mục đích nghiên cứu
Qua khảo sát, phân tích, đối sánh luận văn nhằm chỉ ra những đặc sắc
của tiểu luận nghiên cứu, phê bình thơ (thi pháp và chân dung) của Đặng
Tiến, khẳng định những đóng góp của tác giả cho nền lí luận phê bình của
Việt Nam hiện nay.

4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1. Đưa ra một cái nhìn chung về tiểu luận nghiên cứu, phê bình thơ
của Đặng Tiến trong bối cảnh của nghiên cứu, phê bình thơ Việt Nam hiện đại.
4.2.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá những thành công của Đặng Tiến
trong nghiên cứu, phê bình về nhiều vấn đề, nhiều hiện tượng của thơ Việt Nam.
4.2.3. Nghiên cứu chỉ ra những đóng góp của Đặng Tiến trong khoa
học và nghệ thuật viết tiểu luận phê bình thơ (thi pháp và chân dung)
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó
có các phương pháp chủ yếu: phương pháp phê bình, phương pháp phân tích -
tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp cấu trúc - hệ
thống… (Phương pháp phê bình: sử dụng để “phê bình về sự phê bình” ;
Phương pháp phân tích - tổng hợp: sử dụng để phân tích các biểu hiện cụ thể
của phong cách, tổng hợp và rút ra nhận xét, kết luận; Phương pháp so sánh -
đối chiếu: sử dụng để so sánh các lối viết phê bình giữa Đặng Tiến với các
nhà nghiên cứu, phê bình khác; Phương pháp cấu trúc - hệ thống: sử dụng để
tổ chức, kết cấu, hệ thống các vấn đề được nghiên cứu thành một cấu trúc
chỉnh thể)
6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1. Đóng góp
Luận văn là công trình tìm hiểu, nghiên cứu, phê bình tiểu luận nghiên
cứu, phê bình thơ (thi pháp và chân dung) của Đặng Tiến với cái nhìn tập
trung và hệ thống.
11
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
tìm hiểu, nghiên cứu tiểu luận nghiên cứu, phê bình thơ của Đặng Tiến nói
riêng, tiểu luận nghiên cứu, phê bình trong văn học Việt Nam nói chung.
6.2. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được triển khai
trong ba chương:

Chương 1: Tiểu luận nghiên cứu, phê bình thơ của Đặng Tiến trong bối
cảnh của nghiên cứu, phê bình thơ Việt Nam hiện đại.
Chương 2: Tiểu luận nghiên cứu, phê bình thơ của Đặng Tiến trên
phương tiện nội dung, tư tưởng.
Chương 3: Tiểu luận nghiên cứu, phê bình thơ của Đặng Tiến trên
phương diện thi pháp (cách viết)
Cuối cùng là Tài liệu tham khảo.
12
Chương 1
TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH THƠ CỦA ĐẶNG TIẾN
TRONG BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH THƠ
VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1. Tổng quan về nghiên cứu, phê bình trong văn học Việt Nam
hiện đại
1.1.1. Ngành nghiên cứu, phê bình trong văn học Việt Nam hiện đại
Như chúng ta đã biết, có sáng tác văn học là hầu như có hoạt động phê
bình (dưới nhiều hình thức, nhiều trạng thái khác nhau) Tuy nhiên, để phê
bình văn học trở thành một ngành với đúng nghĩa của khái nhiệm này, thì đòi
hỏi phái có nhiều yếu tố, điều kiện
Văn học không phải là hiện tượng nhất thành bất biến. Trên phạm vi toàn
thế giới, trước và sau thế kỉ XVII, văn học tồn tại trong những hình thái lịch
sử hoàn toàn khác nhau. Ở Việt Nam cũng vậy, cho đến tận cuối thế kỉ XIX,
văn học dân tộc vẫn dừng lại ở phạm trù trung đại, mang tính cổ điển. Từ đầu
thế kỉ XX, văn học Việt Nam đã phá vỡ cái thế khoanh vùng, khép kín để gia
nhập vào tiến trình văn học nhân loại. Đây chính là quá trình liên tiếp xuất
hiện những cách tân nghệ thuật khiến cho diện mạo nền văn học nước nhà
hoàn toàn thay đổi theo hướng hiện đại hoá [30].
Phê bình là sự tự ý thức của văn học. Tương ứng với các hình thái tồn
tại của văn học, phê bình cũng có các hình thái lịch sử khác nhau. Văn học cổ
điển Việt Nam tồn tại như tổng số giản đơn của những tác phẩm riêng lẻ. Vì

thế người ta nhận ra diện mạo của nó qua tên tuổi một số tác gia tiêu biểu
cùng một hệ thống các loại thể tác phẩm có đường ranh giới phân chia khá
rạch ròi. Tương ứng với hình thái tồn tại của văn học, trước thế kỉ XX, phê
bình chỉ dừng lại ở lối phê bình kiểu cổ, thiên về đánh giá, phẩm bình hơn là
phân tích, giải thích các hiện tượng văn học. Nó chỉ cần biết tới văn bản tác
phẩm với những “thần cú”, “nhãn tự”, mà không cần biết tới những quan hệ
xã hội phức tạp đã sản sinh ra tác phẩm đó [15]. Chỗ dựa để đánh giá, phẩm
13
bình của nó là các chuẩn mực quy phạm, chứ không phải là cá tính sáng tạo
của nhà văn. Hai dạng cơ bản của phê bình kiểu cổ là phê bình tri âm và phê
bình kí thác. Nói như thế để thấy, phê bình kiểu cổ thường đứng ngoài, đứng
trên quá trình văn học để phẩm bình, đánh giá văn học.
Chỗ dựa của các kiểu sáng tác hiện đại không phải là những phạm trù
xã hội quy phạm, mà là tính sáng tạo của nhà văn. Đây là cơ sở tạo nên những
phong cách cá nhân đa dạng, những trào lưu, trường phái sáng tác có quan
điểm xã hội - thẩm mĩ riêng. Khác với văn học trung đại, từ đầu thế kỉ XX,
nhất là từ những năm 30, văn học Việt Nam vận động và phát triển trong mối
quan hệ tương tác vô cùng phức tạp của các khuynh hướng, trào lưu nghệ
thuật. Phù hợp với hình thái tồn tại lịch sử của văn học, phê bình hiện đại
buộc phải trở thành một hiện tượng xã hội đặc thù. Khác với phê bình kiểu cổ,
phê bình hiện đại là một hoạt động tác động, nó vừa tác động vào công chúng
bạn đọc để tạo ra dư luận đối với tác phẩm văn học, vừa tác động vào sáng tác
để thúc đẩy văn học tiến lên phía trước. Chính vì thế, phê bình hiện đại không
thể đứng ngoài, đứng trên, mà nhập hẳn vào quá trình văn học với tư cách là
nhân tố tổ chức, định hướng cho hoạt động sáng tác. Cũng bởi vậy, lịch sử
phê bình hiện đại là bộ phận hợp thành quan trọng của lịch sử tiến trình văn
học. Việc nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của phê bình văn học
Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 cũng là nhằm góp phần nghiên cứu
lịch sử văn học nước nhà một cách toàn diện hơn, đầy đủ hơn [47].
Là bộ phận hợp thành của quá trình văn học, phê bình vẫn giữ được vị

trí độc lập tương đối của nó. Điều này thật dễ hiểu. Bên cạnh những mặt
tương đồng, hoạt động sáng tác và hoạt động phê bình văn học có rất nhiều
điểm khác nhau. Chẳng hạn, đối tượng nhận thức, phản ánh của sáng tác văn
học là toàn bộ hiện thực đời sống đang vận động, biến đổi, trong khi đó đối
tượng nhận thức, phân tích của phê bình lại là tác phẩm văn học, là cuộc sống
đã được nhào nặn qua hoạt động sáng tạo của nhà văn, là câu chữ cùng toàn
bộ hình thức nghệ thuật được nhà văn sử dụng để thể hiện tư tưởng, tình cảm
của mình [75]. Tư duy sáng tạo văn học chủ yếu là tư duy hình tượng, trong
14
đó vai trò của trực cảm hết sức quan trọng, còn tư duy lí luận, phê bình lại chủ
yếu là tư duy lôgíc. Khi sáng tác, nhà văn cần phải say, còn khi phân tích văn
học, nhà phê bình phải tỉnh táo. Chưa phải là người “độc vạn quyển thư, hành
thiên lý lộ”, khó có thể trở thành nhà văn lớn. Nhưng nhà văn đến với sáng tác
lại chủ yếu bằng tài năng, bằng cái khiếu bẩm sinh, cho nên, trẻ con lên năm,
lên sáu đã có thể viết văn, làm thơ. Huygô lừng danh trong văn học Pháp,
Puskin trở thành niềm hi vọng của văn học Nga và cả thế giới khi tuổi còn rất
trẻ, và ở Việt Nam, người ta biết đến tên tuổi của Trần Đăng Khoa khi nhà thơ
ấy mới ở độ tuổi chín, mười và đang học ở bậc tiểu học… Không có tài cũng
có hi vọng trở thành nhà phê bình lớn, nhưng rõ ràng, nhà phê bình đến với
văn chương chủ yếu là bằng sự hiểu biết hơn là bằng năng khiếu văn chương.
Ta hiểu vì sao, những ai không có học vấn, không có kiến văn rộng rãi thì
không thể trở thành nhà phê bình được! Nói như thế để thấy, hoạt động lí luận
phê bình văn học có những tiền đề xã hội, những vấn đề lịch sử, văn hoá riêng
của mình. Trong quá trình hình thành và phát triển, phê bình văn học có
những quy luật vận động của sáng tác văn học [29].
Một nền văn học lớn không thể thiếu những nhà văn, nhà thơ lớn. Cũng
như thế, sẽ không có nền phê bình lớn nếu thiếu vắng những nhà phê bình
lớn. Cho đến tận cuối thế kỉ XIX, các nhà văn, nhà thơ của chúng ta vẫn “tự
túc” công việc phê bình. Ở thời ấy, các nhà phê bình đồng thời cũng là những
người sáng tác. Từ đầu thế kỉ XX, nhất là từ những năm 30, nền phê bình văn

học mang tính chuyên nghiệp bắt đầu xuất hiện và trưởng thành rất nhanh
chóng [38]. Trên văn đàn thấy xuất hiện nhiều tên tuổi, nhiều cây bút có ảnh
hưởng to lớn tới sự vận động và phát triển của tiến trình văn học như: Thiếu
Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều…
1.1.2. Nghiên cứu, phê bình thơ trong Văn học Việt Nam hiện đại
Nghiên cứu, phê bình thơ được xem như là một hoạt động chuyên
nghành. Nó là con đẻ của sự hiện đại hóa văn học thế kỷ XX. Trong tiến trình
hiện đại hóa, phê bình văn học Việt Nam đã trưởng thành bằng việc tiếp thu,
15
tự giác hoặc không tự giác, các tư tưởng phê bình của văn học phương Tây
được kết tinh trong lí thuyết và được cụ thể hóa trong phương pháp.
Có thể xem Phê bình và Cảo luận của Thiếu Sơn là cuốn sách đầu tiên
của phê bình văn học Việt Nam, đặt nền móng cho lối tiếp cận khoa học
khách quan hoàn toàn mới mẻ được thể hiện ở nhiều phương pháp khác
nhau. Sau 1945, phê bình xã hội học mác-xít toàn thắng. Và, trong một thời
gian dài, nó trở thành phương pháp độc tôn. Các phương pháp được hình
thành (và đã có những thành công lớn) trước 1945 như phê bình ấn tượng, phê
bình tiểu sử, phê bình văn hóa - lịch sử không còn tiếp tục phát triển nữa mà
vỡ ra thành những yếu tố gia nhập vào phê bình xã hội học mác-xít. Phương
pháp này, một mặt đã mang lại nhiều thành công cho phê bình văn học Việt
Nam, mặt khác, do tự làm nghèo mình đi bởi sự độc tôn, nên vấp phải một số
vấn đề nghệ thuật nan giải, như phản ánh luận, nội dung và hình thức [34].
Những phương thuốc bốc cho nó như: nhấn mạnh đặc trưng nghệ thuật của sự
phản ánh, đảo lại trật tự các chức năng, đưa ra lí thuyết “phản nghiền” đều
không mang lại nhiều kết quả, bởi lẽ đấy chỉ là những sửa chữa bộ phận trong
một ngôi nhà tổng thể. Phê bình văn học Việt Nam, để thoát khỏi những vấn
nạn đó, cần phải được bổ sung thêm những phương pháp khác cập nhật và cập
thế giới hơn.
Từ 1986, thời kỳ Đổi mới và Mở cửa, trước hết, đã “tháo khoán” và
khuyến khích những lối tiếp cận từ ngôn ngữ học cấu trúc của F.de Saussure:

phê bình phong cách học của Phan Ngọc với Tìm hiểu phong cách Nguyễn
Du trong Truyện Kiều (1985), phê bình thi pháp học của Trần Đình Sử trong
Thi pháp thơ Tố Hữu Đồng thời, những cấm kỵ về Freud và phê bình phân
tâm học cũng được dỡ bỏ Bởi thế, bước đầu đã xuất hiện những công trình
đi theo hướng này của Đỗ Lai Thúy như Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm
(1997) và Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực (1999) [39].
Như vậy, phê bình văn học Việt Nam đã tiếp thu được nhiều phương
pháp của thế giới. Nhưng, điều quan trọng hơn là trong một thế kỷ qua nó đã
16
đi lại, dù không tự giác, đúng cái diễn trình của tư tưởng phê bình văn học thế
giới: đó là hành trình tác giả - tác phẩm - người đọc. Chính ở điều này cho ta
thấy một cái gì đó như là quy luật (dù là hậu nghiệm): Các văn học dân tộc dù
xa cách nhau đến đâu về không gian và thời gian (điều có thể tạo thành bản
sắc) thì sớm muộn gì cũng phải đi trên một con đường như nhau. Khác chỉ là
khác ở cách đi .
Nếu như ở phương Tây, phê bình văn học vận hành theo kiểu con lắc
thì phê bình văn học Việt Nam, ngược lại, do phải dùng đến cây gậy rút
đường, nên phương pháp này xuất hiện, chưa trải hết mình thì đã có một
phương pháp khác xuất hiện, chồng lên nó, và cả hai díu nhau đi như những
con sóng gối đầu để đến bờ [11]. Bởi thế, có những khoảng thời gian phê bình
văn học Việt Nam cùng xuất hiện và cùng tồn tại (hoặc trước sau chút xíu
không đáng kể) nhiều phương pháp phê bình. Ví như, chỉ từ 1932 đến 1945
đã lần lượt xuất hiện các phương pháp (chỉ xin kể những cái rõ nét hơn cả),
như phê bình phân tâm học với Hồ Xuân Hương tác phẩm, thân thế và văn tài
(1936) của Nguyễn Văn Hanh, phê bình ấn tượng với Thi nhân Việt Nam (1942)
của Hoài Thanh, phê bình tiểu sử với Hàn Mặc Tử (1941) của Trần Thanh Mại,
phê bình văn hóa - lịch sử với Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942) của Trương
Tửu, phê bình mác-xít với Hải Triều, với Văn học khái luận của Đặng Thai Mai,
với Tâm lí và tư tưởng Nguyễn Công Trứ của Trương Tửu. Hoặc từ 1985 đến
2000: phê bình phong cách học với Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong

Truyện Kiều (1985) của Phan Ngọc, phê bình thi pháp học với Thi pháp thơ Tố
Hữu (1987) của Trần Đình Sử, với Thi pháp hiện đại (2000) của Đỗ Đức Hiểu,
phê bình phân tâm học với Đi tìm ẩn ngữ thơ Hoàng Cầm (1997) và Hồ Xuân
Hương hoài niệm phồn thực(1999) của Đỗ Lai Thúy
Do tình trạng nước rút như vậy, nên các phương pháp phê bình văn
học Việt Nam không thể không có sự đơn giản hóa. Như đã biết, mỗi một
phương pháp phê bình ra đời bao giờ cũng có những cơ sở lí thuyết của nó.
Có hiểu được cái cơ sở này thì mới hiểu sâu được phương pháp để sử dụng nó
17
một cách linh hoạt và sáng tạo. Các nhà phê bình Việt Nam, khi vận dụng một
phương pháp nào đó, ít có những trình bày lí thuyết. Họ chỉ đưa ra một vài
thuyết minh, nhận xét nặng cảm tính về công việc mình làm. Đặc biệt là các phê
bình gia trước 1945. Có thể, trong hoàn cảnh thông thương ngoại ngữ bấy giờ, độc
giả không xa lạ với các phương pháp của Sainte-Beuve, Brunetière, Lanson
thậm chí họ còn được học trong nhà trường, nên phần giới thiệu lí thuyết là thừa,
cốt yếu là vận dụng thế nào[21]. Bởi thế, không ít người thấy những Thiếu Sơn,
Vũ Ngọc Phan, Trần Thanh Mại, Hoài Thanh không nói gì, nên cứ tưởng rằng họ
là những hiện tượng thuần túy Việt Nam, không có dây mơ rễ má gì với ngoại
nhân. Chỉ có Trương Tửu là ngoại lệ. Và sau 1945, một số ít khác như Phan Ngọc,
Trần Đình Sử cũng là ngoại lệ. Có lẽ, những phương pháp họ áp dụng đã vượt ra
ngoài những tri thức thông thường đương thời của số đông.
Cuối cùng, sự đơn giản hóa còn thể hiện ở chỗ khi vận dụng một
phương pháp, nhà phê bình dễ lược quy vào một vài công thức nào đó. Ví
như, khi vận dụng phân tâm học Freud vào nghiên cứu Hồ Xuân Hương,
Nguyễn Văn Hanh chỉ sử dụng công thức dồn nén là ẩn ức và thăng hoa.
Công thức này về sau đã trở thành chiếc chìa khóa vạn năng dường như mở
được vào mọi tác phẩm có vấn đề tính dục. Tệ hơn, khi đã trở thành khuôn
mẫu rồi thì người ta lại lấy tác phẩm để chứng minh công thức. Rồi các công
thức khác thi nhau ra đời như phong cách là sự chọn lựa, rồi thi pháp học là
quan niệm về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật Thế là

sự vận dụng phương pháp từ những thế hệ thứ hai, thứ ba trở đi đã thành cằn
cỗi và sai lạc. Phương pháp mới mà dẫn đến kết quả cũ khiến người ta dễ hoài
nghi cái mới, thật là lợi bất cập hại [20].
Từ sự đồng tồn hoặc gối tiếp nhau của các phương pháp nói trên dẫn
đến hiện tượng xâm nhập lẫn nhau của các phương pháp. Từ đó, phê bình văn
học Việt Nam ít có những phương pháp thuần túy, chuyên nhất, mà bao giờ
cũng có sự pha tạp. Ví như, phương pháp ấn tượng của Hoài Thanh thì cũng
không hẳn là ấn tượng chủ nghĩa như của nước ngoài. Nhà văn hiện đại của
18
Vũ Ngọc Phan là sự tranh chấp giữa phê bình khoa học và phê bình ấn tượng,
giảng giải, nhận xét vụn vặt. Đến người cực đoan như Trương Tửu, Phan
Ngọc mà trong hai tác phẩm viết về Truyện Kiều của các ông cũng còn thấy
sự không thuần nhất về phương pháp. Trương Tửu thì vừa văn hóa lịch sử vừa
phân tâm học, còn Phan Ngọc thì những yếu tố xã hội học cứ đâm chen vào
phong cách học [49].Có thể, hấp lực của phê bình xã hội học thời kỳ thanh
xuân và áp lực của nó thời kỳ độc tôn đã gây ra hiện tượng này. Nhưng cũng
có thể do con người trồng trọt trong mỗi người Việt Nam có bản chất đa canh
chứ không phải chuyên canh. Bởi thế, phê bình văn học Việt Nam không có
những người chuyên trị một phương pháp. Thường thì dễ chuyển từ phương
pháp này sang phương pháp khác sau một lần thu hoạch hoa lợi [44].
Cuối cùng, đấy cũng là lí do để nhà phê bình có thể tiếp cận tác phẩm
theo toàn bộ hệ thống văn học: tác giả - tác phẩm - người đọc. Dĩ nhiên là một
hệ thống mở. Đây là cách tiếp cận tổng thể. Đặc biệt ngoài việc phê bình
những tác phẩm, tác giả cụ thể, phê bình trong văn hoá hậu hiện đại ngày nay
còn đặc biệt chú trọng đến các vấn đề của bản thân văn học và các vấn đề do
văn học đặt ra, như vấn đề văn chương hậu thuộc địa, giới và bình đẳng giới,
vấn đề quyền lực, sự thật và diễn giải…. Tất cả những vấn đề trên đều có thể
được xem xét dưới mọi góc độ, nội quan hoặc ngoại quan, như một hiện
tượng văn học, một hình thức diễn ngôn hoặc một hiện tượng chính trị, xã
hội. Đến đây phê bình văn học có vẻ như rơi vào giai đoạn hậu - lí thuyết

nhưng đó không phải là không có lí thuyết như thời kỳ tiền - lí thuyết mà là
một lí thuyết khác, lí thuyết về sự không lí thuyết [33]. Đó là điều khó cho
phê bình văn học Việt Nam, một phê bình chưa đi hết chặng đường lí thuyết
của mình, những ngộ nhận tai hại.
1.1.3. Những thành tựu và hạn chế của nghiên cứu, phê bình thơ
trong văn học Việt Nam hiện đại
Phê bình văn học giai đoạn 1954 -1975 đã góp công lớn trong việc
nâng đỡ, bảo vệ, khẳng định các thành tựu của văn học cách mạng, vô sản,
19
những sáng tác của công nông binh. Thơ ca của bộ đội, chiến sĩ được ngợi ca
trong các tập phê bình Tiếng thơ của Xuân Diệu, Nói chuyện thơ kháng chiến
của Hoài Thanh. Những năm 60, hoạt động phê bình trở nên sôi nổi, nhộn
nhịp với việc đề cao thơ Tố Hữu, biểu dương thơ ca, truyện ký của Hồ Chí
Minh, thơ Lê Anh Xuân. Từ sau 1975, các nhà phê bình cũng đã thể hiện thái
độ trân trọng, ủng hộ những tìm tòi, khám phá mới của người nghệ sĩ [1,8].
Nhìn chung, những khám phá mới mẻ của các nhà văn trong các tác
phẩm xuất hiện từ sau năm 1975 tạo được nhiều thiện cảm với các nhà phê
bình, được họ ghi nhận để rồi nhiệt thành giới thiệu với đông đảo bạn đọc.
Tuy nhiên, nếu những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh, về công cuộc xây
dựng đất nước dễ dàng được tung hô thì trước những tác phẩm viết về cuộc
sống thời bình, cuộc sống đời thường, các nhà phê bình vẫn ít nhiều băn
khoăn, rụt rè, phần vì còn ngỡ ngàng trước cách tiếp cận đời sống ở những
khía cạnh mới, phần vì đã quen với việc thẩm định giá trị văn chương trong
giới hạn của những quan niệm thẩm mĩ quen thuộc [28]. Thế nên dù hoạt
động sáng tác trong giai đoạn từ sau 1975 có nhiều chuyển biến mới mẻ
nhưng các nhà phê bình dường như mới chỉ chấp nhận phần nào sản phẩm
sáng tạo của họ. Chính bởi thế, chặng đường 1975-1986 được xem là giai
đoạn quá độ, thời kỳ vận động tạo đà cho những đột phá ở giai đoạn tiếp theo.
Cùng với việc khẳng định, ngợi ca, phê bình văn học giai đoạn 1945-
1986 còn thực hiện chức năng đấu tranh chống những biểu hiện thiếu tính

Đảng hay lệch lạc trong tư tưởng của hàng loạt tác phẩm. Trong những ngày
đầu của thời kỳ xây dựng nền văn học mới, với các tập phê bình Tiếng thơ
(1951) của Xuân Diệu và Nói chuyện thơ kháng chiến (1951) của Hoài Thanh,
những “buồn rớt”, “mộng rớt”, “nhắm rớt” của thơ ca tiểu tư sản đã được các
tác giả đưa ra “kiểm điểm” và phê phán. Đến đầu năm 1958, trong quá trình
thực hiện xử lý vụ “Nhân văn - Giai phẩm”, Đảng mở lớp học tập cho anh chị
em văn nghệ sĩ, nêu yêu cầu người nghệ sĩ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng
phải kiên quyết loại bỏ con người tiểu tư sản bấp bênh trong mỗi cá nhân;
20
triệt để theo lập trường của giai cấp công nhân và tư tưởng xã hội chủ nghĩa;
phải phê bình và tự phê bình thường xuyên. Sau đợt học tập này, Đảng tổ
chức cho văn nghệ sĩ đi thâm nhập thực tế đời sống ở các miền của đất nước
để tìm kiếm chất liệu, cảm hứng sáng tác [16].
Bước sang những năm 60, hàng loạt tác phẩm bị xem là thiếu tính
Đảng, có khuynh hướng “xét lại”, có những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng
được đem ra mổ xẻ, phê bình một cách mạnh mẽ. Những người thợ mỏ của
Võ Huy Tâm bị phê vì lối viết trần trụi, tự nhiên chủ nghĩa, cách biểu hiện
suy nghĩ, tâm trạng và hành động của người thợ mỏ không đi đúng với quỹ
đạo “tuyên truyền”. Phá vây của Phù Thăng thì bị xem là có những thiếu sót,
lệch lạc về lập trường tư tưởng, đại diện cho quan niệm về chủ nghĩa nhân
đạo chung chung. Một số tác phẩm khác cũng bị kiểm điểm về mặt tư tưởng,
thế giới quan như Đống rác cũ của Nguyễn Công Hoan, Vào đời của Hà Minh
Tuân, Sương tan của Hoàng Tiến, Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Con nai
đen của Nguyễn Đình Thi…[45]. Trong số này có những vụ việc kéo dài hàng
năm trời, thu hút hàng trăm cây bút với đủ mọi thành phần tham gia trên
không biết bao nhiêu mặt báo mà điển hình là vụ phê bình tiểu thuyết Vào đời
của Hà Minh Tuân. Vào đời viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc nhưng không mô tả theo phương châm “thể hiện hùng hồn cuộc
sống mới, con người mới”. Hiện thực cuộc sống trong Vào đời hiện lên với
đầy đủ sự ngổn ngang, bừa bộn, với các mối quan hệ xã hội đa chiều, phức

tạp, với sự đấu tranh quyết liệt giữa cái tốt và cái xấu. Đây là cuộc sống
“thực” mà ở đó những thanh niên mới bước vào đời như cô Sen (nhân vật
chính của truyện) phải đấu tranh quyết liệt, dữ dội với hoàn cảnh, với cái ác,
cái xấu để vươn lên. Với nội dung như thế, Vào đời đã chia sẻ cùng người đọc
một cái nhìn mới về hiện thực, phản ánh cuộc sống còn nhiều khó khăn, gian
khổ, nhiều mối hiểm nguy và cái ác luôn rình rập con người, nhưng nếu có ý
chí, có tình yêu thương, có sự động viên giúp đỡ của cộng đồng thì con người
sẽ vượt qua tất cả để khẳng định bản thân, sống có ích cho xã hội, cảm nhận
21
được ý nghĩa của sự tồn tại. Thế nhưng, với những con mắt định kiến, Vào
đời đã bị phê phán một cách gay gắt, thậm chí bị quy kết hết sức nặng nề.
Cuốn truyện bị xem là đã vấp phải những vấn đề nghiêm trọng về tư tưởng,
có nhiều hình ảnh “xuyên tạc sự thật của chế độ ta”, không phản ánh đúng
“những mặt hiện thực tốt đẹp của xã hội ta trong những năm từ 1956 đến
1960”. Dưới con mắt của các nhà phê bình lúc bấy giờ thì xã hội trong Vào
đời là một xã hội “hỗn độn, phức tạp, đầy những ung nhọt”, tư tưởng, thế giới
quan của tác giả Vào đời là “tư tưởng, thế giới quan tiểu tư sản” gắn với “triết
lý hưởng lạc, sa đoạ, lối sống gấp kiểu Mĩ”…[13, 44].
Sang những năm 70, hai bài thơ Vòng trắng của Phạm Tiến Duật và
Sẹo đất của Ngô Văn Phú bị “ném đá” vì “can tội” gieo vào lòng người tư
tưởng bi quan, chán nản giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác
liệt. Cũng thời gian này, truyện ngắn viết cho thiếu nhi Cây táo ông Lành của
Hoàng Cát, với lối diễn đạt đa nghĩa, bị quy chụp khá nặng nề.
Từ sau đổi mới, nhiều tác giả và tác phẩm trước đây bị phê phán như đã
nêu ở trên được đánh giá lại. Không ít người trong số họ đã được tặng Giải
thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Đó là sự
ghi nhận công bằng, đúng đắn, kịp thời và cần thiết. Đó cũng là một cách nhìn
nhận thẳng thắn, tự ý thức sâu sắc về tính chất ấu trĩ của phê bình văn học giai
đoạn đã qua [40].
Có thể nói, với hai chức năng đặc thù thích ứng với hoàn cảnh lịch sử

và tâm lí xã hội của thời kì chiến tranh cũng như yêu cầu của cách mạng, phê
bình văn học giai đoạn 1945-1986 đã hoàn thành sứ mệnh chính trị, lịch sử là
góp phần khẳng định nền văn học mới với những giá trị lịch sử và nghệ thuật
mới mẻ của nó. Tuy nhiên, hoạt động phê bình giai đoạn này cũng không
tránh khỏi những sơ lược, một chiều để lại không ít những sai lầm và hạn chế.
“Cục diện đấu tranh tư tưởng căng thẳng cũng dẫn đến kiểu phê bình suy
diễn, quy chụp chính trị, bỏ qua sự phân tích biện luận nhiều mặt, nhiều
chiều” [43].
22
1.1.4. Một số nhà nghiên cứu, phê bình thơ tiêu biểu
Trước hết, xin nói đến một số phong cách phê bình tiêu biểu ở thời kỳ
trước 1945. Đội ngũ các nhà nghiên cứu, phê bình trước 1945 cũng khá đông
đảo, nhưng ở đây chỉ tập trung chú ý đến một số trường hợp tiêu biểu nhất và
có liên quan nhiều hơn đến vấn đề mà luận văn này quan tâm tìm hiểu.
Thiếu Sơn với công trình Phê bình và cảo luận (1933) đã từng “vang
bóng một thời”. Thiếu Sơn - tên thật là Lê Sĩ Quý, sinh năm 1907, tại Hà Nội.
Trước khi viết sách, ông đã từng viết khá nhiều bài Phê bình nhân vật và Phê
bình tác phẩm trên một số tờ báo đương thời như: Thần Chung, Phụ nữ tân
văn, Tiểu thuyết thứ bảy… Sau năm 1933, ông trở thành nổi tiếng trên văn
đàn với các tập sách: Phê bình và cảo luận, Đời sống tinh thần, Câu chuyện
văn học, cùng cuốn tiểu thuyết Người bạn gái [57].
Đóng góp đáng kể nhất của ông đối với đời sống văn học thời kì ấy là với
tư cách của một nhà phê bình văn học. Còn tất cả những cái gọi là “nhà” kia
đều có một vai trò không nhỏ trong việc hình thành ở ông một nhà phê bình
thực sự, có tư tưởng cấp tiến, có cái nhìn khoa học trên nền tảng tinh thần dân
tộc dân chủ sâu sắc. Nhân đây cũng muốn nói thêm rằng, Thiếu Sơn không
phải là một nhà phê bình, nhà lí luận có quan điểm nghệ thuật máy móc, bảo
thủ. Trong cuộc tranh luận dai dẳng (từ năm 1935 đến 1939) giữa hai phái
“Nghệ thuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị nhân sinh”, Thiếu Sơn đã từng
bảo vệ quan điểm nghệ thuật của mình khá kiên quyết, nhưng trong quá trình

tranh luận, ông cũng nhận ra nhiều điều mà trước đây ông chưa nhận thấy.
Ông từng phát biểu: “Văn chương phải lấy nghệ thuật, tức là cái Đẹp làm
mục đích chính”, và “văn chương chỉ có một chủ nghĩa là phô bày cái Đẹp”.
Nhưng đồng thời, ông cũng đã có những lời khẳng định và “khuynh hướng
bình dân” trong sáng tác văn học của các văn sĩ thời ấy [31]. Ông cho rằng,
việc lấy “khuynh hướng bình dân” làm đề cho sáng tác chính là việc tìm được
“một cửa ngõ mới cho văn học đi vào cuộc đời”. Điều mà ông bất bình với
các nhà lí luận phê bình của phái đối lập là bởi tính chất cực đoan của họ, khi
23
họ cứ khăng khăng cho rằng, chỉ có văn chương ca ngợi bình dân mới là thứ
văn chương đích thực, có giá trị. Nhân đấy ông đã lên tiếng phản đối thứ văn
chương “tả chân” thô thiển, theo kiểu tự nhiên chủ nghĩa, dung tục của một số
nhà văn thời đó. Theo ông xu hướng “quá tả” của một số nhà văn “tả thực” là
hết sức đáng phê phán, bởi khi họ chỉ nhăm nhăm “phô trương những cái
xấu, những mặt trái của xã hội” lên trang giấy. Và chỉ riêng điều đó thôi cũng
đã “làm mất đi” ý nghĩa của việc tả thực rồi! Bởi nhân loại không phải “chỉ
rặt những kẻ sát nhân, gian hùng, xảo trá, mà còn có cả những lương thiện,
có bậc anh hào, có trang nghĩa hiệp…”. Ông chủ trương: “văn tả thực phải
tả được tất cả những mặt xấu, mặt cao thượng, lẫn mặt tầm thường, cái tốt
đẹp với cái xấu xa, cái trong trắng với cái đen tối, u ám…”, bởi bản chất của
con người xưa nay “vốn là phức tạp và li kì”. Vì thế, một văn sĩ có tài phải là
người “diễn tả được cái bản sắc đó để mà biết mình, biết người, biết cái phần
cao thượng của nhân loại mà cảm phục, biết cái yếu hèn mà xót thương, biết
nhân các cảm giác đó mà phát sinh tư tưởng thâm trầm về nhân sinh và triết
học”. Hơn thế, trong một loạt bài phê bình văn học cụ thể của mình, Thiếu
Sơn đã tỏ ra là một người có quan điểm nghệ thuật tiến bộ, hiện đại, luôn xuất
phát từ những đóng góp mới mẻ (trên cả hai phương diện: nội dung và nghệ
thuật) của các tác phẩm mà khẳng định giá trị thực của văn chương. Điều đó
càng chứng tỏ rằng, Thiếu Sơn không phải là một người có quan điểm “nghệ
thuật vị nghệ thuật” thuần túy, cực đoan, như ý kiến của một số nhà lí luận,

phê bình, nghiên cứu trước và sau năm 1945 [73,76].
Trở lại cuốn sách Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, lần đầu
tiên phê bình văn học với tư cách là một bộ môn văn học mang tính xã hội
đặc thù, đã khẳng định được một cách chắc chắn sự có mặt của mình trong
đời sống văn học nước nhà.
Thái độ ủng hộ và cổ vũ, ca ngợi cái mới, cái hiện đại trong văn
chương luôn là một đặc điểm lớn trong cuốn sách phê bình này của Thiếu
Sơn. Ông luôn hướng ngòi bút của mình vào việc tìm kiếm những đóng góp
24
mới mẻ (trên cả hai phương diện: nội dung và nghệ thuật) của các tác phẩm
và tác giả văn học mà ông phê bình. Theo ông, đó mới chính là những đóng
góp quan trọng, có ý nghĩa đối với sự phát triển của nền văn học nước nhà theo xu
hướng hiện đại. Như phần trên đã nói, Thiếu Sơn không những là một nhà phê
bình, mà ông còn là một nhà “cảo luận”, một nhà văn hóa. Ông không chỉ quan
tâm đến các hiện tượng văn học đương thời như những đối tượng để phê bình, mà
ông còn quan tâm khá sâu sắc đến các cơ sở xã hội, cơ sở văn hoá, văn học của
thời kì ấy [7]. Và bước đầu, ông đã phát hiện ra một số quy luật vận động nội tại
của đời sống văn hoá văn học nước nhà. Trong phần “cảo luận” của cuốn sách
này, Thiếu Sơn đã tỏ rõ là một nhà lí luận có trí thức văn hoá khá sâu sắc, có cái
nhìn lịch sử, và đặc biệt là có tinh thần dân tộc, dân chủ thực sự.
Chính vì vậy, cứ sau một bài diễn thuyết, sau một bài “cảo luận” nào
đó, và nhất là sau khi công trình Phê bình và cảo luận của ông ra đời, dư luận
đã không ngớt lời ca ngợi và khâm phục. Báo “Công luận”, báo “Đuốc nhà
Nam”… (năm 1933) đã có những lời đề cao, khẳng định công lao của nhà học
giả trẻ tuổi này như sau: “Báo giới và văn quốc ngữ là một vấn đề rất quan hệ
tới sự tiến hoá về tinh thần của dân tộc Việt Nam, mà đã được ông bạn Thiếu
Sơn, một thanh niên Tây học dầy công kế cứu để phô diễn bằng một lời văn
vừa hoa mĩ, vừa tình tứ thì lại càng được người ta chú ý đến lắm”. Và họ (tác
giả của các tờ báo đó) đã nhất trí nâng Thiếu Sơn “từ địa vị một nhà phê bình
văn học lên địa vị một nhà văn học sử”. Điều đó thật có lí, bởi bằng một loạt

bài phê bình khá sắc sảo, tinh vi, bằng những bài “cảo luận” mang ý nghĩa lí
luận khá chắc chắn trong công trình phê bình lí luận đầu tiên này, Thiếu Sơn
đã góp phần vào việc định hình tiến trình phát triển của lịch sử văn học Việt
Nam những năm 20 – 30 của thế kỉ XX và đặt viên gạch đầu tiên cho nghành
nghiên cứu, phê bình nước nhà [35].
Hoài Thanh (và Hoài Chân) với Thi nhân Việt Nam (1942), có thể
nói đã tạo nên một công trình có tính chất bước ngoặt cho phê bình thơ Việt
Nam. Trước khi viết Thi nhân Việt Nam (cùng Hoài Chân) Hoài Thanh đã
25

×