Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

Sâu cuốn lá nhỏ (cnaphalocrocis medinalis guenee) lúa và biện pháp phòng trừ trong vụ xuân 2014 tại huyện diễn châu, tỉnh nghệ an

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.23 MB, 87 trang )

i







LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn




Nguyễn Huy Khánh


















ii







LỜI CẢM ƠN



Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Nông Lâm Ngư Trường
Đại học Vinh, Hợp Tác Xã Nông Nghiệp Phú Hậu, Xã Diễn Tân, Huyện Diễn Châu,
Tỉnh Nghệ An, bà con nông dân, gia đình và ban Giám đốc cùng toàn thể cán bộ
Trung tâm Bảo vệ thực vật khu 4 đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo PGS.TS. Trần Ngọc Lân đã dành
thời gian hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.

Tác giả luận văn




Nguyễn Huy Khánh

















iii







MỤC LỤC



LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6
1.2.1. Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa 6
1.2.2. Nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lúa 7
1.2.3. Nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ 8
1.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 16
1.3.1. Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa 16
1.3.2. Nghiên cứu về thiên địch sâu hại lúa 17
1.3.3. Những nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ hại lúa 19
Chương 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1. Vật liệu nghiên cứu 28
2.2. Dụng cụ nghiên cứu 28
2.3. Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1. Thành phần sâu hại lúa và thiên địch của chúng vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An 28
iv








2.3.2. Diễn biến mật độ, sự gây hại của sâu cuốn lá nhỏ trên các giống lúa gieo trồng
phổ biến ngoài sản xuất vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 29
2.3.3. Diễn biến mật độ, sự gây hại của sâu cuốn lá nhỏ trên các chân đất khác nhau
vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 29
2.3.4. Ảnh hưởng mật độ cấy đến biến động số lượng, tác hại sâu cuốn lá nhỏ vụ Xuân
2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 29
2.3.5. Diễn biến mật độ thiên địch và tỷ lệ ký sinh của sâu cuốn lá nhỏ vụ Xuân 2014
tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 30
2.3.6. Nghiên cứu nguồn ký chủ phụ của sâu cuốn lá nhỏ lứa cuối cùng chuyển từ vụ
Mùa sang vụ Xuân năm sau 31
2.3.7. Khảo sát hiệu lực một số nhóm thuốc BVTV phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ 31
2.3.8. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 32
2.4. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 33
2.4.1. Địa điểm nghiên cứu 33
2.4.2. Thời gian nghiên cứu 33
2.5. Bảo quản và giám định mẫu 33
2.5.1. Bảo quản mẫu côn trùng 33
2.5.2. Giám định mẫu 33
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1. Thành phần sâu hại lúa và thiên địch của chúng vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An 34
3.1.1. Thành phần sâu hại lúa vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 34
3.1.2. Thành phần thiên địch của sâu hại lúa vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh
Nghệ An 38
3.2. Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) gây hại lúa vụ Xuân
2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 40
v








3.2.1. Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên các giống lúa
phổ biến ngoài sản xuất vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 40
3.2.2. Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên các chân đất
khác nhau tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 42
3.2.3. Ảnh hưởng mật độ cấy giống ZZD 001 đến mật độ, tác hại sâu cuốn lá nhỏ (C.
medinalis) vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 44
3.3. Diễn biến mật độ thiên địch và tỷ lệ sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) bị ký sinh vụ
Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 46
3.3.1. Diễn biến mật độ thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) vụ Xuân 2014
tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 46
3.3.3. Tỷ lệ sâu non sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) bị ký sinh vụ Xuân 2014 tại huyện
Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 48
3.4. Bước đầu nghiên cứu nguồn ký chủ phụ của sâu cuốn lá nhỏ lứa cuối cùng
chuyển từ vụ Mùa 2013 sang vụ Xuân năm sau 49
3.5. Khảo sát hiệu lực một số thuốc hóa học phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ hại lúa 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC ẢNH 60
PHỤ LỤC SÔ LIỆU 65













vi







DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT



Mật độ
TLH
Tỷ lệ hại
CT
Công thức
TP
Trước phun
NSP
Ngày sau phun
BVTV
SL
TL

NĐT
SCLN
C. medinalis
Bảo vệ thực vật
Số lượng
Tỷ lệ
Ngày điều tra
Sâu cuốn lá nhỏ
Cnaphalocrocis medinalis




















vii








DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1. Thành phần các loài sâu và nhện hại lúa vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An 36
Bảng 3.2. Tỷ lệ các loài sâu và nhện hại lúa trong sinh quần ruộng lúa vụ Xuân 2014
tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 37
Bảng 3.3. Thành phần thiên địch của sâu hại lúa vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu,
tỉnh Nghệ An 39
Bảng 3.4. Tỷ lệ các loài thiên địch của sâu hại lúa trong sinh quần ruộng lúa vụ Xuân
2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 40
Bảng 3.5. Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên một số giống
lúa gieo trồng phổ biến vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 41
Bảng 3.6. Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên các chân đất
khác nhau tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 43
Bảng 3.7. Ảnh hưởng mật độ cấy và số dảnh cấy (2 dảnh) đến mật độ, tỷ lệ hại sâu
cuốn lá nhỏ (C. medinalis) vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 45
Bảng 3.8. Diễn biến mật độ thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên giống
lúa ZZD 001 vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 46
Bảng 3.9. Tỷ lệ trứng nở và tỷ lệ ký sinh trứng ở các lứa chính của sâu cuốn lá nhỏ (C.
medinalis) vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 48
Bảng 3.10. Tỷ lệ sâu non sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) bị ký sinh vụ Xuân 2014 tại
huyện Diễn Châu, Nghệ An 49
Bảng 3.11. Thành phần sâu cuốn lá nhỏ (pha trưởng thành) trên cỏ dại sau vụ Mùa

2013 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 50
Bảng 3.12. Tỷ lệ sâu cuốn lá nhỏ trên một số loài cỏ gây hại trên lúa 50
3.5. Khảo sát hiệu lực một số thuốc hóa học phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ hại lúa 50
viii







Bảng 3.13. Ảnh hưởng của một số thuốc BVTV đến diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ
trên lúa vụ Xuân 2014 tại Diễn Châu, Nghệ An 51
Bảng 3.14. Hiệu lực phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ của một số loại thuốc BVTV vụ Xuân
2014 tại huyện Diễn Châu, Nghệ An 51































ix







DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1. Tỷ lệ các họ, loài sâu và nhện hại lúa vụ Xuân 2014 37
tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 37
Hình 3.2. Tỷ lệ các họ, loài thiên địch của sâu hại lúa 40
vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 40
Hình 3.3. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis) 42

trên một số giống lúa vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 42
Hình 3.4. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis) 44
trên các chân đất khác nhau vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 44
Hình 3.5. Ảnh hưởng mật độ cấy và số dảnh cấy (2 dảnh) đến diễn biến mật độ sâu
cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis) vụ Xuân 2014 tại Diễn Châu, Nghệ An 45
Hình 3.6. Diễn biến mật độ thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis)……… 47
trên giống lúa ZZD 001 vụ Xuân 2014 tại Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 47















1


MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài
Cây lúa (Oryza sativa) là cây lương thực có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh
tế được trồng phổ biến ở nước ta và nhiều nước trên thế giới, là nguồn thức ăn chủ

yếu của trên 3 tỷ dân sống ở Chấu Á và cung cấp 1/3 lượng calo cho gần 1,5 tỷ dân
ở Châu Mỹ La Tinh và Châu Phi [14]. Theo thống kê Bộ NN&PTNT năm 2012,
tổng diện tích lúa cả nước gần 7,75 triệu ha, tăng 1,2% so năm 2011, năng suất lúa
bình quân đạt 56 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha. Sản lượng ước tính đạt đạt 43,4 triệu tấn, tăng
hơn 1 triệu tấn (+2,6%) so năm 2011 (Bộ NN&PTNT, 2012) [2].
Riêng Nghệ An, hàng năm toàn tỉnh gieo cấy khoảng 182.000 ha, trong đó vụ
Đông Xuân 85.000 ha, Hè Thu - Mùa 97.000 ha, diện tích gieo sạ chiếm khoảng
30%. Năng suất lúa vụ Xuân từ năm 2011 - 2012 đạt bình quân từ 61,84 - 65,04
tạ/ha, vụ Hè Thu-Mùa đạt từ 40,05 - 60,25 tạ/ha (Sở NN&PTNT, 2012) [19].
Đối với nước ta, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân. Trong đó lúa là cây lương thực chính và chiếm diện tích lớn nhất trong
tổng diện tích trồng cây lương thực. Sự thay đổi toàn diện hệ thống canh tác lúa với
những giống lúa cải tiến, phân hóa học và hơn thế nữa do biến đổi khí hậu và việc
lạm dụng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không theo nguyên tắc 4 đúng làm phát sinh
nhiều dịch hại mới làm thay đổi thành phần sinh vật gây hại và thiên địch của chúng,
bên cạnh đó do lượng thuốc hóa học được phun ra đồng ruộng nhiều làm ảnh hưởng
sức khỏe cộng đồng và ô nhiễm môi trường, các loài thiên địch bị tiêu diệt và gây
hiện tượng kháng thuốc, nhờn thuốc của sâu hại dẫn tới bùng phát về số lượng sâu
hại trên đồng ruộng.
Trong số các loài gây hại lúa trên đồng ruộng như: Sâu cuốn lá, nhện gié, sâu
đục thân, rầy các loại, bọ trĩ…thì sâu cuốn lá nhỏ trong những năm gần phát sinh và
gây hại nặng trên hầu hết các diện tích trồng lúa. Theo kết quả theo dõi Trung tâm
BVTV vùng Khu 4, chỉ tính riêng vụ Xuân 2013 tổng diện tích nhiễm 5.684,4 ha
2


trên các trà lúa, trong đó diện tích bị nặng 200 ha, đặc biệt giai đoạn làm đòng diện
tích nhiễm tăng 3.974,4 ha so vụ Xuân năm 2012. Sâu non gây hại nặng ở các tỉnh
như: Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị…với mật độ phổ biến 15 - 20
con/m

2
cao 40 - 50 con/m
2
, cục bộ 100 - 150 con/m
2
. Nguyên nhân chính làm cho
sâu cuốn lá nhỏ phát sinh gây hại mạnh có thể do chế độ thâm canh chưa hợp lý,
giống lúa lai Trung Quốc chiếm diện tích nhiều, sử dụng quá nhiều phân bón hóa
học, đặc biệt dư thừa phân đạm và thuốc trừ sâu đã làm cho hệ sinh thái ruộng lúa
biến đổi có lợi cho sự phát triển sâu cuốn lá nhỏ.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất, được sự phân công của Khoa Nông-
Lâm-Ngư Trường Đại học Vinh, chúng tôi thực hiện đề tài “Sâu cuốn lá nhỏ
(Cnaphalocrocis medinalis Guenee) hại lúa và biện pháp phòng trừ trong vụ
Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An”.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát
Trên cơ sở điều tra, xác định được thành phần sâu hại lúa và thiên địch của
chúng, theo dõi diễn biến mức độ gây hại sâu cuốn lá nhỏ hại lúa vụ Xuân 2014 tại
Huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Từ đó, đề xuất biện pháp phòng chống hợp lý đạt
hiệu quả kinh tế và môi trường.
Mục đích cụ thể
- Xác định được thành phần sâu hại lúa và thiên địch vụ Xuân 2014 tại huyện
Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Biết được biến động số lượng sâu cuốn lá nhỏ và thiên địch của chúng dưới
ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (giống lúa, chân đất, mật độ cấy) tại huyện
Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Biết được ký chủ phụ của sâu cuốn lá nhỏ lứa cuối cùng ra rộ chuyển từ vụ
lúa Mùa 2013 sang vụ Xuân 2014.
- Xác định được hiệu lực một số thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ sâu cuốn lá
nhỏ hại lúa vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

3


Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Các loài sâu hại lúa, sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee).
- Các loài thiên địch của sâu hại lúa.
Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài thực hiện từ sau thu hoạch lúa vụ Mùa 2013 và vụ Xuân 2014.
- Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa và thiên địch, diễn biến số lượng sâu
cuốn lá nhỏ và thiên địch của chúng dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái
(giống lúa, chân đất, mật độ cấy).
- Tìm hiểu nguồn ký chủ phụ của sâu cuốn lá nhỏ lứa cuối cùng chuyển từ vụ
Mùa sang vụ Xuân năm sau.
- Khảo sát hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc BVTV đối với sâu cuốn
lá nhỏ hại lúa.
- Thí nghiệm diện rộng mật độ cấy giống lúa ZZD 001.
Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần sâu hại lúa và thiên địch vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An.
- Điều tra, theo dõi biến động số lượng sâu cuốn lá nhỏ và thiên địch của
chúng dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (giống lúa, chân đất, mật độ cấy)
tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Điều tra, tìm hiểu loài cỏ dại sinh sống của sâu cuốn lá nhỏ lứa cuối cùng từ
vụ Mùa 2013 chuyển sang vụ Xuân 2014.
- Khảo sát hiệu lực một số thuốc BVTV phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
- Xác định được thành phần sâu hại lúa, thiên địch và diễn biến, mức độ gây
hại sâu cuốn lá nhỏ tại các yếu tố sinh thái, nguồn ký chủ phụ sâu cuốn lá nhỏ

chuyển vụ và đề xuất một số loại thuốc hóa học phòng trừ mang lại hiệu quả cao.
4


- Kết quả đề tài sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo cũng như xây dựng
quy trình phòng trừ tổng hợp mang tính bền vững.
Ý nghĩa thực tiễn
- Bổ sung thêm về thành phần sâu hại lúa, thiên địch, tần suất xuất hiện và
mức độ phát sinh gây hại, diễn biến của sâu cuốn lá nhỏ giúp con người đưa ra biện
pháp phòng trừ hiệu quả bảo vệ mùa màng.
- Tìm ra loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng hiệu quả cao trong phòng trừ sâu
cuốn lá nhỏ hại lúa, đồng thời biết được ký chủ phụ của sâu cuốn lá nhỏ lứa cuối
cùng chuyển từ vụ Mùa sang gây hại vụ Xuân năm sau nhằm tiêu diệt ký chủ phụ
trước khi vào vụ sản xuất lúa.
























5


Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất, con người không ngừng cao cải
thiện các biện pháp kỹ thuật trong hệ thống canh tác phù hợp với từng vùng, từng
loại giống trồng và điều kiện thổ nhưỡng đất đai, cải biến hệ sinh thái đồng ruộng
nhằm làm thay đổi môi trường sống, gây bất lợi sống cho một số dịch hại. Trong
điều kiện thời tiết biến đổi khí hậu hiện nay, một số dịch hại là thứ yếu có nguy cơ
trở thành dịch hại chủ yếu và sẽ nhanh chóng bùng phát số lượng gây thành dịch
trên đồng ruộng.
Nghiên cứu động thái quần thể giúp cho việc dự tính dự báo số lượng quần
thể sâu hại và thiên địch của chúng trong hệ sinh thái đồng ruộng. Vì vậy, hiểu biết
hệ sinh thái đồng ruộng là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp thâm
canh, bảo vệ cây lúa tránh tổn thất do dịch hại gây ra, bảo vệ môi sinh và góp phần
giữ cân bằng hệ sinh thái.
Vào những năm 60 của thế kỷ, sâu cuốn lá nhỏ là loài gây hại thứ yếu hầu
như con người không mấy quan tâm vì mức độ gây hại của nó không đáng kể đến
sinh trưởng và năng suất, sản lượng lúa. Tuy nhiên khi cuộc cách mạng xanh nổ ra
đã làm thay đổi bộ mặt của sản xuất Nông Nghiệp trên thế giới, sản lượng lúa gạo
tăng lên mạnh mẽ do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Từ những năm

70 của thế kỷ, sâu cuốn lá nhỏ trở thành mối nguy hiểm cho các nước trồng lúa trên
thế giới, sâu có mặt thường xuyên và gây hại nghiêm trọng ở các nước thuộc Châu
Á, Châu Phi và quần đảo Thái Bình Dương. Ở Trung Quốc, sâu cuốn lá nhỏ được
xem là một trong những loài sâu gây hại lúa nguy hiểm nhất.
Ở Việt Nam nói chung và các tỉnh trong vùng Khu 4 nói riêng trong những
năm gần đây sâu cuốn lá nhỏ là đối tượng xuất hiện thường xuyên, gây hại chủ yếu
trên cây lúa. Phạm vi phân bố và mức độ gây hại ngày càng lớn.
6


Theo kết quả theo dõi nhiều năm về quy luật phát sinh gây hại của sâu cuốn
lá nhỏ hại lúa tại các tỉnh trong vùng khu 4 cho thấy hàng năm sâu cuốn lá nhỏ phát
sinh 6 - 7 lứa. Thời gian phát sinh sớm hay muộn phụ thuộc vào thời gian cơ cấu
mùa vụ, nhiệt độ và sinh trưởng cây lúa, mức độ gây hại của sâu cuốn lá nhỏ ở vụ
Hè thu - Mùa thường gây hại nặng hơn so vụ Xuân. Diện tích nhiễm vụ Xuân 2013
là 4.684,4 ha, trong khi vụ Hè Thu - Mùa 2013 diện tích bị nhiễm lên đến 36.211, 45
ha gấp gần 8 lần so vụ Xuân (Trung tâm BVTV khu 4, 2013).
Để hạn chế tác hại sâu cuốn lá nhỏ, xu hướng ngày nay trong nông nghiệp thế
giới bắt đầu từ thập kỷ 80 là xây dựng một hệ thống “Nông nghiệp bền vững”, trong
đó biện pháp phòng trừ tổng hợp đóng vai trò quan trọng.
Phòng trừ tổng hợp “IPM” đã có hơn 30 năm nghiên cứu và áp dụng vào sản
xuất. Ngày nay nó trở thành chiến lược phòng trừ sâu bệnh ở nhiều nước trên thế
giới. Ở nước ta phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM) là một nội dung quan trọng trong
công tác bảo vệ thực vật.
Từ những cơ sở khoa học trên, nhằm tìm hiểu thành phần sâu hại trên ruộng
lúa nói chung, quy luật phát sinh gây hại sâu cuốn lá nhỏ nói riêng và mối quan hệ
giữa chúng với thiên địch để từ đó đề xuất một số cải biến trong biện pháp phòng trừ
chúng nhằm làm giảm thiệt hại do chúng gây ra góp phần nâng cao năng suất và
chất lượng sản phẩm, đưa nền nông nghiệp nước nhà tiến tới một nền nông nghiệp
sạch và bền vững, góp phần đảm bảo chương trình an ninh lượng thực quốc gia,

đồng thời đem lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1. Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa
Kết quả điều tra của trên thế giới có hơn 800 loài sâu hại (Dale, 1994) [39],
(Kiritani, 1979) [44]. Theo FAO (1995) [40] và Norton (1990) [50] tại Đông Nam Á
đã phát hiện hơn 100 loài. Ở Trung Quốc đã phát hiện hơn 200 loài (Chiu, 1980)
[36], (Li, 1982) [45]. Tuy nhiên trong số đó chỉ một số ít gây nặng hại cho cây lúa,
7


còn đa số không gây hại hoặc ít gây hại, số loài gây hại giữa các vùng không giống
nhau.
Kết quả nghiên cứu của Kiritani (1979) [44] ở châu Á có tới 20 loài sâu hại
chính, ở châu Úc chỉ có 9 loài, châu Mỹ 13 loài, châu Phi 15 loài. Đa số các loài còn
lại ít gây hại hoặc gây hại không đáng kể.
Trên thế giới ở các nước trồng lúa khác nhau các loài sâu hại chính cũng khác
nhau. Theo Nagarajan (1994) [49] tại Ấn Độ có 4 loài hại chính đó là sâu đục thân 2
chấm, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen và sâu năn. Nhưng theo Chiu (1980) [36] ở Trung
Quốc có 7 loài sâu hại chính: Sâu đục thân 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, sâu cuốn lá
nhỏ, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen, sâu năn và bọ trĩ.
Nhật Bản có các loài sâu đục thân 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, rầy nâu, rầy
xanh đuôi đen (Kiritani, 1979) [44]. Số lượng các loài gây hại chính phụ thuộc vào
thời gian sinh trưởng cây lúa, ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng có 22 loài, giai
đoạn làm đòng đến trỗ khoảng 8 loài và giai đoạn chín chỉ có 3 - 4 loài (Norton,
1990) [50].
1.2.2. Nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lúa
Thiên địch của sâu hại rất đa dạng và phong phú, chúng có vai trò rất quan
trọng không những góp phần điều chỉnh mật độ quần thể sâu hại phát triển dưới
ngưỡng gây hại kinh tế ở một điều kiện cụ thể nào đó mà còn giúp con người hạn
chế số lần phun thuốc hóa học trên đồng ruộng, giữ cho môi trường trong sạch, sinh

thái ổn định.
Qua các công trình nghiên cứu người ta thấy rằng trong 3 nhóm thiên địch
của sâu cuốn lá nhỏ là nhóm bắt mồi ăn thịt, nhóm ký sinh và nhóm vi sinh vật gây
bệnh thì nhóm ký sinh đặc biệt là nhóm ký sinh chuyên tính có mối quan hệ rất chặt
chẽ, có vai trò rất quan trọng trong việc làm giảm mật độ quần thể sâu cuốn lá nhỏ
trên đồng ruộng (CABI, 1999) [35]. W.H.Reissing và et al. (1986) [52] cho biết trên
đồng ruộng vùng nhiệt đới các kẻ thù tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ hoạt động rất tích
8


cực, chúng tấn công sâu cuốn lá nhỏ ở các pha phát dục. Ngoài nhóm thiên địch bắt
mồi và ký sinh, nhóm vi sinh vật gây bệnh cho sâu cuốn lá nhỏ bao gồm các loài
nấm, vi khuẩn, vi rút có vai trò không nhỏ trong việc làm tăng chết tự nhiên của
sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng, làm giảm mật độ sâu cuốn lá nhỏ cùng với các
nhóm thiên địch khác.
Kẻ thù tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ có vai trò giữ cho quần thể sâu cuốn lá
nhỏ dưới ngưỡng gây hại mà tại đó không cần sử dụng biện pháp phòng trừ (CABI,
1999) [35]. Tác giả Copel H.C., J.W.Mertins (1977) [37] các loài côn trùng bắt mồi,
nhện ăn thịt và côn trùng ký sinh có vai trò quan trọng trong đấu tranh sinh học.
Số lượng côn trùng các loài ký sinh rất phong phú, ở Trung Quốc có tới 30
loài ong ký sinh, trong đó loài có khả năng ký sinh cao nhất là (Apanteles cypris) và
(Elamus sp). Trong năm tỷ lệ ký sinh sâu non do loài (Apanteles cypris) ở lứa 3
chiếm 36,2%, lứa 4 chiếm 21,6% (CABI, 1999) [35]. Chen và Chiu (1983) [38] cho
thấy có 25 loài thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ, trong đó có 21 loài ong ký sinh, 2 loài
nhện ăn thịt và 2 loài nấm gây bệnh.
1.2.3. Nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ
1.2.3.1. Nghiên cứu về sự phân bố sâu cuốn lá nhỏ
Sâu cuốn lá nhỏ là một trong những loài sâu gây hại chính nhiều vùng trồng
lúa trên thế giới, loài (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) có phân bố rộng. Bản đồ
phân bố được CIE thể hiện năm 1987 sau đó Khan và et al có bổ sung rồi được

Barrion hoàn chỉnh (1988) [43].
Ở châu Á, hầu hết các nước đều xuất hiện loài dịch hại này. Điển hình là Thái
Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladet, Brunay, Butan Ở châu Đại Dương sâu cuốn
lá nhỏ gây hại ở quần đảo Xamoa, đảo Carolin Như vậy sâu cuốn lá nhỏ phân bố
chủ yếu vùng Nam và Đông Nam Châu Á, thuộc những nước có khí hậu nhiệt đới
gió mùa và cũng là nơi có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới, gần đây sâu cuốn lá
nhỏ trở thành dịch hại chính trên cánh đồng lúa ở Chia - Nan (W.C.Lin) [57].
9


1.2.3.2. Nghiên cứu về phạm vi ký chủ sâu cuốn lá nhỏ
Ký chủ chính của sâu cuốn lá nhỏ là cây lúa, chúng còn gây hại trên lúa mì,
cao lương, đại mạch. Ngoài ra chúng còn có trên một số ký chủ phụ như: Cỏ lá tre,
cỏ môi, cỏ lồng vực, cỏ gà nước, cỏ bấc (CABI, 1999) [35].
Theo Barrion và et al. (1991) [33] sâu cuốn lá nhỏ có 19 loài ký chủ khác
nhau với phổ ký chủ tương đối rộng. Sâu cuốn lá nhỏ có thể tồn tại khi trên đồng
ruộng thiếu ký chủ chính, sự chu chuyển của chúng qua các mùa vụ nhờ các ký chủ
phụ là các cây trồng hoặc các cây dại quanh ruộng lúa.
1.2.3.3. Nghiên cứu về thành phần sâu cuốn lá
Ở Châu Á W.H. Ressing, E.A. Heinrichs và et al. (1985) [54] đã xác định 4
loài sâu cuốn lá là Cnaphalocrocis medinalis, Marasmia exigua, Marasmia patnalis
và Marasmia ruralis. Sự khác biệt giữa 4 loài này chủ yếu phân biệt thông qua đặc
điểm vân cánh. Loài (Cnaphalocrocis medinalis) được phân biệt bởi nét đặc trưng là
giữa 2 vân ngang màu tro xám có một vân cụt to đậm, loài (Marasmia exigua) có nét
đặc trưng trên đôi cánh là vân ngang, giữa trên đôi cánh ngoài hình gấp khúc, còn
loài (Marasmia patnalis) thì ở mép trên đôi cánh ngoài có viền nâu đậm tới vân
ngoài của cánh, vân ngang giữa gián đoạn không liền nét. Khác với 3 loài trên, loài
(Marasmia ruralis) có nét đặc trưng là ở giữa mép trên của đôi cánh ngoài có điểm
đen to hình Ovan nằm ngang, mép ngoài của cánh có viền nâu mảnh. Đặc điểm chi
tiết về phân loại và các giai đoạn phát dục của (Cnaphalocrocis medinalis) đã được

Barrion A.T, J.A Litsinger, E.B Medina, R.M (1991) [33] mô tả rất chi tiết.
1.2.3.4. Nghiên cứu về đặc điểm hình thái sâu cuốn lá
Các pha phát dục của sâu cuốn lá nhỏ đã được Kotama (1969) và Barrion
A.T, J.A Litsinger, E.B Medina, R.M (1991) [33] nghiên cứu rất chi tiết.
- Trứng được đẻ thành từng quả rải rác hoặc thành cụm từ 3 - 8 trứng ở mặt
dưới lá lúa, trong 24 giờ trứng thành thục dài 0,93 mm màu vàng sáng, hình ovan,
mặt bụng phẳng, mặt trên gồ lên ở đoạn giữa.
10


- Sâu non mới nở có màu trắng sữa, đầu nâu đậm hoặc đen sau chuyển sang
màu trắng xám hoặc vàng sáng, trên cơ thể có nhiều lông ngắn. Tuổi 1 cơ thể nhỏ có
chiều dài 2 mm, rộng 0,2 mm; tuổi 2 dài 4,4 mm, rộng 0,68 mm; tuổi 3 dài 7 mm,
rộng 1,2 mm; tuổi 4 cơ thể mập mạp dài 9 - 10 mm, rộng 0,68 mm; tuổi 5 đầu nâu
sáng, cơ thể được bao phủ bởi các lông cứng màu nâu nhạt, sâu đẫy sức dài 16 mm,
rộng 1,8 mm, cuối tuổi 5 sâu non nhả tơ tạo kén trong tổ cũ, cơ thể chuyển màu vàng
nhạt, nằm im từ 24 - 48 giờ, giai đoạn tiền nhộng chuyển sang màu nâu sáng.
- Nhộng nằm ở trong tổ cuốn, màu sắc chuyển từ nâu sáng thành nâu đỏ,
nhộng có chiều dài 9 - 12 mm, rộng 1,6 - 3 mm, nhộng có các rãnh sinh dục rõ ở đốt
bụng thứ 8, con đực là ở đốt bụng thứ 9.
- Trưởng thành có màu nâu vàng, vân mép cánh rộng màu nâu đậm, có 3 vân
ngang hình lượn sóng ở cánh trước, vân trong và vân ngoài là vân liền, vân giữa là
vân cụt, sải cánh dài 17 - 20 mm, con đực có túm lông màu nâu nhạt hoặc trắng xám
sắp xếp trên mạch C của cánh trước.
1.2.3.5. Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của sâu cuốn lá nhỏ
Theo Pathak M.D, Z.R. Khan (1994) [51] sâu cuốn lá nhỏ là loài biến thái
hoàn toàn, vòng đời sâu cuốn lá nhỏ từ 33 - 34 ngày. Theo Dale (1994) [39] vòng
đời sâu cuốn lá nhỏ khoảng 24 - 39 ngày, trong thời gian phát dục pha trứng 3 - 6
ngày, pha sâu non từ 15 - 30 ngày, nhộng 4 - 8 ngày.
Sâu cuốn lá nhỏ trải qua 5 tuổi, thời gian phát dục sâu cuốn lá nhỏ phụ thuộc

vào thời gian sinh trưởng cây lúa và nhiệt độ. Ở nhiệt độ 25
0
C giai đoạn lúa đẻ
nhánh thời gian phát dục là 15,5 - 16,5 ngày, nhưng ở giai đoạn làm đòng thời gian
phát dục 18,5 - 20,5 ngày. Thời gian phát dục pha nhộng ở nhiệt độ 25
0
C, 27
0
C,
30
0
C tương ứng là 7,6; 5,8 và 5,3 ngày (CABI, 199) [35].
Trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ hoạt động về ban đêm. Trứng thường đẻ rải rác
hoặc thành từng ổ 10 - 12 quả xếp dọc theo gân chính lá lúa. Lượng trứng đẻ nhiều
nhất vào đêm thứ 4 - 7, sau khi trưởng thành vũ hóa, một con cái có thể đẻ 300 quả
trứng. Sâu non từ tuổi 2 trở đi cuốn lá làm tổ và nằm trong đó gặm chất xanh của lá
11


chỉ để lại gân lá, khi đẫy sức sâu làm nhộng ngay trong tổ hoặc xuống bẹ lá phía
dưới để hóa nhộng (Pathak M.D, Z.R. Khan, 1994) [51], Reissig W.H và et al.
(1986) [53].
Tại Ấn Độ sâu cuốn lá nhỏ phát sinh 5 - 6 lứa trong một năm, tại Korala trong
điều kiện nhân nuôi giai đoạn trứng là 4 ngày, sâu non có 5 tuổi, thời gian các tuổi
trung bình là 3,0; 5,0; 3,8; 4,0; 5,4 ngày từ tháng 10 đến tháng 3, tổng thời gian phát
dục của sâu non trung bình là 24,2 ngày, giai đoạn nhộng dài nhất là 7,4 ngày. Trong
điều kiện nhân nuôi thời gian trứng 3 - 4 ngày, sâu non 15 - 17 ngày, nhộng 6 - 7
ngày, trưởng thành sống 2 - 3 ngày, mỗi con trưởng thành đẻ trung bình 100 quả
trứng.
Ở Philippine đặc điểm sinh vật học sâu cuốn lá nhỏ được nhiều tác giả nghiên

cứu như: Olanes và Sison (1941), Lim (1962), Barrion và et al. (1987, 1991), Mun
Y.D (1982) [47]. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian từ trứng đến trưởng thành là
25 - 52 ngày. Trong đó thời gian trứng 3 - 6 ngày, sâu non 15 - 36 ngày, nhộng 6 - 9
ngày.
Ở Bangladet sâu cuốn lá nhỏ phát sinh mỗi năm 5 - 6 lứa. Vòng đời sâu cuốn
lá nhỏ trung bình 40,7 ngày, dao động trong khoảng 34 - 47 ngày. Trong điều kiện
nhân nuôi thời gian trứng 5,6 ngày, sâu non 25 ngày, nhộng 6,6 ngày và trưởng
thành trước đẻ trứng là 1 - 3 ngày (A Lam M.Z, 1964) [32].
1.2.3.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển và sự gây hại của sâu
cuốn lá nhỏ
Theo Dale, (1994) [39], Pathak M.D, Z.R. Khan (1994) [51] ở các nước vùng
Á nhiệt đới và Châu Á sâu cuốn lá nhỏ phát sinh quanh năm nhưng phát triển mạnh
trong mùa mưa. Các nước có mùa đông lạnh sâu cuốn lá nhỏ phát sinh từ tháng 5
đến tháng 10 hàng năm. Trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ cũng di chuyển theo mùa từ
Trung Quốc đến Nhật Bản và Triều Tiên (Dale, 1994) [39].
Việc sử dụng phân bón không hợp lý đặc biệt phân đạm sẽ tác động lớn đến
mật độ sâu cuốn lá nhỏ. Bón phân đạm với liều lượng 30, 60, 90, 120 và 150 kg/ha
12


cho giống lúa ngắn ngày kết quả là tỷ lệ lá bị hại theo lượng đạm bón (CABI, 1999)
[35].
Kết quả nghiên cứu của Jaswant Singh (1984) [42] ô không bón đạm, 30, 60
và bón 150 kg/ha có tỷ lệ lá bị hại tương ứng 10,53%, 11,0%, 15,3% và 16%. Kết
quả trên chỉ ra rằng lượng phân đạm có mối quan hệ chặt chẽ với sự gây hại của sâu
cuốn lá nhỏ, bón đạm càng cao thì tỷ lệ gây hại càng lớn và ngược lại.
Việc sử dụng nhiều phân bón sẽ làm tăng mật độ sâu cuốn lá nhỏ, đặc biệt
phân đạm. Bón phân kali với liều lượng hợp lý làm giảm khả năng gây hại của sâu
cuốn lá nhỏ, lượng phân bón liên quan đến khả năng đẻ trứng của trưởng thành sâu
cuốn lá nhỏ. Kết quả nghiên cứu của Liang G.W và et al. (1984) [46] bón đạm ở liều

lượng 6, 12, 18 và 24 kg/N số lượng trứng thu được tương ứng là 72, 76, 121 và 161
quả/khóm.
Mật độ cấy ảnh hưởng đến số lượng sâu cuốn lá nhỏ, mật độ cấy dày thường
có mật độ sâu cuốn lá nhỏ cao hơn so mật độ cấy thưa. Theo kết quả nghiên cứu của
Thangamuthu và et al. (1982) [56] với nền phân bón 70kg N/ha cấy ở 4 mật độ 10 x
15cm; 15 x 20cm; 20 x 20cm; và 30 x 20cm. Kết quả điều tra sau 55 ngày cấy tỷ lệ
lá bị hại ô 10 x 15cm là 36% nhưng ô 15 x 20cm tỷ lệ lá hại chỉ 12%.
Theo Shen C.Y, Z.C. Lu, (1984) [55] các giai đoạn sinh trưởng lúa khác nhau
mức độ hại của sâu cuốn lá nhỏ khác nhau. Sản lượng của lúa giảm nhiều nhất nếu
sâu cuốn lá nhỏ gây hại vào lúc lúa trỗ, trung bình vào giai đoạn lúa đẻ nhánh và nhẹ
nhất ở giai đoạn chín sữa, gieo cấy sớm, tập trung mức hại nhẹ hơn so cấy muộn.
Các giống lúa khác nhau thì mức độ gây hại của sâu cuốn lá nhỏ cũng khác
nhau. Theo Majunder và Pathak (1984) [48] có nhận xét giống lúa bị sâu cuốn lá
nhỏ gây hại nặng thường là những giống có bản lá to màu xanh đậm, chiều cao cây
và chiều dài lá lớn hơn các giống khác. Tuy nhiên ở vùng Đông Nam Á chưa có
giống nào chống chịu sâu cuốn lá nhỏ.
1.2.3.7. Biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ
- Biện pháp sinh học
13


Ngày nay với mục tiêu phát triển nền nông nghiệp bền vững, biện pháp đấu
tranh sinh học trong đó nguyên lý cơ bản là lợi dụng các thiên địch của sâu hại để
khống chế, điều chỉnh mật độ chúng dưới ngưỡng gây hại đang là biện pháp đang
được khuyến khích để góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường, giữ cân bằng sinh
thái ngoài tự nhiên.
Việc ứng dụng biện pháp đấu tranh sinh học để xây dựng hệ thống phòng trừ
tổng hợp đang gặp phải khó khăn đó là do việc sử dụng thuốc hóa học ngày càng gia
tăng do thiếu hiểu biết về sinh thái của người dân. Thuốc hóa học có tác dụng tiêu
diệt dịch hại nhanh nhưng làm cho thiên địch bị giảm trên đồng ruộng do nhiễm phải

thuốc. Theo nghiên cứu các nhà khoa học thì ong ký sinh dễ mẫm cảm với thuốc trừ
sâu, nhất là thuốc có phổ tác động rộng, độ độc cao. Ở Trung Quốc khi điều tra trên
ruộng phun thuốc 1 lần/vụ thì tỷ lệ trứng sâu cuốn lá nhỏ bị ký sinh là 3,5%, tỷ lệ ký
sinh sâu non 25,6%, tỷ lệ ký sinh nhộng 17%. Trong khi đó ở ruộng phun thuốc
nhiều lần thì tỷ lệ ký sinh sâu non là 13% (CABI, 1999) [35].
Theo Barrion A.T, J.A Litsinger (1980) [34] ở Philippine phát hiện có nhiều
thiên địch bắt mồi ăn thịt như nhện Lycosa, Oxyopes, Tetragnatha sp. và 6 loài kiến,
những loài kiến này 1 giờ có thể tiêu diệt 4 - 10 sâu cuốn lá nhỏ.
Đấu tranh sinh học là một trong giải pháp phòng trừ sâu hại tổng hợp đem lại
hiệu quả kinh tế, an toàn môi trường và giữ cân bằng sinh thái. Việc lợi dụng kẻ thù
tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ để khống chế mật độ của chúng dưới ngưỡng gây hại là
mục tiêu trong công tác bảo vệ thực vật với nhiều giải pháp như: nuôi, lây thả thiên
địch, nhập nội, bảo vệ và tăng cường hoạt động của thiên địch bằng cách hạn chế sử
dụng thuốc trừ sâu, không sử dụng thuốc có độ độc cao với thiên địch, tạo môi
trường thuận lợi cho thiên địch phát triển.
Tại Nhật Bản loài (Trathala flavobitalis) có thể giết chết sâu non từ 34 đến
54% trong giai đoạn từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7, tính trung bình suốt vụ tỷ lệ
này là 12%. Có 2 loài ong ký sinh là (Itoplectis narganyae) và (Brachymeria
excarinata) ký sinh nhộng vào cuối tháng 10, tỷ lệ ký sinh 11 - 31%.
14


Tại Quảng Đông, Trung Quốc loài ong (Trichogramma Japonicum Aslimead)
đã được sử dụng để diệt trứng sâu cuốn lá nhỏ có tác dụng làm giảm tỷ lệ lá bị sâu
hại là 92,8% so với đối chứng. Ong (Apanteles cypris) cũng là loài ong ký sinh
chuyên tính sâu tuổi nhỏ rất phổ biến tại Trung Quốc. Việc phun lên cây lúa chất
Kairomon và chất tiết từ tuyến nước bọt của sâu non đã làm tăng tỷ lệ ký sinh lên tới
15 - 25% (theo Hu và Chen, 1987) [35].
Tại philippine có 83 loài bắt mồi ăn thịt, 55 loài ký sinh và 6 loài nấm tấn
công lên tất cả các giai đoạn phát dục của sâu cuốn lá nhỏ, tuy nhiên các loài bắt mồi

ăn thịt là quan trọng nhất. Những loài bắt mồi ăn thịt thuộc giống Grylidae gồm
Metioche và Anaxipha ăn trứng và ong Ophionae spp ăn sâu non. Các loài ký sinh
quan trọng gồm Copidosomopsis nacoleiae, Cotesia angustibasis, Cardiochiles
philippinensis và Macrocentrus cnaphalocrocis, trong suốt mùa mưa nếu lượng mưa
vừa phải thì quần thể nấm Zoophthora radicans có thể tiêu diệt toàn bộ quần thể sâu
non (Barrion và et al., 1991) [33].
- Biện pháp sử dụng giống
Hiện nay, việc sử dụng giống kháng sâu cuốn lá cũng được các nhà khoa học
quan tâm nhiều. Majuner và Pathak (1984) [48] có nhận xét những giống lúa bị sâu
cuốn lá nhỏ gây hại nặng là những giống lúa có bản lá to, xanh đậm, chiều cao cây
và chiều dài lá lớn hơn các giống khác.
Theo Pathak M.D, Z.R. Khan (1994) [51] việc bố trí tỷ lệ hợp lý các giống
lúa kháng sâu cuốn lá nhỏ là một giải pháp nhằm giảm áp lực sâu cuốn lá nhỏ đồng
thời tăng tính đa dạng sinh học trên đồng ruộng hạn chế thiệt hại do loài này gây ra.
Đây là một biện pháp chủ động an toàn sinh thái và nên thực hiện trong biện pháp
phòng trừ tổng hợp.
Jaswant và Dhaliwai (1983) [35] có nhận xét rằng những giống lúa được gọi
là kháng sâu cuốn lá nhỏ chỉ thể hiện tính kháng trong từng điều kiện cụ thể của
từng địa phương. Tại Ấn Độ người ta khảo nghiệm 384 giống lúa đối với sâu cuốn lá
nhỏ tại 2 địa phương Gurdaspur và Kapurthala. Kết quả nhận được 15 giống kháng ở
15


Gurdaspur và 2 giống kháng ở Kapurthala, nhưng chỉ có một giống kháng chung cho
cả 2 địa phương trên, đó là giống IET. 7776. Điều này chứng tỏ rằng công việc
tuyển chọn giống chống chịu với sâu cuốn lá nhỏ đang còn là vấn đề khó khăn trong
sản xuất nông nghiệp.
- Biện pháp canh tác
Trong các biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ thì biện pháp canh tác là một
biện pháp có ảnh hưởng đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng. Cần chú ý tiêu

diệt ký chủ phụ quanh bờ là nơi cư trú của chúng mỗi khi chuyển vụ, là nguồn sâu
quan trọng để chuyển sang vụ sau, cỏ bấc là một trong những cây ký chủ chính để
sâu cuốn lá nhỏ tồn tại và phát triển. Những ruộng lúa gần mương máng nhiều cỏ
bấc thì có mật độ sâu cao hơn nhiều nơi khác.
Phương pháp bón phân cân đối, hợp lý NPK, đặc biệt không nên bón phân
đạm quá muộn, quá nhiều (tức là không nên bón đạm khi cây lúa chuyển sang giai
đoạn tượng khối sơ khởi), nếu bón muộn sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng cây lúa, bộ
lá xanh non thu hút trưởng thành đến tập trung và đẻ trứng, yếu tố này rất thuận lợi
cho sâu cuốn lá nhỏ phát sinh và gây hại.
Mật độ cấy cũng ảnh hưởng lớn đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng,
không nên cấy với mật độ quá dày, cấy mật độ vừa phải 22,5 x 20cm có tác dụng
hạn chế mật độ sâu cuốn lá nhỏ. Việc bố trí thời vụ gieo cấy cũng ảnh hưởng đến
mật sâu cuốn lá nhỏ, nếu bố trí thời vụ sớm cây lúa sinh trưởng nhanh tránh được
những cao điểm gây hại của sâu cuốn lá nhỏ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 giúp cây
lúa ít bị ảnh hưởng gây hại của lứa sâu này (CABI, 1999) [35].
- Biện pháp hóa học
Hiện nay thuốc hóa học rất đa dạng và phong phú nhiều chủng loại khác
nhau, nguồn thuốc hóa học được nhiều hãng thuốc, nhiều công ty nhập từ nhiều
nước khác nhau để phân phối và phòng trừ sâu hại. Tuy nhiên, nhiều công trình
nghiên cứu khoa học đã khẳng định đã có nhiều giống lúa mới có khả năng tự đền
16


bù thiệt hại khi cây lúa ở giai đoạn 40 ngày sau cấy nên việc sử dụng thuốc hóa học
sớm để trừ sâu hại này không là vấn đề cần thiết. Việc phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ
ngay từ đầu vụ bằng thuốc hóa học là không nên làm, chỉ phun sau cấy 40 ngày khi
mật độ sâu cuốn lá nhỏ cao. Ruộng lúa sẽ tránh được thiệt hại khi quản lý tốt dinh
dưỡng và nguồn nước. Nhóm thuốc Pyrethroid và các thuốc trừ sâu có phổ rộng có
thể tiêu diệt được sâu non song có thể gây rủi ro cho cây lúa vì sự bùng phát của
dịch hại thứ yếu như rầy nâu…đó là nguyên nhân mất cân bằng sinh học.

Theo Endo và et al. (1987) nông dân sử dụng tới 40% số lần phun thuốc để
trừ sâu cuốn lá nhỏ, trong điều kiện nghiên cứu khi nông dân không phun giai đoạn
đầu vụ thì không làm thiệt hại kinh tế, tăng thu nhập từ 15 - 30% và tiết kiệm chi phí
thuốc trừ sâu, việc giảm phun thuốc trừ sâu sẽ giảm ô nhiễm môi trường, nâng cao
sức khỏe cho bà con nông dân.
Ngày nay, xu hướng sư dụng thuốc trừ sâu có phổ hẹp ít hoặc không ảnh
hưởng đến thiên địch và các loài sinh vật khác. Thuốc trừ sâu có nguồn gốc vi sinh
và thảo mộc được chú trọng. Theo nghiên cứu của Saxenna và et al. (1980) dầu hạt
Neem được sử dụng có hiệu quả để trừ sâu cuốn lá nhỏ.
1.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.1. Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa
Kết quả điều tra côn trùng 1967 - 1968 ở Miền Bắc đã xác định được 88 loài
côn trùng và nhện nhỏ hại cây lúa (Viện BVTV, 1975) [30]. Ở Miền Nam kết quả
điều tra năm 1977 - 1979 đã xác định được 86 loài côn trùng và nhện nhỏ hại trên
cây lúa (Viện BVTV, 1980) [29]. Thành phần sâu hại lúa ở Việt Nam còn được
nhiều tác giả khác công bố, trong đó có công trình nghiên cứu của Phạm Văn Lầm
(2000) [12] tổng hợp tất cả các tài liệu đã công bố và chỉ ra rằng: Ở Việt Nam có
133 loài côn trùng và nhện nhỏ (thuộc 90 giống, 33 họ của 8 bộ côn trùng và nhện
nhỏ) gây hại trên cây lúa.

×