Tải bản đầy đủ (.doc) (99 trang)

Một số giải pháp quản lý chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường mầm non tư thục quận tân phú, thành phố hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (503.97 KB, 99 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯƠNG THỊ VIỆT LIÊN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC TRẺ
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC
QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Nguyễn Bá Minh
Nghệ An - 2014
LỜI CẢM ƠN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯƠNG THỊ VIỆT LIÊN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC TRẺ
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC
QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Nguyễn Bá Minh
Nghệ An - 2014
Kính thưa quí thầy cô!
Với tình cảm chân thành và lòng quí trọng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến quí lãnh đạo, BGH Nhà trường, Khoa Sau Đại học; các giáo sư, tiến sĩ,


các nhà khoa học giáo dục, các giảng viên đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn
tôi trong suốt quá trình học tập cho đến khi hoàn thành khóa học.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Bá
Minh, mặc dù rất bận nhiều việc nhưng Thầy luôn tận tình, chu đáo, động viên
khích lệ, trực tiếp hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục - Đào tạo TP.HCM, Phòng Giáo
dục - Đào tạo Quận Tân Phú, Ban giám hiệu các trường MNTT nằm trong địa
bàn Quận Tân Phú đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi học tập và nghiên cứu
đề tài này.
Tôi luôn tri ân Phòng Mầm Non Sở Giáo dục và Đào tạo bạn bè và gia
đình đã giúp tôi về tinh thần lẫn vật chất để tôi học tập và hoàn thành luận văn.
Mặc dù tôi đã rất cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu
sót nhất định. Tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quí Thầy Cô giáo,
bạn bè và đồng nghiệp để công tác nghiên cứu đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
TP.HCM, tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn


Trương Thị Việt Liên
NHỮNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BGH Ban Giám hiệu
CBQL Cán bộ quản lý
CB, GV, NV Cán bộ, giáo viên, nhân viên
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CS - GD Chăm sóc - Giáo dục
CSVC Cơ sở vật chất
DCBP Dư cân béo phì
DD Dinh dưỡng

DDSK Dinh dưỡng sức khỏe
ĐH Đại học
GD Giáo dục
GD&ĐT Giáo dục & đào tạo
GDMN Giáo dục mầm non
GDDD Giáo dục dinh dưỡng
GDMN Giáo dục mầm non
GVMN Giáo viên mầm non
HT Hiệu trưởng
HĐVC Hoạt động vui chơi
KT - XH Kinh tế - xã hội
MN, MNTT, MNCL Mầm non, Mầm non tư thục, Mầm non công lập
QLGD, QLGDMN Quản lý giáo dục, Quản lý giáo dục mầm non
SDD Suy dinh dưỡng
UBND Ủy ban Nhân dân
VSDD Vệ sinh dinh dưỡng
VSMT Vệ sinh môi trường
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
XHCN Xã hội chủ nghĩa
XHH Xã hội hóa
MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
Lời cảm ơn
Những ký hiệu viết tắt trong luận văn
Mục lục
Mở đầu 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2.
Mục đích nghiên cứu
3

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Phạm vi nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 4
8. Cấu trúc của luận văn 4
9. Dự kiến đóng góp của đề tài 5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC - GIÁO DỤC TRẺ
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC
10
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1. Ở nước ngoài 6
1.1.2. Ở trong nước 10
1.2. Một số khái niệm cơ bản 14
1.2.1. Khái niệm quản lý,quản lý giáo dục,quản lý nhà trường 14
1.2.2. Hoạt động CS - GD trẻ mầm non 16
1.2.3. Quản lý hoạt động CS - GD trẻ MN 17
1.2.4. Trường MNTT trong hệ thống GD quốc dân 18
1.2.5. Chất lượng hoạt động CS-GD trẻ MN 18
1.3
Một số vấn đề về CS-GD trẻ ở các trường MNTT
22
1.3.1.Mục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ ở trường MNTT
22
1.3.2.Yêu cầu, PP chăm sóc giáo dục trẻ ở trường MNTT
22
1.4.
Quản lý hoạt động CS - GD trẻ ở các trường MNTT

23
1.4.1.Quản lý chương trình GDMN 23
1.4.2.Qu n lý i ng GV, NV ả độ ũ
27
1.4.3.Qu n lý CSVC – thi t b ả ế ị
29
1.4.4.Qu n lý vi c xây d ng môi tr ng s ph m ả ệ ự ườ ư ạ
29
1.4.5. Qu n lý quan h gi a nh tr ng, gia ình v xãả ệ ữ à ườ đ à
h iộ
30
Kết luận chương 1
30
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHĂM SÓC - GIÁO DỤC TRẺ Ở
CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC
QUẬN TÂN PHÚ , TP. HỒ CHÍ MINH
32
2.1.
Khái quát về tình hình phát triển trường MNTT Quận Tân Phú -TP.
Hồ Chí Minh
32
2.1.1.Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên KT-XH Quận Tân 32
Phú- TP.Hồ Chí Minh
2.1.2. Tình hình phát triển GDMN ở Quận Tân Phú – TP. Hồ Chí
Minh
33
2.1.3. Tình hình phát triển GD MNTT ở Quận Tân Phú TP. Hồ Chí
Minh
36

2.2.
Thực trạng chất lượng CS -GD trẻ ở các trường MNTT Quận Tân
Phú,Tp. Hồ Chí Minh
38
2.2.1.Thực trạng chất lượng hoạt động CS sức khỏe trẻ của trường
MNTT Quận Tân Phú TP. Hồ Chí Minh
38
2.2.2. Thực trạng chất lượng hoạt động giáo dục trẻ của trường
MNTT Quận Tân Phú TP. Hồ Chí Minh
42
2.3
Thực trạng quản lý chất lượng hoạt động CS-GD trẻ các trường
MNTT Quận Tân Phú TP. Hồ Chí Minh 45
2.3.1. Thực trạng quản lý chương trình giáo dục mầm non 45
2.3.2.Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên, nhân viên 52
2.3.3.Thực trạng quản lý CSVC – Thiết bị 58
2.3.4.Thực trạng quản lý việc xây dựng MTSP
59
2.3.5.Thực trạng quản lý quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội
61
2.4
Đánh giá chung về thực trạng quản lý chất lượng hoạt động CS-GD trẻ
63
2.4.1. Ưu điểm
64
2.4.2.Hạn chế 65
2.4.3.Nguyên nhân của thực trạng 65
Kết luận chương 2
66
CHƯƠNG 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
CHĂM SÓC - GIÁO DỤC TRẺ
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC
QUẬN TÂN PHÚ , TP. HỒ CHÍ MINH
68
3.1. Các nguyên tắc đề xuất các giải pháp 68
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 68
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 68
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 68
3.1.4
.
Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
69
3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng XH trong GD
69
3.2.
Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động CS - GD trẻ
ở các trường MNTT Quận Tân Phú , TP. Hồ Chí Minh
70
3.2.1.Nâng cao nhận thức của CBQL và GV về vai trò và sự cần
thiết phải đảm bảo chất lượng hoạt động CS-GD trẻ MN
70
3.2.2. Đổi mới công tác quản lý cơ sở MNTT của HT 72
3.2.3. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ GV 73
3.2.4.Đổi mới quản lý mục tiêu, nội dung chương trình
CS-GD trẻ
75
3.2.5. Tăng cường CSVC, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi và tài
chính phục vụ hoạt động CS-GD trẻ MN
78

3.2.6. Đổi mới thi đua, khen thưởng cho đội ngũ GV MNTT 80
3.2.7. Tăng cường công tác tuyên truyền, đẩy mạnh XHH 81
3.3.
Kết quả thăm dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đã đề xuất
82
Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
1. Kết luận 86
2. Kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bậc học mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trẻ lứa tuổi
này cần được chăm sóc chu đáo, đảm bảo cho sự phát triển bình thường về trí tuệ và thể chất.
Các nhà nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng đây là độ tuổi có tốc độ của sự phát triển
thể chất, trí tuệ nhanh nhất.
Trẻ được tiếp cận với giáo dục mầm non càng sớm, càng thúc đẩy quá trình học tập và
phát triển của các giai đoạn tiếp theo. Giáo dục mầm non (GDMN) có ý nghĩa rất quan trọng
đối với giai đoạn đầu đời của trẻ em, nó ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình phát triển sau này
của trẻ. Do đó, việc nâng cao chất lượng GDMN luôn là vấn đề được Đảng, Chính phủ đặc
biệt quan tâm trong quá trình đổi mới giáo dục ở nước ta.
Trong những năm qua, phát triển mạng lưới, đầu tư trang thiết bị dạy học tiên tiến
được đặc biệt quan tâm, nhất là ở các đô thị phát triển. Hệ thống giáo dục ngòai công lập
cũng đã và đang khẳng định vai trò, vị trí của mình, góp phần đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội,
giảm tình trạng quá tải cho các trường mầm non công lập.
Tuy nhiên để đạt được hiệu quả đổi mới hình thức giáo dục trẻ mầm non là nhằm thực
hiện tốt hơn mục tiêu GDMN, đó là hình thành ở trẻ những chức năng tâm lý, những cơ sở
ban đầu của nhân cách, năng lực làm người của trẻ và chuẩn bị cho trẻ bước vào học phổ
thông có hiệu quả. Việc quản lý cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập hiện nay có những

khó khăn và bất cập: tình trạng không ổn định về đội ngũ quản lý, giáo viên, đặc biệt là chất
lượng chăm sóc giáo dục.Do đó sự cần thiết là các cơ quan phải quan tâm đến công tác này
để đáp ứng yêu cầu đổi mới GDMN nói chung và GDMN ngoài công lập nói riêng.
Để đáp ứng mục tiêu phát triển GDMN như trong chiến lược phát triển GDMN đã đề
cập với mục tiêu cụ thể là giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, nhận thức, tình cảm- xã
hội, trí tuệ, thẩm mỹ, ngôn ngữ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị
cho trẻ vào học lớp một, bậc học mầm non đặt ra những yêu cầu khác biệt về các hoạt động
2
giáo dục trẻ cũng như quản lý hoạt động này trong nhà trường mầm non. Chất lượng hoạt
động chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà trường mầm non phụ thuộc trực tiếp vào việc xác định
đúng đắn và thực hiện hiệu quả các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục trẻ.
Tuy nhiên, chất lượng hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường mầm non hiện
nay còn chưa cao, đặc biệt chưa đồng đều giữa các trường MN công lập và MNNCL . Vì thế,
việc tìm kiếm các giải pháp quản lý để nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ
trong các trường MNNCL hiện nay là vấn đề rất cần thiết và cấp bách.
Quận Tân Phú của Tp. Hồ Chí Minh là quận mới, đông dân và lượng dân nhập cư lớn.
Đây cũng là địa phương có nhiều trường mầm non ngoài công lập cao nhất Tp. Hồ Chí
Minh. Các trường này đã đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu của phụ huynh
về giáo dục trẻ mầm non. Tuy nhiên, nhìn chung, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở các
trường MN tư thực còn chưa đạt yêu cầu. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là
chưa có các giải pháp quản lý khoa học và hiệu quả đối với hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ
em. Đó là lý do để chúng tôi chọn đề tài:
“Một số giải pháp quản lý chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ ở các trường MNTT tại Quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động CS
- GD
trẻ ở các trường MNTT trên địa bàn quận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu :

Quá trình quản lý hoạt động chăm sóc
giáo dục trẻ ở các trường MNTT
3.2. Đối tượng nghiên cứu :
Giải pháp quản lý chất lượng chăm sóc
giáo dục trẻ ở các trường
MNTTquận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và áp dụng được một số giải pháp quản lý có cơ sở khoa học
và có tính khả thi thì có thể góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ
3
ở các trường MNTT quận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận : Nghiên cứu các tài liệu liên quan để
xây dựng cơ sở lý luận về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường mầm
non tư thục.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn : công tác quản lý hoạt động này ở
các trường MNTTquận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh để xây dựng cơ sở thực tiễn
cho đề tài.
5.3. Đề xuất các giải pháp quản lý nâng cao chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ các trường MNTTquận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh.
6. Phạm vi nghiên cứu
Quản lý chất lượng CS-GD trẻ ở trường mầm non tư thục chúng tôi chỉ
tập trung vào quản lý chất lượng hoạt động CS-GD trẻ trong trường.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận : Phương pháp phân tích và
tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết, mô hình hoá để thực hiện nhiệm vụ
nghiên cứu lý luận của đề tài.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn : Để thực hiện nhiệm vụ khảo
sát thực trạng quản lý (và chất lượng chăm sóc giáo dục dưới sự quản lý đó) ở
cáctrường MNTTquận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh đề tài kết hợp ba phương

pháp sau:
- Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động quản lý của HT ở 10 trường
MNTTquận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh.
- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn BGH/Hiệu trưởng- GVMN để tìm
hiểu đánh giá của họ về thực trạng quản lý và chất lượng chăm sóc giáo dục ở
các trường MNTTquận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh. Các câu hỏi mở giúp tìm
hiểu thực tế quản lý về chiều sâu.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: bảng hỏi được gửi cho BGH và
4
GVMN thuộc trường để tìm hiểu đánh giá của họ về thực trạng quản lý và chất
lượng chăm sóc giáo dục ở các trường MNTT tại quận Tân Phú, Tp.Hồ Chí
Minh. Bảng hỏi cho phép đánh giá thực trạng quản lý trên diện rộng.
7.3. Phương pháp nghiên cứu thăm dò/thử nghiệm : Để tìm hiểu về tính
cần thiết và khả thi của các giải pháp đã đề xuất đề tài sử dụng phương pháp
7.4. Phương pháp nghiên cứu bổ trợ, phương pháp thống kê toán : dùng
để xử lý các dữ liệu thu được về mặt định lượng.
8 . Cấu trúc cơ bản của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng hoạt động chăm sóc giáo
dục trẻ ở các trường MN.
Chương 2: Thực trạng quản lý chất lượng hoạt động chăm sóc giáo dục
trẻ ở các trường MNTT quận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động chăm
sóc giáo dục trẻ của các trường MNTTquận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh.
9. Dự kiến các đóng góp của đề tài
9.1. Về lý luận : Góp phần khái quát hóa lý luận về vấn đề giải pháp quản
lý nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường MN.
9.2. Phát hiện thực trạng chất lượng và thực trạng các giải pháp quản lý
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường MNTTquận Tân Phú,

Tp.Hồ Chí Minh.
9.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ ở các trường MNTTquận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC TRẺ Ở
CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu của đề tài
1.1.1. Nước ngoài
Xu thế trong phát triển nền giáo dục thế giới là đa dạng hóa các lọai hình
trường lớp. Điều đáng nói ở đây là không chỉ ở những nước nghèo, những nước
đang phát triển, mà ngay cả ở những nước phát triển cũng đều đặt vấn đề huy
động các lực lượng xã hội tham gia xây dựng giáo dục, làm GD cộng đồng để
phát triển.
Trên thế giới đã và đang tồn tại rất nhiều lọai hình cơ sở GDMN. Hệ
6
thống những cơ sở GDMN NCL phát triển rất nhanh để cung ứng những dịch
vụ theo yêu cầu của các bậc cha mẹ. Mỗi nước có các cách quản lý khác nhau
nhưng đều tập trung vào việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ MN.
Các nghiên cứu về quản lý giáo dục nói chung và quản lý GDMN nói riêng đề
cập ở trên tập trung vào nghiên cứu về cấu trúc hệ thống quản lý giáo dục, các
chức năng quản lý, các yếu tố ảnh hưởng tới họat động quản lý và mô hình cơ
sở giáo dục.
Tình hình giáo dục mầm non hiện nay ở các nước:
1.1.1.1. Tại Hoa kỳ :
Giáo dục Hoa Kỳ chủ yếu là nền giáo dục công do Chính phủ liên bang,
tiểu bang, và địa phương ở Hoa Kỳ điều hành và cung cấp tài chính. Việc giáo
dục trẻ em ở độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo mang tính chất bắt buộc. Một phần của
giáo dục bắt buộc được thực hiện thông qua nền giáo dục công. Hầu hết trẻ em

Hoa Kỳ bắt đi học trong các cơ sở giáo dục công lập ở tuổi lên 5 hay 6. Năm học
thường bắt đầu vào tháng 8 hay tháng 9, sau kỳ nghỉ mùa hè. Trẻ em được phân
thành từng nhóm xếp theo năm học gọi là lớp (grade), bắt đầu với các lớp mầm
non, sau đó là mẫu giáo, và tích lũy dần lên lớp 12. Ở mỗi lớp, trẻ em thường
học cùng với nhau cho đến cuối năm học (vào tháng 5 hay tháng 6). Tuy vậy,
trẻ em chậm phát triển có thể ở lại lớp hay học sinh tài năng có thể học lên lớp
nhanh hơn so với các bạn học cùng tuổi.
Hoa Kỳ không có các chương trình nhà trẻ và mẫu giáo công cộng có tính
chất bắt buộc. Chính phủ liên bang hỗ trợ tài chính cho chương trình Head Start
chương trình nhà trẻ và mẫu giáo dành cho các gia đình có thu nhập thấp. Còn
hầu hết các gia đình tự tìm trường và trả chi phí nhà trẻ và mẫu giáo. Ở những
thành phố lớn, đôi khi có những nhà trẻ và trường mẫu giáo phục vụ nhu cầu
của các gia đình có thu nhập cao. Hầu hết các bậc cha mẹ cho con cái họ đi học
ở cơ sở giáo dục công lập hoặc tư thục. Theo số liệu của chính quyền, một phần
mười học sinh ở Hoa Kỳ theo học trong các trường tư thục.
1.1.1.2. Tại Singapore :
7
Chương trình giáo dục mầm non được thực hiện qua hệ thống các nhà trẻ, mẫu giáo
và các trung tâm chãm sóc trẻ em với chương trình kéo dài 3 năm cho trẻ em từ 3 đến 6 tuổi.
Hệ thống nhà trẻ ở Singapore do các tổ chức doanh nhân và xã hội điều hành và đăng ký với
Bộ Giáo dục. Các trung tâm nuôi dạy trẻ phải được Bộ Phát triển Cộng đồng và Thể thao cấp
giấy phép hoạt động .
Phần lớn các trường mẫu giáo hoạt động 2 buổi trong ngày, mỗi buổi từ 2 tiếng rưỡi
đến 4 tiếng và 5 ngày trong tuần. Chương trình học thông thường bao gồm các chương trình
Anh ngữ và một ngôn ngữ thứ hai, tuy nhiên cũng có các trường mẫu giáo dành riêng cho học
sinh ngoại quốc.Thời gian đăng ký học đối với mẫu giáo và các trung tâm nuôi dạy trẻ tùy
vào mỗi nơi. Phần lớn các trung tâm trẻ em nhận học sinh quanh năm tùy thuộc vào việc còn
chỗ hay không.
Hệ thống giáo dục tại Singapore là một hệ thống đã được thử nghiệm và kiểm tra. Nó
hướng đến việc nuôi dưỡng và đào tạo mỗi cá nhân phát triển hết tiềm năng của bản thân.

Giáo dục ở bậc mầm non giúp trẻ em ở giai đoạn nền tảng này phát triển về ngôn ngữ và các
kỹ năng đọc, các khái niệm về khoa học và số học, các kỹ năng về xã hội và sự thưởng thức
âm nhạc, các hoạt động và cách thức vui chơi.
1.1.1.3. Tại Úc:
Ở Úc, chất lượng trường MN được quản lý rất chặt chẽ. Cũng giống như Mỹ, trước
hết là việc chăm sóc để trẻ luôn khỏe mạnh, an toàn và phát triển tốt về thể chất. Vấn đề quản
lý chất lượng giáo dục mầm non cũng rất được quan tâm nhưng chủ yếu hướng vào việc hình
thành bản lĩnh, tính tự lập, cách ứng xử xã hội và phát triển những tiềm năng cá nhân của trẻ.
Trước hết trẻ em phải trở thành con người có giáo dục. Một phụ huynh đã trình bày quan
điểm: “Con tôi lớn, phải thành người tự lập, có bản lĩnh, suy nghĩ độc lập và ứng xử cho ra
hồn người. Còn nó muốn làm gì, trở thành ai, thành cái gì - Đó phải là quyết định của chính
nó”. Vì vậy, nội dung và phương pháp giáo dục trẻ MN rất đa dạng, phong phú và việc quản
lý hướng vào kích thích tính sáng tạo của mỗi giáo viên.
1.1.1.4. Tại Canada :
GDMN Canada không chỉ thuộc Bộ Giáo dục mà còn thuộc cả Bộ Gia đình và Xã hội.
Trong những năm gần đây, GDMN Canada ngày càng phát triển. Do nhận thức được tầm
quan trọng của GDMN nên GDMN được coi là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo
dục nói chung. Ngoài chủ trương thực hiện phổ cập giáo dục một năm cho trẻ 5 tuổi, Chính
phủ Liên bang có chính sách quốc gia về GDMN như chính sách hỗ trợ chăm sóc giáo dục trẻ
8
từ 3 tuổi trở xuống (0-3 tuổi). Trước đây, Chính phủ Quốc gia có chính sách chuyển hỗ trợ tài
chính đến từng tỉnh bang và từng tỉnh bang cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ. Nay Chính phủ
Quốc gia có chính sách cung cấp hỗ trợ tài chính hàng tháng đến từng gia đình để chăm sóc
giáo dục trẻ từ 0-3 tuổi. Từng gia đình có thể lựa chọn tự chăm sóc trẻ ở nhà hoặc gửi trẻ đến
các trung tâm chăm sóc giáo dục trẻ.
Chính phủ các tỉnh bang cũng rất quan tâm đến giáo dục mầm non. Vai trò cùa chính
phủ là làm cho cộng đồng tiếp cận GDMN một cách bình đẳng . Quan tâm đến phát triển
GDMN nên chính phủ chú trọng phát triển cả các trung tâm chăm sóc trẻ ở gia đình để mọi
trẻ đều có cơ hội được chăm sóc giáo dục . Chính phủ đầu tư tài chính cho cả các trung tâm
chăm sóc trẻ ngòai công lập. Chính phủ có chính sách hỗ trợ cho gia đình nghèo và có hòan

cảnh khó khăn thông qua mức thu nhập cụ thể của gia đình . Đó là chính sách có gia đình
được miễn phí, có gia đình phải đóng góp theo tỉ lệ nào đó. Riêng trẻ mẫu giáo 5 tuổi được
hòan tòan miễn phí.
Hiện nay, nhiều nơi ở Canada đang thực hiện chương trình GDMN cả ngày dành cho
trẻ 4- 5 tuổi. Chương trình GDMN cả ngày đang được nhiều nơi thay cho chương trình một
buổi vì nhiều học sinh vào lớp một không đạt tiêu chuẩn đặt ra và thực tế cho thấy thực hiện
chương trình GDMN cả ngày đem lại lợi ích cho trẻ. Chương trình GDMN cả ngày là một
chương trình GD tòan diện và dựa vào chơi, mang tính tích hợp, bao gồm các nội dung và
họat động theo chủ đề. Thông qua chơi, trẻ phát triển hành động và suy nghĩ. Trước đây
GDMN chủ yếu chỉ sử dụng giấy,bút, nay GDMN đã sử dụng những phương pháp phù hợp
với sự phát triển của trẻ hơn. Chương trình GDMN cả ngày bao gồm cả quan hệ giữa nhà
trường với gia đình và các bộ phận khác trong xã hội quan tâm đến GDMN.
Một số mô hình cơ sở GDMN : các trung tâm chăm sóc (còn gọi là trung tâm GDMN
hoặc là trung tâm học sớm) dành cho trẻ từ 0- 4 tuổi; các nhóm trẻ ở gia đình (trung tâm giáo
dục trẻ ở gia đình); trường MN công lập chăm sóc giáo dục trẻ từ 0- 6 tuổi; trường lớp MN
trong trường tiểu học và trung học cơ sở công lập, trẻ 4 – 5 tuổi học chung ; trường lớp mầm
non trong trường cao đẳng hoặc trường đại học; cơ sở GDMN ngòai công lập được hổ trợ
thực hiện chương trình GD cả ngày và người phụ trách CS-GD ngòai công lập được tham vấn
cụ thể cho chính quyền địa phương.
Tóm lại, Canada là một trong các nước phát triển cao trên thế giới.GD không mang
tính quốc gia, nhưng chất lượng GD khắp đất nước đều cao một cách đồng bộ. GDMN được
coi là một bộ phận quan trọng của hệ thống GD nói chung .Bên cạnh chủ trương thực hiện
9
phổ cập GD một năm cho trẻ 5 tuổi, Chính phủ Liên bang có chính sách quốc gia về GDMN
như chính sách hỗ trợ CS-GD trẻ từ 3 tuổi trở xuống . Chính phủ các tỉnh bang cũng rất quan
tâm đến GDMN và thực hiện nhiếu chủ trương, chính sách để làm cho cộng đồng tiếp cận
GDMN một cách bình đẳng và phát triển GDMN.
Qua những kinh nghiệm về quản lý trường MN ở các nước phát triển trên là rất quí
giá và đáng để chúng ta học tập. Tuy nhiên, việc vận dụng chúng vào điều kiện kinh tế - xã
hội của chúng ta đòi hỏi phải có một quá trình chọn lọc, thử nghiệm để phù hợp với những

đặc điểm, điều kiện cụ thể của Việt Nam.
1.1.2. Trong nước
Ở Việt Nam bậc học mầm non được xem là bậc học cơ sở của hệ thống giáo dục
Việt Nam. Trong quá trình phát triển của bậc học này, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước đã được ban hành. Những vấn đề cơ bản của bậc học này cũng đã được qui định
trong Luật Giáo dục. Để nâng cao chất lượng bậc học, đáp ứng yêu cầu của việc hiện đại hóa
nền giáo dục, nhiều giải pháp quản lý đã được đưa ra, trong đó, Điều 24 Luật Giáo dục năm
2005 đã qui định rõ về việc “Xây dựng chương trình CS - GD mầm non”. Ngày 25 tháng 7
năm 2009 Bộ GD&ĐT đã có Thông tư số 17 /2009/TT-BGDĐT ban hành chương trình
GDMN.
Vụ Giáo dục mầm non, Bộ GD&ĐT đã đưa ra một số giải pháp quản lý để thực hiện
tốt chương trình này. Tuy nhiên, những giải pháp này chỉ mới mang tính định hướng và chủ
yếu dành cho các trường MNCL.Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương khuyến
khích phát triển các cơ sở giáo dục NCL của Chính phủ, nhiều tổ chức, cá nhân ở các địa
phương đã tiến hành lập dự án xây dựng trường MN NCL. Một số địa phương đã ban hành
các văn bản nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát, chỉ đạo sự phát
triển của các trường, lớp đối với các cơ sở giáo dục MNNCL phù hợp với điều kiện thực tiễn
của địa phương, vùng miền, nhằm hướng tới nâng cao chất lượng CS-GD và đảm bảo an
toàn cho trẻ. Việc xã hội hóa giáo dục, mở rộng các loại hình trường, lớp đã góp phần thu hút
trẻ MN trong độ tuổi đến trường; đáp ứng được nhu cầu gửi trẻ rất lớn hiện nay trong khi còn
thiếu nhiều cơ sở GDMN công lập; góp phần làm ổn định xã hội, tạo thuận lợi cho cha mẹ
các cháu yên tâm làm việc; tạo việc làm cho một bộ phận giáo viên mầm non và một số lao
động Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của hệ thống giáo dục MN NCL hiện nay cũng đang
đặt ra nhiều vấn đề cần tập trung tháo gỡ, sửa đổi cả về cơ chế, chính sách và công tác quản
lý . Cơ sở vật chất của các nhóm, lớp qui mô nhỏ còn hạn chế nhiều về các điều kiện tối thiểu
như: về diện tích phòng học (phòng học tạm bợ, chật chội thiếu ánh sáng, có nơi còn dùng
10
nhà ở để làm nơi trông giữ trẻ); bếp ăn không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; sân chơi
không có nên không đủ chỗ để tổ chức các hoạt động vui chơi của trẻ; đồ dùng, đồ chơi thiếu
thốn. Số lượng giáo viên mầm non trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn còn thấp, kỹ năng sư

phạm và tổ chức các hoạt động giáo dục của giáo viên còn hạn chế. Số giáo viên ở trường
công lập hiện còn thiếu, các trường mầm non tư thục càng thiếu hơn nên việc sử dụng bảo
mẫu thay thế giáo viên ở các trường, lớp này ngày càng nhiều, một số trường còn tuyển cả
sinh viên chưa tốt nghiệp ra trường tham gia vào việc giảng dạy làm ảnh hưởng đến chất
lượng CS-GD trẻ. Những hạn chế này ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức triển khai
giảng dạy theo chương trình giáo dục mầm non.
Từ những bất cập đó, Bộ GD&ĐT đã ban hành Qui chế “Tổ chức và hoạt động trường
MNTT”, ban hành kèm theo Quyết định số 41/2008/QĐ/ BGDĐT, ngày 25 tháng 7 năm
2008, của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Theo Qui chế này, các cơ sở MNTT được tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về quy hoạch kế hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và
phát triển đội ngũ giáo viên, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục
tiêu giáo dục mầm non, góp phần cùng Nhà nước chăm lo sự nghiệp giáo dục, đáp ứng yêu
cầu xã hội
[22].
Hội thảo “Quản lý nhóm lớp mầm non độc lập tư thục ”do Bộ GD&ĐT tổ chức tại
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 27/2/2014 . Chủ trì hội thảo Thứ trưởng Bộ Giáo dục & Đào
tạo Nguyễn Thị Nghĩa và Vụ trưởng Vụ Giáo dục mầm non Nguyễn Bá Minh. Tổng kết hội
thảo Thứ trưởng nhận định: “
Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng nhiều chương trình
đề án phát triển mầm non ngòai công lập, nhiều cơ chế chính sách xã hội hóa,
huy động các nguồn lực xã hội để phát triển mầm non ngòai công lập , tuyên
truyền sâu rộng cho các cấp, các ngành, các cấp tổ chức. Có nhiều doanh nghiệp
tham gia phát triển xây dựng trường mầm non ngòai công lập ở quận Bình
Tân . Các lớp mầm non tăng nhanh đáp ứng nhu cầu gởi trẻ của phụ huynh đặc
biệt là khu công nghiệp, các nhóm lớp tư thục góp phần giảm tải cho trường,
giúp cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên cần có cơ chế để hỗ trợ, để quản lý các
nhóm lớp mầm non độc lập tư thục, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính
trị. Tiếp tục quan tâm đến giáo dục mầm non ngòai công lập. Tăng cường công
tác đào tạo, bồi dưỡng ,quản lý,nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục ở các
11

nhóm lớp độc lập, trường mầm non tư thục.Tiếp tục tìm giải pháp để quản lý và
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục ở các nhóm lớp độc lập, trường mầm
non tư thục

Trong thời gian qua, vấn đề quản lý GDMN nói chung, các cơ sở GDMNNCL nói
riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác
nhau đã được thực hiện như sau:
-Đề tài :
“ Biện pháp quản lý cơ sở mầm non tư thục Hà Nội nhằm nâng
cao chất lượng CS-GD trẻ” (Nguyễn Hoài An- Đại học sư phạm Hà Nội -1999)
-Đề tài :
“ Một số giải pháp quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở
các trường Mầm non Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh” (
Phan Thị Mộng Thủy -
Đại học Vinh . 2009 - 2011).
-Đề tài : “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động chăm sóc
giáo dục trẻ lứa tuổi nhà trẻ ở các trường mầm non quận 5, TP.HCM”( Hùynh Thị
Thái Hằng - Đại học Vinh . 2011 - 2013).
Tóm lại, trong thời gian qua đã có những nghiên cứu về những chủ trương, chính sách
giải pháp quản lý GDMN nói chung , cơ sở GDMN NCL nói riêng . Từ những góc độ, phạm
vi thực tiễn nhất định có những công trình nghiên cứu đã bước đầu đưa ra một số định hướng
chung, đề xuất các biện pháp quản lý có hiệu quả nhằm góp phần phát triển GDMN . Tuy
nhiên, các giải pháp quản lý đã đề xuất chủ yếu ở mức độ chung cho toàn bậc học và ít đề cập
đến các cơ sở GD MNTT. Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu nào đã được công bố về
các giải pháp quản lý chất lượng CS - GD trẻ ở các trường MNTT tại Quận Tân Phú , Tp. Hồ
Chí Minh.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.1.1. Quản lý:
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động của xã hội loài

người nhằm đạt mục đích, hiệu quả và năng suất cao hơn. Đó chính là hoạt động
giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nổ lực của các thành viên trong
nhóm,trong cộng đồng đạt mục tiêu đề ra. Nơi nào có hoạt động chung thì nơi
đó có quản lý.
12
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học từ trên các
bình diện khác nhau: triết học, kinh tế học, xã hội học, tâm lý học Các nhà
nghiên cứu về lý luận quản lý với những cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra các
quan niệm về quản lý gắn với các loại hình quản lý cụ thể. Chẳng hạn :
- Theo quan điểm triết học, quản lý được xem như một quá trình liên kết
thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan để đạt mục tiêu nào đó.
- Theo quan điểm chính trị xã hội, “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ
chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên
khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá xã hội, kinh tế bằng
một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và
các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của
đối tượng” [17]
- Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, quản lý xã hội một cách khoa
học “ Là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những
hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội, trên cơ sở vận dụng đúng đắn những
quy luật và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt
động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra [37].Các Mác còn cho rằng: “
Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng ”
[1].
- Xét dưới góc độ điều khiển học, hoạt động quản lý chính là quá trình
điều khiển, sắp xếp tác động làm cho đối tượng quản lý thay đổi trạng thái từ
lộn xộn thành trật tự theo ý chí và mục tiêu của nhà quản lý.
- Theo tác giả Phan Văn Kha: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức,
lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và
việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định” [8].

Từ những khái niệm và định nghĩa trên, ta có thể hiểu:
Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi,
hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra. Sự tác động của quản lý phải bằng
cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để
13
sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội.
*
Chức năng của quản lý:
- Chức năng lập kế hoạch: có vai trò định hướng cho toàn bộ các hoạt động, là cơ sở
cho toàn bộ các nguồn lực, cho việc thực hiện các mục tiêu và căn cứ cho việc kiểm tra, đánh
giá quá trình thực hiện mục tiêu.
- Chức năng tổ chức: xác định cấu trúc của hệ thống quản lý tương ứng với các nhiệm
vụ quản lý đã xác định.
- Chức năng chỉ đạo: là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những
người khác nhằm đạt tới mục tiêu và chất lượng cao.
- Chức năng kiểm tra: là quá trình đánh giá và điều chỉnh hoạt động nhằm đảm bảo
cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của hệ thống.
- Thông tin quản lý là yếu tố liên kết giữa kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
1.2.1.2. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường:
Quản lý giáo dục là sự tác động lên tập thể giáo viên. Học sinh và các lực lượng giáo
dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp tác động, tham gia vào các
họat động giáo dục của nhà trường để đạt mục đích đã định.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý giáo dục, về phương diện hệ thống cho
một vùng cho một vùng lãnh thổ hay một quốc gia, quản lý giáo dục gồm hai yếu tố cơ bản là
quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và quản lý của các cơ sở giáo dục
.
Quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác động quản lý, mang tính tổ chức sư
phạm của chủ thể quản lý, đến tập thể giáo viên và học sinh, đến các lực lượng giáo dục trong
nhà trường nhằm làm cho quá trình giáo dục và đào tạo vận hành một cách tối ưu tới mục tiêu
dự kiến.

Quản lý nhà trường bao gồm hai loại:
+ Tác động của chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường :
Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của cơ quan quản lý giáo dục cấp trên
nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập của nhà trường. Quản lý
cũng gồm những chỉ dẫn, quy định của các thực thể bên ngòai nhà trường nhưng có liên quan
trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục
nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện
phương hướng phát triển đó.
+ Tác động của chủ thể quản lý bên trong nhà trường:
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm các hoạt động :
14
quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học - giáo dục, quản lý cơ sở vật
chất, trang thiết bị của nhà trường, quản lý tài chính trường học, quản lý mối quan hệ giữa
nhà trường và cộng đồng.
1.2.2. Hoạt động CS-GD trẻ mầm non
CS-GD trẻ mầm non được hiểu là việc nuôi dưỡng, bảo vệ, chăm sóc sức
khỏe cho trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi và tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm giúp
trẻ em lứa tuổi này phát triển toàn diện theo yêu cầu cầu xã hội.
1.2.2.1. Hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non :
Chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non được hiểu là chăm sóc sức khỏe ban
đầu cho con người. Tổ chức y tế thế giới định nghĩa chăm sóc sức khỏe ban đầu
là những hoạt động chăm sóc sức khỏe thiết yếu, dựa trên những phương pháp
và kỹ thuật thực hành, đưa đến tận cá nhân và từng gia đình trong cộng đồng,
được mọi người chấp nhận thông qua sự tham gia đầy đủ của họ, với giá thành
mà họ có thể chấp nhận được nhằm đạt được mức sức khỏe cao nhất có thể
được. Chăm sóc sức khỏe ban đầu nhấn mạnh đến những vấn đề sức khỏe chủ
yếu của cộng đồng, đến tăng cường sức khỏe, phòng bệnh, chữa bệnh và phục
hồi sức khỏe.
Như vậy, từ những nhận định chung ở trên chúng ta có thể hiểu rằng:
chăm sóc sức khoẻ cho trẻ mầm non chủ yếu là làm công tác phát hiện và phòng

ngừa bệnh cho trẻ, đảm bảo an toàn cho trẻ, nuôi dưỡng và tổ chức rèn luyện
sức khỏe sao cho cơ thể trẻ luôn khỏe mạnh, phát triển hài hòa, cân đối về cân
nặng và chiều cao đáp ứng yêu cầu của độ tuổi.
Hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non diễn ra hàng ngày trong
trường mầm non nhằm đạt mục tiêu chung là trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể
phát triển hài hòa cân đối, biểu hiện là cuối mỗi độ tuổi phải đạt được những
yêu cầu tối thiểu về tình trạng sức khỏe, cân nặng và chiều cao theo lứa tuổi,
tiến lên thực hiện các yêu cầu chuẩn, phòng chống suy dinh dưỡng và béo phì.
1.2.2.2. Hoạt động giáo dục trẻ mầm non :
15
Hoạt động giáo dục bao gồm: hoạt động học (hoạt động chơi tập có chủ
đích, hoạt động chung), hoạt động chơi (hoạt động vui chơi, hoạt động góc, hoạt
động ngoài trời), hoạt động ngày hội, ngày lễ, hoạt động lao động.
Hoạt động giáo dục trẻ mầm non với những nội dung cụ thể :
+ Tổ chức môi trường giáo dục phù hợp cho trẻ.
+ Tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ theo hướng phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của trẻ em theo các lĩnh vực phát triển: nhận thức, thể chất,
ngôn ngữ, thẩm mỹ, tình cảm - xã hội.
Trong thực tiễn GDMN, để nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động
chăm sóc giáo dục trẻ thì hoạt động chăm sóc cần được tổ chức đan xen, hòa
quyện với hoạt động giáo dục trẻ.
1.2.3. Quản lý hoạt động CS-GD cho trẻ mầm non
a) Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe trẻ mầm non : là hệ thống các
tác động có hướng đích của Hiệu trưởng trường mầm non đến hoạt động chăm
sóc sức khỏe cho trẻ mầm non trong nhà trường, nhằm thực hiện được mục tiêu
giáo dục mầm non.
Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non
chính là thực hiện thành công 4 chức năng cơ bản sau:
- Lập kế hoạch hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non
- Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ

- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho trẻ
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho trẻ
b) Quản lý hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non : là quá trình tác
động có mục đích, có kế hoạch của người quản lý tới các yếu tố có liên quan
đến hoạt động giáo dục trẻ trong nhà trường nhằm thực hiện tốt các mục tiêu
giáo dục trẻ.
16
Nội dung quản lý hoạt động giáo dục trẻ có thể:
- Theo chức năng quản lý: lập kế hoạch hoạt động giáo dục trẻ; tổ chức
hoạt động giáo dục trẻ; chỉ đạo hoạt động giáo dục trẻ; kiểm tra, đánh giá hoạt
động giáo dục trẻ.
- Theo quan điểm hệ thống: quản lý yếu tố đầu vào (đội ngũ giáo viên,
CSVC, thiết bị dạy học, số lượng trẻ), quản lý quá trình giáo dục trẻ, quản lý kết
quả hoạt động giáo dục trẻ.
1.2.4. Trường mầm non tư thục trong hệ thống giáo dục quốc dân
Theo Luật giáo dục 2005 (Điều 48.Nhà trường trong hệ thống giáo dục
quốc dân), cơ sở GDMN NCL bao gồm cơ sở GDMN tư thục, co sở GDMN
dân lập.
-Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng
cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí họat động;
-Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, tổ
chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm
kinh phí họat động bằng vốn ngòai ngân sách nhà nước.
Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi lọai hình đều
được thành lập theo quy họach, kế họach của Nhà nước nhằm phát triển sự
nghiệp giáo dục (Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền thành lập hoặc cho phép
thành lập nhà trường được quy định tại Điều 50 và Điều 51 của Luật này).
1.2.5. Chất lượng hoạt động CS-GD trẻ MN
1.2.5.1. Chất lượng và chất lượng giáo dục :
*Chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó (là cái tốt nhất).Điều này chỉ

có thể hiểu được, cảm nhận được nếu so sánh với những sự vật có cùng những
đặc tính với sự vật đang được xem xét. Đây là cách tiếp cận tiên nghiệm về chất
lượng (Chất lượng giáo dục những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXBGD, Viện
Chiến lược và Chương trình giáo dục)
*Chất lượng là sự phù hợp với mục đích (mục tiêu); là “đáp ứng được
17
nhu cầu của khách hàng”. Chất lượng được xem xét đơn giản chỉ trong con mắt
của người chiêm ngưỡng sự vật hoặc sử dụng chúng.
Có một định nghĩa về chất lượng tỏ ra có ý nghĩa đối với việc xác định
chất lượng giáo dục và cả việc đánh giá nó, đó là: Chất lượng là sự phù hợp với
mục tiêu…Mục tiêu ở đây được hiểu một cách rộng rãi, bao gồm các sứ mạng,
mục đích, v.v…Đây là định nghĩa thích hợp và thông dụng nhất khi xem xét các
vấn đề của giáo dục (Chất lượng giáo dục những vấn đề lý luận và thực tiễn,
NXBGD, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục).
* Chất lượng giáo dục
Từ định nghĩa chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu…,có thể xem chất
lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục. Mục tiêu giáo dục thể hiện
những đòi hỏi của xã hội đối với con người, cấu thành nguồn nhân lực, mà giáo
dục có nhiệm vụ phải đào tạo.
Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng giáo dục được hiểu một cách toàn
diện với đặc trưng sản phẩm là “con người” với tư cách là kết quả của toàn bộ
quá trình đào tạo. Chất lượng giáo dục không chỉ đơn thuần là những yếu tố
được đo bằng kết quả học tập trong nhà trường, thi cử ở các cấp mà phải phản
ánh được mức độ đạt được mục tiêu, yêu cầu giáo dục toàn diện: đức, trí, thể,
mỹ, lao động và năng lực tư duy sáng tạo, năng động, khả năng thích ứng của
người học với nhu cầu đời sống xã hội, đời sống cộng đồng trong từng giai đoạn
phát triển của lịch sử”
[30].
Cùng thực hiện mục đích chung của cả hệ thống giáo dục quốc dân
nhưng mỗi cấp học, bậc học lại có mục tiêu riêng được thực hiện với những

hoạt động có tính đặc thù. Vì vậy, chất lượng giáo dục của mỗi bậc học, cấp học
cũng có những điểm đặc trưng, khác với các bậc học, cấp học khác.
1.2.5.2. Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường MN
Chất lượng CS - GD trẻ MN thể hiện mức độ phát triển mà trẻ em mầm
18
non đạt được so với mục tiêu đề ra ở các độ tuổi và được biểu hiện thông qua
các mặt sau đây (Quy định về Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường
mầm non, ban hành ngày 17/2/2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Tiêu chuẩn 5:
kết quả CS - GD trẻ mầm non):
1) Trẻ có sự phát triển về thể chất theo mục tiêu của Chương trình Giáo
dục mầm non:
a) Chiều cao, cân nặng, phát triển bình thường theo độ tuổi;
b) Thực hiện được các vận động cơ bản, có khả năng phối hợp các giác
quan và vận động, có kỹ năng khéo léo phù hợp với độ tuổi;
c) Có khả năng làm được một số việc tự phục vụ trong ăn, ngủ, vệ sinh cá
nhân, có kỹ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khỏe phù hợp với độ tuổi.
2) Trẻ có sự phát triển về nhận thức theo mục tiêu của Chương trình Giáo
dục mầm non:
a) Thích tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh;
b) Có sự nhạy cảm, có khả năng quan sát, ghi nhớ, so sánh, phán đoán,
phát hiện và giải quyết vấn đề phù hợp với độ tuổi;
c) Có một số hiểu biết ban đầu về bản thân, về con người, sự vật, hiện
tượng xung quanh và một số khái niệm phù hợp với độ tuổi.
3) Trẻ có sự phát triển về ngôn ngữ theo mục tiêu của Chương trình Giáo
dục mầm non:
a) Nghe và hiểu được các lời nói giao tiếp phù hợp với độ tuổi;
b) Có khả năng diễn đạt sự hiểu biết bằng lời nói hoặc cử chỉ phù hợp với
độ tuổi;
c) Biết sử dụng lời nói để giao tiếp; có một số kỹ năng ban đầu về đọc và
viết phù hợp với độ tuổi.

4) Trẻ chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động văn nghệ, có một số
19
kỹ năng cơ bản và có khả năng cảm nhận, thể hiện cảm xúc về âm nhạc và tạo
hình:
a) Chủ động, tích cực, hứng thú tham gia các hoạt động văn nghệ phù
hợp với độ tuổi;
b) Có một số kỹ năng cơ bản về âm nhạc và tạo hình phù hợp với độ tuổi;
c) Có khả năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc trong các hoạt động âm
nhạc và tạo hình phù hợp với độ tuổi.
5) Trẻ tự tin, biết bày tỏ cảm xúc và ý kiến cá nhân, đoàn kết với bạn bè,
mạnh dạn trong giao tiếp, lễ phép với người lớn:
a) Tự tin, biết bày tỏ cảm xúc và ý kiến cá nhân phù hợp với độ tuổi;
b) Thân thiện, chia sẻ, hợp tác với bạn bè trong các hoạt động sinh hoạt,
vui chơi, học tập phù hợp với độ tuổi;
c) Mạnh dạn trong giao tiếp với những người xung quanh, lễ phép với
người lớn phù hợp với độ tuổi.
6) Trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường; giữ gìn vệ sinh cá nhân;
quan tâm chăm sóc, bảo vệ cây xanh, vật nuôi; có ý thức chấp hành quy định về
an toàn giao thông:
a) Có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường lớp học, gia đình và những nơi
công cộng; có nền nếp, thói quen vệ sinh cá nhân phù hợp với độ tuổi;
b) Quan tâm, thích chăm sóc, bảo vệ cây xanh và vật nuôi;
c) Có ý thức chấp hành những quy định về an toàn giao thông đã được
hướng dẫn phù hợp với độ tuổi.
7) Trẻ suy dinh dưỡng, béo phì và trẻ khuyết tật được chú trọng chăm sóc
và có kết quả tiến bộ rõ rệt:
a) Phục hồi dinh dưỡng ít nhất 80% đối với trẻ bị suy dinh dưỡng; có
biện pháp hạn chế tốc độ tăng cân và bảo đảm sức khỏe cho trẻ béo phì;

×