BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ LAN ANH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG - TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ LAN ANH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG - TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Thái Văn Thành
Nghệ An - 2014
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ngay từ thủa sơ khai của đất nước, các bậc tiền nhân đã nói: “Hiền tài là
nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước thịnh, nguyên khí suy thì
đất nước suy” (Thân Nhân Trung). Có thể nói lịch sử phát triển của hầu hết các
quốc gia trên thế giới đều thấy rằng: Giáo dục và đào tạo có vai trò hết sức quan
trọng trong công cuộc xây dựng đất nước, trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội. Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới sự
nghiệp chăm sóc và phát huy yếu tố con người. Điều đó xuất phát từ nhận thức
sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của yếu tố con người, chủ thể
của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải và văn hóa, mọi nền văn minh của mọi
quốc gia. Xây dựng và phát triển con người có trí tuệ cao, cường tráng về thể
chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động tực, đồng thời là
mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Để đạt được điều đó, giáo dục đào tạo có vai trò
quyết định.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II ban chấp hành Trung Ương khóa VIII ghi
rõ: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con
người và thế hệ thiết tha gắn với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có
đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tô quốc; công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân
tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân
tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của
cá nhân , làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có
kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật, có
sức khỏe là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội”.
Đương thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến giáo dục lý tưởng,
đạo đức cho thế hệ trẻ. Trong di chúc của Người về giáo dục thanh niên Bác chỉ
rõ: “Bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đời sau là một việc làm hết sức quan
trọng và cần thiết” và “thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái
1
xung phong không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, Đảng cần bồi dưỡng họ thành
những người kế tục sự nghiệp cách mạng vừa hồng vừa chuyên ”.
1.2 .Trong đời sống hiện nay, xã hội có những bước chuyển biến không ngừng,
sâu rộng to lớn về mọi mặt. Song cái gì cũng có mặt trái của nó, mặt trái của cơ
chế thị trường đang tác động rất mạnh đến tư tưởng và lối sống của một bộ phận
dân cư, trong đó phần lớn là thanh niên, thiếu niên, đặc biệt là tệ nạn xã hội đang
xâm nhập vào các trường học. Do vậy vấn đề đặt ra là giáo dục cho thế hệ trẻ
phải giáo dục một cách toàn diện, đặc biệt là tăng cường giáo dục lý tưởng, đạo
đức, giáo dục những giá trị nhân văn để thực hiện nhiệm vụ.
Gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, nước ta đã đạt được
những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, nhưng điều đáng tiếc là về tư tưởng,
đạo đức có phần bị giảm sút đặc biệt là thế hệ trẻ, một bộ phận thanh thiếu niên,
học sinh, sinh viên sống không có lý tưởng, không có mục đích, sống chạy theo
các nhu cầu tầm thường, ngại cống hiến, ngại khó khăn, sống thích hưởng thụ,
sống thiếu niềm tin, hoang mang dao động, sống buông thả, tha hóa nhân cách ,
gây nỗi đau, đáng lo ngại cho các bậc cha mẹ, đã tác động xấu tới các giá tri đạo
đức truyền thống, ảnh hưởng không nhỏ trực tiếp đến công tác GDĐĐ học sinh.
1.3 .Trước tình hình và thực trạng đó, trong những năm qua đã được các cấp, các
ngành, đặc biệt là những người làm công tác giáo dục thực sự quan tâm và sự
cần thiết là phải đầu tư cho việc giáo dục toàn diện. Nhưng thực tế thì vấn đề
giáo dục lý tưởng, đạo đức vẫn có những nơi, những lúc còn bị xem nhẹ, chưa
được chú trọng . Đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu tìm ra giải pháp
quản lý công tác giáo dục đạo dức cho học sinh các trường trung học cơ sở
(THCS) huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa.
Với mong muốn tìm ra một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức
cho học sinh trường THCS nói chung và các trường THCS huyện Quảng Xương
tỉnh Thanh Hóa nói riêng nhằm góp phần lưu giữ , phát huy những giá trị đạo
đức tốt đẹp của dân tộc , đồng thời tiếp thu có chọn lọc những giá trị đạo đức
tinh hoa của thế giới.
2
Xuất phát từ những lý do khách quan và lý do chủ quan như đã phân tích
ở trên, tôi mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở
các trường THCS huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa”.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học
sinh các trường THCS huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Để góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh THCS của huyện Quảng Xương.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý GDĐĐ cho học sinh các trường THCS
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý công tác GDĐĐ cho học sinh các trường THCS
huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
4. Giả thuyết khoa học.
Có thể nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho HS các trường
THCS huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, nếu có các giải pháp quản lý đảm
bảo tính khoa học, tính khả thi và áp dụng được trong thực tiễn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý công tác GDĐĐ cho HS các trường THCS.
5.2. Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý GDĐĐ cho HS
các trường THCS trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
5.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS các trường THCS
trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
5.4 Thăm dò tính khả thi của các giải pháp đề xuất.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Tập hợp , phân loại tài liệu,
nghiên cứu các tri thưc khoa học có trong các văn bản của Đảng, Nhà nước , của
ngành giáo dục và đào tạo và các tài liệu khoa học liên quan.
3
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn : Điều tra, khỏa sát, đánh giá
thực tiễn , đàm thoại, phỏng vấn, thu thập thông tin, lấp ý kiến chuyên gia.
6.3. Nhóm các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu
7. Những đóng góp của luận văn
- Đóng góp về mặt lý luận: Bổ sung cơ sở lý luận về GDĐĐ, công tác quản lý
GDĐĐ cho học sinh các trường THCS.
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Chỉ ra thực trạng công tác quản lý GDĐĐ cho HS
các trường THCS trên địa bàn huyện Quảng Xương , tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời
đề xuất được một số giải pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS các trường
THCS trên địa bàn huyện Quảng Xương , tỉnh Thanh Hóa
8. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học
sinh các trường THCS.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức cho HS các
trường THCS trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh các trường THCS huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Ở phương Tây, thời cổ đại, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng
cái gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy
được lan toả thì con người sẽ có hạnh phúc. Muốn xác định được chuẩn mực đạo
đức, theo Socrate, phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp nhận thức khoa
học [6,tr34].
Khổng Tử (551-479 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc.
Ông xây dựng học thuyết “ Nhân- Lễ- Chính danh” trong đó, “ Nhân”- Lòng
thương người – là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người. Đứng
trên lập trường coi trọng GDĐĐ, Ông có câu nói nổi tiếng truyền lại đến ngày
nay “ Tiên học lễ, hậu học văn” [6,tr 21].
Thế kỷ XVII, Komenxky – Nhà giáo dục học vũ đại Tiệp Khắc đã có
nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm “ Khoa sư phạm vĩ đại”.
Komenxky đã chú trọng phối hợp môi trường bên trong và bên ngoài để GDĐĐ
cho HS [ 28].
Thế kỷ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên cứu
về GDĐĐ HS như: A.C. Macarenco, V.A Xukhomlinxky… Nghiên cứu của họ
đã đặt nền tảng cho việc GDĐĐ mới trong giai đoạn xây dựng CNXH ở Liên
Xô.
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đạo đức và GDĐĐ
cho cán bộ, HS Bác cho rằng đạo đức là cách mạng là gốc, là nền tảng của người
Cách mạng. Bác còn căn dặn Đảng ta phải chăm lo GDĐĐ cách mạng cho đoàn
viên và thanh niên, HS thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng”
vừa “ chuyên”.
5
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi nội dung cơ bản trong quan điểm đạo đức cách
mạng là: Trung tâm với nước, hiếu với dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư,
yêu thương con người, tinh thần quốc tế trong sáng.
Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn khá
công phu. Tiêu biểu như giáo trình của Trần Hậu Kiểm (NXB Chính trị quốc
gia, 1997); Phạm Khắc Chương – Hà Nhật Thăng (NXB Giáo dục, 2001); Giáo
dục đạo đức học (GS-TS Nguyễn Ngọc Long – chủ biên, NXB Chính trị quốc
gia, 2000), Giáo trình đạo đức học Mác – Lê Nin, (PGS-TS Vũ Trọng Dung chủ
biên, NXB Chính trị quốc gia, 2005) …
Vấn đề GDĐĐ cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu: Đặc trưng
của đạo đức và phương pháp GDĐĐ (Hoàng An, 1982); GDĐĐ trong nhà
trường (Hà Thế Ngữ- Đặng Vũ Hoạt, 1988), các nhiệm vụ GDĐĐ (Nguyễn Sinh
Huy, 1995) Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều
kiện kinh tế thị trường (Thái Duy Tuyên, chủ biên, 1994), Giáo dục hệ thống
giáo giá trị đạo đức nhân văn (Hà Nhật Thăng, 1998), Một số vấn đề về lối sống
đạo đức, chuẩn giá trị xã hội (Huỳnh Khải Vinh, 2001), Giáo dục giá trị truyền
thống cho HS, sinh viên (Phạm Minh Hạc, 1997), Vấn đề giáo dục bảo vệ môi
trường (Lê Văn Khoa, 2003), Một số nguyên tắc giáo dục nhân cách có hiệu quả
trong nhà trường phổ thông (Nguyễn Thị Kim Dung, 2005), Tổ chức hoạt động
GDNGLL ở trường THPT (Phùng Đình Mẫn chủ biên, 2005)….
Khi nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức của các tác giả đã đề cập đến
mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, đạo đức và một số vấn đề về quản lý
công tác giáo dục đạo đức.
Về mục tiêu giáo dục đạo đức, GV.VS. Phạm Minh Hạc đã nêu rõ:
“ Trang bị cho mọi người những tri thức cần thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức
nhân văn, kiến thức pháp luật và văn hoá xã hội. Hình thành ở mọi công dân thái
độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người,
với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung
quanh. Tổ chức tốt giáo dục giới trẻ, rèn luyện để mọi người tự giác thực hiện
6
những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành quy định của pháp
lụât, nỗ lực học tập và rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước” [26, tr168]
Để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong thời kỳ đổi mới đã có một
số nhà khoa học nghiên cứu về quản lý công tác giáo dục đạo đức. Tuy còn ít ỏi
nhưng có thể kể đến:
- Nguyễn Văn Trung với đề tài luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục:
“ Công tác quản lý của Hiệu trưởng trong việc tổ chức GDĐĐ cho học sinh ở
các trường THPT huyện Châu Thành, Đồng Tháp” năm 2006.
- Lê Quang Tuấn với đề tài luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục “Một số
giải pháp công tác quản lý GDĐĐ cho học sinh ở các trường THPT huyện Cẩm
Xuyên- Tỉnh Hà Tĩnh” năm 2008.
- Một vài quan điểm đổi mới hoạt động giáo dục đạo đức của người
GVCN bậc THCS (Lê Trung Tấn – Nguyễn Dục Quang, 1994).
- Thử nghiệm quy trình tác động nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ HS
THCS (Lê Thanh Thử, 1994).
Đặc biệt, hiện nay chưa có tác giả nào nghiên cứu vấn đề GDĐĐ cũng
như các giải pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS các trường THCS Thành phố
Thanh Hoá, Tỉnh Thanh Hoá.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Đạo đức, giáo dục và giáo dục đạo đức
1.2.1.1. Đạo đức
Để tồn tại và phát triển, con người phải hoạt động và tham gia các mối
quan hệ liên nhân cách. Trong quá trình thực hiện mối quan hệ ấy, nếu con
người có cách giao tiếp, ứng xử phù hợp với lợi ích chung của mọi người, của
cộng đồng XH thì con người ấy được đánh giá là có đạo đức. Ngược lại, cá nhân
nào có thái độ, hành vi không đứng đắn làm tổn hại tới lợi ích của người khác,
của cộng đồng và bị XH lên án, chê trách thì cá nhân đó bị coi là người thiếu
đạo đức. Vậy đạo đức là gì?
7
- Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Khoa học XH) thì: “Đạo đức là những
tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với
nhau và đối với xã hội. Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo
những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định” [46,tr211]
- Theo học thuyết Mác – Lênin: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội
có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội. Đạo đức là
một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Vì
vậy tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (đạo đức) cũng thay đổi theo. Và
như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.”
[8,tr13]
- Theo giáo trình “Đạo đức học ” (NXB Chính trị quốc gia Hà Nội - Năm
2000): “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc,
quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con
người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi
niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [29,tr8]
- GS.TS Phạm Minh Hạc cho rằng: “Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý,
những quy định và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người. Nhưng bên
trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo
đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con
người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống.”
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù
chính trị, pháp luật đời sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản
ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá. Đạo đức được biểu
hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý,
có hiệu quả những mâu thuẫn.
- Theo tác giả Trần Hậu Kiểm: “Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc,
quy tắc chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình
vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người với
con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội.” [29,tr31]
8
- Theo PGS.TS Phạm Khắc Chương: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã
hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người
tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của
con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ xã hội giữa con người với con người,
giữa cá nhân và xã hội.” [18,tr51]
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức. Tuy nhiên theo chúng
tôi, có thể tiếp cận khái niệm này dưới hai góc độ:
Về góc độ XH: ĐĐ là một hình thái ý thức XH đặc biệt, phản ánh dưới
dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh hoặc chi phối hành vi
của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con
người với xã hội và với chính bản thân mình.
Về góc độ cá nhân: ĐĐ chính là những phẩm chất, nhân cách của con
người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của
họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với XH, giữa bản thân họ
với người khác và với chính bản thân mình.
ĐĐ biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát triển của các điều
kiện kinh tế XH, cùng với sự phát triển của XH. Khái niệm ĐĐ ngày càng được
hoàn thiện đầy đủ hơn.
Các giá trị ĐĐ trong XH của chúng ta hiện nay là thể hiện sự kết hợp sâu
sắc truyền thống ĐĐ tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thời đại, của
nhân loại. Lao động sáng tạo, nguồn gốc của mọi giá trị là một nguyên tắc đạo
đức có ý nghĩa chỉ đạo trong giáo dục và tự giáo dục của con người hiện nay.
ĐĐ có ba chức năng: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi. Trong
đó, điều chỉnh hành vi hết sức quan trọng vì nó điều chỉnh hành vi con người
trong mọi lĩnh vực của đời sống XH.
* Chức năng nhận thức: Nhận thức ĐĐ đem lại tri thức ĐĐ, ý thức ĐĐ
cho chủ thể, các cá nhân nhờ tri thức ĐĐ, ý thức ĐĐ XH đã nhận thức mà tạo
thành ĐĐ cá nhân. Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng, giá trị ĐĐ
XH trở thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện ĐĐ.
9
* Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức ĐĐ, chức năng giáo dục giúp
con người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ thống định
hướng giá trị và các chuẩn mực ĐĐ, điều chỉnh ý thức hành vi ĐĐ. Hiệu quả
giáo dục ĐĐ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế XH, cách thức tổ chức, giáo dục
mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục trong quá trình giáo dục.
* Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức: Sự điều chỉnh hành vi ĐĐ làm
cho cá nhân và XH cùng tồn tại và phát triển, đảm bảo quan hệ lợi ích cá nhân
và cộng đồng. Chức năng này thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu. Trước hết là
bản thân chủ thể ĐĐ phải tự giác điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những
chuẩn mực ĐĐXH. Thứ hai là tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi, khuyến
khích, đánh giá hoặc phê phán những biểu hiện cụ thể của hành vi ĐĐ trên cơ sở
những chuẩn mực giá trị ĐĐ. Đây là chức năng XH cơ bản, hết sức quan trọng
của ĐĐ: “Mục đích điều chỉnh của đạo đức nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát
triển xã hội bằng việc tạo nên sự hài hoà quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân
(và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng)” [29, tr41]
1.2.1.2. Giáo dục
Theo quan điểm của CN Mác Lê Nin giáo dục là một hình thái ý thức xã
hội, giáo dục tồn tại, vận động, phát triển theo sự tồn tại vận động và phát triển
của xã hội. Là một hiện tượng xã hội, giáo dục sự chi phối và quy định bởi nhiều
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Mặt khác, sự phát triển của giáo dục và
sự hoàn thiện về chất lượng giáo dục là yếu tố then chốt tạo ra sự phát triển của
xã hội, của nền văn minh nhân loại.
Giáo dục được hiểu theo nhiều cách tiếp cận và nhiều cấp độ khác nhau:
- Về bản chất: Giáo dục được hiểu là quá trình truyền thụ và lĩnh hội kinh
nghiệm lịch sử xã hội giữa các thế hệ.
- Về hoạt động: Giáo dục được hiểu là quá trình tác động của xã hội và
của nhà giáo dục đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm
chất nhân cách theo yêu cầu của xã hội.
- Về mặt phạm vi, giáo dục được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau:
10
+ Ở cấp độ rộng nhất: Giáo dục là quá trình hình thành nhân cách dưới
ảnh hưởng của tất cả các tác động (tích cực, tiêu cực, khách quan, chủ quan…)
Đây cũng chính là quá trình xã hội hoá con người.
+ Ở cấp độ thứ 2: Giáo dục là họat động có mục đích của các lực lượng
giáo dục xã hội nhằm hình thành các phẩm chất nhân cách. Đây chính là quá
trình giáo dục xã hội.
+ Ở cấp độ thứ 3: Giáo dục là họat động có kế hoạch, có nội dung xác
định và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong các tổ chức giáo
dục, trong các cơ sở giáo dục đến học sinh nhằm giúp học phát triển toàn diện.
Đây chính là quá trình sư phạm tổng thể.
+ Ở cấp độ hẹp nhất: Giáo dục là quá trình hình thành ở học sinh những phẩm
chất đạo đức, những thói quen hành vi. Đây chính là giáo dục đạo đức cho học sinh.
Trong luận văn này giáo dục được hiểu như là một quá trình sư phạm tổng
thể: là họat động có kế hoạch, có nội dung, bằng các phương pháp khoa học trong
các cơ sở giáo dục đến học sinh nhằm phát triển đức, trí, thể, mỹ…
1.2.1.3. Giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức (GDĐĐ) cho HS là một quá trình lâu dài, liên tục về
thời gian, rộng khắp về không gian, từ mọi lực lượng xã hội, trong đó, nhà
trường giữ vai trò rất quan trọng.
GDĐĐ trong nhà trường THCS là một quá trình giáo dục bộ phận của quá
trình sư phạm tổng thể. Nó có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục bộ
phận khác như: giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục
lao động, giáo dục hướng nghiệp…
GDĐĐ cho HS là quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất đạo
đức của nhân cách HS dưới những tác động và ảnh hưởng có mục đích được tổ
chức có kế hoạch, có sự lựa chọn về nội dung, phương pháp và hình thức giáo
dục phù hợp với lứa tuổi và với vai trò chủ đạo của nhà giáo dục. Từ đó, giúp
HS có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa cá nhân với
cá nhân, với cộng đồng xã hội, với lao động, với tự nhiên…
11
Bản chất của GDĐĐ là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo
dục và yếu tố tự giáo dục của HS, giúp HS chuyển những chuẩn mực, quy tắc,
nguyên tắc đạo đức… từ bên ngoài xã hội vào bên trong thành cái của riêng
mình mà mục tiêu cuối cùng là hành vi đạo đức phù hợp với những yêu cầu của
các chuẩn mực xã hội. GDĐĐ khôngchỉ dừng lại ở vịêc truyền thụ những khái
niệm, những tri thức đạo đức, mà quan trọng hơn hết là kết quả giáo dục phải
được thể hiện qua tình cảm, niềm tin, hành động thực tế của HS.
Như vậy, GDĐĐ là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, có tổ
chức của nhà giáo dục và yếu tố tự giáo dục của người học để trang bị cho HS
tri thức – ý thức đạo đức, niềm tin và tình cảm đạo đức và quan trọng nhất là
hình thành ở các em hành vi, thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã
hội.
1.2.2. Quản lí, quản lí giáo dục và quản lí giáo dục đạo đức
1.2.2.1. Quản lí
Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý
đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt
động của con người trong các quá trình sản xuất, XH để đạt được mục đích đã
định.
Các Mác đã lột tả bản chất quản lý là: “Nhằm thiết lập sự phối hợp giữa
những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự
vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các bộ phận
riêng lẻ của nó. Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn
nhạc thì cần người chỉ huy”. [30, tr342] Như vậy theo Các Mác: Quản lý là loại
lao động sẽ điều khiển mọi quá trình lao động phát triển XH.
Các nhà lý luận quốc tế như: Frederich Wiliam Taylor (1856 – 1915 )
Mỹ; Henry Fayol (1841 - 1925) Pháp; Max Weber (1864 – 1920 ) Đức… đều
khẳng định: “Quản lý là khoa học, đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển
xã hội”.
12
Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có
định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể
(đối tương quản lý) về các mặt chính trị, xã hội, văn hoá, kinh tế… bằng một hệ
thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải
pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối
tượng” [20, tr97]
Có tác giả lại quan niệm: “Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa
có tính nghệ thuật vào hệ thống con người, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế – xã
hội, quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức trên các thông
tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối
tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định ”[24, tr4]
Những khái niệm trên về quản lý khác nhau về cách diễn đạt, nhưng vẫn
cho thấy một ý nghĩa chung: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng
của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có
hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra
trong điều kiện biến động của môi trường.
Chức năng của quản lý:
Chức năng của quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt, thông
qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục
tiêu nhất định. Nhiều nhà khoa học và quản lý thực tiễn đã đưa ra những quan
điểm khác nhau về phân loại chức năng quản lý. Theo quan điểm quản lý hiện
đại, từ các hệ thống chức năng quản lý nêu trên, có thể khái quát một số chức
năng cơ bản sau:
1. Kế hoạch
2. Tổ chức
3. Chỉ đạo (bao gồm cả sửa chữa, uốn nắn và phối hợp)
4. Kiểm tra (bao gồm cả thanh tra, kiểm soát và kiểm kê).
13
CHỨC NĂNG QUẢN LÝ VÀ CHU TRÌNH QUẢN LÝ:
Biểu thị mối liên hệ và tác động trực tiếp
Biểu thị mối liên hệ ngược hoặc thông tin phản hồi trong quá trình quản
lý.
1.2.2.2. Quản lí giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận trong quản lý nhà nước XHCN Việt
Nam. Vì vậy quản lý giáo dục mặc dù có những đặc điểm riêng biệt, song cũng
chịu sự chi phối bởi mục tiêu quản lý nhà nước XHCN.
* Về nội dung khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau:
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp
các lực lượng XH nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát
triển XH. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác
giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Tuy nhiên, trọng
tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ. Cho nên, quản lý giáo dục được hiểu là sự điều
hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
14
Kế hoạch
Kiểm Tra
TTQL
Tổ Chức
Chỉ đạo
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là
hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng XH nhằm thúc đẩy mạnh công tác
đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển XH” [1,tr4]
Theo GS. Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực
hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là
đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục,
mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh.”
(Phạm Minh Hạc: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục - Hà Nội
1986)
“Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối,
nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ
nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ,
đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái về chất.”[38]
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể khái quát như sau: Quản lý giáo dục
là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở
các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống nhằm đảm
bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo sự phát
triển mở rộng về cả mặt số lượng cũng như chất lượng để đạt mục tiêu giáo dục.
1.2.2.3. Quản lí giáo dục đạo đức
Quản lý GDĐĐ là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới đối tượng
quản lý nhằm đưa hoạt động GDĐĐ đạt kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả
nhất.
Về bản chất, quản lý hoạt động GDĐĐ là quá trình tác động có định hướng
của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động nhằm thực
hiện có hiệu quả mục tiêu GDĐĐ (nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ
thái độ, tình cảm, hành vi và thói quen. Đó là những nét tính cách của nhân cách,
ứng xử đúng đắn trong XH).
15
Quản lý GDĐĐ phải hướng tới việc làm cho mọi lực lượng giáo dục nhận
thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác GDĐĐ. Quản lý hoạt động
GDĐĐ bao gồm việc quản lý mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp giáo
dục, huy động đồng bộ lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực
hiện tốt nhiệm vụ GDĐĐ, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục.
1.2.3. Giải pháp và giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức
1.2.3.1. Giải pháp
Theo “Từ Điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên thì: “Giải pháp là cách
làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.” [46]
Theo cuốn “Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng ” của tác giả
Nguyễn Văn Đạm: “Giải pháp là cách làm, cách hành động đối phó để đi đến
một mục đích nhất định ” [47]
Như vậy, nghĩa chung nhất của giải pháp là cách làm, thực hiện một
công việc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra.
1.2.3.2. Giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức
Giải pháp quản lý công tác GDĐĐ là cách làm, cách hành động cụ thể để
nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho học sinh.
1.3. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
1.3.1. Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục đạo
đức cho học sinh trung học cơ sở
1.3.1.1. Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
* Kiến thức:
- Biết được biểu hiện và ý nghĩa của một số giá trị đạo đức cơ bản, phù
hợp với lứa tuổi.
- Biết được nội dung cơ bản của một số quyền và nghĩa vụ công dân trong
các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Có những hiểu biết sơ bộ về tổ chức bộ máy nhà nước CHXHCN Vịêt
Nam về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quyền của
công dân.
16
- Hiểu những yêu cầu về đạo đức và ý thức tuân thủ pháp lụât trong đời
sống hàng ngày.
* Kỹ năng
- Biết sống và ứng xử theo các giá trị đạo đức đã học.
- Biết ứng xử giao tiếp một cách có văn hoá.
- Thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân phù hợp với lứa tuổi.
* Thái độ
- Yêu quê hương đất nước Vịêt Nam. Tự hào có ý thức giữ gìn, phát huy
các truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tôn trọng đất nước con người và các nền
văn hoá khác.
- Yêu thương, tôn trọng mọi người xung quanh.
- Tự trọng, tự tin trong giao tiếp và các họat động hàng ngày.Có ý thức
thực hiện quyền và nghĩa vụ của bản thân, đồng thời tôn trọng các quyền của
người khác.
- Có ý thức học tập và vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. Có ý thức
định hướng nghề nghiệp đúng đắn. Bước đầu hình thành được một số phẩm chất
cần thiết của người lao động như cần cù, sáng tạo, trung thực, có trách nhiệm, có
ý thức kỷ lụât và tác phong công nghiệp, biết hợp tác trong công việc.
- Tích cực tham gai các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội phù hợp với
khả năng.
- Có ý thức rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường.
- Bước đầu có ý thức thẩm mỹ, yêu và trân trọng cái đẹp.
1.3.1.2. Nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Trong giai đoạn hiện nay nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh trung
học cơ sở bao gồm việc giáo dục ý thức đạo đức, giao dục tình cảm đạo đức và
giáo dục hành vi đạo đức với các nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Lam cho học sinh thâm nhuần sâu sắc thế giới quan Mác- Lê Nin, tư tưởng
đạo đức Hồ Chí Minh, tinh chân lý khách quan của các giá trị đạo đức, nhân văn,
nhân bản của tư tưởng đó, coi đó lả kim chỉ nam cho hành động của mình.
17
+ Trên cơ sở đó, thông qua việc tiếp cận với cuộc đấu tranh cách mạng
của dân tộc và hoạt động của cá nhân để học sinh cũng cố niềm tin và lẻ sống, lý
tưởng sống, lối sống theo con đường XHCN.
+ Làm cho học sinh thấm nhuần chủ trương, chính sách của Đảng , biết
sống và làm việc theo pháp luật, sống có kỷ cương nề nếp, có vân hóa trong các
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với XH và quan hệ giữa con người với
nhau.
+ Làm cho học sinh nhận thức ngày càng sâu sắc nguyên tắc, yêu cầu
chuẩn mực và các giá trị ĐĐ xã hội chủ nghĩa . Biến các giá trị đó thành ý thức,
tình cảm, hành vi, thói quen và cách ứng xử trong đời sống hàng ngày.
+ Giúp học sinh phát triển nhu cầu đạo đức cá nhân, hình thành và phát
triển ý thức đạo đức, rèn luyện ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử đạo đức.
Phát triển các giá trị đạo đức cá nhân theo những định hướng giá trị mang tính
đặc thù dân tộc và thời đại.
Nhiệm vụ của quá trình giáo dục đạo đức này không những định hướng
cho các hoạt động giáo dục đạo đức mà còn định hướng cho hoạt động dạy học
nói chung, môn giáo dục công dân nói riêng.
1.3.1.3. Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Nội dung GDĐĐ cho học sinh THCS bao gồm những chuẩn mực sau:
- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức chính trị, tư tưởng, có lý
tưởng xã hội chủ nghĩa, yêu quê hương, đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tin
tưởng vào Đảng và Nhà nước.
- Nhóm chuẩn mực hướng vào sự tự hoàn thiện bản thân như: tự trọng, tự
tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thành, siêng năng, hướng thiện, biết kiềm
chế,biết hối hận.
- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với công việc đó là: Trách
nhiệm cao, có lương tâm, tôn trọng pháp lụât, lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết.
- Nhóm chuẩn mực liên quan đến xây dựng môi trường sống (môi trường
tự nhiên, môi trường văn hoá xã hội) như: xây dựng hạnh phúc gia đình, giữ gìn
18
bảo vệ tài nguyên, xây dựng xã hội dân chủ bình đẳng… mặt khác có ý thức
chống lại những hành vi gây tác hại đến con người, môi trường sống, bảo vệ hoà
bình, bảo vệ phát huy truyền thống di sản văn hoá của dân tộc và nhân loại.
Ngày nay, trong nội dung GDĐĐ cho HS THCS có thêm một số chuẩn
mực mới như tính tích cực xã hội, quan tâm đến thời sự, sống có mục đích, có
tinh thần hợp tác với bạn bè, với người khác…
1.3.1.4. Phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Phương pháp GDĐĐ là cách thức hoạt động chung giữa GV, tập thể HS
và từng HS nhằm giúp HS lĩnh hội được nền văn hoá đạo đức của loài người và
của dân tộc.
Các phương pháp GDĐĐ ở THCS rất phong phú, đa dạng, kết hợp giữa
các phương pháp truyền thống và hiện đại như:
- Phương pháp đàm thoại: Là phương pháp tổ chức trò chuyện giữa giáo
viên và học sinh về các vấn đề đạo đức, dựa trên một hệ thống câu hỏi được
chuẩn bị trước.
- Phương pháp nêu gương: Dùng những tấm gương của cá nhân, tập thể
để giáo dục, kích thích học sinh học tập và làm theo tấm gương mẫu mực đó.
Phương pháp nêu gương có giá trị to lớn trong việc phát triển nhận thức và tình
cảm đạo đức cho học sinh, đặc bịêt giúp học sinh nhận thức rõ ràng hơn về bản
chất và nội dung đạo đức mới.
- Phương pháp đóng vai: Là tổ chức cho học sinh nhập vai vào nhân vật
trong những tình huống đạo đức gia đình để các em bộc lộ thái độ, hành vi ứng xử.
- Phương pháp trò chơi: Tổ chức cho học sinh thực hiện những thao tác
hành động, lời nói phù hợp với chuẩn mực hành vi đạo đức thông qua 1 trò chơi
nào đó.
- Phương pháp dự án: Là phương pháp trong đó người học sinh thực hiện
1 nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết với thực tiễn, giữa
giáo dục nhận thức với giáo dục các phẩm chất nhân cách cho học sinh. Thực
hành nhiệm vụ này người học được rèn luyện tính tự lập cao, từ vịêc xác định
19
mục đích, lập kế hoạch hành động đến việc thực hiện dự án với nhóm bạn bè, tự
kiểm tra đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.
1.3.1.5. Hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Hiện nay có nhiều hình thức GDĐĐ cho học sinh THCS được sử dụng,
nhưng nhìn chung có thể chia làm 2 loại:
+ GDĐĐ thông qua các môn học, đặc biệt là môn Giáo dục công dân
nhằm giúp các em có nhận thức đúng đắn về một số giá trị đạo đức cơ bản, về
nội dung cơ bản của một số quyền và nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực của
đời sống xã hội, về tổ chức bộ máy nhà nước XHCN Việt Nam, về trách nhiệm
của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quyền của công dân.
+ GDĐĐ thông qua HĐ GDNGLL: giúp củng cố, mở rộng và khơi sâu các
hiểu biết về chuẩn mực đạo đức, hình thành những kinh nghiệm đạo đức, rèn luyện
kỷ xảo và thói quen đạo đức thông qua nhiều hình thức tổ chức đa dạng: như Hái
hoa dân chủ; Hội diễn văn nghệ; Thi làm báo tường; Thi kể chuyện; Trò chơi …
1.3.2 Mục tiêu, nội dung quản lí công tác GDĐĐ cho học sinh trung học cơ sở
1.3.2.1. Mục tiêu quản lí công tác GDĐĐ cho học sinh trung học cơ sở
Mục tiêu của quản lý công tác GDĐĐ cho HS là làm cho quá trình GDĐĐ
vận hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng GDĐĐ. Mục tiêu quản lý
công tác GDĐĐ bao gồm:
* Về nhận thức: Giúp cho mọi người, mọi người lực lượng có liên quan
có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của họat động quản lý GDĐĐ, nắm
vững quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
phát triển con người toàn diện hay nói cách khác: Hiệu trưởng phải có trách
nhiệm tuyên truyền, giáo dục để mọi người… nhận thức đúng đắn về vai trò và
tầm quan trọng của đạo đức và GDĐĐ cho thế hệ trẻ nói chung và học sinh
THCS nói riêng.
* Về thái độ: Giúp cho mọi người biết ủng hộ những việc làm đúng, đấu
tranh với những việc làm trái pháp lụât và trái với truyền thống lễ giáo, đạo đức
20
dân tộc Việt Nam, có thái độ đúng đắn với hành vi của bản thân, với họat dộng
quản lý GDĐĐ.
* Về hành vi: Từ nhận thức thái độ đồng thuận, thu hút mọi người tích cực
tham gia công tác GDĐĐ cũng như hỗ trợ công tác quản lý GDĐĐ đạt hiệu quả.
Tóm lại, mục tiêu quản lý công tác GDĐĐ là làm cho quá trình GDĐĐ
tác động đến người học được đúng hướng, phù hợp với các chuẩn mực xã hội,
thu hút đông đảo các lực lượng tham gia GD Đ cho HS. Trên cơ sở đó trang bị
cho HS tri thức đạo đức, xây dựng niềm tin, tình cảm đạo đức, hình thành thói
quen, hành vi đạo đức.
1.3.2.2. Nội dung quản lí công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
* Quản lý kế hoạch GDĐĐ
- Xây dựng kế hoạch: Hoạt động GDĐĐ trong trường THCS là bộ phận
quan trọng toàn bộ hệ thống kế hoạch quản lý trường học. Vì vậy, kế hoạch phải
đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GDĐĐ với mục tiêu giáo dục trong
trường THCS, phối hợp hữu cơ với kế hoạch họat động trên lớp, lựa chọn nội
dung, hình thức đa dạng thiết thực, phù hợp với hoạt động tâm sinh lý HS để đạt
hiệu quả cao. Có một số kế hoạch sau:
+ Kế hoạch hoạt động theo chủ điểm
+ Kế hoạch họat động theo các môn học trong chương trình.
+ Kế hoạch hoạt động theo các mặt xã hội.
Kế hoạch phải đưa ra những chỉ tiêu và các giải pháp cụ thể, có tính khả thi.
- Tổ chức bộ máy thực hiện kế hoạch đã đề ra: Nhà trường phải thành lập
Ban chỉ đạo (Ban đạo đức) và phân công nhiệm vụ cụ thể, đúng người, đúng
việc. Thành phần Ban đức phụ gồm.
* Hiệu trưởng (hoặc Phó hiệu trưởng) – làm trưởng ban.
* Tổng phụ trách Đội (Bí thư đoàn TNCS Hồ Chí Minh) – làm phó ban
* Giáo viên chủ nhiệm.
* Đại diện Hội cha mẹ học sinh.
21
- Triển khai chỉ đạo thực hiện kế hoạch đã đề ra, thường xuyên kiểm tra,
đánh giá, khen thưởng, trách phạt kịp thời nhằm động viên các lực lượng tham
gia quản lý và tổ chức GDĐĐ
* Quản lý nội dung, chương trình, phương pháp GDĐĐ cho học sinh.
Lãnh đạo nhà trường phải xác định rõ nội dung GDĐĐ cho học sinh làm cơ
sở cho các bộ phận xác định được nội dung công tác GDĐĐ của bộ phận mình.
Ngoài việc xây dựng nội dung GDĐĐ thống nhất trong nhà trường, hiệu
trưởng thông qua các Phó hiệu trưởng, các tổ trưởng xây dựng chương trình
GDĐĐ của nhà trường bao gồm: Chương trình GDĐĐ thông qua họat động
giảng dạy, thông qua hoạt động quản lý HS, thông qua HĐGD NGLL Trên cơ
sở đó Hiệu trưởng phải yêu cầu các tổ liên quan lập chương trình GDĐĐ , phải
nêu rõ hình thức và biện pháp đạo đức thể hiện rõ sự phân công cho từng cá
nhân đối với từng nội dung của chương trình.
* Quản lý hình thức, phương tiện trong GDĐĐ
Phương tiện quản lý công tác GDĐĐ bao gồm: các văn bản pháp quy về
GDĐĐ, bộ máy làm công tác GDĐĐ , nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, thông
tin về công tác GDĐĐ.
Các văn bản pháp quy là cơ sở pháp lý để Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch
ra các quyết định quản lý.Việc vận dụng các văn bản pháp lý về công tác GDĐĐ
phải phù hợp với đặc điểm của mỗi nhà trường và các chuẩn mực đạo đức XH.
Bộ máy làm công tác giáo dục ở trường THCS đó là Ban giám hiệu, các
tổ chuyên môn, tổ văn phòng, đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, các tổ chức đoàn thể
trong nhà trường như Công đoàn, đoàn trường và các tập thể học sinh. Trong
phạm vi quyền hạn được giao Hiệu trưởng có các biện pháp để tổ chức, vận
hành, sử dụng bộ máy một cách hợp lý khoa học, điều hành chỉ đạo chặt chẽ,
kiểm tra đánh giá thường xuyên nhằm phát huy hiệu quả họat động của bộ máy.
Để tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường cần thiết phải có
nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất. Nguồn quỹ lương đảm bảo cho sự gắn bó
của cán bộ giáo viên với nghề nghiệp, tạo động lực phát huy sự nỗ lực, sức sáng
22
tạo của đội ngũ. Các nguồn quỹ trong nhà trường nhằm tăng cường các điều
kiện về tài lực, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho các hoạt động giáo dục
trong nhà trường. Có thể sử dụng nguồn lực tài chính để tăng thu nhâp cho giáo
viên theo quy định của nhà nước hoặc khen thưởng động viên sự nỗ lực của đội
ngũ cán bộ giáo viên và học sinh.
Trên cơ sở chủ trương XHH giáo dục, Hiệu trưởng phải huy động các lực
lượng xã hội tham gia vào các quá trình giáo dục của nhà trường, giúp đỡ nhà
trường tăng thêm thu nhập nguồn kinh phí, đầu tư phát triển cơ sở vật chất,
phương tiện nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục nói chung và hoạt
động GDĐĐ nói riêng.
* Quản lý giáo viên
Nội dung quản lý giáo viên về công tác GDĐĐ học sinh bao gồm: lập kế
hoạch, phân công sắp xếp, bộ máy làm công tác GDĐĐ, chỉ đạo, kiểm tra đánh
giá, khen thưởng các tập thể và cá nhân có thành tích trong công tác GDĐĐ.
Trước hết Hiệu trưởng phải xây dựng kế hoạch GDĐĐ của nhà trường,
chỉ đạo các tổ chuyên môn, tổ GVCN quản lý học sinh và từng giáo viên xây
dựng kế hoạch GDĐĐ của tổ và cá nhân mình.
Để tổ chức thực hiện tốt kế hoạch GDĐĐ của nhà trường và của đội ngũ cán
bộ giáo viên thì Hiệu trưởng phải có sự phân công trách nhiệm rõ ràng trong BGH,
bố trí sắp xếp cán bộ giáo viên “ đúng người”, ‘ đúng việc”. Công vịêc này đòi hỏi
Hiệu trưởng phải hiểu biết sâu sắc từng cán bộ giáo viên, nắm bắt được tâm tư
nguyện vọng và xác định rõ những vị trí thích hợp mà họ có thể đảm đương.
Vịêc chỉ đạo thực hiện công tác GDĐĐ của đội ngũ CBGV được cụ thể
hóa và phân chia thành từng nội dung như: chỉ đạo công tác GDĐĐ của tổ chủ
nhiệm, GVCN, chỉ đạo công tác GDĐĐ của tổ giáo viên và giáo viên bộ môn,
chỉ đạo công tác GDĐĐ của tổ bộ môn và giáo viên bộ môn, chỉ đạo công tác
GDĐĐ của các bộ phận được phân công thực hiện HDDGD NGLL và các thành
viên, chỉ đạo công tác phục vụ của tổ hành chính.
* Quản lý học sinh.
23